‘David và Goliath’ trong Chiến tranh Việt Nam

Neil Sheehan

Có những sự kiện chỉ có thể hiểu được từ góc nhìn thời gian. Cuộc chiến ở Việt Nam là một trong số đó.

Ngày 21 tháng 6 năm 1989, tôi có dịp phỏng vấn một con người vóc dáng nhỏ bé nhưng có bốn sao trên cầu vai áo đồng phục màu xanh đậm. Chúng tôi trò chuyện tại nơi từng là dinh thự của một vị toàn quyền Pháp ở Hà Nội. Người mà tôi phỏng vấn là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiên tài quân sự của Việt Nam, người đã đưa đất nước ông đến chiến thắng, đầu tiên là trước nỗ lực tái lập chế độ thuộc địa của Pháp sau Thế chiến II, tiếp đó là trước sức mạnh vô song của Mỹ khi họ muốn chia cắt vĩnh viễn Việt Nam và lập ra một nhà nước phụ thuộc ở Sài Gòn.

Truyền dịch cho lính Mỹ bị thương tại chiến trường Dak To. Nguồn: GettyImage
Truyền dịch cho lính Mỹ bị thương tại chiến trường Dak To. Nguồn: GettyImage

Tiếp tục đọc

Cuốn tiểu thuyết vĩ đại về Chiến tranh Việt Nam không được viết bởi người Mỹ

Viet Thanh Nguyen

Năm 1967, Le Ly Hayslip, khi đó mang tên Phùng Thị Lệ Lý, còn là một thiếu nữ sinh sống và làm việc tại Đà Nẵng. Là một cô gái nông thôn đã sống sót qua chiến tranh và nạn cưỡng hiếp ở làng quê của mình, bà chuyển tới Đà Nẵng để trốn chạy sự áp bức của cả phía Cộng sản lẫn phía người Việt chống Cộng. Năm 1972, bà kết hôn với một người Mỹ và chuyển tới Hoa Kỳ, và năm 1989 bà xuất bản cuốn tự truyện chấn động về tình trạng bị mắc kẹt giữa hai phía, When Heaven and Earth Changed Places (“Khi đất trời đảo lộn”). Tới năm 2017, đây có lẽ vẫn là cuốn tự sự ngôi thứ nhất duy nhất bằng tiếng Anh về trải nghiệm của những người dân quê Việt Nam mắc kẹt giữa hai chiến tuyến trong Chiến tranh Việt Nam. Trong cuộc đời và tác phẩm của mình, bà Hayslip là hiện thân cho định nghĩa rộng của tôi về ý nghĩa của việc là người Việt Nam, một bản sắc bao trùm cả những người Việt ở Việt Nam lẫn ở hải ngoại, cũng như cả những người viết bằng tiếng Việt hay các ngôn ngữ khác, mà trong trường hợp này là tiếng Anh.

Le Ly Hayslip cùng với chồng, Ed Munro, một nhà thầu dân sự, và các con trai.
Le Ly Hayslip cùng với chồng, Ed Munro, một nhà thầu dân sự, và các con trai.

Tiếp tục đọc

Từ hàng rào điện tử McNamara đến bức tường biên giới của Trump

Sharon Weinberger

Khi trở về từ Nam Việt Nam năm 1961, Tướng Maxwell Taylor đề xuất một kế hoạch có vẻ đơn giản để ngăn chặn cuộc nổi dậy của Cộng sản: một hàng rào không thể xuyên thủng sẽ cắt đứt nguồn cung nhân lực và khí tài từ miền Bắc.

Khi đó Taylor cũng khuyên Tổng thống John F. Kennedy gửi thêm quân đội chính quy tới Việt Nam, một lời kiến nghị còn ám ảnh nước Mỹ trong nhiều thập niên sau này. Taylor lý luận rằng hàng rào sẽ làm suy yếu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (Việt Cộng), giúp các lực lượng Hoa Kỳ và Nam Việt Nam đánh bại Cộng sản.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara trong một buổi họp báo về kế hoạch xây dựng hàng rào điện tử giữa Bắc và Nam Việt Nam năm 1967. Ảnh: AP
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara trong một buổi họp báo về kế hoạch xây dựng hàng rào điện tử giữa Bắc và Nam Việt Nam năm 1967. Ảnh: AP

Tiếp tục đọc

‘Việt Nam hóa’ ra đời

Ngày 14 tháng 10 năm 1966, Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, người chịu trách nhiệm chính cho cuộc chiến chống cộng sản tại Nam Việt Nam, đã thừa nhận thất bại của mình. Chỉ hơn một năm trước khi ông chính thức từ chức Bộ trưởng, ông đã gửi một báo cáo dài đến Tổng thống Lyndon Johnson, khéo léo thừa nhận rằng ông và Lầu Năm Góc không có chiến lược nào để kết thúc chiến tranh theo hướng có lợi cho Nam Việt Nam.

Đại sứ Ellsworth Bunker trình quốc thư lên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày 28/04/1967.
Đại sứ Ellsworth Bunker trình quốc thư lên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày 28/04/1967.

Tiếp tục đọc

Khi mặt đất rung lắc, họ vẫn đứng vững

Vào tháng Giêng năm 1967, khi Sư đoàn Bộ binh 1 và 25 của Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu Chiến dịch Cedar Falls, cuộc tấn công toàn diện của họ chống lại các thành trì của Cộng sản trong “Tam Giác Sắt” phía tây bắc Sài Gòn, Vo Thi Mo, 20 tuổi, đã sẵn sàng.

Sinh ở Củ Chi, ở giữa khu vực chiến trận Cedar Falls, bà Mo đã tham gia cuộc chiến chống lại quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng Hòa – lực lượng quân đội miền Nam, được gọi là QLVNCH – từ lúc 13 tuổi, khi bà giúp xây dựng hệ thống đường hầm rộng lớn mà lực lượng Cộng sản miền Nam, được gọi là Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng, (mà đối với kẻ thù của họ thì là Việt Cộng), đã sử dụng làm trại lính, trung tâm chỉ huy và mạng lưới truyền thông.

Vo Thi Mo đã chỉ huy ba tiểu đội chống lại một tiểu đoàn của Sư Đoàn 25
Võ Thị Mô đã chỉ huy ba ba tiểu đội chống lại một tiểu đoàn của Sư Đoàn 25

Tiếp tục đọc

1967: Thời kỳ của những trận đánh lớn ở Việt Nam

Lubbock, Tex. – Vào đầu năm 1967, có 490.000 lính Mỹ ở Nam Việt Nam – với khoảng 850.000 từ Nam Việt Nam, Hàn Quốc và các đồng minh khác – thế là các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự Mỹ bắt đầu suy nghĩ lớn. Họ tin rằng, đây sẽ là năm tiêu diệt những người đang chiến đấu ở miền Nam, Việt Cộng và các đồng minh Bắc Việt của họ, những kẻ đã thâm nhập vào miền Nam.

Đội kỵ binh 1 thuộc Trung đoàn Kỵ binh 4 ở Bến Súc trong Chiến dịch Cedar Falls 1967
Đội kỵ binh 1 thuộc Trung đoàn Kỵ binh 4 ở Bến Súc trong Chiến dịch Cedar Falls 1967

Tiếp tục đọc

Việt Nam: Cuộc chiến giết chết niềm tin

Di sản của cuộc chiến này vẫn còn định hình nước Mỹ, ngay cả khi hầu hết chúng ta vẫn còn quá trẻ để nhớ nó.

Karl Marlantes

Vào đầu mùa xuân năm 1967, vào lúc 2 giờ sáng tôi vẫn còn thảo luận sôi nổi với các sinh viên ở Đại học Yale về cuộc Chiến tranh Việt Nam. Tôi đến từ một thị trấn nhỏ ở Oregon, và tôi đã tham gia lực lượng dự bị của Thủy Quân Lục Chiến. Phần lớn bạn bè tôi chủ yếu đến từ các trường học ở East Coast. Một người nói rằng Lyndon B. Johnson đang nói dối chúng tôi về cuộc chiến. Tôi thốt lên: “Nhưng … nhưng một tổng thống Mỹ không nói dối người Mỹ!” Tất cả họ đều bật cười.

Khi tôi kể câu chuyện đó cho con tôi, tất cả chúng cũng cười phá lên. Tất nhiên là các ông tổng thống nói dối. Tất cả các chính trị gia đều nói dối. “Chúa ơi, bố, bố đến từ hành tinh nào thế?”

Trước Chiến tranh Việt Nam, hầu hết người Mỹ đều như tôi. Sau cuộc chiến tranh Việt Nam, đa số người Mỹ giống như con tôi.

Lính Mỹ đang chờ trực thăng hạ cánh trong Chiến dịch Pershing ở Nam Việt Nam năm 1967.
Lính Mỹ đang chờ trực thăng hạ cánh trong Chiến dịch Pershing ở Nam Việt Nam năm 1967.

Tiếp tục đọc