‘Việt Nam hóa’ ra đời

Ngày 14 tháng 10 năm 1966, Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, người chịu trách nhiệm chính cho cuộc chiến chống cộng sản tại Nam Việt Nam, đã thừa nhận thất bại của mình. Chỉ hơn một năm trước khi ông chính thức từ chức Bộ trưởng, ông đã gửi một báo cáo dài đến Tổng thống Lyndon Johnson, khéo léo thừa nhận rằng ông và Lầu Năm Góc không có chiến lược nào để kết thúc chiến tranh theo hướng có lợi cho Nam Việt Nam.

Đại sứ Ellsworth Bunker trình quốc thư lên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày 28/04/1967.
Đại sứ Ellsworth Bunker trình quốc thư lên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày 28/04/1967.

Tiếp tục đọc

Khi mặt đất rung lắc, họ vẫn đứng vững

Vào tháng Giêng năm 1967, khi Sư đoàn Bộ binh 1 và 25 của Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu Chiến dịch Cedar Falls, cuộc tấn công toàn diện của họ chống lại các thành trì của Cộng sản trong “Tam Giác Sắt” phía tây bắc Sài Gòn, Vo Thi Mo, 20 tuổi, đã sẵn sàng.

Sinh ở Củ Chi, ở giữa khu vực chiến trận Cedar Falls, bà Mo đã tham gia cuộc chiến chống lại quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng Hòa – lực lượng quân đội miền Nam, được gọi là QLVNCH – từ lúc 13 tuổi, khi bà giúp xây dựng hệ thống đường hầm rộng lớn mà lực lượng Cộng sản miền Nam, được gọi là Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng, (mà đối với kẻ thù của họ thì là Việt Cộng), đã sử dụng làm trại lính, trung tâm chỉ huy và mạng lưới truyền thông.

Vo Thi Mo đã chỉ huy ba tiểu đội chống lại một tiểu đoàn của Sư Đoàn 25
Võ Thị Mô đã chỉ huy ba ba tiểu đội chống lại một tiểu đoàn của Sư Đoàn 25

Tiếp tục đọc

1967: Thời kỳ của những trận đánh lớn ở Việt Nam

Lubbock, Tex. – Vào đầu năm 1967, có 490.000 lính Mỹ ở Nam Việt Nam – với khoảng 850.000 từ Nam Việt Nam, Hàn Quốc và các đồng minh khác – thế là các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự Mỹ bắt đầu suy nghĩ lớn. Họ tin rằng, đây sẽ là năm tiêu diệt những người đang chiến đấu ở miền Nam, Việt Cộng và các đồng minh Bắc Việt của họ, những kẻ đã thâm nhập vào miền Nam.

Đội kỵ binh 1 thuộc Trung đoàn Kỵ binh 4 ở Bến Súc trong Chiến dịch Cedar Falls 1967
Đội kỵ binh 1 thuộc Trung đoàn Kỵ binh 4 ở Bến Súc trong Chiến dịch Cedar Falls 1967

Tiếp tục đọc

Việt Nam: Cuộc chiến giết chết niềm tin

Di sản của cuộc chiến này vẫn còn định hình nước Mỹ, ngay cả khi hầu hết chúng ta vẫn còn quá trẻ để nhớ nó.

Karl Marlantes

Vào đầu mùa xuân năm 1967, vào lúc 2 giờ sáng tôi vẫn còn thảo luận sôi nổi với các sinh viên ở Đại học Yale về cuộc Chiến tranh Việt Nam. Tôi đến từ một thị trấn nhỏ ở Oregon, và tôi đã tham gia lực lượng dự bị của Thủy Quân Lục Chiến. Phần lớn bạn bè tôi chủ yếu đến từ các trường học ở East Coast. Một người nói rằng Lyndon B. Johnson đang nói dối chúng tôi về cuộc chiến. Tôi thốt lên: “Nhưng … nhưng một tổng thống Mỹ không nói dối người Mỹ!” Tất cả họ đều bật cười.

Khi tôi kể câu chuyện đó cho con tôi, tất cả chúng cũng cười phá lên. Tất nhiên là các ông tổng thống nói dối. Tất cả các chính trị gia đều nói dối. “Chúa ơi, bố, bố đến từ hành tinh nào thế?”

Trước Chiến tranh Việt Nam, hầu hết người Mỹ đều như tôi. Sau cuộc chiến tranh Việt Nam, đa số người Mỹ giống như con tôi.

Lính Mỹ đang chờ trực thăng hạ cánh trong Chiến dịch Pershing ở Nam Việt Nam năm 1967.
Lính Mỹ đang chờ trực thăng hạ cánh trong Chiến dịch Pershing ở Nam Việt Nam năm 1967.

Tiếp tục đọc

Câu chuyện của một nữ y tá Việt Cộng trong chiến tranh

Đối với nhiều người Việt Nam, ký ức về những gì đã diễn ra vẫn rất sinh động. Gần đây, tôi đã đến thăm bà Nguyen Thi Do, một cựu y tá của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, hay còn được gọi là Việt Cộng. Sau 10 năm phục vụ trong chiến tranh, bà chuyển về Qui Nhơn, một thành phố ven biển ở quê bà, nằm trên bờ biển miền Trung Việt Nam. Tại đây, bà làm quản lý của một công ty đánh bắt cá cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1989. Bà mời tôi vào phòng khách với nội thất được trang trí bằng gỗ sang trọng, tay rót hai cốc trà xanh, và bắt đầu chia sẻ câu chuyện của mình.

Khi tôi 17 tuổi, những người tuyển quân từ Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã đến làng tôi, làng Lộ Diêu, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Người dân xung quanh gọi Lộ Diêu, vùng đất nằm cách 130 dặm về phía nam thành phố Đà Nẵng, là “cái nôi của cách mạng,” bởi vì tất cả mọi người ở đây đều tận tụy cống hiến cho sự nghiệp cách mạng.

Nguyen Thi Do tại nhà bà ở Qui Nhơn
Nguyen Thi Do tại nhà bà ở Qui Nhơn

Tiếp tục đọc

Hệ lụy từ ‘Sự kiện Vịnh Bắc Bộ’

Ngày 22 tháng 5 năm 1967, Tổng thống Lyndon B. Johnson nhận được tin đáng lo ngại từ Trung Đông. Chính phủ Ai Cập đã đóng cửa eo biển Tiran, tuyến đường thủy hẹp nối Biển Đỏ với Israel, qua đó chặn đường vận tải biển của Israel. Động thái này đã làm leo thang đáng kể căng thẳng Ả Rập-Israel và đẩy khu vực đến bờ vực chiến tranh.

Bản năng của Johnson là hành động táo bạo để tháo gỡ cuộc khủng hoảng. Ông đề xuất tập hợp một lực lượng hải quân do Mỹ dẫn đầu để hộ tống các tàu Israel qua eo biển và buộc Ai Cập phải xuống nước. Nhưng ông nhanh chóng phát hiện ra vấn đề.

Tàu khu trục USS Maddox, được cho là bị  tàu phóng ngư lôi của hải quân Bắc Việt Nam tấn công trong “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”.
Tàu khu trục USS Maddox, được cho là bị tàu phóng ngư lôi của hải quân Bắc Việt Nam tấn công trong “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”.

Tiếp tục đọc

Chiến tranh Việt Nam và dấu ấn trong văn chương Mỹ

Billy Lynn's Long Halftime Walk
Billy Lynn’s Long Halftime Walk

Năm 2012, nhà văn Ben Fountain đoạt giải National Book Critics Circle (của Hiệp hội Phê bình Sách Quốc gia) cho cuốn Billy Lynn’s Long Halftime Walk. Cuốn tiểu thuyết đầu tay này của Fountain cũng lọt vào vòng chung khảo giải Sách Quốc gia Mỹ, cùng với một cuốn tiểu thuyết đầu tay khác, The Yellow Birds của Kevin Powers, tác phẩm đoạt giải PEN/Hemingway năm 2013 cho tác phẩm hư cấu đầu tay. Cả hai đều là tiểu thuyết Mỹ viết về chiến tranh Iraq. Trong nửa thập niên từ đó cho đến nay, văn chương về chiến tranh Iraq và Afghanistan – hầu hết, nhưng không phải tất cả, được viết bởi các cựu chiến binh trong hai cuộc chiến – đã góp phần rất lớn trong việc định hình bình luận văn hóa về các cuộc can dự quân sự gần đây nhất của Mỹ, trong lúc hàng ngàn nhân viên quân sự Mỹ vẫn đang ở thực địa.

Tiếp tục đọc