Indochina, mon Amour

Trên máy bay, cuối tháng Tư 1975

Chiếc máy bay phản lực của Air France bay lên cao trong những đường dốc đứng. Các đội quân tiền phong Bắc Việt có nơi đã đứng trước cửa ngõ Sài Gòn. Viên phi công biết rằng cũng có cả hỏa tiễn SAM được bố trí dọc theo Quốc lộ 13. Đó là chuyến bay dân sự cuối cùng rời Sài Gòn, như sau này tôi biết được. Vẫn còn chưa có ai trên máy bay đoán được rằng việc thủ đô thất thủ chỉ còn là một câu hỏi của ba ngày. Nhưng bất cứ hành khách nào cũng cảm nhận được, rằng đây là lần từ biệt vĩnh viễn, rằng ngay cả trong trường hợp sau này mà quay lại thì thành phố cạnh sông Sài Gòn này, đất nước Nam Việt Nam, rằng toàn bộ Đông Dương sẽ bị biến đổi và bị làm cho xa lạ. Các đồng nghiệp lực lưỡng của đội quay phim, những người mà tôi đã nghĩ rằng không có khả năng cho những xúc cảm như vậy, nhìn với những nét mặt bất động và nghiêm trang xuống các cánh đồng ruộng ngập nước và những mạch nước rộng lớn của dòng sông Cửu Long, dưới những tia nắng cuối cùng của mặt trời đang sáng óng ánh lên như vàng và máu, như những sắc màu của nước Việt Nam Cộng Hòa đang biến mất vào vực thẳm của lịch sử trong những giờ khắc này. Tiếp viên hàng không phục vụ sâm banh. Không có sự nhẹ nhõm nào được bộc lộ, rằng người ta đã thoát được tấn bi kịch. Ai cũng cảm nhận được nỗi buồn và đau đớn, giống như đang tiến hành nghi thức cho lần kết thúc của một mối tình. Thế nhưng phát ra từ những cái loa của chiếc máy bay không phải là “Les feuilles mortes” của Prévert mà là một bài ca Pháp đang thời thượng: “Elle court, elle court, la maladie d’amour”.

Trận đánh cuối cùng trên cầu Tân Cảng ngày 28 tháng Tư năm 1975
Trận đánh cuối cùng trên cầu Tân Cảng ngày 28 tháng Tư năm 1975

Tiếp tục đọc

Những ngày cuối cùng của Sài Gòn

Sài Gòn, tháng Tư 1975

Đối với tôi, Sài Gòn chưa bao giờ mang nhiều nét Á hơn là trong những những ngày trước khi sụp đổ. Ngay sau khi ra khỏi con đường Tự Do và cái chợ hoa, người ta sẽ nhanh chóng đi trong một đám đông chật ních người da vàng như là người da trắng duy nhất. Trước người nước ngoài, người Việt đeo lên gương mặt họ một cái mặt nạ của sự dửng dưng. Chỉ khi họ có cảm giác không bị quan sát thì ánh mắt của họ mới lộ ra nỗi lo lắng và sự chờ đợi cái thảm họa đang tiến đến gần. Tài xế Canh của tôi, người mà tôi đã quen biết từ nhiều năm nay, chưa từng bao giờ lái xe một cách sơ ý và lơ đễnh qua sự hỗn loạn của giao thông nội thành như vậy. Bị tôi khiển trách, nỗi lo sợ bộc phát từ trong anh ấy ra ngoài: “Ông cũng biết mà, Monsieur: năm 1954 tôi đã chạy trốn người cộng sản từ Hà Nội vào miền Nam, rồi bây giờ thì họ lại bắt kịp tôi.” Bà đứng đầu sở điện tín, một người miền Trung trầm tư với búi tóc nghiêm khắc, kéo tôi sang một bên: “Có đúng không, Monsieur, người Bắc Việt sẽ giết chết hết tất cả các nhân viên của chính phủ Sài Gòn?” Trong Đà Nẵng bị chiếm đóng, người cộng sản đã bắt bừa hàng trăm người trong mỗi một khu phố và đã bắn chết công khai để đe dọa. Người ta đã thuật lại cho bà như vậy. Thỉnh thoảng cứ trông giống như là sự hỗn loạn được cố tình được kích động qua tin đồn.

Cha và con trên đường chạy tỵ nạn ở Trảng Bom, 23 tháng Tư 1975.
Cha và con trên đường chạy tỵ nạn ở Trảng Bom, 23 tháng Tư 1975.

Tiếp tục đọc

Quân đội Mỹ có cắt đầu đối phương không?

Việc này là có, như ký giả người Đức Uwe Siemon-Netto đã thuật lại trong quyển hồi ký của ông “Vinh quang của sự Phi Lý”: “… Đặc trưng là các kĩ thuật ám sát cán bộ Cộng sản trong lúc họ đang ngủ trong các ổ trú ẩn ban đêm. … Trang bị với một món đồ nghề gồm một sợi dây kẽm gắn vào hai đầu tay cầm bằng gỗ, họ lẻn vào lều của cán bộ Việt Cộng chỉ huy, vòng sợi dây kẽm quanh cổ nạn nhân đang ngủ, giựt mạnh và thế là cắt đầu kẻ địch.” Neil Sheehan trong “A Bright Shinning Lie” cũng nhắc tới một chuyện mổ bụng xác kẻ địch.

Bom nổ trước Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn vào ngày 30 tháng 3 năm 1965. Ảnh: AP/Horst Faas
Bom nổ trước Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn vào ngày 30 tháng 3 năm 1965. 22 người chết, 183 người bị thương. Ảnh: AP/Horst Faas

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (11)

Sau đó ông chủ động đưa tôi trở lại căn cứ. Lần này thì tôi vào trại mà không bị trở ngại nữa. Có một sĩ quan Hoa Kỳ đặc trách về báo chí hiện diện. Anh ta đón tôi ở cổng và lái xe thẳng tới một bãi đáp trực thăng đang có một đàn UH-1 gọi là Huey đang chờ lệnh khởi hành, động cơ nổ sẵn đinh tai nhức óc và cánh quạt vỗ sành sạch.

“Đang tiến hành một cuộc hành quân lớn,” viên sĩ quan báo chí nói, có một tiểu đoàn QLVNCH bị Việt Cộng đánh tả tơi đêm hôm qua. Bị tiêu hết bộ chỉ huy sĩ quan và hạ sĩ quan. Gần hết đạn luôn. Chúng tôi đang bay vào để bổ sung lại sĩ quan, vật liệu và cố gắng yểm trợ thêm một ít không trợ. Do đó, nếu anh muốn xem màn ngoạn mục thì nhảy lên tàu của Trung tá đây. Ông ta là sếp đấy. Chúc may mắn.”

Trực thăng vận với những chiếc UH-1D gần Sài Gòn năm 1965
Trực thăng vận với những chiếc UH-1D gần Sài Gòn năm 1965

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (10)

Trong buổi sáng sau khi ăn trưa với Fall xong, tôi đến căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt để đón một chuyến bay C-123 đi Pleiku ở Cao nguyên Trung phần. Đích đến cuối cùng của tôi là căn cứ hình tam giác của Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ tại Plei Me, hai mươi lăm dặm về hướng nam của Pleiku mà tám tháng sau đó sẽ trở thành địa bàn chính của các cuộc đụng độ lớn giữa quân đội chính quy Bắc Việt và lực lượng Hoa Kỳ. Tôi nôn nóng đến Plei Me vì nhóm Mũ Nồi Xanh ở Mộc Hóa, cũng như Fall và Sir Robert Thompson đã nói với tôi rằng: trong cuộc chiến này, phía bên nào kiểm soát được Cao nguyên sẽ nắm thế thượng phong. Cao nguyên quan trọng như thế nào đã được sáng tỏ trong tuần lễ trước chuyến đi của tôi. Việt Cộng tấn công trại Holloway, một căn cứ máy bay trực thăng gần đó, giết 8 lính canh, làm bị thương 108 người và phá hủy 18 máy bay. Sự kiện này khiến tổng thống Lyndon B. Johnson bắt đầu một chiến dịch dội bom chống Bắc Việt.

Trong lúc chờ đợi chuyến bay C-123 đi Pleiku, trạng thái tâm lý thần kinh căng thẳng đã chơi tôi một vố. Tôi ngồi chờ máy bay trên sàn trong phòng chờ của căn cứ quân sự Tân Sơn Nhứt bên cạnh một trung tá không lực Hoa Kỳ với chiếc áo trận có gắn huy hiệu hình con rắn cuốn quanh cây gậy thần Y Khoa Aesculapius.

Camp Holloway 1965/66
Camp Holloway 1965/66

Tiếp tục đọc

Người Bắc Việt muốn toàn thắng

Karl-Heinz Janßen

28 tháng Ba 1975

Phan Ba dịch

Cuộc chiến tranh đầu tiên ở Việt Nam bắt đầu vào ngày 19 tháng 12 năm 1946 khi Tướng Giáp cho nổ tung nhà máy phát điện Hà Nội và trong cùng khoảnh khắc đó cho nổ súng bắn vào quân đội Pháp đang bị bất ngờ trong thành phố. Nó kéo dài bảy năm rưỡi và chấm dứt với Hiệp định Đình chiến Genève ngày 20 tháng 7 năm 1945. Việt Minh, tiền thân của Việt Cộng, chỉ thành công một phần: Tuy người Pháp phải rời khỏi đất nước, nhưng Việt Nam bị chia cắt, và miền Nam rơi vào ảnh hưởng của Mỹ. Khoảng 400.000 người Việt và 75.000 người Pháp đã chết. 600.000 người Công Giáo chạy trốn vào miền Nam Việt Nam.

Cầu Hiền Lương
Cầu Hiền Lương

Tiếp tục đọc

“Cái chết đã bao vây chúng tôi”

Chính quyền Sài Gòn lâm vào tình trạng nguy ngập

Andreas Kohlschütter

Phan Ba dịch từ báo Die Zeit (Thời Báo), số ra ngày 31 tháng Giêng năm 1975

Sài Gòn, trong tháng Giêng

Đó là Tây Ninh trong tháng Giêng 1972: một tỉnh lỵ bụi bặm, có mật độ dân cư quá cao với 40.000 người ở cạnh con đường dẫn sang Campuchia; một cái chợ ồn ào, đầy sức sống nguyên thủy, muôn màu sắc, mà người ta buôn bán và trả giá thật to bằng tiếng Việt ở trên đó; một căn cứ khổng lồ để hỗ trợ cho các chiến dịch tấn công lớn của quân đội Nam Việt Nam, tiến qua bên kia biên giới, trên đất Campuchia, hành quân tới những vùng địch thủ triển khai lực lượng; những đoàn xe tải đạn dài hàng ki-lô-mét, hàng bầy trực thăng, hàng chục cố vấn Mỹ, những người có thể yêu cầu máy bay ném bom B-52 của họ hỗ trợ vào bất cứ lúc nào.

Tây Ninh, 31 tháng Giêng năm 1973. Hình: Bettmann/CORBIS
Tây Ninh, 31 tháng Giêng năm 1973. Hình: Bettmann/CORBIS

Tiếp tục đọc