17/05/1972: Nam Việt Nam tăng viện gần An Lộc

Sau 5 trận bom B-52, được cho rằng đã giết chết 300 người Bắc Việt ở phía Nam, lực lượng miền Nam Việt Nam được máy bay trực thăng vận chuyển đến còn cách An Lộc hai dặm, tiếp tục nỗ lực để giải tỏa thành phố đang bị bao vây này. Kể từ đầu tháng Tư, thành phố đã bị bao vây bởi ba sư đoàn Bắc Việt. Bắc Việt đã bao vây An Lộc gần ba tháng và đã nhiều lần cố gắng chiếm thành phố này trong thời gian đó. Những người bảo vệ đã phải chịu thương vong nặng nề, bao gồm 2.300 người chết hoặc mất tích, nhưng với sự trợ giúp của các cố vấn Mỹ và Không lực Hoa Kỳ, họ đã giữ được An Lộc, chống lại một ưu thế lớn hơn rất nhiều, cho đến khi cuộc vây hãm bị phá vỡ vào ngày 18 tháng 6.

Lính Dù VNCH chờ trực thăng vận đến An Lộc (16/04/1972)
Lính Dù VNCH chờ trực thăng vận đến An Lộc (16/04/1972)

Phan Ba dịch

Nguồn: http://www.history.com/this-day-in-history/south-vietnamese-reinforcements-near-an-loc

Đọc những bài khác ở trang: Ngày Này Năm Xưa

Tôi đã từng yêu người cộng sản

Cao Giao

Phan Ba dịch từ báo Der Spiegel số 20 / 1985: http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-13513784.html

Người Việt Cao Giao viết về cuộc đời và những lần ở chốn lao tù của ông. Ông chiến đấu với người Nhật chống lại người Pháp và thông đồng với người Mỹ chống lại nhà độc tài Diệm: Cuộc đời của Cao Giao, một nhà trí thức Việt Nam, đã là người thông dịch cho tờ SPIEGEL ở Việt Nam, đại diện cho lịch sử của đất nước ông. Ông ngồi tù 21 lần như là tù chính trị, lần cuối cùng ở những người cộng sản. Mới đây, Cao Giao được phép rời khỏi quê hương của ông

Lúc nào cũng tối tăm nên tôi không bao giờ biết là ngày hay đêm. Không có cửa sổ, không có ánh sáng.

Tôi bị bắt và ngay lập tức bị biệt giam. Xà lim của tôi rộng 1,20 nhân 1,80, sàn bằng bê tông, ở một phía có một cái cửa ra vào lúc nào cũng đóng kính và ở phía dưới có một cái lỗ để đưa thức ăn vào; ở phía kia có một cái lỗ ở trên sàn, nơi tôi giải quyết các nhu cầu về vệ sinh của tôi.

Vào cái ngày mà người ta nhốt tôi ở đây, tôi đã tự nói với mình: “Mình sẽ không bao giờ còn sống mà ra khỏi nơi đây đâu.” Thế nhưng tôi vẫn còn sống. Một tuần, một tháng, một năm – một sự vô tận.

Vào buổi trưa bao nào cũng có một cái còi hú lên. Người ta có thể đếm ngày bằng cách này. Chỉ chủ nhật là không có còi. Người ta chờ, nhưng cái còi câm lặng. Rồi người ta biết hôm đó là ngày chủ nhật.

Hỏa Lò, Hà Nội, 1954
Hỏa Lò, Hà Nội, 1954

Tiếp tục đọc

11/05/1969: Lính nhảy dù đánh trận “Đồi Thịt Băm”

Các lực lượng Hoa Kỳ và Nam Việt Nam đã chiến đấu với quân đội Bắc Việt tại đồi A Bia (cao điểm 937 hay núi Ap Bia theo cách gọi của người Mỹ), cách biên giới Lào một dặm. Trận chiến là một phần của Chiến dịch Apache Snow, một chiến dịch càn quét bao gồm 2800 người của Đồng Minh ở thung lũng A Shau. Mục đích của hoạt động là cắt đứt các cuộc xâm nhập của Bắc Việt từ Lào và những mối đe dọa của quân địch vào Huế và Đà Nẵng.

Đồi Thịt Băm, một ngày sau trận chiến
Đồi Thịt Băm, một ngày sau trận chiến

Tiếp tục đọc

Việt Nam: Cuộc chiến giết chết niềm tin

Di sản của cuộc chiến này vẫn còn định hình nước Mỹ, ngay cả khi hầu hết chúng ta vẫn còn quá trẻ để nhớ nó.

Karl Marlantes

Vào đầu mùa xuân năm 1967, vào lúc 2 giờ sáng tôi vẫn còn thảo luận sôi nổi với các sinh viên ở Đại học Yale về cuộc Chiến tranh Việt Nam. Tôi đến từ một thị trấn nhỏ ở Oregon, và tôi đã tham gia lực lượng dự bị của Thủy Quân Lục Chiến. Phần lớn bạn bè tôi chủ yếu đến từ các trường học ở East Coast. Một người nói rằng Lyndon B. Johnson đang nói dối chúng tôi về cuộc chiến. Tôi thốt lên: “Nhưng … nhưng một tổng thống Mỹ không nói dối người Mỹ!” Tất cả họ đều bật cười.

Khi tôi kể câu chuyện đó cho con tôi, tất cả chúng cũng cười phá lên. Tất nhiên là các ông tổng thống nói dối. Tất cả các chính trị gia đều nói dối. “Chúa ơi, bố, bố đến từ hành tinh nào thế?”

Trước Chiến tranh Việt Nam, hầu hết người Mỹ đều như tôi. Sau cuộc chiến tranh Việt Nam, đa số người Mỹ giống như con tôi.

Lính Mỹ đang chờ trực thăng hạ cánh trong Chiến dịch Pershing ở Nam Việt Nam năm 1967.
Lính Mỹ đang chờ trực thăng hạ cánh trong Chiến dịch Pershing ở Nam Việt Nam năm 1967.

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (26)

Chương 11

Các dạng nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe

Chỉ hai tháng sau vụ thập tử nhất sinh tại bệnh viện Hải quân Hoa Kỳ tôi đã trở lại nhiệm sở ở Việt Nam. Kết quả công việc điều trị y tế ở Hamburg thành công mĩ mãn và ba tuần lễ tại Áo với khí hậu ôn hòa, âm nhạc, thực phẩm và rượu ngon là cách nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe tốt nhất, còn gọi là “R&R” (Rest and Recuperation) theo lối gọi của dân nhà binh. Tôi cảm thấy sung sức trở lại. Trọng lượng trở lại 64kg, mức trung bình vào thời điểm đó trong đời tôi. Tôi còn mơ mộng là đã sẵn sàng để gặp lại cô y tá thiên thần tóc đen trong bộ quân phục Hải quân Hoa Kỳ với cấp bậc thiếu tá ngày trước. Nàng nỡ nào từ chối tấm lòng ưu ái của tôi, lại còn mỉa mai tình trạng đáng thương của thân thể nhiễm vi trùng amib của tôi vào hè trước đó nữa. Dĩ nhiên là tôi chẳng bao giờ gặp lại được cô ta.

Bầu cử Quốc Hội Lập Hiến ngày 11-9-1966
Bầu cử Quốc Hội Lập Hiến ngày 11-9-1966

Tiếp tục đọc

Câu chuyện của một nữ y tá Việt Cộng trong chiến tranh

Đối với nhiều người Việt Nam, ký ức về những gì đã diễn ra vẫn rất sinh động. Gần đây, tôi đã đến thăm bà Nguyen Thi Do, một cựu y tá của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, hay còn được gọi là Việt Cộng. Sau 10 năm phục vụ trong chiến tranh, bà chuyển về Qui Nhơn, một thành phố ven biển ở quê bà, nằm trên bờ biển miền Trung Việt Nam. Tại đây, bà làm quản lý của một công ty đánh bắt cá cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1989. Bà mời tôi vào phòng khách với nội thất được trang trí bằng gỗ sang trọng, tay rót hai cốc trà xanh, và bắt đầu chia sẻ câu chuyện của mình.

Khi tôi 17 tuổi, những người tuyển quân từ Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã đến làng tôi, làng Lộ Diêu, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Người dân xung quanh gọi Lộ Diêu, vùng đất nằm cách 130 dặm về phía nam thành phố Đà Nẵng, là “cái nôi của cách mạng,” bởi vì tất cả mọi người ở đây đều tận tụy cống hiến cho sự nghiệp cách mạng.

Nguyen Thi Do tại nhà bà ở Qui Nhơn
Nguyen Thi Do tại nhà bà ở Qui Nhơn

Tiếp tục đọc

Hệ lụy từ ‘Sự kiện Vịnh Bắc Bộ’

Ngày 22 tháng 5 năm 1967, Tổng thống Lyndon B. Johnson nhận được tin đáng lo ngại từ Trung Đông. Chính phủ Ai Cập đã đóng cửa eo biển Tiran, tuyến đường thủy hẹp nối Biển Đỏ với Israel, qua đó chặn đường vận tải biển của Israel. Động thái này đã làm leo thang đáng kể căng thẳng Ả Rập-Israel và đẩy khu vực đến bờ vực chiến tranh.

Bản năng của Johnson là hành động táo bạo để tháo gỡ cuộc khủng hoảng. Ông đề xuất tập hợp một lực lượng hải quân do Mỹ dẫn đầu để hộ tống các tàu Israel qua eo biển và buộc Ai Cập phải xuống nước. Nhưng ông nhanh chóng phát hiện ra vấn đề.

Tàu khu trục USS Maddox, được cho là bị  tàu phóng ngư lôi của hải quân Bắc Việt Nam tấn công trong “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”.
Tàu khu trục USS Maddox, được cho là bị tàu phóng ngư lôi của hải quân Bắc Việt Nam tấn công trong “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”.

Tiếp tục đọc