11/07/1969: Ông Thiệu thách thức MTDTGP tham gia bầu cử tự do

Tổng thống Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu, trong một bài phát biểu trên truyền hình, đã đưa ra một “đề nghị toàn diện” cho một thỏa thuận chính trị. Ông thách thức Mặt trận Dân tộc Giải phóng tham gia các cuộc bầu cử tự do được tổ chức bởi một ủy ban bầu cử chung và được giám sát bởi một cơ quan quốc tế. Tiếp theo sau bài phát biểu, Bộ trưởng Ngoại giao Nam Việt Nam Trần Chánh Thành, nhằm làm rõ đề nghị của ông Thiệu, đã nói rằng cộng sản không bao giờ có thể tham gia vào các cuộc bầu cử ở Nam Việt Nam “như là những người cộng sản” mà cũng không thể có vai trò nào trong tổ chức bầu cử – chỉ chính phủ Nam Việt Nam mới có thể tổ chức bầu cử.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thăm một đơn vị TQLC tại U Minh tháng 8,1969
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thăm một đơn vị TQLC tại U Minh tháng 8,1969

Phan Ba dịch

Nguồn: http://www.history.com/

Đọc những bài khác ở trang: Ngày Này Năm Xưa và Chiến tranh Việt Nam

 

Vụ đánh bom nhà hàng nổi Mỹ Cảnh

Nhà hàng Mỹ Cảnh là một chiếc tàu dài 75m, rộng 25m, chứa được tới 250 thực khách, thường được neo đậu theo bờ sông tại bến Bạch Đằng, cách kênh Bến Nghé khoảng 100m, bên cạnh cột cờ Thủ Ngữ. Chủ nhà hàng là một người tên là Phú Lâm. Nhà hàng này là mục tiêu khủng bố của Việt Cộng vào ngày 25 tháng 6 năm 1965.

Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh trước khi xảy ra vụ đánh bom khủng bố đêm 28-6-1965. Photo by Thomas W. Johnson
Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh trước khi xảy ra vụ đánh bom khủng bố đêm 28-6-1965. Photo by Thomas W. Johnson
Tiếp tục đọc

‘David và Goliath’ trong Chiến tranh Việt Nam

Neil Sheehan

Có những sự kiện chỉ có thể hiểu được từ góc nhìn thời gian. Cuộc chiến ở Việt Nam là một trong số đó.

Ngày 21 tháng 6 năm 1989, tôi có dịp phỏng vấn một con người vóc dáng nhỏ bé nhưng có bốn sao trên cầu vai áo đồng phục màu xanh đậm. Chúng tôi trò chuyện tại nơi từng là dinh thự của một vị toàn quyền Pháp ở Hà Nội. Người mà tôi phỏng vấn là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiên tài quân sự của Việt Nam, người đã đưa đất nước ông đến chiến thắng, đầu tiên là trước nỗ lực tái lập chế độ thuộc địa của Pháp sau Thế chiến II, tiếp đó là trước sức mạnh vô song của Mỹ khi họ muốn chia cắt vĩnh viễn Việt Nam và lập ra một nhà nước phụ thuộc ở Sài Gòn.

Truyền dịch cho lính Mỹ bị thương tại chiến trường Dak To. Nguồn: GettyImage
Truyền dịch cho lính Mỹ bị thương tại chiến trường Dak To. Nguồn: GettyImage

Tiếp tục đọc

14/06/1969: Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ thông báo rút quân

Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ thông báo rằng ba đơn vị chiến đấu sẽ được rút khỏi Việt Nam. Đó là Lữ đoàn 1 và 2 của Sư Đoàn 9 Bộ Binh Hoa Kỳ và Đội Đổ bộ Trung đoàn 9 của Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến – tổng cộng khoảng 13.000 đến 14.000 người. Các lực lượng này là một phần của cuộc rút quân đầu tiên được Tổng thống Richard Nixon công bố vào ngày 8 tháng 6 tại hội nghị Midway với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Nixon đã hứa sẽ rút 25.000 quân cho đến cuối năm nay, và ngoài các lực lượng chiến đấu nói trên, sau đó các lực lượng hỗ trợ khác sẽ được gửi trở về quê hương để đạt tới con số đó.

Thành viên của Trung đoàn 9 TQLC Hoa Kỳ trong Chiến dịch Dewey Canyon, 1969
Thành viên của Trung đoàn 9 TQLC Hoa Kỳ trong Chiến dịch Dewey Canyon, 1969

Phan Ba dịch

Nguồn: http://www.history.com/

Đọc những bài khác ở trang: Ngày Này Năm Xưa

10/06/1965: Trận Đồng Xoài bắt đầu

Độ chừng 1500 Việt Cộng bắt đầu tấn công bằng súng cối vào huyện lỵ Đồng Xoài, khoảng 60 dặm về phía đông bắc Sài Gòn, và sau đó đã nhanh chóng tràn ngập trụ sở quân sự của thị trấn và một khu dân quân kế cận. Các lực lượng khác của Việt Cộng đột kích vào một trại của Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ cách đó một dặm. Trực thăng Hoa Kỳ chở lực lượng tăng viện của Nam Việt Nam đến, nhưng Việt Cộng đã cách ly và làm tiêu hao lực lượng này. Các cuộc không kích dữ dội của Hoa Kỳ đã giúp đẩy lùi Việt Cộng, nhưng chỉ sau khi người Nam Việt Nam phải chịu thương vong từ 800 đến 900 người và Hoa Kỳ có 7 người bị thiệt mạng, 12 người mất tích và bị cho là đã chết, và 15 người bị thương. Việt Cộng ước tính đã mất 350 người trong lúc chiến đấu trên mặt đất và có lẽ là vài trăm người nữa trong các cuộc không kích. Hai người Mỹ sau đó đã nhận Huân Chương Danh Dự vì những hoạt động của họ trong trận đánh này.

Đồng Xoài 1965
Đồng Xoài 1965

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (32)

Chương 13

Khúc dạo đầu cho Tết Mậu Thân

Tết Mậu Thân 1968 sẽ được yên ổn, các nguồn tin ở Sài Gòn đã trấn an tôi khi liên lạc với họ trong thời gian nghỉ lễ Giáng Sinh ở căn nhà mới của tôi tại Hồng Kông. Họ nói rằng cả hai bên sẽ cam kết một lệnh ngừng bắn bảy ngày từ 27 tháng 1  đến ngày 3 tháng 2 để dân chúng Việt Nam ăn mừng ngày lễ đầu năm Mậu Thân. Thật là hay! Điều này cho phép tôi được vắng mặt nghỉ ngơi một chút ngoài Việt Nam và chuyển sự chú ý qua một vùng khác thuộc lãnh thổ tôi được phân nhiệm theo dõi. Nói cho cùng, các ông sếp cắt cử tôi là “phóng viên của vùng Viễn Đông,” có nghĩa là trên lý thuyết tôi phụ trách tường thuật hầu hết vùng châu Á, mặc dù những sự thay đổi thường xuyên về tình hình Việt Nam đã khiến tôi phải bỏ bê ngay cả những nước láng giềng của Việt Nam. Nay tôi đã có cơ hội để sửa chữa khiếm khuyết này.

Tôi quyết định đi Lào.

Tiếp tục đọc

26/05/1965: Quân đội Úc khởi hành đến Việt Nam

Tám trăm quân lính Úc khởi hành sang Việt Nam và New Zealand tuyên bố sẽ gửi một tiểu đoàn pháo binh.

Năm 1964, Chính phủ Úc lần đầu tiên đã đưa quân đội sang Việt Nam dưới hình thức một đơn vị không quân nhỏ và một đội kỹ sư hoạt động dân sự. Họ đã tăng cường lực lượng tham chiến với việc triển khai Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng gia Úc (RAR). Năm 1966, người Úc một lần nữa tăng quân số của họ tại Việt Nam với việc thành lập Nhóm Đặc Nhiệm Australia Thứ Nhất mà đã lập căn cứ hoạt động gần Bà Rịa ở tỉnh Phước Tuy. Lực lượng đặc nhiệm bao gồm hai tiểu đoàn bộ binh, một phi đội trực thăng và các lực lượng truyền thông, kỹ sư và hỗ trợ khác. Đến năm 1969, lực lượng Úc tại Việt Nam tổng cộng là vào khoảng 8.000 người.

Lính của Trung đoàn 6 RAR hành quân tìm kiếm Việt Cộng rút lui vào buổi sáng sau trận Long Tân (18-19/06/1966).
Lính của Trung đoàn 6 RAR hành quân tìm kiếm Việt Cộng rút lui vào buổi sáng sau trận Long Tân (18-19/06/1966).

Tiếp tục đọc