Rồng Mekong

Những con rồng sông Mekong

Winfried Scharlau

Phan Ba dịch

Những con rồng sông Mekong - Winfried Scharlau
Những con rồng sông Mekong – Winfried Scharlau

Original Titel: “Vier Drachen am Mekong – Asien im Umbruch”

Bản quyền tiếng Việt © Phan Ba.

Lời nói đầu

Đông Nam Á đã thay đổi rất nhiều trong hai mươi năm vừa qua. Tôi đã trải qua những sự kiện quan trọng, bi thảm, khi còn là thông tín viên truyền hình cho [đài truyền hình nhà nước Đức] ARD.

Quyển sách này là hồi tưởng cá nhân, đồng thời cũng là phóng sự và phản ánh lịch sử. Chiến tranh và cách mạng chiếm một phần lớn trong đây. Việt Nam đã chiến đấu giành được độc lập trong một cuộc chiến tranh ba mươi năm chống Pháp và Mỹ. Hàng triệu người đã bị giết chết trong lúc đó. Các thiệt hại về vật chất vẫn còn đè nặng lên đất nước này cho tới ngày nay. Lào đã bị lôi kéo vào cuộc xung đột bởi con Đường mòn Hồ Chí Minh. Campuchia đã gây sốc giới công khai bằng một trong những cuộc cách mạng tàn bạo nhất của lịch sử loài người mà ý nghĩa của nó hầu như không thể hiểu được. Chỉ độc nhất Thái Lan là giữ được hòa bình, biết cách làm giảm thiểu những cuộc đảo chính và nổi loạn trong nội bộ qua chính sách khôn khéo và biến chúng thành việc tốt.

Hồi tưởng cá nhân có một góc nhìn riêng, cái vẫn được giữ xuyên suốt qua câu chuyện. Nó sẽ làm cho người ta hiểu được rằng tại sao tôi không thể ngưng suy nghĩ về sự việc đã diễn ra ở mặt ngoài, đánh giá các tài liệu có thể có được, nghiên cứu diễn giải của các tác giả khác, làm việc như một sử gia, người cố gắng tạo ra một bức ảnh tìm tới một cái nhìn toàn cảnh, vượt qua những trải nghiệm cá nhân.

Góc nhìn luôn thay đổi có nhiệm vụ giúp người đọc hiểu rõ được độ phức tạp của các sự kiện. Tôi muốn viết cho người đọc, không chỉ cho các chuyên gia hàn lâm. Tôi muốn cung cấp thông tin, càng dễ hiểu càng tốt.

Trong các câu lạc bộ báo chí Đông Nam Á, người ta biết câu chuyện của một người tới thăm Hongkong, người đã không muốn rời chiếc ống kính viễn vọng trên đồi Lạc Mã Châu ở Tân Giới mà với nó người ta có thể nhìn qua tấm màn tre vào Trung Quốc cộng sản. Hàng người đứng chờ ở phía sau ông càng lúc càng dài ra và càng sốt ruột. Sau nửa giờ, một người cảnh sát can thiệp và hỏi con người gây ra lộn xộn đang nhìn chăm chú qua biên giới đó: “Tại sao ông không nhường ống nhòm cho người khác?”

“Tôi viết một quyển sách về Trung Quốc”, người được hỏi đáp trả.

“Trong trường hợp này”, viên cảnh sát thừa nhận, “thì ông cần phải mở rộng sự quan sát của mình thêm một chút, để đừng giống như các tác giả khác, đã viết về Trung Quốc mà hoàn toàn không cần nhìn thấy hiện thực.”

Khi các marines đầu tiên, lính cổ da Mỹ, đổ bộ xuống Đà Nẵng năm 1965, cuộc Chiến tranh Việt Nam đạt tới một giá trị tin tức yêu cầu các giới truyền thông Đức phải hoạt động  mạnh hơn nữa. Đài ARD muốn được cung cấp thông tin từ một thông tín viên đóng ở tại chỗ, ở Sài Gòn. Các phóng sự từ studio New Delhi đã không còn đủ nữa. Trong tháng Hai 1967, tôi sang Nam Việt Nam. Một thế giới mới, xa lạ đã bắt giữ lấy tôi và kể từ lúc đó không còn buông thả tôi ra nữa.

Chiến tranh đã đóng một vai trò quan trọng trong lần gặp gỡ đầu tiên với châu Á. Nó đã mang tôi, thật ra cũng như tất cả các phóng viên chiến tranh khác, vào trong những tình huống cực độ và đồng thời cũng mang lại cho tôi một trải nghiệm khác thường: trước hết là trải nghiệm có thể làm việc trong một cuộc chiến mà không bị cản trở và không có kiểm duyệt. Chỉ sau này tôi, cũng giống như tất cả những người đã tham dự, mới nhận thức được tầm quan trọng này. Cuộc chiến đã bắn thủng lỗ chỗ những mặt tiền và những bức tường bảo vệ của các xã hội châu Á, và đứng trước sự chết chóc và tàn phá đó, chúng đã bộc lộ những đặc tính cũng như cấu trúc nội bộ của chúng rõ ràng hơn là lúc bình thường. Tôi dần dần mới lờ mờ hiểu được phẩm giá mang dấu ấn của lịch sử đó, và những hình thức sống đặc biệt ngay giữa trong cái đẹp nhiệt đới của Đông Nam Á, cái thật khó mà nắm bắt được qua từ ngữ. Mãi bây giờ, hai mươi năm sau đó, tôi mới dám mô tả nó, ngần ngại và rụt rè.

Trong huyền thoại của nhiều dân tộc, rồng đóng một vai trò quan trọng. Châu Âu đầu thời Trung cổ đã tưởng tượng nó có nhiều đầu và phun ra lửa. Phải cần tới một người anh hùng để chiến thắng nó trong một cuộc đấu trực diện. Các dân tộc châu Á gắn kết hình ảnh con rồng với những tính chất tốt đẹp. Nó tượng trưng cho sự phồn thực và nước. Tác động của nó mang tính thiện và mang lại hạnh phúc.

Mang sang chính trị, Trung Quốc đã cảm nhận mình như con rồng lớn, bảo vệ và canh giữ những quốc gia nhỏ hơn ở ngoại biên của nó. Người ta gọi các quốc gia láng giềng của Trung Quốc ở Đông Nam Á là những con rồng nhỏ. Họ tồn tại dưới cái bóng của Trung Quốc hay chống lại sự thống trị của hoàng cung Bắc Kinh qua nhiều thế kỷ và qua đó đã phát triển sự nhận dạng quốc gia.

Quyển sách này bàn về bốn con rồng nhỏ ở sông Mekong: về Việt Nam và Lào, về Campuchia và Thái Lan, tất cả đều nằm cạnh dòng nước lớn mang lại cuộc sống, bắt nguồn ở Tây Tạng và chảy xuyên qua tỉnh Vân Nam về hướng Nam.

Khái niệm Đông Dương được người Pháp sử dụng chỉ bao gồm thuộc địa riêng của họ: Việt Nam, Lào và Campuchia. Cách xếp nhóm theo lịch sử từ thời thuộc địa này hẳn sẽ mất đi tầm quan trọng trong tương lai và sẽ được mở rộng ra thành một cách sắp xếp theo địa lý nhiều hơn, cái bao gồm cả Thái Lan. Tựa đề muốn được hiểu theo ý nghĩa này.

Hamburg, Xuân 1989

Winfried Scharlau

Việt Nam: Hiện thực của cuộc chiến

Siêu thị Sài Gòn

Mary McCarthy

Thuộc trong số nhiều người Mỹ nổi tiếng muốn tận mắt nhìn thấy cuộc chiến ở Việt Nam, để viết về nó và phê phán công khai, là nữ nhà văn Mary McCarthy.  “Khi sang Việt Nam trong tháng Hai 1967”, bà thừa nhận trong “Report from Vietnam” được xuất bản vài tháng sau đó của bà, “tôi đã đi tìm những tài liệu có thể làm tổn hại đến lợi ích của Mỹ”. Có nhìn đến đâu bà cũng chỉ nhìn thấy sự xác nhận cho những gì mà bà đã biết. Nhưng không phải tất cả các nhận thức đó đã đứng vững được trước một xét nghiệm lại về sau này.

Tôi đã gặp bà McCarthy thoáng qua trên Hội Chợ Sách Frankfurt, nơi bà giới thiệu quyển sách bán chạy “The Group” của bà. Tình cờ, tôi cũng ngồi trong cùng chiếc máy bay từ Paris đến Sài Gòn – không phải ở phía trước như nhà văn nữ nổi tiếng, mà là tít ở phía sau trong “hạng ghế gỗ”. Sau những lần đỗ lại ở Athen, Teheran, Karachi và Bombay, thời đó vẫn còn là thông thường trên những tuyến bay dài, hành khách ăn sáng tại Cảng Hàng Không Bangkok. Trong một cái lán thấp, thức ăn được dọn ra trên một cái bàn dài có lá cờ của hãng hàng không ở trên đó. Bà McCarthy ngồi cạnh tôi. Bà trông có vẻ thiếu ngủ, nhưng người ta có thể nhận ra được sự căng thẳng chờ đợi trạm kế đến của bà, Sài Gòn.

Ở ngoài, cạnh những đường băng có hàng chục chiếc máy bay ném bom chiến đấu phản lực. Một vài chiếc khởi hành với tiếng ồn điếc tai. Máy bay trực thăng bay lơ lững tới. Mùi xăng máy bay nồng nặc trong không khí. Đó là chiến tranh rồi, chúng tôi đã  nghĩ như vậy, một màn dạo đầu lúc ăn sáng. Trong khi đó thì chúng tôi còn cách Việt Nam hàng ngàn kilômét.

Người ta nghĩ là ít ra thì họ cũng cố ngụy trang công việc làm của họ trước du khách, người nữ tác giả nghiêm khắc, hoàn toàn không có trang sức, nhận xét, người theo kiểu cách của giới trí thức Paris đã lấy sự từ bỏ styling làm phong cách cho mình. Cả hai chúng tôi đều hoàn toàn không biết gì về hiện thực của cuộc chiến, cho tới mức đã không nhận ra huy hiệu trên những chiếc máy bay chiến đấu đó, những cái chứng tỏ kho vũ khí hoàn toàn lỗi thời này là sở hữu của Không Quân Thái Lan. Phi vụ sang Việt Nam không hề được bay từ Cảng Hàng Không Don Muang. Các căn cứ của Hoa Kỳ ở trong nước không bị hàng không dân sự quấy rầy.

Sau này, tôi có thể đọc lại cuộc thảo luận tình cờ của chúng tôi trong “Vietnam Report” của McCarthy. Rõ ràng là tôi đã không thể giải thích tường tận được về Không Quân Thái Lan cho bà. Nhiều lắm thì tôi chỉ có thể nhận ra được loại máy bay chở chúng tôi tới Bangkok là một “Boeing 707”. Bà McCarthy tin rằng bà đã ở trong một chiếc “Caravelle”. Chỉ trong cái nghề lâu đời nhất của thế giới, Tướng Dwight D. Eisenhower đã từng có lần chế giễu, thì dân nghiệp dư mới được phép cho mình là một cái gì đó tốt hơn giới chuyên nghiệp. Trong giới quân đội, những người mới bắt đầu và các nhà chiến lược nghiệp dư có một hình ảnh hết sức buồn cười, một trải nghiệm không chừa ra bất cứ người phóng viên chiến tranh nào vào lúc ban đầu cả.

Chuẩn bị nhiệm vụ cho tôi là một tác giả khác: Graham Greene mà quyển sách “Người Mỹ trầm lặng” của ông vẫn còn thuộc trong số những gì viết tốt nhất về cuộc chiến ở Đông Dương. “Tôi không muốn can thiệp vào”, Green để cho nhân vật chính, nhà báo người Anh Fowler, nói. “Đồng nghiệp của tôi tự gọi họ là thông tín viên. Tôi thích cái tên gọi phóng viên hơn. Tôi viết những gì tôi nhìn thấy. Tôi không can thiệp vào, ngay cả một ý kiến cũng là một sự can thiệp. Chúa Trời bảo vệ chúng ta trước những người vô tội và những người tốt.”

Ở Sài Gòn, tôi đã đặt một phòng trong khách sạn “Continental Palace”, phòng mà 1952/53 Greene cũng đã sống ở trong đó vào thời của cuộc chiến tranh chống Pháp. Ngôi nhà được sơn trắng xóa từ thời chuyển tiếp thế kỷ có một nét quyến rũ xưa cũ mà người khách từ châu Âu bị thu hút một cách tự phát và mãi mãi. Cũng vì vậy mà sống ở “Continental” trước hết là phóng viên từ châu Âu, và tất nhiên là các old China hands, các tay kỳ cựu ở châu Á, những người tiếp tục nối tiếp phong cách sống thời thuộc địa.

Đại đa số các phóng viên trẻ tuổi từ Mỹ, trước hết là những đội truyền hình của ba kênh lớn CBS, NBC và ABC, sống trong khách sạn cao tầng “Caravelle” hiện đại, được điều hòa nhiệt độ toàn bộ và vì vậy mà quá lạnh, và mãi vào cuối những năm năm mươi mới được xây lên. Hai khách sạn, “Continental” và “Caravelle” nằm cạnh con đường mua sắm nhiều bóng mát, con đường đã từng là Rue Catinat thanh lịch và bây giờ có tên là Tự Do. Người ta không cần tới một trăm bước chân, để từ khách sạn này qua nhà hát tới khách sạn kia; thế nhưng ở đây có một đường ranh giới vô hình chạy ngang qua, chia cắt hai thế giới.

Vào buổi chiều, khi mặt trời đang lặn pha một sắc màu xanh nhạt hay tím vào ánh sáng đang yếu dần đi, hàng hiên của “Continental” trở thành một trong những cái chợ tin tức quan trọng nhất của thành phố. Khách sạn này cao bốn tầng, có những lối vào rộng rãi và hành lang có trần cao, để không khí có thể tuần hoàn được. Máy điều hòa nhiệt độ kêu lạch cạch trong những gian phòng rộng mênh mông với những cái ghế mây hay bàn ghế bọc chất dẽo, để cho nước ngưng tụ của nó nhỏ giọt xuống đường phố và làm đầy bầu không khí bằng một âm thanh nền thật to. Ở tầng trệt, phía hướng ra đường phố, khách sạn có một hàng hiên rộng mà ở đó người khách có thể nhìn thấy hoạt động trên đường phố, và đồng thời cũng để cho khách bộ hành quan sát mình.

Aussi bien qu’en France [Cũng tốt như ở Pháp]”, ông chủ người Pháp nói. Philippe Franchini có gốc Corse-Việt, có tài trong kinh doanh cũng như mỹ thuật. Ông biết những lời ám chỉ văn học về cái “etablissement” của ông trong các tác phẩm của Greene, André Malraux và cả trong những vở kịch của Noël Coward, người trên hàng hiên này đã phác thảo vở “Mad dogs and Englishmen” của ông. Ai kết bạn với giới này, người đó nhìn Sài Gòn bao quanh mình với đôi mắt phê phán, không phải là không có một chút nuối tiếc. Một làn sóng dollar đã cuốn trôi đi một phần lớn bầu không khí thuộc địa Pháp. Sài Gòn thay đổi hết sức nhanh chóng trong cơn say của một nền kinh tế phát đạt nhờ chiến tranh.

Một thiểu số nhỏ trên hàng hiên là các đại tá tóc vàng hớt kiểu bàn chải từ các ban tham mưu của Mỹ, những người mà Mary McCarthy đặc biệt khinh thường, ít khi trong quân phục, thường hơn là trong những chiếc quần ngắn Bermuda kẻ ô, trong môi trường này trông giống như quần áo gánh xiếc. Chen chúc ở cạnh bậc thềm vào hàng hiên, nơi những người bồi bàn kỳ cựu phục vụ citron pressé soda hay bia “33” bản địa, là những đứa bé ăn xin, những cô gái trẻ lả lơi, thường là con lai, và những người bán sách rong đang giữ cân bằng chồng sách trên tay họ và bị những người bồi bàn to tiếng và dứt khoát đuổi xuống đường khi cố gắng bắt chuyện với người mua ở cạnh bàn. Ngược lại, những đứa bé đánh giày thì lại được khoan dung cho, đánh bóng giày trên vỉa hè trong khi khách hàng của chúng chân không giày uống xì xụp sundowner của họ.

“Mỹ, Mỹ”, ngày nay thì trẻ con Việt Nam gọi tất cả “người da trắng” là như vậy. Đối với đại đa số người Việt, chủng tộc mới là cái quyết định, không phải quốc tịch. Thang điểm giá trị trong người dân có mười bậc. “Số một” là lời khen tốt nhất. Trước bậc thềm của hàng hiên người ta luôn nghe được tiếng gọi to: “You, Merican, namba ten.”

Thời đó, người ta đã mô tả Sài Gòn như là một siêu thị khổng lồ. Đổi tiền ở khắp nơi, đô la “xanh” của Mỹ được đổi lấy tiền đồng theo giá chợ đen, cái để cho những con búp bê trong vô số các quán rượu nhảy múa. Ở Nam Việt Nam chưa từng bao giờ có nhiều tiền và ngoại tệ hơn như trong những năm người Mỹ tham chiến. Qua trộm cắp, buôn lậu, tham nhũng và biển thủ, hàng triệu và vào lúc cuối hẳn là hàng tỷ đã rò rỉ vào một xã hội có kẻ thắng lớn và người bị thiệt thòi, một xã hội phân chia lợi nhuận hết sức không đồng đều, nhưng gián tiếp thì hầu như tất cả, ít nhất là trong các thành phố lớn, đều có phần. Một con số lớn người dân, lớn tới mức đáng ngạc nhiên, đã có thể chuyển từ xe đạp sang xe gắn máy. Con số lớn của những chiếc xe gắn máy Nhật tỏa khói mù mịt đã làm thay đổi hình ảnh của thành phố nhiều hơn tất cả các hệ quả khác của chiến tranh.

Những ngôi nhà đồ sộ màu đất son thời thuộc địa mà bộ máy nhà nước đóng ở trong đó được bảo đảm bằng nhiều hàng rào dây kẽm gai, gây trở ngại cho giao thông, vì người đi bộ vì vậy mà bị trục xuất xuống lòng đường, nơi những chiếc Honda đang đòi chiếm chỗ. Dây kẽm gai, chướng ngại vật và những tấm lưới thép trước cửa sổ minh chứng cho mối đe dọa hiện diện ở khắp mọi nơi của những người ném bom và kẻ ám sát. Sự thịnh vượng nhân tạo, một dòng giao thông mà thành phố có nguy cơ chết ngạt vì nó, và dây kẽm gai ở khắp mọi nơi, đã mang lại cho Sài Gòn của thời đó một hình ảnh mới, xấu xí. Trong “Antimémoires”, André Malraux nhớ lại “sự buồn tẻ của Nam Kỳ”, về những cái nón cối, giờ uống rượu absinth xanh trên hàng hiên “Continental”, “khi buổi chiều tối ngắn ngủi hạ xuống những cây phượng vĩ, xuống những chiếc xe mui trần đang chạy ngang qua trên Rue Catinat trong tiếng ồn từ những cái chuông của chúng”. Sài Gòn của những năm ba mươi đã suy tàn, chìm vào trong làn nước của một trận ngập lụt dollar, cái không chỉ làm thay đổi hình ảnh bên ngoài, cái cũng đã làm thay đổi cả tinh thần của thành phố,

Quán rượu, tiệm mát xa và nhà chứa đã có từ thời Pháp. Nhưng vào thời đó thì chúng còn ở trong bí mật, được che đậy và giữ kín trước con mắt của một xã hội có vẻ như là đoan trang. Cuộc sống hai mặt về đạo đức như vậy bây giờ không còn cần thiết nữa. Thói xấu hiển lộ một cách trần trụi và thành thật. Quy mô và phong cách đã thay đổi. Các cô gái đứng đường cho thấy rõ rằng có tiền thật sự là có thể mua được tất cả. Đạo đức chưa từng bao giờ khác đi, nhưng phong cách thưởng thức thì có khác. Lối sống Pháp buộc người ta phải kín đáo. Người Mỹ thì ngược lại khiến cho người ta, trước hết là các nhà quan sát người Việt, có cảm giác là họ thô tục, bất lịch sự và đáng ghét.

Nhưng họ giàu có, và họ có nhiều quyền lực. Họ tự tin nhìn xuống những người Pháp còn ở lại Nam Việt Nam. Nhóm người Pháp, vẫn còn khẳng định được vị trí của họ trong khách sạn, nhà hàng và các công ty dịch vụ, được nhẫn nại khoan dung như một cách để phong phú hóa môi trường thành thị. Cả việc làm giàu về mặt ẩm thực cũng được đa số người Mỹ đánh giá cao. Người Mỹ chỉ không muốn biết tới các trải nghiệm về chính trị và quân sự mà Pháp đã có ở Việt Nam. Các vấn đề của quá khứ, những người bảo vệ mới của Nam Việt Nam tin là như vậy, hết thảy đều xuất phát từ thuộc địa hóa, đàn áp và bóc lột bởi Paris. Ngược lại, nước Mỹ chiến đấu không tư lợi, vì lợi ích của người Nam Việt Nam. Nước Pháp phải thất bại. Kinh nghiệm của họ không dạy được điều gì. Họ chỉ xác nhận nhận thức đã rõ, rằng thời thuộc địa đã qua đi và không bao giờ quay trở lại nữa.

Người Pháp đáp trả sự không ưa thích đó từ sâu thẳm trong thâm tâm. Họ cảm nhận Sài Gòn như là một siêu thị có những con “siêu khỉ” đang tụ tập ở trong đó. Họ không  muốn rời bỏ niềm tin, rằng họ hiểu người Việt tốt hơn nhiều khi so với những người Mỹ hoàn toàn không hiểu biết gì. Họ xem Nam Việt Nam là sở hữu của họ, là người tình của họ, người đã bỏ đi theo một gã nhà giàu xấu xí. Một ngày nào đó, đất nước này sẽ quay trở lại ở bên cạnh nước Pháp.

Có một lời khẳng định đã suy đồi thành định kiến, rằng Sài Gòn thời đó duy nhất là một nhà chứa khổng lồ, sống ở đó là những kẻ hưởng lợi từ chiến tranh, dân buôn lậu, ma cô và gái điếm. Phim Mỹ về Việt Nam như “Full Metal Jacket” của Stanley Kubricks đã hạ thấp hiện thực xã hội của Nam Việt Nam xuống tới những tình trạng như vậy, cái cũng đủ để cho cả những nhà phê phán người Pháp đưa ra một phê phán chung cho cả đất nước này từ đó.

Thật sự thì Nam Việt Nam đã khiến cho người ta ngạc nhiên nhiều hơn, qua sự tồn tại bên cạnh nhau của chiến tranh và hòa bình, của sự biến dạng và trạng thái bỉnh thường không hề bị ảnh hưởng tới, của dâm tục và thơ mộng, cái còn cho phép một phần lớn con người khẳng định được tính chất riêng biệt và phẩm giá của họ trong một xã hội mang dấu ấn của chiến tranh, bạo lực và xáo trộn. Đặc biệt là ở tỉnh và làng quê, con người vẫn giữ vững truyền thống của họ, những cái đã chống chọi lại được với ảnh hưởng của nền văn minh Pháp và bây giờ cũng sống sót qua được chiến dịch của người Mỹ nhằm để chiếm lấy các “trái tim và đầu óc”.

Sài Gòn, thủ đô to lớn, tăng trưởng lên hơn hai triệu dân cư trong miền Nam, là một trường hợp đặc biệt mà trong đó xã hội đã thay đổi và tan rã nhiều hơn là trong phần còn lại của đất nước. Trong khi đó, thời 1967, thì con người ở đây vẫn còn được chiến tranh thật sự, và những tàn phá do một cỗ máy chiến tranh hiện đại gây ra, dung tha cho hoàn toàn.

Tuy vậy, vào mỗi tối, ngay cả từ hàng hiên của “Continental”, người ta vẫn có thể nhìn thấy flair, những “cây Giáng Sinh” như người ta nói trong Đệ nhị Thế chiến, treo dưới những cây dù lơ lửng trên bầu trời, để chúng chiếu sáng trong vài phút một chiến trường đã kéo vào cho tới tận ngoại ô của Sài Gòn. “Cây Giáng Sinh” trên bầu trời mang lại cho những người mới đến một ấn tượng đầu tiên, rằng chiến tranh và hòa bình nằm gần nhau cho tới đâu ở đây.

Một âm mưu chống khán giả

Giấy phép ra chiến trường có ở “Military Assistance Command Vietnam”, viết tắt là MACV (và đọc là “Macvi”). Cơ quan thông tin của MACV đóng trong khách sạn “Rex” trước đây, nằm cạnh đại lộ Lê Lợi rộng lớn, cách các ngôi nhà trọ cho những đoàn lữ hành của giới báo chí, “Continental” và “Caravelle”, không đầy 200 mét. Dây kẽm gai giới hạn lối vào ở bên hông. Một người canh gác kiểm tra giấy tờ cá nhân. Qua những bức tường bằng gỗ, gian sảnh lớn ở tầng trệt được chia ra thành những phòng làm việc nhỏ, được liên kết với nhau bằng những hành lang dài, chật hẹp. Người khách thật sự là phải len lỏi qua đó, vì đứng khắp nơi trên hành lang là những bình nước uống thật to mà không có chúng thì nhân viên rõ ràng là không thể chịu đựng được bầu không khí bị làm lạnh quá mức này. Ly giấy mỏng, có màu trắng nằm đó sẵn sàng để ai cũng có thể uống nước theo nhu cầu.

Thư viện Abraham Lincoln và rạp REX, Sài Gòn 1965
Thư viện Abraham Lincoln và rạp REX, Sài Gòn 1965

Ngồi trong các ô chật hẹp là những người đại diện cho JUSPAO, “Joint United Public Affairs Office”, và các sĩ quan báo chí của bốn binh chủng: lục quân, cổ da, không quân và hải quân. Công việc ghi chép do phụ nữ người Việt nói tiếng Anh tiến hành, tất cả đều trong chiếc áo dài, y phục dài bằng lụa với quần dài và rộng và một chiếc áo váy được xẻ ra, dài quá gối. Ngồi ở phía sau các cái bàn giấy có bảng tên là những sĩ quan cường tráng trong quân phục được hồ cứng, thường là trung tá, có sẵn trong túi bên cạnh cây bút bi là một cái cây que chỉ bằng kim loại có thể kéo dài ra được, để có thể giải thích tất cả các vấn đề qua những bài thuyết trình ngắn, cạnh những tấm bản đồ và biểu đồ.

Để được công nhận, người ta chỉ cần một văn thư của tòa soạn từ quê hương, một giấy giới thiệu của sứ quán và một vài tấm ảnh để làm thẻ. Trước khi tấm thẻ báo chí bọc nhựa nhỏ được trao ra, người ta còn phải ký tên trên một văn kiện, miễn cho Hoa Kỳ tất cả các phí tổn sau này, kể cả việc mang trở về nhà trong quan tài.

Tấm thẻ báo chí cho cuộc chiến mang lại cho người sở hữu nó địa vị của một đại úy, người có quyền sử dụng các phương tiện vận tải của quân đội, đi khắp nước, xa cho tới nơi nào mà máy bay và trực thăng bay tới đó. Người này nhận nơi ăn ngủ của mình ở tại đơn vị tương ứng, nơi đón tiếp khách nhà báo bằng phòng PR riêng của họ, và trong lúc đó thông thường bao giờ cũng hào phóng và sẵn sàng giúp đỡ. Sẽ thuận lợi hơn, nếu như người ta thông báo trước những lần tới thăm các đơn vị qua phòng báo chí của các quân chủng trong JUSPAO. Nhưng nếu ai thích đi mà không báo trước, cứ để ngẫu nhiên đưa đẩy, đi nhanh tới nơi chiến sự đang là tít trên báo, thì cũng được tiếp đón và cung cấp cho tất cả những thứ cần thiết.

Không một người tháp tùng, không một người giám sát nào can thiệp vào trong công việc của các nhà báo. Báo chí được tự do, và được mời hãy tạo cho mình một hình ảnh riêng. Quân đội chỉ không muốn đảm nhận những rủi ro cho thân thể và tính mạng. Mặc dù vậy, tất cả các nhà báo bị thương tất nhiên đều được trực thăng cứu cấp bay chở ra khỏi chiến trường và được chăm sóc trong các bệnh viện quân đội. Không ít người – tôi thuộc trong số đó – mang trong thâm tâm một sự biết ơn to lớn vì việc này cho tới ngày hôm nay.

Tất nhiên là trước khi nhà báo có thể đi vào chiến tranh ở ngoài kia trên đồng ruộng và trong rừng rậm thì họ phải chịu đựng một nổ lực public relation hết sức lớn từ những cơ quan thông tin kết hợp của các cơ quan dân sự và quân sự của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Cùng với tấm thẻ báo chí, con người mới đến còn nhận được một press kit, hàng chồng tài liệu giải thích ý nghĩa của việc Hoa Kỳ tham chiến tại Nam Việt Nam và không để cho bất cứ một sự nghi ngờ nào trỗi dậy về việc quyền lực dẫn đầu Phương Tây sẽ vượt qua được thách thức này. “Hỏi: Tại sao Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ chiến đấu ở Việt Nam?”, theo như một talking paper của tháng Hai 1967: “Trả lời: Trong những điểm chính: Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam vì a) nền hòa bình và an ninh Đông Nam Á có tầm quan trọng sống còn cho lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ; b) Hoa Kỳ có nghĩa vụ bảo vệ Nam Việt Nam trước một cuộc xâm lược từ bên ngoài.”

Khác với những cuộc chiến trước đây, hoạt động tham chiến ở Việt Nam không thổi dậy một cơn say quốc gia mà tuyên truyền chỉ cần hỗ trợ cho nó. Trong Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến, cả trong Chiến tranh Triều Tiên, đối thủ có thể xác định được một cách rõ ràng, việc làm của quốc gia dường như là đúng đắn, quốc gia đứng sau lưng quân đội và chính phủ, để giúp cho tự do, công lý và cái thiện có thể chiến thắng. Tình trạng khẩn cấp được Quốc Hội xác nhận cho phép kiểm duyệt và giới hạn tự do thông tin vì lợi ích của an ninh quốc gia,

Trong Chiến tranh Việt Nam thì ngược lại, một “tam hiệp” từ nhân dân, chính phủ và quân đội, được lý thuyết gia về chiến tranh người Đức Carl von Clausewitz khuyến cáo, đã không hình thành. Người dân không được tham gia vào trong các quyết định dẫn tới cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á. Một chiến dịch PR không tiền khoáng hậu của chính phủ có nhiệm vụ thuyết phục nhân dân và giới công khai Mỹ tin tưởng vào sự cần thiết và tính đúng đắn của cuộc chiến.

Hàng ngày vào lúc năm giờ chiều có một cuộc họp báo diễn ra trong gian sảnh nhà hát của khách sạn “Rex”. Một phát ngôn viên của Đại sứ quán Hoa Kỳ thông tin về các vấn đề chính trị xã hội; giới quân đội phân phát “news release” của họ, thông cáo của Bộ Tham mưu tổng kết và xác định số lượng chiến dịch của ngày hôm trước. Một phát ngôn viên quân đội giải thích thông cáo đó và trả lời các câu hỏi của giới nhà báo.

Làm đạo diễn ở hậu trường là một PR manager lực lưỡng, hút thuốc liên tục. Barry Zorthian. Trên gương mặt sắc nét của mình, ông phải cố gắng lắm mới che dấu được cảm nhận của ông về chất lượng của màn trình diễn đang được tiến hành. Ông chứng tỏ mình có nhiều sự thông hiểu tới mức đáng ngạc nhiên cho các nhà báo hay hỏi khiêu khích. Làm cho ông chán ngán trước hết là những sự cố có thể tránh được do chính nhân viên của ông gây ra, nhưng đặc biệt là từ đại diện của các quân chủng. Ông chỉ bước lên sân khấu trong trường hợp khẩn cấp: khi các phát ngôn viên vướng vào bẫy của các nhà báo đang hỏi. Zorthian thích “mát xa cá nhân” trong phòng làm việc ốp gỗ của ông hơn, hay cả một bữa ăn trưa trong căn hộ tư của ông. Ông đã thực hiện nhiệm vụ khó khăn của mình với nhiều tính thuyết phục và tài khéo léo cho tới mức Time/Life sau này đã mời ông về làm việc trong ban giám đốc.

Zorthian không có ảnh hưởng gì nhiều tới chính sách thông tin của quân đội. Tướng William C. Westmoreland, viên tổng chỉ huy Mỹ ở Nam Việt Nam, và bộ tham mưu của ông phớt lờ mọi lời khuyên và phê phán. Họ giảm các thông tin quân sự xuống tới mức nó phá hủy ý nghĩa và chỉ để lại những mảnh, những phần không còn liên quan gì tới hiện thực nữa. “Các lực lượng của Sư đoàn 25 (Nam Việt Nam)”, như một thông báo đặc trưng, “và của Trung đoàn 11 Không kỵ Mỹ vào trưa ngày hôm qua đã giết chết 142 Việt Cộng cách Sài Gòn 15 dặm về phía Tây Nam.” Một thông tin như vậy đặt ra nhiều câu hỏi hơn là nó trả lời. Ai là 142 Việt Cộng đó? Có thu được vũ khí cùng con số đó hay không, điều có thể khiến cho người ta chắc chắn là không có người dân thường nào bị giết chết và rồi bị ghi nhận là lính tử trận? Tổn thất của chính mình là bao nhiêu? Ai đã khởi động cuộc giao tranh?

Vụ thảm sát Mỹ Lai, vụ việc mà trong đó một trung đội do thiếu úy William Calley chỉ huy đã bắn chết mấy trăm người dân thường tay không, phần lớn là phụ nữ và trẻ con, xuất hiện trong thông cáo của ngày đó qua diễn đạt như sau: “… giết chết 128 địch quân gần thành phố Quảng Ngãi”. Những vụ ném lầm, ném bom nhầm vào lực lượng của chính mình hay vào dân thường, được gói ghém vào trong uyển ngữ: “Ném ngẫu nhiên chất nổ”.

Trong “Người Mỹ trầm lặng”, Graham Greene đã mô tả lại một cuộc họp báo của tổng chỉ huy Pháp mà trong đó sự thật về tổn thất của của chính họ được giấu giếm một cách hết sức vụng về và vì vậy mà hết sức buồn cười. Các đối thoại đó là trích dẫn thật sự, chúng được trích dẫn lại từ ghi chép của một briefing. Hiện thực vượt quá sự tưởng tượng.

Không muốn và không có khả năng mô tả diễn tiến của các chiến dịch quân sự một cách phù hợp và có nghĩa lý, đó dường như là đặc tính của tất cả các quân đội mà không cần phải nhìn tới một quốc gia nào. Ở người Mỹ tại Sài Gòn thì sự đánh lạc hướng thông tin này hết sức tai hại, vì tụ tập lại trong “Rex” là một giới báo chí nhanh chóng nghi ngờ tất cả những người có chức vụ, đặc biệt là các tướng lĩnh; và là một giới báo chí mà đã tìm được phương tiện và đường lối để thu thập thêm dữ liệu, nhiều hơn là giới quân đội muốn công bố.

Một người hầu như lúc nào cũng tham dự cuộc họp năm giờ và “nướng” các phát ngôn viên qua những câu hỏi có chủ ý là Joe Fried, một phóng viên nhỏ người, trông có vẻ buồn rầu, đại diện cho New York Daily News. Joe Fried lôi các mâu thuẫn ra ánh sáng, làm lộ rõ các giả mạo và khiến cho các phát ngôn viên phải nói lắp qua một sự kiên trì gây bực mình và kiệt quệ. Ngày nào ông cũng chứng minh tính không thể tin cậy được của các thông cáo. Nhưng tất nhiên là cả ông cũng không thành công trong việc bổ sung thêm hiện thực vào cho các thông tin chính thức.

Trụ sở Bộ Chỉ Huy Quân Viện, Sài Gòn 1969
Trụ sở Bộ Chỉ Huy Quân Viện, Sài Gòn 1969

Chỉ sau vài ngày, kẻ mới đến Sài Gòn đã biết màn tuyên truyền nào được trình diễn ở “Rex” cho mình. Đại sứ quán Mỹ lan tỏa sự lạc quan đi khắp nơi. “Gánh nặng lịch sử của người da trắng” được tuyên bố thành “gánh nặng của thế giới tự do”. Và thật sự là các lực lượng của họ, người Nam Việt Nam, người Mỹ, Nam Triều Tiên, người Úc, New Zealand, Philippines và Thái, những người tham chiến với lực lượng nhiều ít khác nhau, cũng thật sự được gọi là “Free World Forces”.

“Tất cả các dữ liệu số lượng có được cho thấy rằng chúng ta thắng cuộc chiến này”, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert S. McNamara đã tuyên bố như vậy ngay từ năm 1962. Qua leo thang, qua tăng lực lượng quân đội lên tới hơn 400.000 người và qua cuộc chiến tranh bỏ bom chống miền Bắc, chính quyền Johnson nhìn thấy thời điểm đó đã tới, thời điểm mà Việt Cộng lui vào rừng rậm, đơn giản là ngừng chiến đấu mà không chính thức thừa nhận chiến bại. “Cỗ máy tuyên truyền Lầu Năm Góc”, cái mà thượng nghĩ sĩ Fulbright sau này mổ xẻ, cung cấp hàng ngày cho giới truyền thông những thông tin mà toàn bộ chúng chỉ để cho người ta đi tới một kết luận: rằng cuộc chiến diễn ra thuận lợi và không hề có nghi ngờ nào về việc ánh sáng đã bắt đầu xuất hiện ở cuối đường hầm.

Ngay từ 1962, từ cuối thời của nhà độc tài Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm, nhà báo Mỹ được phép hoạt động chính thức ở Sài Gòn đã lột trần sự lạc quan chính thức này ra như là một ảo tưởng. Neil Sheehan, David Halberstam, Peter Arnett và François Sully, để chỉ kể ra bốn tên tuổi, nhờ vào các điều tra ngoài chiến trường mà đã có ấn tượng chắc chắn rằng cuộc chiến của Mỹ không hứa hẹn sẽ thành công, rằng các tướng lĩnh đánh lừa giới công khai khi họ đặt chiến thắng vào trong tầm nhìn. Thế hệ đầu tiên của các nhà báo phê phán còn không hề hoài nghi ý nghĩa, sự cần thiết và tính hợp pháp của cuộc chiến. Nhưng họ không tin tưởng vào phương pháp, chiến lược và đặc biệt là chính sách thông tin hướng tới chiến thắng.

Các tướng lĩnh và đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn bộc lộ một sự cay đắng về việc nhà báo đặt sự kiện lên cao hơn danh dự của quốc gia. Khi Peter Arnett, phóng viên của Associated Press, đặt ra một câu hỏi mang tính phê phán cho đô đốc Felt, câu trả lời mang tính đặc trưng của ông là. “Get on the team” – “Hãy bước sang phía chúng tôi!”

Sau bốn tuần ở Sài Gòn, tôi gởi về cho [Đài Truyền hình và Phát thanh Bắc Đức] NDR một bài tường thuật về chính sách thông tin của đại sứ quán Mỹ, một bài tường thuật mà về sau này trông rất ôn hòa: Công tác báo chí có những yêu cầu vượt quá sức lực của sự hiểu biết thông thường. Nó không khéo léo, không chuyên nghiệp, lừa dối, với một từ: không đáng tin. Ngày nào đại sứ quán cũng thành công trong cố gắng nhấn mạnh ấn tượng không có lợi này.

Douglas Pike, một chuyên gia CIA về phân tích các tài liệu tịch thu được, người đã làm việc sáu năm trong bộ máy thông tin Sài Gòn trước khi ông trở về với nghề nghiệp hàn lâm năm 1966 và công bố một nghiên cứu cơ bản về Việt Cộng và tổ chức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, đã viết một câu mang tính hủy diệt ở trong đó: “Việt Nam là một ác mộng giống như trong mô tả của Kafka đối với mỗi một người muốn biết sự kiện thật. Nhiều điều được giữ bí mật. Nằm ở phía sau các thống kê được công bố là lĩnh vực của ‘các thông tin được mã hóa’, cái mà thống chế Foch đã từng gọi là ‘sương mù của chiến tranh’.”

Ngay từ giai đoạn cuối của nền độc tài Diệm, khi còn có chưa tới một tá thông tín viên Mỹ trú đóng dài hạn ở Sài Gòn, các thông tấn xã AP và UPI, nhưng trước hết là New York TimesNewsweek đã thổ lộ sự hoài nghi, rằng liệu diễn tiến của cuộc chiến có bào chữa được cho sự lạc quan này không. Viên tổng thống tự tin và kiêu ngạo Diệm đã gây khó khăn và cản trở những người phê phán xa lạ đầu tiên này, còn trục xuất cả François Sully, cộng tác viên của Newsweek, ra khỏi nước nữa, nhưng vẫn không thể làm mất tác động của giới báo chí đối lập lên dư luận.

Năm 1967, năm năm sau đó, đã có hơn hai trăm thông tín viên nước ngoài hoạt động chính thức ở Sài Gòn, đa số đều tự tìm kiếm dữ liệu, tạo cho mình một hình ảnh riêng về tình hình ở ngoài kia và bổ sung hay phủ nhận đường lối thông tin chính thức. Các PR manager của đại sứ quán và của quân đội đã không thể ngăn chận các phân tích phê phán và cảnh báo của giới báo chí. Vì cuộc chiến không được tuyên bố nên không có công cụ pháp luật để giới hạn tự do báo chí và áp dụng kiểm duyệt. Thời gian này, trong số các nhà báo có không ít người hoài nghi không chỉ các phương pháp. Họ lên án cuộc chiến từ những lý do về pháp lý và đạo đức và tìm các dữ kiện để, như Mary McCarthy đã nói, “gây hại cho lợi ích của Mỹ”.

Diệm bị lật đổ. Những người nối tiếp ông, các tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ kình địch với nhau, không có uy quyền để có thể thu hẹp được không gian hoạt động của báo chí. Điều tồi tệ nhất mà một nhà báo đối lập ở Việt Nam có thể trải qua là bị từ chối thị thực tái nhập cảnh.

Chỉ một vài thông tín viên là đã nhận được sự chú ý này của chính phủ Nam Việt Nam. Năm 1970, tôi đã đứng một thời gian trên danh sách đen, vì tôi đã nhắc lại trong một bài báo, rằng tính đáng tin cậy quốc gia của tướng Thiệu bị giới hạn do ông đã nhận được bằng sĩ quan của mình từ thế lực thực dân Pháp, trong khi Hồ Chí Minh trong cuộc chiến đấu chống Pháp đã lớn lên trở thành biểu tượng của kháng chiến. Lúc tái nhập cảnh trong tháng Mười năm 1970, vì chuyện đó mà tôi đã bị một nhân viên xuất nhập cảnh giam lại trong một phòng cách ly ở sân bay Tân Sơn Nhứt, cho tới khi chiếc máy bay mà tôi bay từ Bangkok tới đó khởi hành quay trở về. Sau một giờ, tôi bị áp tải ra máy bay và bị trục xuất. Qua can thiệp trong yên lặng của đại sứ quán Đức ở Sài Gòn và của Bộ Ngoại giao, biện pháp trừng phạt này chẳng bao lâu sau đó đã bị bãi bỏ.

Cả các cơ quan Mỹ, bất cứ lúc nào có thể, cũng đứng ra bảo vệ các nhà báo bị giới quân sự Nam Việt Nam đe dọa trục xuất hay không cho nhập cảnh. Nhiều lý tưởng đã không được quan tâm tới hay bị làm tổn thương trong cuộc chiến tranh Việt Nam bẩn thỉu. Tự do thông tin và báo chí hầu như không bị động chạm tới. Một giới báo chí làm tròn chức năng của nó, tức là cung cấp thông tin về các sự kiện cho công chúng một cách tốt nhất theo khả năng và lương tâm, kiểm tra và bổ sung các thông tin chính thức, đã có ảnh hưởng lớn tới diễn tiến và kết quả của cuộc chiến tranh này. Vì từ 1960 cho tới 1975 người ta đã có thể quan sát thấy bài học truyền thông chính trị có một không hai này mà hậu quả của nó vẫn còn tác động cho tới ngày hôm nay, nên vai trò của giới báo chí ở Việt Nam xứng đáng có được một sự quan tâm về cơ bản. Trong bài học này, các nhà báo chắc chắn không chỉ đóng một vai trò anh hùng, miễn cho họ được một sự tự phê phán. Họ đã phạm những lỗi lầm của họ, những cái đã lộ rõ ra trong trận tấn công vào dịp Tết [Mậu Thân].

Ra chiến trường

Trong khu quân sự của cảng hàng không Tân Sơn Nhứt ở Sài Gòn có một sảnh đi đặc biệt dành cho những chuyến bay tới các chỗ đóng quân của quân đội. Từ đây, trực thăng bay tới Củ Chi, vào trong “Tam Giác Sắt” nằm ở phía Tây Bắc của Sài Gòn, nơi các đơn vị Việt Cộng đã đào hầm hố đúng theo nghĩa đen và luôn tấn công các tiền đồn Mỹ từ những nơi ẩn náu bí mật. Máy bay vận tải C-123 hai động cơ phục vụ cho các tuyến vào vùng đồng bằng sông Cửu Long, tới Mỹ Tho và Cần Thơ. Những chiếc “Hercules” C-130 bốn động cơ được sử dụng cho tuyến ra phía Bắc. Huế và Đà Nẵng nằm cách đó khoảng một ngàn kilômét.

Sân bay Tân Sơn Nhứt với tòa nhà MACV
Sân bay Tân Sơn Nhứt với tòa nhà MACV

Người sở hữu tấm thẻ báo chí được phép sử dụng dịch vụ chuyên chở của không quân trên thực tế là không có giới hạn. Tuy vậy, chỉ hành lý xách tay cho tới cỡ của một cái túi du lịch to là được chấp nhận. Các phóng viên được đối xử như người của quân đội. Việc thâm nhập vào trong bộ máy quân đội dễ thành công nhất khi nhà báo tìm mua ở chợ đen một bộ quân phục nhiệt đới màu xanh và ăn mặc như những người lính, với tên thêu trên áo khoác, xếp vào hàng của những người đang đứng chờ. Không một ai bị ép buộc phải mặc quân phục. Nhưng sự nhận dạng ở vẻ ngoài với quân đội tạo thuận tiện cho việc tiếp xúc và rút ngắn khoảng cách ở giữa những người lính phải tuân theo mệnh lệnh và các nhà báo tình nguyện ra chiến trường.

Cả trong quân phục, tôi chưa từng bao giờ có cảm giác mình là một người lính. Chiếc máy đánh chữ du lịch ở trên tay khiến cho bất cứ ai cũng biết rõ, rằng viết và mô tả là nhiệm vụ, không phải hoạt động và chiến đấu, chắc chắn là không với vũ khí. Tuy vậy, có không ít phóng viên chiến trường mang theo mình một khẩu súng ngắn, để có thể tự vệ trong trường hợp khẩn cấp. Từ những lý do về nguyên tắc mà tôi cùng với đa số các nhà báo đều không mang vũ khí, chỉ là người quan sát, người tường thuật cho tới cuối cùng và còn không chiến đấu để tự bảo vệ nữa.

Các hàng ghế ngồi, được đan lại bằng dây đay trong các máy bay vận tải quân sự, được đặt dọc chứ không phải ngang theo hướng bay, trong các chiếc “Hercules” là bốn hàng ghế dài, hai hàng có lưng tựa vào vách ngoài, hai ở giữa thân máy bay. Chỉ có một vài cái cửa sổ tròn mang ánh sáng vào bên trong. Tiếng ồn của các động cơ to nhức nhối cho tới mức các hành khách chỉ có thể ra dấu hiệu cho nhau. Họ bị bỏ đó một mình, giảm thiểu xuống chỉ còn tự bản thân mình. Họ có cảm giác thân phận bị trao cho một định mệnh ở trên cao, suy ngẫm về điều đó ở đây, trong chiếc máy bay, trở thành một việc bắt buộc.

Khi người ta viết về chiến tranh, theo một đoạn trong “Người Mỹ trầm lặng” của Green, “thì lòng tự trọng yêu cầu thỉnh thoảng phải chia sẻ rủi ro với những người lính”. Nhà báo có một vé khứ hồi. Điều đó khiến cho họ khác với những người lính, ganh tỵ với những kẻ tới thăm vì sự tự do này và biểu lộ một ác cảm xuất hiện hoàn toàn tự phát từ đó và thỉnh thoảng rất dữ dội. Tất nhiên, người khách không thể bỏ đi hay rút lui trong lúc còn giao tranh mà chỉ sau đó. Khi ông ấy rơi vào trong một chiến dịch thì thật sự là ông chia sẻ rủi ro đó. Ông ấy có lẽ phải chịu đựng sự căng thẳng, các hậu quả tâm lý còn nhiều hơn là những người lính ở bên cạnh ông. Vì người phóng viên chỉ quan sát, ông ta không hành động, không thể dẫn bớt áp lực ở bên trong ra ngoài qua những loạt đạn. Phóng viên chiến tranh phải biết mình tham gia vào việc gì. Cả những người không đi tìm trận chiến cũng phải tính trước với việc ngẫu nhiên rơi vào làn đạn. Chỉ ở ngoài này mới có thể trải qua được hiện thực của chiến tranh. Họp báo trong “Rex” nhiều lắm là chỉ mang lại một cảm giác.

Trong những năm sau đó, nhờ sự giúp đỡ của Không quân Mỹ mà tôi đã làm quen với các tỉnh quan trọng nhất về mặt chiến lược của Nam Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 cho tới đồng bằng sông Cửu Long. Trong những chiếc máy bay vận tải tối tăm, ồn ào, người hành khách không thể nhìn ra ngoài được. Những người lính Mỹ vững thần kinh còn có thể ngủ được cả ở đây nữa. Những người còn lại nghiên cứu diện mạo của người đối diện, chìm vào trong một tâm trạng mà ở trong đó mơ ước về một cuộc sống yên bình trộn lẫn với nỗi sợ bay trong tiềm thức.

Khi tới được các phi trường lớn Phú Bài, Đà Nẵng ở phía Bắc và Mỹ Tho ở phía Nam, người ta được chở đi tiếp tới các đơn vị chiến đấu bằng trực thăng. Trong chuyến bay đầu tiên bằng máy bay trực thăng vào vùng rừng rậm cạnh biên giới Campuchia, tôi đã ghi lại vào lúc đó: “Hai bên của con đường thẳng tắp, con đường mà chúng tôi bay theo nó trên độ cao khoảng 400 mét về hướng Bắc, đã bị làm rụng lá và “nhìn thấu được” bằng hóa chất. Các xạ thủ ở cạnh cửa mở phản ứng lại với mỗi một chuyển động trên mặt đất màu xám chết khô đó của rừng rậm bằng một loạt đạn. Chúng tôi bay qua một ‘free kill area’ mà trong đó tất cả những gì chuyển động đều bị bắn hạ. Cột khói màu trắng bay lên từ ở chân trời, đánh dấu những điểm bắn của pháo binh. Những cái trảng hiếm thấy đều đầy thẹo bằng hố bom. Mặt trời phản chiếu trên mặt nước dơ bẩn màu xám.”

Các phong cảnh khác, trước hết là ở đồng bằng sông Cửu Long, có vẻ như còn nguyên vẹn. Người nông dân làm việc trên những cánh đồng lúa gợn sóng trong màu xanh dịu dàng, Những con trâu kềnh càng giật mạnh chạy tán loạn khi máy bay trực thăng bay ngang qua chúng ở độ cao thấp. Nhìn từ trên cao xuống, người ta có được những trải nghiệm đầy ấn tượng với trật tự hình học của những con kênh đào thẳng tắp, chạy dài cho tới tận chân trời, tưới nước cho vùng đất được chia ra thành những mảnh ruộng hình chữ nhật chính xác và hết sức nhỏ. Gần những căn nhà gỗ hầu như đều đứng cạnh sông, người ta nhận ra được những giếng nước tròn mà bây giờ trong chiến tranh dễ nhìn lầm thành hố bom.

Sĩ quan báo chí của các đơn vị Mỹ, những người tiếp đón các phóng viên được máy bay chở tới, hầu hết đều là những người chủ nhà rộng rãi và sẵn sàng giúp đỡ. Máy bay trực thăng được điều sang hướng khác, để mang phóng viên tới tận nơi của các chiến dịch quân sự. Đại đội ngoài chiến trường bất thình lình thấy mình được tăng cường bởi một nhóm phóng viên truyền hình, quay chiến dịch từ ở phía sau. Các đơn vị chia sẻ hàng tiếp tế của họ một cách hoàn toàn tất nhiên với những người khách ngẫu nhiên tới. Trong rừng rậm cạnh biên giới Campuchia, chiếc máy bay trực thăng mang tới một thùng nước tắm và một thùng hàng khổng lồ với ice cream. Cả giới báo chí cũng hưởng lợi từ việc người ta tiến hành cuộc chiến này với chi tiêu vật chất rất lớn.

Không một ai, những người dám ra chiến trường, có thể hoàn toàn tránh được rủi ro và nguy hiểm. Một loạt nhà báo đã trả giá bằng tính mạng của mình cho sự liều lĩnh bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết. Những người khác đã cư xử với khả năng phán đoán và sự cẩn thận, và tuy vậy cũng đã chết khi đang hành nghề của mình. Thuộc trong số họ là Bernard Fall, một giáo sư từ Pháp nhưng giảng dạy ở Mỹ, người đã nổi tiếng trên thế giới vì những quyển sách xuất sắc của mình về Việt Nam.

Vài ngày sau khi tới Sài Gòn, tôi gặp Bernard Fall trong văn phòng của nhà ngoại giao người Mỹ Bill Steerman. Sử gia và là nhà chính trị học Fall, lúc đó 41 tuổi, thường xuyên sang Việt Nam để điều tra nghiên cứu. Ông không muốn viết về Đông Dương mà không tận mắt nhìn thấy hiện thực của cuộc chiến. Fall không hề che đậy sự mâu thuẫn trong xúc cảm của ông, cũng không che đậy sự căng thẳng tâm lý trong giây phút nguy hiểm. Trong những tình huống đó, ông thừa nhận, luôn có một câu hỏi thúc giục ông: “Mình làm cái quái gì ở đây thế này?”

Fall gây ấn tượng vì sẵn sàng chia sẻ một cách vô tư kiến thức đồ sộ của ômg và trải nghiệm của ông với đồng nghiệp. Ông dành nhiều giờ để giải thích tình hình ở Sài Gòn cho tôi, một kẻ mới tới từ nước Đức. Fall thành công một cách gương mẫu trong việc gắn kết cách làm việc hàn lâm với làm báo. Tính chất sẵn sàng giúp đỡ của ông, hoàn toàn xa lạ với tự phụ và kiêu căng, đã gây ấn tượng sâu đậm cho tôi. Fall đã tạo ra thước đo qua các điều tra nghiên cứu của ông ở ngoài chiến trường và qua các tác phẩm văn học của ông.

Vài ngày sau lần chúng tôi gặp nhau, Fall bay ra Đà Nẵng để nghiên cứu về chiến lược và chiến thuật của lính thủy quân lục chiến. Với một cái máy thâu âm trên tay mà ông dùng để ghi lại các quan sát của mình, ông đã tháp tùng một đội tuần tra ở phía Bắc của Đà Nẵng, tiến hành một chiến dịch search and destroy.

Bernard Fall biết rõ vùng này. Ông đã viết một quyển sách tạo nên tiếng tăm của mình về các chiến dịch quân sự của người Pháp ở “Con đường không vui” giữa Đà Nẵng và Huế, Bây giờ, ông đi cùng với lính marine để nghiên cứu về các khác biệt trong chiến thuật, để kiểm nghiệm lại luận điểm của ông, luận điểm mà đã làm cho ông gần như tuyệt vọng, rằng người Mỹ không có khả năng và không muốn học hỏi kinh nghiệm của người Pháp.

Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, Fall quan sát lính marine khai hỏa bắn vào những người Việt mà ông, từ khoảng cách 1100 mét, không thể nhận ra đó là Việt Cộng được. Ông nói vào máy thâu âm những lời sáu: “Tôi đã quan sát qua ống dòm của trung đội trưởng. Tôi nhìn thấy những người chạy trốn xuống thuyền và vẫy lá cờ của chính phủ (Nam) Việt Nam, với ba vạch đỏ và nền vàng. Tôi sẽ tìm hiểu thêm sau này.” Tiếp theo đó là một khoảng thời gian im lặng trên băng. Rồi tới câu nói cuối cùng: “Bóng bắt đầu dài ra. Chúng tôi đã tới phòng tuyến của chúng tôi sau trận chiến. Ngửi thấy không tốt, có vẻ đáng nghi … có thể bị phục …” Chấm dứt ghi âm. Vào ngày 21 tháng Hai năm 1967, ông đã bị giết chết trong một ổ phục kích, một cái bẫy mìn mà người Mỹ gọi là boody trap.

Đoạn văn từ bài phóng sự cuối cùng của Bernard Fall được vợ ông Dorothy kèm vào quyển sách xuất bản sau khi ông qua đời, “Last Reflections on a War”. Nó được tặng cho trung sĩ Thủy quân Lục chiến Byron G. Highland, “nhà nhiếp ảnh chiến trường, người bạn trong cái chết”.

Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967
Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967

Tổng cộng có hơn 40 nhà báo bị giết chết từ 1965 cho tới 1975 ở Campuchia, Lào và Việt Nam. Một con số cũng không ít hơn được phỏng đoán là chết, vì họ được cho là mất tích, rơi vào tay của một đơn vị quân đội thủ tiêu ngay tức khắc mà không quan tâm tới danh tính của nạn nhân. Số phận này đe dọa nhiều nhất là ở Campuchia, nơi Khmer Đỏ giết chết các đại diện báo chí rơi vào tay họ ngay lập tức.

Rủi ro xuất phát từ việc lãnh thổ của các quân đội đang chiến đấu chống lại nhau không được đánh dấu bởi một đường ranh giới rõ ràng. Một chiến tuyến chỉ có ở nơi các lực lượng đương đầu nhau và bắn nhau. Không có vùng an toàn trong một cuộc chiến tranh du kích. Địch thủ vô hình và có mặt ở mọi lúc, mọi nơi và không có ở bất kỳ nơi nào hết.

Ai thuê một chiếc ô tô ở Phnom Penh hay Sài Gòn và rồi đi ra vùng quê xung quanh, người đó phải chịu một rủi ro là đi qua vùng bị Khmer Đỏ hay Việt Cộng kiểm soát.  An toàn cá nhân của các nhà báo tự đi điều tra chủ yếu phụ thuộc vào tài khéo léo và tính đáng tin cậy của người lái xe bản địa tháp tùng và stringer. Mỗi lần dừng lại, họ hỏi thăm người dân và quân nhân, quân đội của mình đứng ở đâu và vị trí của những người cộng sản được phỏng đoán ở đâu. Từ một số lớn các ý kiến, cuối cùng họ đưa ra một quyết định; tiếp tục chạy thêm một đoạn nữa trên đường này hay quay lại. Khả năng trao đổi ở ven đường để tìm kiếm xem ranh giới vô hình đi ngang qua đâu, cái mà người ta không muốn vượt qua, làm cho người cộng tác viên địa phương trở nên không thể thay thế được, và trao cho người này một vai trò gắn kết ông với các nhà báo người nước ngoài, cả về cá nhân lẫn về tình cảm. Dith Pran, stringer trong phim “The Killing Fields”, là một ví dụ tốt cho tình thương và tình bạn đã lớn lên trong tình huống sống còn giữa một thông tín viên ngoại quốc và cộng tác viên địa phương.

Cả các stringer của [Đài truyền hình nhà nước Đức] ARD ở Phnom Penh, David Ma Chen và Savonn Chea, cũng đã dẫn dắt các đội quay phim của chúng tôi qua cuộc chiến với sự thận trọng và tinh thần trách nhiệm cao độ. Cả hai đã ở lại trong nước năm 1975 khi Khmer Đỏ chiến thắng, vì lúc đó họ đã không thể tưởng tượng được một cuộc sống di cư. Năm 1980, họ đã gửi một bức thư từ trại tỵ nạn cạnh biên giới Thái Lan – Campuchia, cái bắt đầu với dòng chữ: “Dear boss, we are still alive” – “Sếp thân mến, chúng tôi vẫn còn sống”. Năm 1981, tôi đã quay một phim cho [chương trình truyền hình] “Weltspiegel” về lần tái ngộ với David và Savonn, một phim mà không thể nào che dấu được nỗi xúc động tràn ngập trong chúng tôi. [Đài phát thanh và truyền hình Bắc Đức] NDR và Quốc hội [tiểu bang] Hamburg sau đó đã giúp đỡ, hoàn toàn không quan liêu và vượt qua tất cả các quy định và lề lối riêng, để đón hai gia đình Khmer với con cái của họ từ những trại tỵ nạn cạnh biên giới. Sau một khóa học ở Hamburg, cả hai gia đình được phân sang Singapore, nơi đội ngũ cũ lại tụ họp đủ mặt, đội ngũ mà đã từng cùng nhau chia sẻ các rủi ro của công việc tường thuật từ Campuchia.

Ung Kim Seng là stringer của chúng tôi ở Sài Gòn, người mà hỗn hợp ngôn ngữ từ tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng bồi đã làm cho sự thông hiểu trở nên buồn cười nhưng tuy vậy rất chính xác. “You go giáp giáp”, chúng tôi yêu cầu khi thấy cần thiết phải có một cuộc trao đổi với người Việt ở ven đường, để ước lượng tính an toàn cho cuộc hành trình tiếp theo. “Hai”, “người con trai thứ hai”, như ông được tất cả mọi người gọi, luôn tìm được giọng nói thích hợp để lấy thông tin từ những người nông dân hay binh lính. Khi không nhận thấy mối nguy hiểm nào, ông trở về với câu nói ngắn gọn: “No sweat, no tears” – “Không mồ hôi, không nước mắt”. Trong trường hợp nguy cấp, ông gọi to ngắn gọn theo kiểu quân đội: “Beaucoup VC” – “Nhiều Việt Cộng”.

Với một bản năng chắc chắn, ông đã dẫn dắt tất cả các đội ngũ của ARD qua những bãi mìn của cuộc chiến này. Cả ông cũng không muốn bỏ chạy năm 1975. Ngày nay ông sống ở Sài Gòn, già yếu và bệnh tật. Tôi thường tới thăm ông ở đó. Ông biết, rằng ông có thể tin cậy hoàn toàn vào những người bạn từ ARD của mình, như chúng tôi đã tin cậy ông trong chiến tranh. Sau nhiều vấn đề tạm thời với các cơ quan nhà nước cộng sản, ông lại báo cáo một cách khiêm tốn và lạc quan: “No sweat, no tears.”

Phần thưởng của sự sợ hãi

Tôi hoàn toàn không muốn qua mô tả những tình huống khẩn cấp trong nghề nghiệp để gợi lên một tính anh hùng, cái để cho thời gian ở Sài Gòn lóng lánh trong một ánh sáng tôn vinh. Các émotions fortes, những cảm xúc mạnh mà đã thúc đẩy giới trẻ đang trên đường tìm phiêu lưu và nhận thức đi vào trong cuộc chiến, xa lạ đối với tôi. Những trải nghiệm thời niên thiếu của tôi trong giai đoạn cuối của Đệ nhị Thế chiến đã làm cho tôi miễn nhiễm sự lãng mạn hóa chiến tranh.

Thời xưa, tôi đã hoài nghi và không hiểu khi đọc được những đoạn văn đó trong quyển tiểu thuyết “Người Mỹ trầm lặng” của Graham Greene, diễn tả một sự say mê nhất định, một sự hồi hộp đầy thích thú, những cái mà cuộc chiến đã tác động lên nhân vật Fowler. “Nơi không có nguy hiểm thì sẽ không có can đảm” ở một nơi và “cả tình yêu cũng có thể là sản phẩm của một cuộc chiến tích cực”. Nỗi sợ sự buồn tẻ đã khiến cho Greene chơi trò “Roulette Nga” với khẩu súng lục trong thời niên thiếu và tìm sự phiêu lưu mạo hiểm ở những nơi đang có khủng hoảng của chính trường thế giới về sau này. Ông đã nói về “cảm giác một nguồn gây cảm hứng vui vẻ”, cái “mang lại một liều nguy hiểm cho người khách tham quan có một tấm vé khứ hồi”.

Trực thăng UH-1D ở Việt Nam, 1966
Trực thăng UH-1D ở Việt Nam, 1966

Người ta cũng tường thuật về Ernest Hemingway, người đã trải qua mặt trận Ý trong Đệ nhất Thế chiến như là một người lính Mỹ và trải qua cuộc Nội chiến Tây Ban Nha như là phóng viên, rằng tình huống cùng cực của chiến tranh đã mang ông tới một trạng thái cao độ, cool và bình thản như các anh hùng trong truyện tiểu thuyết mà ông đã tạo ra theo chính hình ảnh của mình.

Tôi chưa từng có thể cảm nhận được sự nguy hiểm như là một điều để thưởng thức. Trong khoảnh khắc của nguy hiểm cao độ, bị bắn trên đồng trống hay trong chiếc trực thăng lúc di tản khỏi Sài Gòn trong tháng Tư 1975, khi tên lửa đất đối không của Việt Cộng đã đứng sẵn sàng, có thể bắn hạ các chiếc trực thăng từ trên bầu trời, tôi chỉ cảm nhận được một xúc cảm mạnh, hầu như không thể chịu đựng được: sợ hãi, sợ hãi không kiểm soát được, tới cùng với sự kinh hoàng và giận dữ, rằng không ai bắt buộc tôi phải có mặt ở đây, rằng không một nhận thức nào, không một câu chuyện nào có thể lý giải được cho một thương tích hay cái chết. Ai không sợ hãi trong các tình huống như vậy, theo tôi, thì thiếu sự tưởng tượng, người đó không biết điều gì đang diễn ra trước mình. Trong khoảnh khắc của mối nguy hiểm chết người, các cơ chế điều khiển của lý trí mất đi sức mạnh của chúng. Sự sợ hãi trần trụi, thuần túy, chiếm lĩnh cơ thể.

Mãi trong thời gian của nhiều năm, từ những trải nghiệm như vậy tôi mới nhận ra được các đặc tính của một đơn vị chiến đấu tốt, từng trải: cả trong sự hỗn loạn của những viên đạn pháo đang rơi xuống vẫn giữ vững được tinh thần, vẫn bảo tồn được sự lạnh lùng để không hành động một cách phi lý mà có kế hoạch. Lý trí không phải là yếu tố quyết định, mà là sức mạnh nội tâm, để làm giảm bớt và vượt qua sự hoảng loạn. Chỉ riêng lý trí thì không có khả năng chiến thắng được nỗi sợ hãi gây tê liệt đó.

Như đã nói, không ai bắt buộc tôi phải tới Việt Nam và tường thuật về cuộc chiến. Nghề nghiệp mà tôi tin là mình có khả năng làm được bây giờ yêu cầu tôi rời bỏ những nơi trú ngụ an toàn ở Sài Gòn, để tận mắt làm quen với diễn tiến ở mặt trận. Chỉ ở đó, nơi các quân đội bắn nhau, nơi cỗ máy của cái chết phá hủy hàng loạt làng mạc và phong cảnh, và cũng gây nhiều chết chóc trong người dân thường, thì mới quan sát được cái hiện thực mà phóng viên được gởi tới đây để tường thuật về nó. Trên hàng hiên của khách sạn “Continental”, người ta ít nhận ra được điều gì về cuộc chiến, về sự tàn phá, về các hậu quả đáng sợ cho người dân thường. Hình thức truyền thông truyền hình, kể cả những tường thuật của nhân chứng, cũng không giúp được gì, vì đó là thông tin đã qua trung gian. Chỉ ở ngoài kia tại các đơn vị thì mới có thể quay được những cảnh chiến sự.

Rủi ro của mỗi một cuộc tham quan đều có thể được giảm thiểu và giới hạn. Nhưng diễn tiến thì không thể tính toán trước được, và những “cọ xát”, như Clausewitz gọi những điều không lường trước được và những sự việc ngẫu nhiên của chiến tranh như vậy, có thể tạo nên những tình huống mà phóng viên phải chia sẻ rủi ro cao nhất với đơn vị đang chiến đấu.

Ở Việt Nam có những đội “lính đánh thuê”, giới quay phim liều lĩnh người Đài Loan, Hàn Quốc hay Nam Việt Nam, chuyên về action và bán các hình ảnh của họ cho các “network” Mỹ. Nhưng thông thường thì một đội quay phim ra chiến trường cùng với thông tín viên. Người quay phim không buộc phải chịu nhiều rủi ro hơn là người trưởng nhóm cho rằng có thể  chấp nhận được. Tuy vậy, nhiều đội đã tự nguyện tiếp tục dấn bước, xa hơn là người ta dự định. Các đồng nghiệp quay phim thuộc [đài truyền hình nhà nước] ARD của tôi, trước nhất là Henning Huge đầy nhiệt tình và cẩn trọng, đã xem rủi ro nhẹ hơn là nhiệm vụ quay những cảnh hiện thực và dữ dội của một cuộc chiến bẩn thỉu.

Những trải nghiệm tại các đơn vị nhanh chóng bù trừ cho sự việc, rằng phóng viên không phải là chuyên gia về quân sự, và tuy không nhận được một khóa đào tạo cho thành viên của một bộ tham mưu nhưng vẫn tự tin đi tới một nhận định riêng về diễn tiến và triển vọng của cuộc chiến. Nhìn cho kỹ thì các chiến dịch search and destroy được tiến hành ngày càng rộng lớn hơn, các chiến dịch mà với chúng viên tổng tư lệnh Mỹ, tướng Westmoreland có vẻ cứng nhắc và hết sức giản dị, cố gây tổn thất cho Việt Cộng, chỉ là những thất bại được tô điểm trở thành những thành công trong thống kê của các tuyên bố hàng ngày.

Vào cuối tháng Hai năm 1967, chiến dịch cho tới lúc đó là lớn nhất, “Junction City”, để cho cho 35000 người lính Mỹ và Nam Việt Nam hành quân vào cái được gọi là Chiến khu C ở phía Bắc của Sài Gòn, nằm cạnh biên giới Campuchia, để tiêu diệt các đơn vị Việt Cộng đóng ở đó. Trước đó, các phi đoàn B-52 đã ném bom rải thảm vùng này ba ngày liền. Lần đầu tiên kể từ cuộc Chiến tranh Triều Tiên có nhiều lực lượng lớn nhảy dù xuống phía sau lưng của địch thủ được phỏng đoán, để chận đường chạy trốn sang lãnh thổ Campuchia.

Mặc dù vậy vẫn không có một trận đánh theo lối kinh điển. 35.000 người lính săn lùng một địch thủ không thể tìm thấy. Trong lều chỉ huy của Lữ đoàn 196, chứa tôi như là người khách, các sĩ quan đứng bất lực trước tấm bản đồ lớn. Viên chỉ huy, Đại tá Murroy, đã cho một ngàn người tỏa ra lùng sục trong rừng rậm. Trong diễn tiến của ngày hôm đó, địch thủ đứng ra chiến đấu chống lại có thể đếm được trên đầu ngón của một bàn tay. Lính Mỹ phát hiện rất nhiều công sự và hệ thống đường hầm. Đạn dược và gạo đã bị bỏ lại. Rõ ràng là Việt Cộng đã kịp thời, có lẽ là trước cả đợt tấn công của B-52, dời vào nơi an toàn. Trên thực tế, mỗi một mũi tên trên tấm bản đồ trong căn lều chỉ huy đều đánh dấu một cú đánh vào chốn hư không. Các con số thành công được công bố ở Sài Gòn về địch thủ bị giết chết đứng trong một sự thiếu cân đối lố bịch với hiện thực.

Lính Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 173 nhảy dù trong Chiến dịch Junction City, 1967
Lính Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 173 nhảy dù trong Chiến dịch Junction City, 1967

Ai ở lại với các đơn vị chiến đấu một thời gian, người đó sẽ nhanh chóng nhận ra rằng thống kê bị làm giả mạo và bị thao túng như thế nào. Quân đội Mỹ thật không có khả năng phân biệt được giữa quân lính và người dân thường. Khi khám xét một ngôi làng, thường chỉ gồm vài ngôi nhà gỗ lợp rơm, một cái ao nước và một đống rơm, thì đa số những người trông có vẻ như thường dân đều có thể là du kích quân ngụy trang. Phụ nữ tham gia tích cực vào cuộc chiến, và cả trẻ em cũng không hiếm khi khai hỏa những loại vũ khí giết người để chống lại những kẻ xâm nhập xa lạ.

Thật là dễ dàng và rất hiệu quả cho lập luận, khi lên án lối cư xử tàn bạo của những người lính Mỹ đối với người dân thường Việt Nam. Giới truyền hình công khai của thế giới đã phản ứng một cách kinh hoàng với một action story mà một trung đội trưởng trẻ tuổi đã cho thấy trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, người phóng hỏa đốt các ngôi nhà bằng rơm của một ngôi làng. Trong lúc đó, các đơn vị Mỹ có vẻ như phi nhân đạo và tàn phá hoàn toàn có chủ ý một cộng đồng nông dân dường như là hòa bình và vô hại.

Đối với một người lính nghĩa vụ trẻ tuổi từ Mỹ, người tìm đủ mọi cách để lành lặn vượt qua 365 ngày được đếm một cách chính xác của mình, số ngày mà anh ta phải ở Việt Nam, thì tình huống đó hiện ra trong một ánh sáng hoàn toàn khác. Mỗi một người nông dân mặc quần áo màu đen truyền thống có thể là một người cầm súng chiến đấu, lừa những người lính và tấn công trong một trận phục kích. Phụ nữ và trẻ em cũng mang lại cùng một mối nguy hiểm. Những người cộng sản chiến đấu bí mật sống trong dân thường. Vũ khí của họ đã được dấu đi. Mỗi một ngôi làng Việt Nam trong thực tế là một môi trường nguy hiểm, thù địch, kỳ lạ mà những người lính Mỹ đi tuần tra không có khả năng hiểu thấu được.

Một con hào sâu chia cắt thường dân Việt với quân đội Mỹ, những người mà chỉ huy của họ ra lệnh cho họ phải bảo vệ đất nước này và người dân của nó trước chủ nghĩa cộng sản. Không có phương tiện trao đổi thông tin nào có thể bắc qua con hào đó. Câm lặng, căng thẳng, nội tâm như bị đóng băng, những người lính Mỹ thi hành các mệnh lệnh của họ. Không có người thông dịch, họ không thể giải thích các hành động của họ, và không thể chờ đợi một sự thông hiểu lẫn cộng tác từ những người nông dân. Độc đoán, ra lệnh bằng tiếng Mỹ, họ xua những người dân thường đi trước họ như xua bò. Những người lính Mỹ tin rằng họ đã tìm thấy được sự xác nhận cho tất cả những định kiến mà tiểu thuyết và phim truyện truyền bá từ trước đến nay về người châu Á: xảo quyệt, giả dối, mánh khóe và tàn bạo của một xã hội mà họ không thể đọc và giải mã được các tình cảm và cảm xúc thật sự của nó.

Thật sự là những đội tuần tra của Mỹ thường hay bị phục kích bắn từ những ngôi làng trông có vẻ bình dị và hiền hòa. Khi đồng đội bị cướp đi mạng sống trong một cuộc phục kích thì rồi một bầu không khí hết sức hung hãn bao trùm lên cả đội lính, những người không còn tin vào bất cứ một người dân thường nào nữa và tìm cách trả thù cho cái chết của người bạn. Từ sự giận dữ và lòng lo lắng cho sự an toàn của chính bản thân mình, người ta nổ súng bắn vào bất cứ người nào đang đi lại trên đồng ruộng. Chủng tộc cuối cùng là đặc điểm duy nhất đánh dấu địch thủ. Không có khả năng định hướng trong một đất nước xa lạ mà người ta không hiểu được văn hóa và ngôn ngữ của nó, điều này đã làm cạn kiệt goodwill [ý định tốt] ngây thơ và tình sẵn sàng giúp đỡ của những người lính Mỹ trẻ tuổi. Qua đó, họ đã xác nhận một định kiến thứ hai mà người Việt vốn kiêu ngạo về văn hóa đã có về bản chất của những con người da trắng xâm chiếm này. Trong mắt họ, người Mỹ thô kệch, vụng về, xấu xí và ngu đần.

Cả hai định kiến xác nhận tính bất khả hòa hợp của hai nền văn minh không hiểu và không thể diễn giải nhau. Nông dân Nam Việt Nam, những người đã bảo vệ quyền tự trị làng mạc của họ qua nhiều thế kỷ, để cho những người xâm chiếm da trắng cảm nhận được ác cảm của họ đối với tất cả những gì xa lạ. Khinh thường những con người xa lạ, ác cảm, vâng, căm ghét người Mỹ, điều này cũng mang tính phân biệt chủng tộc không kém gì tính cao ngạo xuất phát từ lòng lo lắng cho sự an toàn cá nhân và từ nhận thức về ưu thế kỹ thuật.

Thời đó chỉ có một ít chuyên gia là có thể hiểu được tình trạng của các mối quan hệ xã hội trong những ngôi làng Việt. Ý kiến của họ không hề được các bộ tham mưu ở Sài Gòn tiếp nhận. Cả các nhà báo cũng không thể tự giải phóng mình ra khỏi các định kiến đó.

Vào năm 1967, thật sự là người nông dân Việt Nam đã giúp đỡ Việt Cộng mà hầu như không cần phải có sự ép buộc, vì các trưởng làng, có bản năng chắc chắn, tin chắc rằng những người cộng sản sẽ thắng cuộc chiến. “Giới nông dân linh động nhất thế giới”, như một nhà quan sát thông minh đã gọi họ như vậy, cố gắng đoán trước được đường hướng của sự phát triển chính trị và chuẩn bị sẵn sàng trước, để đứng cho đúng bên vào lúc kết cuộc. Người dân nhà nông hành động thực tế. Bản năng sinh tồn hết sức mạnh của họ chỉ biết đến một vài nguyên tắc. Tất nhiên, họ thích nhất là được các diễn tiến của thời gian để yên cho và không ép buộc họ phải ủng hộ một bên. Cảm giác về một mối nguy hiểm đang đe dọa là nguyên cớ thúc đẩy họ cộng tác với Việt Cộng. Vì sự sẵn sàng giúp đỡ đã có nên người cộng sản chỉ cần một tổ chức tinh hoa nhỏ là đủ để kiềm chế họ. Đại đa số người dân nhà nông của Nam Việt Nam chịu đựng và che dấu cuộc đấu tranh vũ trang, nhưng chỉ một thiểu số rất nhỏ là tham gia tích cực vào trong đó.

Một tâm trạng về cơ bản như vậy giải thích tại sao các chiến dịch tìm kiếm của đạo quân viễn chinh Mỹ, được một hỏa lực hỗ trợ lớn đi kèm theo, là phản tác dụng. Cỗ máy, máy bay ném bom B-52, đại bác, bom napalm và xe bọc thép chở bộ binh hạng nặng, hoàn toàn không thích hợp để chiến đấu chống một đạo quân hoạt động bí mật được người dân thường che dấu. Người Mỹ dựa càng nhiều vào cỗ máy chiến tranh, vào các khả năng kỹ thuật của họ, giải quyết bất cứ một vấn đề nào và đánh thắng bất cứ một địch thủ nào, dù có là trong rừng rậm của Việt Nam đi chăng nữa, thì họ lại càng ít có cơ hội để chiếm được “trái tim và đầu óc” của người dân Nam Việt Nam. Vì chiến lược do tướng Westmoreland lựa chọn buộc người dân thường phải chịu đựng những thiệt hại nặng nề nhất.

Bức ảnh em gái trẻ với lửa napalm đang cháy rực trên làn da trần trụi đang chạy trốn về hướng ống kính đã trở thành một hình tượng cho cuộc chiến tranh này. Chỉ những ai quan sát hiện thực ở ngoài chiến trường thì mới có được một sự tưởng tượng về quy mô của sự đau khổ và tàn phá mà người dân thường của đất nước này phải chịu đựng.

Xác chết của những người đàn ông được thống kê ghi nhận là Việt Cộng. Con số phụ nữ và trẻ em bị giết chết, hẳn là còn lớn hơn nữa, bị ỉm đi. Phần đáng sợ nhất của cuộc chiến hoàn toàn không xuất hiện trong các thông cáo hàng ngày của giới quân đội ở Sài Gòn. Mô tả nó, để cho giới công chúng thế giới nhận thức được, đó là một nhiệm vụ của báo chí, một nhiệm vụ mà họ đã thực hiện hoàn toàn không đầy đủ. Đặc biệt giới truyền thông Mỹ sau này đã bị lên án rất đúng, rằng họ đã tường thuật hết sức thiên vị chủng tộc, trước hết là về vai trò và số phận của quân đội của họ, hết sức ít ỏi về các nạn nhân của người miền Nam Việt Nam hay về những hậu quả cho người dân thường,

Nói chung, chỉ khi có quân đội của quốc gia họ tham gia thì cuộc chiến này mới có một giá trị tường thuật cao đối với các giới truyền thông Mỹ. Cũng không thể chờ đợi một định giá tin tức nào khác từ một giới báo chí phải tự khẳng định mình trên thị trường.

Có chưa tới một tá thông tín viên Mỹ hoạt động chính thức ở Sài Gòn trước lần đổ bộ đầu tiên của bộ binh Mỹ trong tháng Ba 1965 ở bãi cát trắng Đà Nẵng, nơi 80 năm trước đó những người lính Pháp đầu tiên cũng bước lên đất liền để thiết lập thuộc địa ở Đông Dương. Cùng với con số lính Mỹ, con số các đại diện truyền thông cũng tăng lên ở Nam Việt Nam. Trong thời gian của trận tấn công vào dịp Tết [Mậu Thân] là hàng trăm người, những người phần lớn là làm thỏa mãn sự quan tâm của một giới công chúng ở quê hương bằng các tường thuật về boys của họ. Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam năm 1973, đại diện báo chí Mỹ teo trở lại thành một nhóm nhỏ bao gồm khoảng 30 người.

Sau cái được gọi là Hòa bình Paris năm 1973, giảm sút sự quan tâm tới tin tức từ Đông Dương cũng đã có tác động trực tiếp tới công việc của chúng tôi. Kể từ đó, giá trị của cuộc chiến đã giảm bớt. Thêm vào đấy, vụ Watergate cũng đã hướng tầm nhìn tới sự đau khổ liên tục của các dân tộc Đông Dương sang nơi khác.

Thế nào đi chăng nữa thì đó không phải là lỗi của các sĩ quan báo chí Mỹ, khi nạn nhân là người dân thường được ghi nhận một cách không đầy đủ. Họ không cản trở công việc tường thuật, ngay cả khi người ta liên tục nhắc nhở các phóng viên, rằng nạn nhân do vũ khí Mỹ gây ra trong số thường dân là không cố ý. Họ là hiệu ứng phụ của một chiến lược đã tự mình đưa ra nhiều giới hạn to lớn, nhằm chỉ đánh trúng những người chiến đấu nhưng khoan dung cho người dân thường.

Thật sự là không thể hoài nghi ý định tốt của quân đội Mỹ được. “Tính tự động của cỗ máy chiến tranh đã được khởi động”, tôi đã ghi chú như vậy vào thời đó, “dường như đã đưa ra tốc độ cho các nhà chiến lược. Cuộc chiến lâm vào trong một vòng xoáy, nơi tự nó đã nuôi sống lấy nó.”

Body count: Trò trình diễn xác chết khủng khiếp

Sau mỗi một “chạm trán với địch thủ”, theo cách diễn đạt của quân đội, khu đất đó được lùng sục, để xác định con số địch thủ bị giết chết. Khác với trong Đệ nhị Thế chiến, khi giới công khai Mỹ có một hình ảnh rõ ràng và tương đối xấu về địch thủ người Đức và Nhật, Việt Cộng không bị tuyên truyền làm biến dạng. Họ không tạo nên một sự căm thù thật sự. Họ “vô danh”, xa lạ và khó hiểu.

Sau trận đánh Đồi 875, Dak To.
Sau trận đánh Đồi 875, Dak To.

Máy tính Mỹ tính toán với những con số. Hàng tháng, theo thống kê của các bộ tham mưu ở Sài Gòn, có một con số chính xác Việt Cộng bị giết chết. Khi người ta có thể đánh giá sức mạnh của quân đội địch thủ bằng số lượng, thì nhờ vào việc body count, đếm xác chết, mà diễn tiến của cuộc chiến cũng có thể được xác định bằng số lượng. Việt Cộng vô danh tự giới thiệu mình qua hai con số: con số của những người sống, cái giảm xuống từ tháng này qua tháng khác; con số của những người đã hy sinh, cái liên tục tăng lên. Cái ngày đó không thể nào mà còn xa xôi nữa, những nhà làm xiếc với các con số ở Lầu Năm Góc tin là như thế, cái ngày mà địch thủ sẽ bị tiêu diệt. Cỗ máy chiến tranh hùng mạnh của Mỹ rồi sẽ đạt tới mục tiêu của nó.

Để xác định con số Việt Cộng chết, các chỉ huy thường để cho tập trung xác chết lại. Qua đó, người ta đưa ra cho các đội quay phim một hình ảnh gây nhiều ấn tượng về thành công thật sự của một chiến dịch.

Nhiều cảnh kinh tởm đã được quay trong lúc đó. Lính Mỹ với điếu thuốc lá trên môi đứng cạnh các xác chết như những người đi săn thú, còn không muốn từ bỏ việc giơ một chân đặt lên ngực của địch thủ đã bị giết chết nữa. Xe tăng dùng dây kéo lê xác chết theo sau.

Những nhà nhiếp ảnh và quay phim đã thâu lại các hành động xúc phạm xác chết quá lố đó và đưa ra giới công khai. Nhưng cả việc body count đơn giản, trình diễn để chứng minh cho thành công về quân sự, cũng mang lại một hình ảnh đáng sợ, ghê tởm, kinh khiếp.

Lính Việt Cộng bôi đen mặt lúc tấn công vào ban đêm Tất cả đều mặc loại vải màu đen của những người nông dân. Nhiều người chân trần nằm đó. Người ta đã tìm thấy họ như vậy, hay là người ta đã tháo giày của họ ra. Giày thông thường là những đôi xăng đan Hồ Chí Minh được làm từ lốp xe ô tô. Chiến binh mang giày được cho là “chính quy”, không phải là những người làm lính trong thời gian rảnh rỗi.

Không phải sự què cụt do những loại vũ khí giết người gây ra kích động trí tưởng tượng của người xem, mà là nét mặt của những con người thường là rất trẻ này. Với những loại vũ khí hạng nhẹ, họ đã xung phong chống lại cỗ máy phun lửa của nước Mỹ cường quốc thế giới. Họ cũng được cả những người lính Mỹ công nhận là hết sức cam đảm và coi thường cái chết, những người mà đã dùng những cái tên gọi mang tính phân biệt chủng tộc gook hay dink để gọi họ, nhưng mặc dù vậy vẫn không phủ nhận lòng tôn trọng tinh thần chiến đấu đó.

Điều gì thúc đẩy lực lượng quân đội này can đảm tấn công tới như vậy, bò qua những hàng rào dây kẽm gai trong đêm tối, băng qua những bãi mìn và lao thân mình chống lại cỗ máy của cái chết? Để tìm ra được nó, người ta phải lục soát quần áo của các xác chết. Sổ ghi chép, thư từ, những vật kỷ niệm cá nhân để cho người ta suy đoán tâm trạng của một quân đội mà tính anh hùng của họ dường như là vô nhân đạo. Dù nhiệm vụ có khủng khiếp cho tới đâu, nó phải được hoàn thành, nếu như người ta muốn có được những lời giải thích cho điều, rằng Việt Cộng, như sau này trong trận An Lộc 1972, đã tự nguyện xích mình vào vũ khí để không thể chạy trốn được, và rằng rất nhiều người quấn đầy bông băng và với những vết thương nặng đã chiến đấu cho tới giây phút cuối cùng, khinh thường cái chết theo đúng nghĩa đen của nó.

Ngay từ thời đó, qua những tài liệu thu được, các bộ tham mưu Mỹ ở Sài Gòn đã biết rõ sức mạnh về tâm lý và tính chịu đựng cao của đối thủ cộng sản. Những người lính, xuất phát từ miền Bắc, ở hàng năm trời trong rừng, không có phép và không có thời gian nghỉ dưỡng. Tin tức từ quê nhà hiếm khi tới được với họ. Chia cắt với gia đình là việc mà tất cả họ đều phải chịu đựng nhiều nhất.

Họ cũng biết rằng họ sẽ bị giới lãnh đạo quân sự của họ hy sinh một cách vô lương tâm, nếu như những người này cho rằng việc đó là cần thiết. Người chiến thắng Điện Biên Phủ, Tướng Võ Nguyên Giáp, đã nổi tiếng là hy sinh trung đoàn giống như đại đội và cũng chấp nhận cả tổn thất 50 phần trăm. “Trên Trái Đất này mỗi phút có hàng trăm ngàn người chết”, ông đã khinh thường nói với nữ nhà báo người Ý Oriana Fallaci như vậy. “Sống và chết không có nghĩa lý gì.”

Lâm vào tình trạng đáng sợ nhất là những người bị thương nặng. Các bệnh viện dã chiến, bị quân đội Sài Gòn và Mỹ phát hiện, để cho phỏng đoán rằng người ta đã tiến hành những ca mổ với phương tiện rất đơn giản và thường không có thuốc gây mê, rằng những người bị thương nặng hầu như không có cơ hội để sống sót. Những người đã hy sinh được chôn lấp. Mồ chôn không được làm dấu hiệu.

Douglas Pike, chuyên gia CIA về khai thác các tư liệu lấy được từ Việt Cộng, đã phác họa một hình ảnh từ những quyển nhật ký và thư từ, bộc lộ một “sự pha trộn của linh mục, công an và bài xã luận”. Đấu tranh là khái niệm được Đảng sử dụng cho nhiệm vụ đặt ra. Từ “đấu tranh”, theo Pike, không mang lại một tưởng tượng đầy đủ cho tính bao quát của ý tưởng nằm ở trong đó.  Đấu tranh định nghĩa quan điểm, tư tưởng và đạo đức. Đạo đức cao của quân đội này đáng chú ý hơn là sự thấm nhuần về ý thức hệ của họ. “Vì anh ta có đạo đức”, Pike phán xét, “nên người theo Mặt trận Giải phóng vượt trội hơn đối thủ của anh ta, và vì vậy là anh ta cũng thắng thế về chính trị và quân sự.”

Mang vẻ lãng mạn, đa cảm và có đạo đức là tác giả của những quyển nhật ký nhỏ, rõ ràng là được lén lút ghi chép, những quyển nhật ký mà người ta tìm được từ những chiếc áo nông dân màu đen. Qua lý tưởng của họ và tính sẵn sàng hy sinh của họ, lính Việt Cộng có một lực hấp dẫn mạnh lên giới trẻ ở Mỹ, và đặc biệt là lên thế hệ [chống đối] của năm sáu mươi tám ở Tây Âu. Chiến đấu trong rừng rậm Việt Nam, nhiều sinh viên nghĩ như thế, là những người đàn ông trẻ tuổi, những người không chỉ vì quyền được thống nhất và nền độc lập quốc gia của họ, mà còn chống lại tất cả những điều xấu xa nhất của loài người: chống lại quyền bá chủ của một cường quốc thế giới, đàn áp Thế giới thứ Ba, chống lại bất công, tước quyền và tham nhũng bởi chủ nghĩa tư bản Phương Tây.

Tại cái được gọi là body count, giới báo chí ở Nam Việt Nam có cơ hội dữ dội nhất để tìm hiểu phía bên kia. Máy quay của các đội quay phim truyền hình đã cung cấp những hình ảnh ghê rợn, kinh tởm từ những mảnh thịt đầy máu me được xếp thành hàng để người ta tham quan, những hình ảnh cũng thường xuyên được đưa ra thử thách khán giả truyền hình. Việc những người chết và bị thương của phe địch được đưa ra cho xem không phải là một đặc quyền mới của phóng viên chiến tranh, ngay cả khi hiện thực tàn bạo mà các chiếc máy quay phim dùng nó để mang những xác chết đầy máu lên màn hình đã đi rất xa khỏi ranh giới của sự hổ thẹn trong những cuộc chiến tranh trước đây. Mới và thái quá là sự tự do được chụp ảnh và quay phim các nạn nhân của bên ta. Lần đầu tiên trong lịch sử báo chí hiện đại, toàn bộ hiện thực của một cuộc chiến bước vào trong hình ảnh: không bị kiểm duyệt và không bị làm sai lệch.

Từ Đệ nhất Thế Chiến và từ khi truyền thông đại chúng thành hình, các nhà báo chưa từng bao giờ có thể tường thuật về một cuộc chiến mà không bị cản trở. Tổn thất của bên ta là điều không được phép nói đến. Chỉ nạn nhân của phía bên kia là được phép chính xác hóa. Từ ngữ và hình ảnh phải được một người kiểm duyệt quân đội xem xét và cho phép. Giới quân đội cuối cùng quyết định hình ảnh nào từ cuộc chiến được truyền về quê hương. Cho tới thời điểm đó, các chính phủ và bộ tham mưu ở khắp nơi trên thế giới tin rằng một tường thuật không qua gạn lọc sẽ gây hại tới tinh thần chiến đấu của quân đội mình và ý chí kháng cự của quốc gia nói chung. Ngay tới trong Chiến tranh Triều Tiên, 1950 đến 1953, báo chí vẫn còn bị kiểm duyệt.

Một thử thách quan trọng và mang lại nhiều hậu quả cho các quan hệ giữa một giới báo chí tự do, không bị kiểm duyệt, và giới quân đội ở Sài Gòn bắt đầu vào cuối 1967 tại pháo đài Khe Sanh trên núi, cái mà Tướng Westmoreland đã xây mở rộng thành đầu cầu để từ đây tiến quân sang Lào, nhằm ngăn chận Đường mòn Hồ Chí Minh.

Nằm cách vĩ tuyến 17 chừng 30 kilômét về phía Nam cạnh bờ biển là thành phố cảng Đông Hà. Bắt đầu ở đó là liên kết Đông-Tây, con đường 9 nhỏ, nhưng quan trọng về chiến lược, chạy quanh co qua một vùng đồi núi trung du, chỉ có người Thượng, các bộ tộc trên núi, sống rải rác. Ngay trước biên giới Lào, con đường này chạy đến Khe Sanh, nơi mà người dân thường cho rằng không đáng để làm gì nhưng quân đội Pháp thì đã trang bị cho nó một phi trường do có vị trí lộ liễu dễ bị tấn công. Từ Khe Sanh, con đường 9 dẫn sang Lào, qua huyện lỵ Tchepone tới Savannakhet, nơi nó gặp con đường chính dẫn tới Vientiane ở phía Bắc, vẫn còn quan trọng cho tới ngày nay.

Tướng Westmoreland không được Tổng thống Lyndon B. Johnson cho phép mở rộng cuộc chiến sang Campuchia và Lào. Như là một sự đền bù cho các chiến dịch xuyên biên giới trên mặt đất không được ưa chuộng từ những lý do về chính trị, bộ tham mưu ở Sài Gòn muốn xây mở rộng Khe Sanh nằm gần biên giới trở thành một pháo đài, cái có thể khiến cho địch thủ phải lộ diện và chiến đấu trong những đội hình lớn hơn là cho tới nay. Vì Việt Cộng phần lớn đều tránh né các chiến dịch tìm kiếm lớn. Tại một vài “trận đánh” ít ỏi cho tới nay chỉ có cấp tiểu đoàn tham dự, nhưng không có các đơn vị lớn hơn. Cỗ máy chiến tranh của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ chờ một mục tiêu “hợp lý về quân sự và đáng công về chiến lược”, như Westmoreland diễn đạt trong hồi ký của ông. Khe Sanh cần phải là con mồi để dụ lực lượng chính của đối phương vào bẫy.

Giữa 1967, cuộc xây dựng mở rộng ngôi làng trên núi bắt đầu. 2500 lính cổ da và một con số lớn gần bằng như thế của lính tinh nhuệ Nam Việt Nam đào hầm hố ở Khe Sanh. Pháo hạng nặng lăn qua đường 9 vào pháo đài. Đường băng cũ của Pháp được xây mở rộng bằng thép tấm để cho máy bay vận tải có thể hạ cánh, nhằm tiếp tế bằng đường không trong trường hợp khẩn cấp cho quân lính trú đóng.

Bộ tham mưu ở Sài Gòn rõ ràng là chỉ hỏi máy tính và các sĩ quan tiếp tế, nhưng lại bỏ qua không nghiên cứu kinh nghiệm của Pháp ở pháo đài Điện Biên Phủ. Nước Pháp trong tháng Tư 1945 không có đủ phương tiện kỹ thuật để chống lại những người bao vây ở đó. Đạo quân viễn chinh hùng cường của Mỹ, với một lực lượng không quân chưa từng có trong lịch sử chiến tranh cho tới nay, ngược lại sẽ chống cự lại được với bất kỳ một cuộc tấn công nào, những người lập kế hoạch tin là như vậy. Lời nhắc tới Điện Biên Phủ được họ cảm nhận như là một việc gây phiền nhiễu, thật sự cũng là một lời xúc phạm.

Trong tháng Mười Hai 1967, lính marines ở Khe Sanh phát hiện bốn sư đoàn Bắc Việt bắt đầu bao vây pháo đài. Vào ngày 21 tháng Giêng 1968, pháo binh Việt Cộng khai hỏa và sẽ không ngưng năm tháng liền. Vào ngày 5 tháng Hai, xe tăng Bắc Việt kiểu PT-76 của Xô viết tràn ngập tiền đồn Lang Vei. Lần đầu tiên, địch quân đã tung ra xe tăng ở Nam Việt Nam.

Mặc cho rủi ro cao và khả năng vận tải có hạn, không quân Mỹ đã chở giới báo chí quốc tế từ căn cứ Phú Bài nằm ở phía Nam của Huế tới Khe Sanh. Đường 9 đã bị chận. Pháo đài được tiếp tế mọi thứ cần thiết bằng đường hàng không. Đường băng bị nã pháo liên tục. Phần lớn những chiếc máy bay vận tải để cho những kiện hàng trượt ra ngoài cửa sau ở độ cao thấp để có thể tăng tốc ngay lập tức và bay trở về Phú Bài. Những chiếc khác chỉ dừng lại trên đường băng vài phút với động cơ vẫn hoạt động, để hành khách bước ra ngoài và nhận những người bị thương nằm trên cáng, cả những xác chết được bọc trong túi nhựa của các marines đã hy sinh. Mây thấp trong tháng Giêng. Trời mưa nhiều. Nhiệt độ giảm xuống dưới 10 độ. Khe Sanh bị liên tục bắn phá nặng nề, bị đột kích và dồn ép bởi những chiến dịch tấn công chống lại vòng ngoài bằng hàng rào dây kẽm gai kiên cố và những bãi mìn, là một nơi không khác gì địa ngục mà cả dân chuyên nghiệp cũng làm quen với nỗi sợ hãi ở đó.

Sự cộng tác của các sĩ quan báo chí cũng vượt qua được thử thách cả trong trường hợp ngoại lệ về quân sự. Lực lượng quân đội chia sẻ nơi trú ẩn của họ với nhà báo và phóng viên ảnh, những người bây giờ hướng hoàn toàn tới sự gian khổ và hy sinh của phe mình và tường thuật không thương xót về những gì mà họ quan sát thấy và trải qua ở trong pháo đài Khe Sanh đang dùng mọi sức lực để bảo vệ chống lại các sư đoàn Bắc Việt đang tấn công.

Ngày cũng như đêm đều có thể nhìn thấy màn pháo hoa lớn mà không quân Mỹ trình diễn ở trên các vị trí của địch thủ. Chiến dịch “Niagara” đổ chất nổ như một thác nước xuống các sư đoàn Bắc Việt. Mặt đất rung chuyển. Dường như đã đến ngày tận thế, khi các đội hình B-52 từ trên cao thả những tấm thảm bom của chúng xuống cách vị trí của quân ta chưa đầy 200 mét. Thật khó mà dùng từ ngữ để mô tả lại sự hỗn loạn kinh hoàng do những quả bom gây ra, để làm cho người khác có thể hiểu được sự hoảng loạn nội tâm mà ai ở gần đó cũng đều bị mắc phải. Trên một vùng không quá chật hẹp có lẽ là 50 kilômét vuông, không quân Mỹ trong vòng chín tuần đã ném khoảng 75.000 tấn chất nổ. Trước đó, không một nơi nào trên thế giới đã bị bỏ bom với cường độ như bây giờ ở vùng ngoại vi của Khe Sanh.

Máy ảnh không chụp được những người tấn công trước các hàng dây kẽm gai. Qua ống dòm, đôi lúc có nhận ra được những xác chết nằm giữa hai trận tuyến và chỉ được mang đi vào lúc đêm. Action mà các phóng viên ở Khe Sanh trải qua hướng về bên trong, về những người Mỹ trấn thủ. Những người lính cổ da cũng nằm dưới làn đạn pháo như người Bắc Việt đang vây hãm. Những cảnh chiến trường mà máy ảnh chụp được thể hiện tính anh hùng, nhưng cũng cả nỗi sợ hãi và sự tuyệt vọng của một lực lượng đang chống lại số phận, chống lại nguy cơ bị các sư đoàn của Võ Nguyên Giáp tràn ngập như lực lượng quân đội ở Điện Biên Phủ.

Trong lòng chảo Khe Sanh, nhiếp ảnh gia và những người quay phim đã ghi lại được một vài hình ảnh gây xúc động nhiều nhất và đáng sợ nhất của quân đội Mỹ. Bốn người lính trẻ tuổi, lấm bùn và kiệt sức, mang dưới làn đạn bắn phá một đồng đội bị thương nặng đến nơi an toàn, chiếc đầu trần của người này lắc lư tự do trong nhịp của những người đang chạy. Họ há miệng ra, những người lính đang chạy dưới sự căng thẳng đó. Họ hét to, phản ứng chống lại sự sợ hãi của mình. Ánh mắt phản ánh sự kinh hoàng trong khoảng khắc.

Một marine bị thương nặng nằm trên mặt đất lầy lội, mặt và tóc đầy bùn, quần bị cắt đứt cho tới gối, để có thể băng bó cho đôi chân; với bàn tay của cánh tay trái dang ra xa, anh tìm chỗ dựa ở một cái cọc gỗ ngắn: có thể là khoảnh khắc cuối cùng, trước khi nhận thức biến mất và màn đêm ập tới.

Khe Sanh
Khe Sanh

Trước đây, những hình ảnh tư liệu như vậy chưa từng bao giờ được cho phép và được công bố trong lúc còn chiến tranh. Trong Đệ nhất Thế chiến, sở hữu một cái máy chụp ảnh là một việc phạm pháp sẽ bị xử bắn. Những hình ảnh chiến trường được các nhiếp ảnh gia quân đội chụp vào thời đó đều bị giám sát chặt chẽ và đều thể hiện chủ yếu chiến thắng, tính anh hùng, những gương mặt sáng ngời lạc quan hay là những “toàn cảnh” mà người xem có thể cảm nhận được trận chiến nhưng không có tiểu tiết và che dấu sự kinh hoàng. Khi có thể nhận ra được nạn nhân, thì đó là của đối phương. Không được phép nói về sự khốn khổ và tổn thất của quân đội mình. Điều gì là bản chất của chiến tranh, của bầu không khí một trận chiến đấu sống còn?

Cho tới lức đó, giới báo chí chưa từng bao giờ được phép đi tìm những câu trả lời thật sự, gần với hiện thực cho câu hỏi này. Kiểm duyệt đã loại ra tất cả các thông tin có thể để cho người ta nhìn thấy được cảnh chém giết, mồ hôi và máu. Hết thảy những bài tường thuật đều trừu tượng, vô trùng, giống như những lời diễn tả mang tính khoa học phổ thông về các ca mổ, đã chừa ra cho người đọc hoàn cảnh đầy máu mà người ta đã tiến hành mổ trong lúc đó.

Tiến rất gần tới hiện thực của chiến tranh là các tác giả tiểu thuyết, những người như Ernst Jünger, Arnold Zweig, Erich-Maria Remarque, Theodor Plivier hay Ernest Hemingway và Norman Mailer đã dùng sức mạnh của diễn đạt văn học để mô tả lại sự sợ hãi, sự tàn bạo và khốn khó của những người lính đang chiến đấu. Nhưng những quyển tiểu thuyết như vậy chỉ được xuất bản nhiều năm sau sự kiện. Chúng chứa đựng một sự thật theo một ý nghĩa cao hơn. Các mô tả được lấy ra từ hiện thực, nhưng đã được nâng lên cao qua sáng tạo nghệ thuật và giao phó cho sự tưởng tượng của người đọc. Mặc dù vậy, giới tướng lĩnh trong  tất cả các nước đã đúng khi phàn nàn về tác động của văn học chiến tranh lên ý chí kháng cự của quốc gia, Nếu như các dân tộc châu Âu đã có thể trải qua, trông thấy được hiện thực của các trận đánh trong Đệ nhất Thế chiến, nếu như họ chỉ có được một hình dung, rằng những cái tên Ypern hay Verdun thật sự có ý nghĩa gì, thì sự tàn sát hàng triệu con người trẻ tuổi đã tìm thấy được một kết thúc, hậu phương đã có thể ngăn chận được những vụ tàn sát tiếp theo sau đó.

Tương tự như vậy là những điều kiện trong Đệ nhị Thế chiến. Nếu như người dân Mỹ biết được con số máy bay của mình bị bắn rơi trong cuộc chiến tranh bỏ bom chống nước Đức thì chiến dịch đó đã bị ngưng lại, vì giới công khai sẽ không thể chịu đựng được cái giá phải trả gắn liền với việc đó. Cả các tổn thất của Hoa Kỳ trong chiến dịch Ardenes cuối 1944, cái mà ở Mỹ người ta gọi là “the battle of the bulge”, hẳn cũng sẽ làm chấn động đất nước và có thể sẽ gây nguy hiểm tới quyết tâm của họ. Sự thật về diễn tiến của cuộc chiến vì vậy đã bị đè nén xuống, ít nhất thì cũng đã bị thao túng.

Trong chiến tranh, thủ tướng Anh Winston Churchill tuyên bố, sự thật quý giá cho tới mức “nó lúc nào cũng phải được canh giữ bằng một đội vệ sĩ của dối trá”. Chỉ ở Việt Nam là giới báo chí được tự do mô tả sự thật của cuộc chiến. Cộng thêm vào số thông tín viên báo chí và nhiếp ảnh gia, lần đầu tiên với một tác động gần như là cơ bản, là các đội quay phim truyền hình, những người với những cuốn phim màu của họ đã quay những cảnh action, những sự căng thẳng và hoảng loạn, cơn mưa bom đạn của cỗ máy chiến tranh, nhưng cũng cả số phận của con người, sự đau đớn và cái chết của các boys của họ, và đã gửi những hình ảnh đó về các ban biên tập ở quê nhà mà không cần phải qua kiểm duyệt, những ban biên tập mà rồi sẽ cho chiếu các phóng sự về chiến tranh đó cho người xem vào buổi tối, lúc sáng sớm, không hiếm khi vào giờ ăn.

Khe Sanh, nơi lực lượng Mỹ và Nam Việt có nguy cơ bị tiêu diệt hay bị tràn ngập, đã mang lại cho công chúng thế giới những tư liệu hình ảnh hết sức bi kịch và đáng sợ, không chừa ra điều gì cho khán giả ở trong rạp chiếu bóng tại quê nhà. Tất nhiên, để thể hiện toàn bộ hiện thực của tình cảnh một lực lượng đang chiến đấu và chịu đựng gian khổ thì những hình ảnh chiến đấu từ Khe Sanh là không hoàn hảo và không hoàn toàn. Mặc dù vậy, chiến tranh chưa từng bao giờ được mô tả thật hơn là ở đây. Nhiều hình ảnh và đoạn phim truyền hình khiến cho người ta nhớ tới phim Hollywood. Nhưng chúng không phải phim chiếu ở rạp, được quay trước những hậu cảnh tốn kém, mà là hình ảnh của một hiện thực nguy hiểm, đáng sợ. Và khác với việc sản xuất phim, ở Khe Sanh người ta cần phải có lòng dũng cảm và thần kinh thép, để ở lại đó với chiếc máy quay, khi những viên đạn pháo và đạn súng cối rơi xuống pháo đài.

Neil Davids, một người Úc ít nói từ Tasmania, thời đó làm việc cho thông tấn xã Visnews, thuộc vào trong số các phóng viên ảnh dũng cảm mà nhờ họ giới công khai mới có được một số hình ảnh chiến tranh gây ấn tượng nhiều nhất. Ông là đội một người, chỉ chịu trách nhiệm cho bản thân, bình tĩnh, có thần kinh như thép và có nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh, như chỉ một cựu chiến binh của nhiều trận chiến mới có thể là. Ông đã vượt qua được rất nhiều hiểm nguy. Cuối cùng, trong tháng Tư 1975, Neil Davis là người duy nhất với một cái máy quay phim đã đứng trước dinh tổng thống ở Sài Gòn, khi xe tăng Bắc Việt đè bẹp cánh cổng sắt to lớn và những người lính đi kèm xung phong vào cửa chính, để treo lá cờ Việt Cộng lên ở tầng một trên bức tường ở mặt tiền.

Mười năm sau đó, tại một cuộc “đảo chính sân khấu” trong tháng Chín 1985 ở Bangkok, Neil Davids đã bị bắn chết; từ bàn tay của một người lính Thái ngờ nghệch hốt hoảng, đã hoảng loạn lên khi nhìn thấy cái máy quay phim. Điều này không có nghĩa là hạ thấp thành tích của những người khác, đặc biệt là đội ngũ quay phim của chính mình, khi người ta nhấn mạnh tới một Neil Davis lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ, tin dị đoan, mang tính tự phê phán cao và khiêm tốn như là một người đã đi qua những rủi ro cao nhất nhiều năm trời, để quay cuộc chiến gần hiện thực và nhiều sự thật như có thể.

Bóng ma Điện Biên Phủ

Tình hình đe dọa lực lượng ở Khe Sanh. Mặc cho chiến dịch “Niagara” ở trên không, những cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt không giảm xuống. Những nhà báo sống và cùng chịu đựng gian khổ với quân lính trong pháo đài ở trên núi này chẳng bao lâu sau đó cảm nhận được sự hoài nghi trong thâm tâm và những nỗi lo lắng của giới chỉ huy quân sự, những người cũng nhận thức được sức mạnh của họ, nhưng không hiểu rõ các ý đồ của đối phương.

Nếu như các vị tướng Mỹ cảm nhận sự so sánh với pháo đài Điện Biên Phủ của người Pháp như là một điều gây khó chịu thì giới báo chí, những người có thể tiếp cận được với tài liệu lịch sử ở Sài Gòn, lại nghiên cứu các quyển sách quân sự kinh điển phân tích về trận đánh quyết định ở Điện Biện Phủ trước đó đúng 14 năm. Những quyển sách của Jules Roy và Bernard Fall gây cảm hứng cho cuộc thảo luận của các nhà báo, những người phát hiện ngày càng nhiều sự tương đồng giữa Điện Biên Phủ và Khe Sanh.

Không quân Hoa Kỳ tạo một tấm màn chắn bằng mảnh bom và chất nổ chỉ cách vòng ngoài của Khe Sanh khoảng 200 feet. Khe Sanh, tháng Ba 1968
Không quân Hoa Kỳ tạo một tấm màn chắn bằng mảnh bom và chất nổ chỉ cách vòng ngoài của Khe Sanh khoảng 200 feet. Khe Sanh, tháng Ba 1968

Ở đây cũng như ở kia, địa thế có nhiều đồi núi, nằm nơi xa vắng, bất lợi cho xe tăng và thiết bị vận tải đường bộ. Thời đó cũng như ngày nay, người Bắc Việt phản ứng, không chủ động. Các nhà chiến lược người Pháp và người Mỹ, mặc dù không lâm vào tình trạng khó khăn nhưng đã quyết định xây dựng và củng cố một tiền đồn mà giá trị quân sự của nó hết sức đáng khả nghi. Ở Điện Biên Phủ, những quyển sách của Roy và Fall chứng minh cho điều đó, các tiên đoán tự tin của giới chỉ huy quân đội Pháp đã sụp đổ chỉ vài giờ sau khi đối phương bắt đầu xung phong tấn công. Viên chỉ huy pháo binh đã hứa sẽ làm câm lặng bất cứ lần bắn phá nào của người Việt trong thời hạn ngắn nhất. Đại tá Piroth đã tự kết liễu cuộc đời của mình ngay trong đêm mà các loạt đạn đại bác rơi xuống pháo đài.

Đội ngũ sĩ quan của nhiều quân đội chắc chỉ còn bao gồm một nhóm nhỏ, nếu như tất cả các chỉ huy đều cảm thấy phải đền bù lại cho sai lầm của họ bằng cái chết, nhằm giữ được danh dự. Quân đội Mỹ chưa bao giờ tiếp nhận khái niệm danh dự của châu Âu. Ở Khe Sanh, các marines trong câu chuyện đùa tàn nhẫn đã hỏi về sự khác nhau giữa lực lượng Thủy quân Lục chiến và các hướng đạo sinh. Hướng đạo sinh, theo câu trả lời do Michael Herr, phóng viên của tờ Esquire và sau này là nhà văn, “có lãnh đạo là người trưởng thành”.

Ở Điện Biên Phủ, cái nhìn lại lịch sử cho thấy rõ điều này, Việt Minh đã đưa ra những mục tiêu và chiến lược vượt quá sức tưởng tượng và ý thức trách nhiệm của giới quân đội Phương Tây. Đối với những người xung quanh Hồ Chí Minh, để xung phong chiếm một pháo đài ít có tầm quan trọng về quân sự nhưng đã trở thành một biểu tượng chính trị thì không có một cái giá phải trả bằng máu nào là quá cao. Chỉ lợi ích chính trị, cú sốc tâm lý lên công chúng của thế giới Phương Tây là quan trọng, các tổn thất, những nạn nhân trong một cuộc tàn sát kinh hoàng thì không.

Ở Khe Sanh, tổn thất của những người tấn công sẽ lớn hơn ở Điện Biên Phủ rất nhiều. Nhưng các nhà báo nghi ngờ rằng Tướng Võ Nguyên Giáp, người chiến thắng huyền thoại của thời đó, bây giờ cũng được giao cho nhiệm vụ giành lấy chiến thắng bằng mọi giá, để tạo ra ở khắp nơi trên thế giới cùng một phản ứng đã khiến cho nước Pháp phải chấm dứt cuộc chiến, mặc dù việc tổn thất 5000 người lính không làm thay đổi tình hình chiến lược tổng thể một cách cơ bản.

Điện Biên Phủ là một từ ngữ kích thích, cái mà giới nhà báo đưa vào những bài tường thuật của họ hầu như hàng ngày. Các “chương trình truyền hình bi kịch thống thiết” bất thình lình gây lo sợ. Khán giả khắp nơi trên thế giới cảm thấy thương xót cho những người Mỹ phòng thủ đang bị vây hãm kịch liệt. Tất nhiên là cả ở Khe Sanh, sự quan tâm của truyền thông hướng tới những người da trắng trước hết, những người lính Mỹ. Phần nửa thứ nhì của lực lượng đang chịu đựng và hy sinh, lính Biệt Động Quân của quân đội Nam Việt Nam, những người lâm vào tình trạng không còn có sự chọn lựa nào khác ngoài dũng cảm chống cự giống như các đồng minh, hầu như không được nhắc tới trong các tường thuật của các tập đoàn truyền thông lớn của Mỹ. Khe Sanh là tấn bi kịch của lính cổ da. Người Việt trong đó có thể bỏ qua được.

Được trang bị với áo chống đạn và nón sắt, các nhà báo và phóng viên ảnh bám sát lính marines đang chiến đấu. Nước Mỹ nhìn quân đội đang ở trong trận chiến đúng theo nghĩa đen hoàn toàn của nó; và khán giả ở quê hương nhanh chóng nhận ra rằng phản chiếu trong những hình ảnh đó là hiện thực đầy máu. “Những cái như tuổi trẻ”, Michael Herr mô tả những người lính trẻ, “không ở lâu trên gương mặt của họ. Đó là những con mắt: vì chúng lúc nào căng thẳng quá mức hay kiệt sức hay đơn giản là trống không, nên chúng không bao giờ có liên quan tới phần còn lại của gương mặt, và điều đó mang lại cho tất cả họ vẻ ngoài của sự kiệt sức cùng cực hay còn là bề ngoài của sự điên rồ nữa.”

Khi áp lực của những người tấn công không giảm bớt, và khi tình hình còn thêm căng thẳng bởi trận tấn công Tết [Mậu Thân] vào các thành phố đã bắt đầu trong ngày cuối cùng của tháng Giêng năm 1968, thì vang lên trong các tường thuật của giới phóng viên không chỉ là sự hoài nghi và nỗi lo lắng về sức mạnh của đối phương, mà cũng là lời phê phán thẳng thừng giới lãnh đạo quân đội của chính mình, những người phải chịu các tổn thất cao hơn là giới nhà báo cho rằng cần thiết. Nhưng cả những người cầm cờ chỉ huy trong bộ phận xuất bản của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến cũng hỏi về cuối, rằng tại sao những người lính không củng cố hầm hố và công sự của họ cho kiên cố hơn? Tại sao lại không kịp thời ra lệnh cho họ đào hầm sâu hơn? Lính marines, một lực lượng tấn công phản ứng di động, hoàn toàn không được chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh chiến hào. Tấn công là phương châm của họ, không phải phòng thủ. Tính tự kiêu của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến lại còn làm tăng một cách đáng kể các tổn thất của lực lượng chiến đấu ở Khe Sanh.

Bộ Tổng Tư lệnh ở Sài Gòn và cả những người đứng đầu ở Lầu Năm Góc cũng cảm nhận được áp lực từ ý kiến công chúng, giới hết sức nhạy cảm với những nghi ngờ, lo ngại và hoài nghi trong tường thuật của các thông tín viên. Bóng ma Điện Biên Phủ lảng vảng khắp nơi. Giới công khai ở Mỹ không chỉ trải nghiệm được hỏa lực của cỗ máy chiến tranh và tính anh dũng của quân đội, mà cả các nạn nhân, nỗi sợ hãi của những người lính quân dịch trẻ tuổi, bị thương hay tử trận trong lòng chảo Khe Sanh. Bây giờ, Việt Nam thống trị các tít báo và tinh thần ở quê hương.

Nghi ngờ về tính thích hợp của chiến lược Mỹ đã được bộc lộ ngay từ năm 1962 trong các cơ quan ngôn luận của bờ biển Đông tự do. Bây giờ, ở Khe Sanh, dường như chúng đã tìm thấy được sự một sự xác nhận mang đầy tính bi kịch qua truyền hình.

Con ma Điện Biên Phủ không làm cho ai hoảng sợ nhiều hơn là Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johson đang bị trách nhiệm của mình đè nặng. Ông đã yêu cầu các viên tướng lãnh của ông, những người mà công việc làm ở nghị trường đã dạy cho ông là không nên tin tưởng họ, trao cho ông một lời bảo đảm bằng văn bản, rằng pháo đài Khe Sanh có thể được giữ vững và rằng ông sẽ không phải chịu đựng cú sốc của một chiến bại gây náo động tại ngôi làng Khe Sanh trên núi. Sự cảm thông ngày càng tăng của giới công khai Mỹ với diễn tiến của các chiến dịch ở Việt Nam đã mang người tổng thống nhạy cảm vào một tình trạng phụ thuộc về tâm lý vào các tường thuật và tạo ý kiến của giới truyền thông. Một bức ảnh đặc trưng chụp Johnson trong một chiếc áo choàng trong nhà, đang cùng với các cố vấn thân cận nhất suy nghĩ về các tin tức phim ảnh mới nhất từ Việt Nam. Lời phán xét của giới báo chí đối với ông cũng quan trọng giống như các phân tích tình hình và tiên đoán của giới quân đội.

Tiếp tế cho Khe Sanh
Tiếp tế cho Khe Sanh

Qua tính lạc quan và diễn giải tốt đẹp, các thông báo chính thức của Bộ Tư lệnh ở Sài Gòn cố gắng tác động chống lại những tin tức báo động của giới truyền thông. Sự căng thẳng nội tâm, hoài nghi và lo ngại, những điều mà Tướng Westmoreland phải chịu đựng qua những đợt tấn công kéo dài của các sư đoàn Bắc Việt, những điều đó thì ông cố gắng che dấu chúng trước giới công khai. Thật sự là từ khi Khe Sanh bắt đầu bị bao vây thì Westmoreland đã không dám rời trung tâm chỉ huy nữa. Cho tới khi chiến dịch chấm dứt, như sau này ông thố lộ trong hồi ký của mình, ông đã qua đêm trên một cái giường dã chiến trong  trung tâm.

Viên tổng tư lệnh và các cộng sự thân cận nhất của ông đã đánh giá tình hình nghiêm trọng đến mức như vậy vào thời điểm đó, điều này chỉ được bộc lộ trong các hồi ký. Ông đã suy nghĩ, theo như Westmoreland tường thuật, đến việc sử dụng “vũ khí nguyên tử chiến thuật nhỏ”, để dạy cho Hà Nội biết sợ. Do lo ngại giới báo chí phát hiện ra và cũng lo ngại việc giữa bí mật không được toàn vẹn, Hội đồng An ninh Quốc gia ở Washington đã cấm viên tổng tư lệnh không được thực hiện thậm chí là một nghiên cứu.

Westmoreland chứng tỏ thêm một lần nữa, rằng ông không có khả năng hiểu thấu được vai trò và tác động của giới truyền thông không bị kiểm duyệt trong Chiến tranh Việt Nam, khi ông kết thúc các cân nhắc của ông về việc sử dụng vũ khí nguyên tử chiến thuật với một lời thú nhận ngang ngạnh trong hồi ký: “Lúc đó tôi đã tin và ngày nay còn tin nhiều hơn thế nữa, rằng không xem xét tới sự lựa chọn này là một sai lầm. Lẽ ra nó đã có thể đưa cuộc chiến tới một kết thúc nhanh chóng.”

Chỉ một phỏng đoán về các cân nhắc chiến lược nguyên tử của viên tổng tư lệnh ở Việt Nam thôi là cũng sẽ làm cho giới công khai Mỹ bị kích động cao độ và tạo ra những phản ứng không thể đoán trước được. Johnson và Hội đồng An ninh Quốc gia cảm nhận được rất tốt tâm trạng của giới công khai, đã được truyền thông làm cho rất nhạy cảm và trong trường hợp Khe Sanh thì còn bị làm cho lo sợ nữa.

Chính khách và quân đội ngày càng mất khả năng tự quyết định lấy vẻ ngoài của cuộc chiến ở Việt Nam. Một giới báo chí không bị kiểm duyệt, tự thu thập lấy và diễn giải thông tin riêng, và qua đó là lấy đi một phần lớn tác động của bộ máy tuyên truyền của Lầu Năm Góc, cổ vũ giới công khai nghi ngờ những thông báo của các tướng lãnh. Một chiến thắng nhanh chóng, các đại diện báo chí hàng đầu đã tường thuật từ năm 1962 ở Sài Gòn, là sẽ không có. Qua Khe Sanh, giới công khai Mỹ bây giờ mới nhận thức được, rằng quân đội đã rơi vào một cái bẫy trong rừng rậm châu Á, rằng họ không chỉ đánh mà mặc dù có ưu thế về kỹ thuật nhưng vẫn phải chịu đựng nhiều tổn thất nặng nề, và còn không thể loại bỏ khả năng phải chấp nhận chiến bại cục bộ nữa.

Nước Mỹ không có chuẩn bị trước cho các tổn thất trong quy mô này. Các lý do và mục tiêu của lần tham chiến là khó hiểu đối với đa số; chúng không tạo ra một sự cảm thông thật sự và cũng hoàn toàn không tạo ra một sự sôi nổi. Ở Triều Tiên là đã thiếu sự nhiệt tình rồi. Thật sự là đối với người dân của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ thì Nam Việt Nam không đáng giá tới sinh mạng của một người lính duy nhất. Rằng cần phải ngăn chận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở Nam Việt Nam, để giữ cho Đông Nam Á tránh được trận ngập lụt đỏ hay vàng, điều này thì các nhà địa chính trị và những bài xã luận có thể thuyết phục. Đối với khán giả truyền hình ở Mỹ, thuyết Domino là một cái gì đó trừu tượng, chuyển tải lại rất ít ý nghĩa và sự cần thiết của cuộc chiến. Giới truyền thông phục vụ cho cảm giác và tâm trạng của khán giả với những hình ảnh từ chiến tuyến đầu. Bầu không khí đã bắt đầu đảo ngược. Chính khách và quân đội rơi vào áp lực của dư luận.

Chưa đầy một tuần sau khi Khe Sanh bị bao vây, chiến dịch Tết [Mậu Thân] đánh vào các thành phố ở xa hơn đó về phía Nam bắt đầu. Báo chí và quân đội vướng vào trong một xung đột nghiêm trọng. Sự kiện truyền thông ở Nam Việt Nam tiến đến gần đỉnh điểm. Bởi vì lịch sử quân sự chỉ là hậu cảnh, còn vai trò và tác động của báo chí ở trước đó mới đóng vai trò chủ đạo trong các suy nghĩ của chúng ta, nên kết cuộc của trận Khe Sanh được mô tả lại ở đây trong vài dòng ít ỏi. Pháo binh Bắc Việt bắn phá 67 ngày trời, lực lượng mà người ta đã không thể loại trừ được nó tuy là đã tiến hành chiến dịch “Niagara”. Đặc biệt về đêm, các đơn vị Bắc Việt luôn tiến hành những cuộc tấn công mới, đẫm máu, vào vòng ngoài của pháo đài, những cuộc tấn công mà người ta phải hết sức cực nhọc mới đánh bật lại được và khiến cho những người Mỹ phòng thủ phải hết sức kính nể tin thần và sức chiến đấu của Việt Cộng. Cuối cùng, Khe Sanh đã đứng vững trước áp lực đó.

Trong tháng Tư 1968, các trận đánh bất thình lình lắng xuống. Các sư đoàn Bắc Việt rút lui vào trong rừng rậm. Họ còn bỏ ngõ đường 9 nữa, con đường mà qua đó Tướng Abrams, người vào thời gian đó đã thay Westmoreland nhận chức vụ tổng tư lệnh, đã cho các đơn vị hành quân theo hướng bờ biển về Đông Hà, vào vùng an toàn.

Tổn thất Bắc Việt được ước lượng khoảng mười ngàn người chết. Con số lính cổ da tử trận được đưa ra trong các sử sách Mỹ là tròn 500. Con số tổn thất của Nam Việt Nam ở Khe Sanh không được nhắc tới.

Cho tới ngày nay, ý nghĩa và tầm quan trọng của trận đánh vẫn còn bị tranh cãi. Có hợp lý về mặt quân sự hay không, khi củng cố Khe Sanh trở thành một pháo đài và chấp nhận việc bị địch thủ ghìm chặt lại ở một địa thế bất lợi và đánh mất ưu thế di động? Các marines có đánh giá quá thấp lực lượng của đối phương hay không? Giáp có muốn chiếm Khe Sanh và đạt tới một Điện Biên Phủ thứ nhì hay không? Hay là các nhà báo chỉ “tung hô” trận đánh lên cao để gây ấn tượng trong công chúng qua action và bi kịch tính nhằm tăng số lượng phát hành và tỷ lệ người xem?

Nhà chiến lược Bắc Việt Võ Nguyên Giáp ngay trong năm 1968 đó đã nói trong một cuộc phỏng vấn với Oriana Fallaci: “Ồ không, Khe Sanh không phải và không thể là một Điện Biên Phủ thứ hai. Nó không có tầm quan trọng như thế đâu. Hay nó chỉ quan trọng vì người Mỹ cho nó là quan trọng, vì thanh danh của họ bị đe dọa. Nghịch lý Mỹ bình thường! Cho tới chừng nào mà họ bảo vệ Khe Sanh để bảo toàn thanh danh của họ thì họ quả quyết rằng nó là quan trọng. Khi họ bỏ Khe Sanh, họ nói rằng nó chưa bao giờ có một tầm quan trọng… Khe Sanh là một chiến thắng của chúng tôi.”

Tướng Westmoreland trong hồi ký của ông cũng tuyên bố chiến thắng về cho mình. Khe Sanh, ông tin như vậy, đã “làm hạ uy tín của thiên tài quân sự Giáp”. Giáp đã thất bại trong việc lập lại Điện Biên Phủ.

Ngày nay, đa số các nhà phân tích Mỹ cho rằng việc củng cố Khe Sanh thành một pháo đài là một sai lầm. Người ta đã tạo cho Giáp có khả năng cầm chân nhiều lực lượng lớn của quân đội Mỹ trong vùng núi khó đi lại ở miền Trung, trong khi lực lượng chính của Việt Cộng bắt đầu một cuộc tổng tấn công vào các thành phố ở miền Nam cùng thời gian đó. Tức là Khe Sanh chỉ là một việc làm đánh lạc hướng, một mưu kế chiến tranh của Hà Nội, để tạo tiền đề tốt nhất có thể cho cuộc tổng tấn công Tết [Mậu Thân]? Cho một mưu kế thì 10.000 người tử trận là một cái giá hết sức cao.

Mười tám năm sau, người phụ trách Bảo tàng Quân đội ở Hà Nội, đại tá Nguyen Van Cam, người đã tham gia chiến dịch đó như là một đại úy, đã thố lộ các ý định thật sự của giới lãnh đạo Bắc Việt cho tôi. “‘Quân đội Giải phóng’ có những mục đích nào khi tấn công pháo đài Khe Sanh và chấm dứt trậnh đánh bất phân thắng bại trong tháng Tư 1968?”, câu hỏi được đưa ra trước đó trên văn bản của tôi là như vậy.

Đứng trước một tấm bản đồ lớn, thể hiện các nhánh phụ của con đường mòn Hồ Chí Minh (mà tuyên truyền Bắc Việt đã chối cãi sự tồn tại của nó cho tới khi chiến thắng năm 1975), đại tá Nguyen Van Cam giải thích trước ống kính của chúng tôi: “Người ta phải dụ hổ ra khỏi rừng. Hổ chỉ mạnh khi nó ở trong rừng. Các marines quen đánh trận ở đồng bằng hay cạnh bờ biển. Chúng tôi đã dụ họ đến đây, trên một địa thế xa lạ, bất lợi. Trong khi nước Mỹ lo ngại chúng tôi chiếm được Khe Sanh thì chúng tôi bắt đầu cuộc tổng tấn công vào các thành phố trong miền Nam. Người Mỹ đã bị chúng tôi đánh lừa, vì họ không thể đoán được các ý định của chúng tôi. Cuối cùng thì Khe Sanh cũng là một cuộc tổng diễn tập. Lần đầu tiên chúng tôi đã hoạt động với nhiều sư đoàn. Nhiều đơn vị đã không có kinh nghiệm cho việc này. Chúng tôi đã lần lượt thay thế các sư đoàn, để học tập cách thức chiến đấu này. Khe Sanh là một điểm thu hút cho người Mỹ và đồng thời cũng là một nơi diễn tập cho quân đội của chúng tôi.”

“Ướt nước mắt thì người ta sẽ nhìn không rõ được”

Nữ phóng viên Catherine Leroy đang chuẩn bị nhảy dù cùng với Lữ đoàn Dù 173 trong chiến dịch Junction City.

Đầu 1968, Việt Nam là tin tức thống trị tất cả, “the biggest story in the world”. Công chúng ở Hoa Kỳ, nhưng cũng cả trong các quốc gia Tây Âu, chia rẽ ra thành những người chống và ủng hộ nước Mỹ tham chiến. Cùng với mối quan tâm, nhu cầu cần có thông tin và ý kiến về diễn tiến của các sự việc cũng tăng lên. “Hàng đoàn đa sinh ngữ của những cái được gọi là phóng viên chiến trường”, như nhà văn thriller John Le Carré đã chế nhạo, đổ xô tới Sài Gòn để tự trình diễn mình như là những người anh hùng trước một giới khán giả đang kinh ngạc.

Phóng viên của các thế hệ già hơn, đã có mặt trong Đệ nhị Thế chiến và cả ở Triều Tiên, khinh thường và kinh hoàng nhìn xuống đám đông nhà báo đó. Đối với Joseph Alsop, Marguerite, Kenneth Crawford, để chỉ kể một vài người Mỹ kỳ cựu, quân đội Hoa Kỳ xứng đáng được  công chúng và báo chí hỗ trợ. Và cả đối với các thông tín viên từ Cộng hòa Liên bang [Đức], đối với Hans Walter Berg, Christian Roll, Eckehard Budewig, Thilo Bode và Klaus Mehnert, thì việc Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tiến hành một cuộc chiến tranh cần thiết về mặt chính trị là một điều đứng ngoài mọi sự nghi ngờ. Trong giới đó, không ai có ảo tưởng về đối thủ cộng sản. Một chiến thắng của những người cộng sản, Douglas Pike đã viết ngay từ năm 1967, sẽ đồng nghĩa với việc “đưa hàng ngàn người Việt, trong số đó là nhiều bạn bè cá nhân, tới cái chết, tù đày hay lưu vong vĩnh viễn. Đối với tôi, nỗi thống khổ của dân tộc Việt Nam không phải là một khái niệm trừu tượng; và tôi không khoan dung cho những người nhìn Việt Nam như vậy.”

Phóng viên của thế hệ trẻ hơn, mà tôi cũng thuộc vào trong đó, những người trải nghiệm qua Đệ nhị Thế chiến và lần bắt đầu cuộc xung đột Đông-Tây ít dữ dội hơn nhiều, và quan sát vai trò dẫn đầu của nước Mỹ với đôi mắt tương đối khách quan, thì ngược lại đặt ra những câu hỏi về tính chính đáng và ý nghĩa của cuộc chiến tranh bẩn thỉu trong rừng rậm. Một cái nhìn tới kinh nghiệm chiến tranh của nước Pháp và nghiên cứu về nguồn gốc của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam đã để cho chúng tôi hoài nghi, rằng Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ có thượng quyền dùng vũ lực để giữ vững sự chia cắt đất nước Việt Nam, được thỏa thuận năm 1954 tại Genève, chỉ vì sự thống nhất sẽ đưa nước Việt Nam vào dưới sự thống trị của cộng sản. Chúng tôi tự hỏi, liệu các phương tiện đó có thích hợp hay không, để giữ vững nhà nước Sài Gòn, liệu cỗ máy chiến tranh đó, gây ra nhiều nạn nhân như vậy trong thường dân, có được phép sử dụng mà không cần phải đắn đo hay không. Đừng dùng súng hỏa mai để giết bướm, một câu châm ngôn châu Á khuyên nhủ.

Nhưng trước hết là chúng tôi nghi ngờ những thông tin chính thức. Chúng tôi có cảm giác bị các phát ngôn viên của sứ quán và quân đội đánh lạc hướng. Cỗ máy tuyên truyền của Lầu Năm Góc đúng là thúc giục tự thu thập lấy thông tin, kiểm nghiệm lại phiên bản chính thức, ưu tiên cho “sự thật” mà không cần lưu tâm tới uy tín của thế lực dẫn đầu Phương Tây. Chúng tôi điều tra và phán xét, đúng theo nhiệm vụ của báo chí trong một xã hội tự do. Rằng một sự độc lập và tự do như vậy chưa từng có trong một tình huống khủng hoảng quốc gia, trong một cuộc chiến, điều đó thì các phóng viên ở Việt Nam hầu như không nhận thức được. Chúng tôi cho rằng thiếu vắng kiểm duyệt là một điều tự nhiên. Chúng tôi còn chẳng biểu lộ sự kính trọng cần có đối với các cơ quan của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ nữa.

Có không ít người trong số “đoàn đa sinh ngữ phóng viên chiến trường” đã dùng sự tự do gần như là vô giới hạn ở Nam Việt Nam để anh hùng hóa Việt Cộng, hình sự hóa giới lãnh đạo chiến tranh Mỹ và tạo tính đáng tin cho luận điểm của cộng sản về tội diệt chủng ở Việt Nam của Mỹ. Nhà nước Sài Gòn xuất hiện trong hình ảnh đó như là một con quái vật phát xít mà trong đó chỉ có tra tấn và giết người mà thôi.

Ngay cả những tường thuật tôn vinh đối thủ và nói xấu quan điểm của bên ta cũng được khoan dung. Các cơ quan Nam Việt Nam cố gắng đặt ra giới hạn cho những người chống đối công khai họ trong giới xuất bản, trục xuất họ hay ngăn cản không cho tái nhập cảnh. Đại sứ quán Mỹ thường xuyên phải ép buộc chính phủ Nam Việt Nam, ít nhất là để cho giới báo chí nước ngoài có được tự do ngôn luận và tự do thông tin, khoan dung cho cả những người phê phán và các nhà hoạt động, những người như Mary McCarthy đã chẳng buồn giấu giếm rằng mục tiêu của bà là gây hại cho lợi ích của nước Mỹ.

Sự khoan dung này đã tồn tại cho tới khi cuộc chiến chấm dứt trong tháng Tư 1975. Nó đã mang lại cho Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ sự phẫn nộ từ khắp nơi trên thế giới về việc sử dụng napalm, chất độc màu da cam để làm rụng lá và về những vụ thảm sát người dân thường như ở Mỹ Lai. Chính phủ ở Washington bị đặt lên chiếc ghế của bị cáo.

Việc tôn vinh Việt Cộng và tố cáo quân đội Mỹ như là một băng nhóm tội phạm đã không thể tìm thấy được sự đồng ý của tôi. Tuy nước Mỹ đã theo đuổi các lợi ích toàn cầu riêng của mình ở Việt Nam, nhưng Hoa Kỳ đồng thời cũng cố gắng bảo vệ lý tưởng của một trật tự xã hội tự do, những cái mà họ nhìn thấy chúng bị đe dọa bởi một cuộc xâm lược của cộng sản. Thế giới quan của họ có thể là ngây thơ, ngạo mạn, còn có thể được gọi là giống như truyền đạo, nhưng đối với tôi thì nó không phải là tội phạm và xấu xa về mặt đạo đức.

Một nhóm thứ ba của các phóng viên, hút cần sa và ma túy, tìm thấy một nét hấp dẫn về mặt thẩm mỹ của bạo lực, trải nghiệm cuộc chiến hoàn toàn không bị cắn rứt lương tâm và chống đối trong nội tâm. Nhiếp ảnh gia người Anh còn rất trẻ Tim Page thuộc vào trong số đó, người mà những lần bị thương trong thời gian nhiều năm đã làm cho anh trở thành một người tàn phế. Cùng với Sean Flynn, người con trai liều lĩnh của diễn viên Errol Flynn, Page đã liều mạng thực hiện những nhiệm vụ nguy hiểm nhất, nhằm trải nghiệm hiện thực của một cuộc chiến mà trước đó anh chỉ nhìn thấy trong rạp chiếu bóng hay trên truyền hình. Nhạc rock từ những chiếc máy bán dẫn, cái mà họ cũng mở thật to tại chiến tuyến ngoài cùng, và ma túy đã đẩy nhóm người trẻ tuổi này vào trong một trạng thái say sưa, mà những cảnh tượng bạo lực chiến tranh còn có khả năng làm tăng nó lên thêm nữa. Trong tình trạng thiếu phản xạ sợ hãi và bảo vệ, Page, Flynn và Dana Stone, cả anh cũng là một “người Di gan Hemingway”, đã “bắn” những tấm ảnh chiến tranh xuất sắc, được in trong các báo ảnh và tạp chí ảnh nổi tiếng ở Âu Mỹ.

Ai tỉnh táo đối phó với hiện thực của chiến tranh mà không cần sa hay ma túy, người đó đôi lúc có thể cảm nhận được sự hỗ thẹn. Ai không bị chiến tranh làm cho chai lỳ đi, người đó cảm nhận được một sự ngượng ngùng nhất định, khi ống kính được hướng tới những người đã tử trận hay bị thương ngay trong sự vội vã hấp tấp của trận đánh, tới những người lính trẻ tuổi cứu nguy cho đồng đội trong sự sợ hãi và căng thẳng, trong khi các nhà báo tháp tùng không phụ giúp vì họ quay phim hay chụp ảnh sự việc đầy bi kịch đó. Tôi cũng chỉ tháp tùng các đội ngũ quay phim của tôi với một cảm giác bị đè nặng trong thâm tâm, khi chúng tôi vội vã tới nơi bị hỏa tiển bắn phá, nơi những người dân thường chảy máu đầm đìa đang chờ để được chở vào bệnh viện và những người chết mắt mở trừng trừng đang nằm trong sự dơ bẩn của đường phố. Trẻ con bất lực chạy lạc khóc lóc qua cảnh tượng đó. Lửa cháy ở phía sau, vì vụ nổ thường lật đổ những bếp dầu trong các căn nhà dân và qua đó đã gây ra một đám cháy lớn.

Đã không cứu nạn, không giúp đỡ và không an ủi trong những tình huống giống như dưới địa ngục như vậy mà lại còn quay phim, việc đó đã khiến cho con người nhạy cảm trong số các nhà báo phải đau khổ thật nhiều trong thâm tâm, những nỗi đau đớn mà thỉnh thoảng đã tăng niềm tự hoài nghi lên trở thành sự tự căm ghét.

Larry Burrows, nhiếp ảnh gia của Life, người trong một câu chuyện bằng ảnh với tựa đề “Yankee Papa 13” đã ghi nhận lại lần cố gắng cứu thoát một phi công Mỹ bị bắn rơi đầy bi kịch và không thành công, tin là trong lúc đó đã cảm nhận được ác cảm, vâng, các cảm giác hung hãn của những người trong cuộc, trải nghiệm người chụp ảnh như là một kẻ hôi của người chết. “Tôi bị giằng xé giữa vai trò của tôi là một nhiếp ảnh gia và các cảm giác con người bình thường của tôi”, Burrows sau này đã thừa nhận như vậy. “Không dễ dàng chụp ảnh một người phi công đang chết trong tay của người bạn, và rồi sau đó quan sát lần suy sụp tâm thần của người bạn này… Tôi có lợi dụng sự đau khổ của người khác không? Thỉnh thoảng người ta có cảm giác như mình là một thằng khốn nạn.”

Đặc biệt tàn bạo trong việc chụp lấy hiện thực là truyền hình, cái đưa ống kính và micrô ra cho những người bị thương và những người sắp chết, và cũng giữ lại cả diện bạo của cái chết, có sự ghê rợn bao quanh. Các đội ngũ ở Sài Gòn cung cấp các action stories càng nhiều thì yêu cầu của các ban biên tập lại càng cao hơn. Lúc đầu thì người sống và người chết là đã đủ, nhưng chẳng bao lâu sau đó thì phải là những người sắp chết.

“Ướt nước mắt thì người ta sẽ nhìn không rõ được”, nhiếp ảnh gia người Anh Philipp Jones Griffith đã có lần nhận xét như vậy, người quay sang thường dân Việt Nam đang phải chịu đựng đau khổ và đã minh chứng cho cảnh khốn cùng của họ trong những tấm ảnh đầy ấn tượng. “Đó là công việc của chúng ta, ghi lại sự việc cho lịch sử. Người ta không được phép để cho cảm xúc lôi kéo mình vào diễn tiến. Người ta phải làm tròn nhiệm vụ, nếu cần thiết thì với một tâm hồn bằng thép. Người ta chỉ được phép ngã quỵ sau đó, trong phòng tối.”

Trong giới báo chí ở Việt Nam, nhạy cảm đối với nạn nhân và một cảm giác cho phẩm giá của thời điểm là một trường hợp ngoại lệ nhiều hơn là việc thông thường. “Chiến tranh lúc nào cũng hào nhoáng”, Tim Page đã nói. “Với vũ khí trong tay, người ta có cảm giác mình to lớn hơn.” Trong tim của các phóng viên chiến tranh chuyên nghiệp vẫn còn sống động một ít sự lãng mạn của Ernest Hemingway, một nữ phê bình của tờ New York Times tin là có thể nhận ra được: “Sự thật tồi tệ nhất là việc cuộc chiến hoàn toàn không phải là địa ngục cho các thông tín viên. Nó là một niềm vui lớn.”

 Không ai, người trải qua cuộc Chiến tranh Việt Nam có ý thức, muốn tranh cãi, rằng “câu chuyện tin tức lớn nhất thế giới” đã mang lại một sự quyến rũ nhất định cho các nhà báo, những người cung cấp nó hàng ngày. Vì tất cả những câu chuyện đó đều được in ra và được phát đi, vì sự quan tâm của công chúng thế giới có thời gian tập trung vào Việt Nam cho tới mức tất cả các sự kiện khác đều bị xếp lại phía sau, nên các phóng viên ở Sài Gòn đã hưởng được quá nhiều sự chú ý và chiếu cố, điều đã tạo nên tiếng tăm cho họ. Không một nhà báo nào sẽ chối cãi rằng đó là phần thưởng được ham muốn nhất mà nghề nghiệp này có thể trao tặng cho. Việt Nam là một thử thách và thử nghiệm cho báo chí mà mối nguy hiểm gắn liền với nó dường như vì vậy mà đã nhỏ đi.

Tuy vậy, ghi nhận, ghi chép và mô tả với cặp mắt lạnh lùng, khô khan thường là một áp lực gần như không thể chịu đựng nỗi đối với tôi. Sự tự hoài nghi hành hạ bản thân của Larry Burrow cũng đi theo tôi trong thời gian đó. Người ta có thể và có được phép đứng nhìn mà không tham gia vào hay không? Không phải là thích hợp nhiều hơn hay sao, khi biểu lộ tình liên đới nhân đạo, đặt chiếc máy quay phim xuống và tham gia cứu giúp thay vì quay phim và lui vào vai trò nhân chứng, vai trò của người biên niên sử?

Nhà văn người Đức chết sớm Nicolas Born trong quyển tiểu thuyết cuối cùng của ông “Die Fälschung” [“Giả mạo”] đã mô tả sự xung đột nội tâm của một phóng viên chiến tranh, người có nguy cơ chết ngạt trong sự khốn cùng của xung đột Libanon. Born đã quan sát các phóng viên chuyên nghiệp trong lúc làm việc và có cảm giác ghê tởm, khinh bỉ vô cùng.

Laschen, người anh hùng của ông, đã mắc bệnh vì “sự đứng ngoài và vô trách nhiệm của phóng viên”. Ông đau khổ vì sự lạnh lùng trong ánh mắt nhìn sự khốn cùng của những nhà chuyên nghiệp đó. Họ cung cấp “một sự kinh hoàng vì tiền, một sự kinh hoàng mà người ta có nhu cầu không biết chán”. Ông gọi họ là bọn vô lại, các “phóng viên sự thật”, những người bao giờ cũng muốn đứng gần tới mức đụng chạm vào da thịt, biến tất cả và mỗi một điều trở thành một sự tương tích tốt đẹp chung, mang khắp thế giới vào trong một chương trình tiêu khiển thế giới… Anh chỉ muốn chấm dứt một trạng thái, trạng thái của sự giả mạo cũng như trạng thái của sự phẫn nộ phê phán và phẫn nộ đạo đức, chấm dứt trạng thái đó mà không phải hoàn toàn rơi vào trong sự thờ ơ, đó mới là một kỳ công.”

Nicolas Born tức Laschen đã thất bại ở kỳ công đó. Bài phóng sự mới, kiểu khác, không chỉ ghi nhận sự kiện, không giả mạo mà lột trần, gây ấn tượng cho người đọc, can thiệp vào, vượt qua khoảng cách, loan báo sự thật tàn bạo, đáng sợ. Quyển thiểu thuyết chỉ phát triển một lý thuyết cho việc đó. Không có thực hiện, vì không có và không thể có một phóng sự như vậy.

Hiện thực nặng nề, dai dẳng không để cho điều gì làm đảo ngược lại, cả lý tưởng lẫn thương hại cũng không. Cái được cho là sự cay độc của các “phóng viên sự thật” đã tự chứng tỏ mình là tính khiêm tốn, là nhận thức được sự không toàn vẹn của năng lực và khả năng của chính mình. Tác giả Nicolas Born đã phác thảo một lý tưởng không đạt tới được. Ông đã không thừa nhận thất bại trước độc giả của ông.

Tết Mậu Thân

Tết ở Việt Nam đánh dấu lần bắt đầu của năm mới theo âm lịch Trung Hoa. Lễ này là cao điểm của cuộc sống: lễ hội và lễ gia đình, cái được ăn mừng ít nhất là ba ngày liền. Năm 1968, Tết là vào ngày 1 tháng Hai. Bắc và Nam Việt Nam tuyên bố ngưng bắn, để chào mừng năm con khỉ cho xứng đáng.

Từ nhiều ngày qua, tiếng ồn của pháo được đốt suốt ngày đêm vang khắp đường phố Sài Gòn. “Trước đây thì một vài lần biểu diễn đốt pháo là đã đủ”, tôi đã tường thuật như vậy vào đêm trước đó qua telex về Đài Phát thanh Bắc Đức ở Hamburg, “để xua đuổi ma quỷ đi. Rồi các thương gia người Hoa biến việc đốt pháo thành một biểu tượng đẳng cấp, để lan truyền tin tức về sự giàu có của họ đi với tiếng ồn kéo dài, hết sức khó chịu. Nếu như cuộc đốt pháo kéo dài mười ngày là một chỉ dấu thì Nam Việt Nam phải là một đất nước giàu có. Ngày nay thì tất cả tâm linh đều đã bị xua đuổi đi, tốt cũng như xấu.”

Chợ Lớn, Tết Mậu Thân 1968
Chợ Lớn, Tết Mậu Thân 1968

Trong cùng ngày đó, ngày 31 tháng Giêng 1968, tin tức về tới Sài Gòn, rằng Việt Cộng với một lực lượng lớn đã bắt đầu tấn công ở các tỉnh ở miền Trung, vào các thành phố Pleiku, Nha Trang, Kontum và Đà Nẵng. Mặc dù vậy, thủ đô của miền Nam không để cho ngày lễ bị phá hỏng. Sài Gòn chưa bao giờ trải qua chiến tranh. Thành phố cứ tiếp tục ăn mừng, không nhận ra những dấu hiệu ở trên tường.

Thời đó, cái náo nhiệt của Tết ở Sài Gòn đã khiến cho tôi nhớ tới một đoạn văn của Søren Kierkegaard. Trong đó, triết gia người Đan Mạch này đã mô tả một anh hề, người thông báo với khán giả là đang có hỏa hoạn ở trong rạp. Khán giả vỗ tay. Họ cho lần xuất hiện của anh là một trò đùa.

Một người bạn là tùy viên quân sự, thiếu tá Weste, đánh thức tôi trong khách sạn “Continental” vào lúc năm giờ của sáng hôm sau đó. Liệu tôi có muốn tháp tùng ông trên một chuyến đi thanh tra qua thành phố hay không, ông hỏi. Có thể nghe được tiếng ồn chiến sự ở ngoài kia.

Khoảng cách từ khách sạn cho tới nhà thờ công giáo là chưa tới 500 mét. Một điểm kiểm soát của quân cảnh dừng xe của chúng tôi lại. Chúng tôi cố trình ra thẻ căn cước để thoát kiểm soát và tiếp tục đi. Người ta đã dùng vũ khí để ép buộc chúng tôi phải ngừng lại. Đại sứ quán Mỹ trên đại lộ Thống Nhứt, đại lộ mà chúng tôi vừa tới được khi ở cạnh nhà thờ, bị Việt Cộng bao vây, người lính trẻ nói thật nhanh và nhiều. Một cái nhìn về hướng sứ quán giải thích cho sự căng thẳng nội tâm của người quân cảnh. Chiến tranh thật sự đã về tới Sài Gòn vào cái ngày 1 tháng Hai này. Đại lộ Thống Nhứt là một chiến trường. Tiếng súng rít qua màn đêm. Nhưng qua cái nhìn đầu tiên thì không thể nhận ra được ý nghĩa của trận đánh này.

Chúng tôi quay xe lại, chạy vòng qua khu vực đang có chiến sự ở tòa đại sứ và đi về hướng phi trường Tân Sơn Nhứt. Việt Cộng đã tấn công vào nhiều ngôi nhà ở nhiều nơi trong thành phố. Đại sứ quán Philippine trên đường tới phi trường bị hư hại nặng. Cửa mở tung. Nhiều xác chết nằm trước lối vào.

Ở mặt sau của dinh tổng thống, Việt Cộng đã gặp một chiếc Jeep của quân cảnh Mỹ ngay từ lúc đang tiến tới. Nhóm Việt Cộng khai hỏa và giết chết hết bốn người cảnh sát. Sau đó, những người tấn công chạy trốn vào một khách sạn đang còn được xây mà họ cố thủ ở trong đó. Cuộc tấn công vào trụ sở chính phủ bị thất bại từ sớm.

Phi trường bị tấn công đồng thời từ nhiều hướng. Ở cổng chính, gần một bệnh viện dã chiến và tổng hành dinh của quân đội Nam Việt, đạn bay qua đầu những người lính Mỹ và Sài Gòn đã tìm chỗ nấp dưới đường mương hay sau những phần tường còn lại. Người bị thương được cứu ra. Tiếng “đit đit đit” của súng cá nhân vang rền trong không khí. Người ta càng tới gần nơi xảy ra, kinh nghiệm trong chiến tranh đã dạy như vậy, thì lại càng ít biết được điều gì đang thật sự xảy ra.

Tôi chưa bao giờ hết ngạc nhiên là làm sao mà người ta có thể đi lại trong cái lộn xộn đầy nguy hiểm đó, giống như chỉ quan sát một cuộc tập trận. Phải có nhiều may mắn, khi luôn ở ngoài rìa và tránh làn đạn mà không biết các vị trí bắn. Hẳn là đã có một định mệnh tốt dẫn dắt chúng tôi vào buổi sáng ngày hôm đó. Với một ấn tượng đầu tiên về quy mô của cuộc tấn công, về con số lớn đáng sợ của các nạn nhân đã chết trên mặt đường, chúng tôi lại trở về tới đại sứ quán Mỹ vào lúc tám giờ, nơi trận đánh cuối cùng vừa bắt đầu.

Với chiếc “ô tô gangster” kinh điển của phim hình sự Mỹ, thành viên một đơn vị đặc biệt Việt Cộng, lính “đặc công”, được người Mỹ gọi là sapper, đã chạy tới trước cổng chính của tòa đại sứ quán Hoa kỳ vào lúc 2 giờ 47 sáng. Trước khi hai người lính marines đứng canh gác nhận định được tình hình trong cái tranh sáng tranh tối, họ đã bị bắn gục bởi nhiều loạt đạt súng máy. Với một khẩu bazooka, một loại vũ khí chống tăng, những người tấn công bắn thủng một lỗ to hàng mét trên bức tường bảo vệ màu trắng mà họ đã chui qua đó để thâm nhập vào ngôi vườn của đại sứ quán và tấn công vào cửa chính.

Không đầy một giờ sau đó, quân đội Mỹ bắt đầu phản ứng. Người ta bắn từ đủ các hướng vào trong ngôi vườn của đại sứ quán, nơi có những chậu trồng hoa khổng lồ tạo những chỗ nấp tuyệt vời cho Việt Cộng. Thêm vào đó, bức tường bảo vệ ở ngoài chắn mất tầm nhìn của người Mỹ. Họ chỉ có thể dựa trên hỏa lực mà ước đoán có bao nhiêu Việt Cộng đang chiếm giữ khu đất. Cả việc định vị trí cũng gây nhiều vấn đề lớn. Những người Mỹ tiếp ứng không thể xác định được, rằng Việt Cộng đã xâm nhập vào ngôi nhà chính hay chưa, và nếu như điều này đã xảy ra thì họ đã vào được tới tầng mấy trong số sáu tầng lầu.

Cuối cùng, một chiếc Jeep húc vào cái cửa sắt của bức tường ngoài. Trực thăng chiến đấu bắn từ trên cao xuống khu vườn của sứ quán. Từ khoảng cách độ chừng 250 mét, giới nhà báo chúng tôi, bây giờ khoảng hai mươi người, quan sát màn cuối cùng của tấn bi kịch. Trực thăng của sư đoàn 101 Airborne đáp xuống nóc nhà đại sứ quán. Lực lượng tiếp viện được chở bằng máy bay tới tiến hành đợt tấn công cuối cùng từ ở bên trong ra, từ bên trong ngôi nhà chính của sứ quán. Vào lúc 9 giờ 08, trận đánh chấm dứt. Vũ khí câm lặng. Vào lúc 9 giờ 20, tướng Westmoreland thanh tra tại chỗ. Có nhà báo tháp tùng, viên tổng tư lệnh bước vào khu vườn phía trước, đầy những xác chết và ở nhiều nơi đã bị máu của những người chết nhuộm đỏ.

Cửa chính vào Đại sứ quán Hoa Kỳ, ngày 31 tháng 1 năm 1968. Ảnh: Vietnam Center and Archive

Đầu tiên, xác chết của hai marines Mỹ được mang đi, những người đã hy sinh ngay từ những phút đầu tiên của cuộc tấn công. Sau đó, cả lính Việt Cộng, hay những gì còn lại từ họ, cũng được chở đi. Người ta phát hiện 19 người chết của phe tấn công trong khu đất. Không một Việt Cộng nào có thể xông vào được tòa nhà chính. Cái cửa gỗ đồ sộ đã chịu đựng được đạn bắn. Việt Cộng không đoán được lực lượng của những người bảo vệ cố thủ trong nhà. Giá như họ biết rằng chỉ có hai marines nữa đang bảo vệ tòa nhà thì hẳn cuộc tấn công của họ đã thành công nhiều hơn nữa. Chỉ một Việt Cộng có thể thâm nhập vào một nhà phụ, nơi anh ta là người cuối cùng của nhóm bị một cựu chiến binh Mỹ dũng cảm, một đại tá có tên là George Jacobsen, bắn chết bằng súng ngắn.

Nhóm nhà báo hầu như chỉ gồm người Mỹ. Một bàn tay vô hình đã điều thông tín viên của các truyền thông Mỹ quan trọng nhất tới đây, của các hãng thông tấn, của ba đài truyền hình, Time, NewsweekNew York Times. Người tùy viên quân sự Đức và tôi chỉ tình cờ tham dự.

Đứng cách xa các nhà báo, trên bãi cỏ nhuộm đỏ máu bên cạnh những bồn hoa gây trở ngại, tướng Westmoreland bàn bạc với người sếp của ban thông tin, Barry Zorthian. Đường lối được quyết định, nội dung chính của thông tin cần phải đưa ra cho giới báo chí.

Mặc dù vậy, cuộc họp báo đột xuất mà viên tổng tư lệnh tiến hành vào buổi sáng ngày hôm đó trong khu vườn của đại sứ quán đã bị nổ sớm trong nòng, để dùng ngôn ngữ của quân đội. Westmoreland và Zorthian đã không nhận ra được giá trị biểu tượng của đại sứ quán Mỹ. Họ phớt lờ nỗi chấn động nội tâm của các nhà báo, những người đã gặp phải chiến tranh thật sự ở cách khách sạn của họ 1000 mét. Một trận tấn công đã biến thủ đô, cho tới nay hầu như không bị quấy phá, trở thành chiến trường. Westmorelan dường như không có khả năng để nhận ra các yếu tố tâm lý của tình hình mới.

Người cộng sản, Westmoreland giải thích, người bị các nhà báo bao vây và trong lúc đó trông cứng nhắc như bộ quân phục nhiệt đới màu xanh được hồ cứng của ông, đã xảo trá lợi dụng dịp Tết để đánh lạc hướng chiến trường chính ở Khe Sanh qua một chiến dịch tự sát tấn công vào Sài Gòn. Nhưng thủ đoạn đánh lừa này đã không thành công. Kế hoạch của Việt Cộng đã thất bại. Tình hình quân sự về cơ bản là nằm trong vòng kiểm soát.

Các nhà báo nghĩ rằng mình đang nghe một người ảo tưởng nói về một cuộc chiến tranh nào đó khác với cuộc chiến đã đẩy Sài Gòn vào sự hỗn loạn đầy máu me này. Báo chí và quân đội đã lan truyền hai phiên bản hoàn toàn khác nhau của trận tấn công dịp Tết. Trong đó, quan điểm của bộ tổng chỉ huy hầu như không được giới công chúng Mỹ, và cả giới công chúng thế giới, quan tâm tới. Phiên bản đầy kịch tính của truyền thông, gợi nên một chiến bại, đã thắng thế. Giới quân đội và chính phủ của Lyndon B. Johnson đã bị chế ngự bởi tác động tâm lý của tường thuật mà truyền thông bây giờ đang bắt đầu.

Hẳn là mãi cho tới khi đặt bút viết hồi ký của mình, tướng Westmoreland mới đoán đúng được vẻ mặt của các nhà báo đang sửng sốt nhìn ông: “Gương  mặt của họ phản ánh sự hãi hùng và kinh ngạc, giống như tận thế đã bắt đầu.” Giá như ông nhận ra được điều này vào thời đó trong toàn bộ tầm quan trọng của nó thì giới quân đội chắc đã ít bất lực hơn trong lúc phải chịu đựng tác động sốc tâm lý đang bắt đầu vào thời điểm đó.

Trận đánh truyền thông

Tướng Westmoreland tại tòa Đại sứ Hoa Kỳ,1968

Lời bảo đảm của Westmoreland, tình hình ở Sài Gòn nằm trong tầm kiểm soát, chứng tỏ rằng viên tổng tư lệnh đã xa rời hiện thực và thiếu thông tin cho tới đâu. Hai giờ sau khi giải vây cho đại sứ quán, trung tướng Frederick C. Weyand, chỉ huy quân đội Hoa Kỳ của vùng Sài Gòn, đã vội vã họp báo trong trung tâm báo chí của JUSPAO mà trong đó lần phân tích tình hình của Westmoreland bị lột trần ra là những lời cầu nguyện mong chóng tai qua nạn khỏi.

Tướng Weyand thanh lịch và diễn đạt chính xác, người chẳng hề cố gắng che dấu sự kiêu ngạo trí thức của mình, gọi cuộc tấn công vào Khe Sanh ở phương Bắc là một hoạt động đánh lạc hướng của Bắc Việt Nam, để bảo đảm cho hướng tấn công chính vào các trung tâm dân cư ở phương Nam hiện đang được tiến hành. Sau khi các chiến dịch tìm và diệt đã đẩy lùi Việt Cộng vào rừng và qua đó cô lập họ với người dân thường, bây giờ địch thủ tìm cách trở về các thành phố và những vùng đông dân cư qua một chiến dịch có quy mô lớn. Trong đó, Sài Gòn là mục tiêu chính. Tướng Weyand không đưa ra bất cứ một lời tuyên bố nào mà có thể được suy đoán rằng đó chính là bằng chứng cho việc ngay bây giờ tình hình đã nằm trong vòng kiểm soát rồi, chưa tới mười hai giờ đồng hồ sau khi cuộc tấn công bắt đầu.

Một sự ngẫu nhiên gây khó xử đã đóng một vai trò gây nhiều hậu quả vào buổi sáng ngày hôm đó. Nhà in quân đội vừa hoàn thành bản báo cáo của viên tổng tư lệnh tại Sài Gòn cho năm 1967 đã qua, cái bây giờ được trao cho các nhà báo. Nổi bật trên tấm bìa xanh của tập giấy dầy 70 trang là tựa đề: “1967: Một năm của tiến bộ”. Vào cuối thời kỳ báo cáo, các tác giả tuyên bố như thế trong lời tóm tắt mở đầu, “lực lượng quân sự của địch thủ nằm ở mức thấp nhất kể từ những năm 1965 và 1966. Ba mươi phần trăm lực lượng chiến đấu của họ không còn có khả năng tác chiến nữa.”

Nhưng sự thật là Việt Cộng, như sau này được xác định chính xác, đã dùng một tổng lực lượng là 4000 người để tấn công chỉ riêng vào khu vực Sài Gòn và khu phố người Hoa Chợ Lớn kế cận. Mười một tiểu đoàn đã thâm vào khu trung tâm, trong các vùng chính ở giữa cảng, đại sứ quán Mỹ và phi trường Tân Sơn Nhứt.

Khoảng 13 giờ, khi tôi cùng với một vài đồng nghiệp từ trong trung tâm báo chí bước ra ngoài đường phố trống vắng để trở về khách sạn “Continental” cách đó 200 mét, nhằm gửi thêm một tường thuật qua telex về Hamburg, chúng tôi đã rơi vào làn đạn của các tay súng bắn tỉa. Kẹp trong tay tập giấy “Năm của tiến bộ”, chúng tôi lao từ nơi ẩn nấp này sang nơi ẩn nấp khác, cho tới khi đến được hàng hiên và cửa phụ của khách sạn chúng tôi. Bảng tổng kết thành công của quân đội được phân phát ra vào cái ngày này đã đốt nóng tâm trạng của các phóng viên lên cho tới sự hung hãn bằng ngôn từ. Giới lãnh đạo quân đội đã đánh mất uy tín cuối cùng của họ.

Trận tấn công dịp Tết dường như cuối cùng đã cung cấp cho các phóng viên bằng chứng, rằng giới quân đội đã diễn giải sai hiện thực và đánh giá quá thấp quyết tâm của đối phương. Họ đắc thắng mô tả trận đánh Sài Gòn. Qua đường dây telex và radio, giới nhà báo chuyển tải các tường thuật trải nghiệm của họ, những cái đã đẩy người tiêu thụ ở quê nhà vào một cái gì đó tương tự như bầu không khí của lò mổ, cũng khá tương ứng với hiện thực. “Người dân ẩn nấp trong nhà họ”, tôi tường thuật vào ngày 1 tháng Hai về Hamburg, “họ bất lực, sợ hãi và lo lắng vì không biết tình trạng khẩn cấp kéo dài cho tới chừng nào. Ngay cả việc nhìn thấy người bị thương và những xác chết không toàn thây, được chở hàng giờ trên sàn xe tải với tiếng còi hụ qua đường phố, cũng đã đánh mất cái rùng mình ghê sợ từ lâu rồi.”

Sức mạnh gợi ý của những bài phóng sự và hình ảnh khiến cho giới quân sự ngạc nhiên, nhưng cũng cho chính giới báo chí nữa. Ngay trong những giờ đầu tiên của trận tấn công vào dịp Tết, mối quan tâm của công chúng thu hẹp lại vào một câu hỏi, cái hoàn toàn không có tầm quan trọng nào về mặt quân sự cả: Các đơn vị Việt Cộng trong đêm đó chỉ thâm nhập vào khu vườn của đại sứ quán qua bức tường ở ngoài, hay họ còn chiếm cứ được tòa nhà chính nữa? Tòa đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn bất thình lình có một lực biểu tượng thật to lớn. Trong con mắt của công chúng Mỹ, nó là trụ sở của quyền lực chính trị và quân sự ở Sài Gòn. Lá cờ sao và sọc bay phấp phới ở đây. Lần xung phong tấn công vào tòa đại sứ đã lột trần sự lạc quan có mục đích của quân đội. Nếu như Việt Cộng có thể tấn công bất ngờ và chiếm đóng được trụ sở chính của quyền lực Mỹ ở Nam Việt Nam thì họ cũng có thể tiêu diệt được phần còn lại của chính phủ Nam Việt Nam.

Peter Arnett, một phóng viên gân guốc của Associated Press, người đã có mặt ở Việt Nam từ thời Diệm và thuộc vào trong số các nhà báo lão thành nhiều kinh nghiệm và được tặng nhiều giải thưởng của giới nhà báo, đã báo cáo qua điện thoại về tòa soạn của ông ở New York vào lúc sáng sớm rằng “một số lính Việt Cộng còn chưa rõ là bao nhiêu đã xâm nhập vào tòa đại sứ quán Mỹ”.

Tin đầu tiên của AP chính là tít của ngày hôm đó. Peter Arnett, cũng như các nhà quan sát báo chí khác chỉ có thể nhìn thấy bức tường trắng từ bên ngoài và phỏng đoán được những gì đang xảy ra ở bên trong khu đất hay còn cả ở bên trong tòa nhà chính nữa, đã đưa ra một “worst case scenario”, kịch bản tồi tệ nhất, và đã báo về New York một sự phỏng đoán như vậy.

Tin của AP đã đánh trúng tâm lý của công chúng. Trụ sở của quyền lực Mỹ đã bị chiếm. Một tin chi tiết, sau này được chứng tỏ là sai, có tác động tới tâm trạng cơ bản của khán già, những người dựa vào xúc cảm, không suy nghĩ thêm và không cân nhắc, và không chờ sự xác nhận từ quân đội, đã tự quyết định rằng Việt Cộng đã thực hiện thành công một cuộc tấn công và mang lại cho thế lực dẫn đầu phương Tây một chiến bại có hại tới uy tín.

Việt Cộng có thâm nhập được vào trong tòa nhà chính hay không? Các phóng viên ở Sài Gòn, đang tường thuật về trận đánh ở trường đua, về những chiến máy bay cường kích bây giờ bay những phi vụ tấn công các tòa nhà chính trong trung tâm thành phố mà Việt Cộng cố thủ ở trong đó, không hiểu được câu hỏi vặn này của các ban biên tập ở quê nhà, những người không muốn rời khỏi các diễn tiến tại tòa đại sứ quán Mỹ và liên tục yêu cầu tài liệu mới để có thể tái tạo lại các diễn tiến trong khu đất của đại sứ quán chính xác từng chi tiết một. Quyết định tâm trạng cơ bản của công chúng Phương Tây không phải là các tường thuật đầy đủ đầu tiên, những bài tổng kết tạm thời và các bản phân tích tình hình, mà là chi tiết mang nhiều tính biểu tượng.

Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, 1968
Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, 1968

Tác động của tường thuật về Tết [Mậu Thân] dựa trên một vài câu chuyện về biểu tượng. Phần còn lại của các phóng sự và phân tích quy mô đã không tới gần được tâm trạng của bạn đọc và người xem truyền hình. Ngay cả khi người ta có nhiều sự kiện và thông tin hơn về diễn tiến chung của đợt tấn công, chúng cũng không còn có thể sửa đổi được các phản ứng bản năng đầu tiên của công chúng. Và chính giới báo chí cũng hết sức ngần ngừ trong việc bổ sung và giới hạn các tường thuật gây sốc đầu tiên, vì điều này sẽ gần giống như là sự thú nhận, rằng các bản tin ban đầu của các phóng viên là quá hấp tấp và có thể là đã quá cường điệu.

Chỉ sau một vài ngày thì đã rõ rằng Việt Cộng sẽ không đạt được mục tiêu của họ. Hiệu lệnh vào lúc bắt đầu đợt tấn công đã nêu ra mục đích này: “Bẻ gãy ý chí đế quốc của Mỹ”, tiêu diệt chính phủ bù nhìn ở Sài Gòn và “làm chấn động thế giới”. Hồ Chí Minh đã đưa ra một bài thơ kèm theo mệnh lệnh tấn công vào ngày 30 tháng Giêng 1968: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua.”

Bộ tổng chỉ huy Mỹ sau này đã cực lực bác bỏ lời cáo buộc, đã bị bất ngờ vì đợt tấn công này và đã chịu một “thảm họa trinh sát”, chỉ có thể so sánh được với Pearl Harbor 1941 và trận Ardennen năm 1944.

Thật sự thì bộ tham mưu ở Sài Gòn đã có một mô tả chính xác các ý định và mục tiêu của đối thủ nhiều tuần trước khi đợt tấn công bắt đầu. Ban báo chí của Barry Zorthian đã công bố văn kiện chứa nhiều lực nổ này, tịch thu được ngay từ tháng Mười một, vào ngày 5 tháng Giêng 1968. Ở trong đó có viết là: “Tiến hành những cuộc tấn công lớn về quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng địa phương để đánh chiếm các thành phố. Quân đội cần phải tràn ngập đồng bằng. Phải tiến lên và giải phóng thủ đô. Nắm lấy quyền lực và cố gắng lôi kéo các lữ đoàn và trung đoàn lần lượt về phía ta.”

Giới báo chí lúc đó đã ít chú ý tới văn kiện này. Cả trong các ghi chép của tôi cũng không có manh mối nào cho thấy tôi đã đọc bản báo cáo đó và đã nhận ra được tầm quan trọng của nó.

Các sĩ quan tình báo Mỹ, như Westmoreland tường thuật lại trong hồi ký của ông, đã không muốn tin vào văn bản tịch thu được: nó mâu thuẫn với lôgíc quân sự của họ. Vì thi hành một mệnh lệnh như vậy, trong từ ngữ của Westmoreland, sẽ “mang lại tổn thất thảm hại và chiến bại chắc chắn”.

Người Mỹ biết và hiểu đối thủ của họ ít cho tới mức họ cũng nghĩ sai về các mệnh lệnh tấn công đã được viết ra trên giấy và rơi vào tay họ đúng lúc, và không thể nhận ra một dấu hiệu nào cho thấy rằng Đảng ở Hà Nội đang có mưu đồ gì. Tết [Mậu Thân] không phải là “thảm họa tình báo”. Tết là một ví dụ gây kinh ngạc cho việc người ta không có khả năng hiểu được một nền văn minh xa lạ với những giá trị và thước đo khác. Vì Westmoreland và bộ tham mưu của ông cho rằng một cuộc tấn công trực diện là không hợp lý và là tự sát nên họ cũng tin rằng giới lãnh đạo ở Hà Nội cũng vẽ lên một bức tranh tình hình giống y như vậy. Nhưng ở Hà Nội thì giá cả được tính toán khác với ở Washington. Và cuối cùng, Tết cũng là một cú sốc văn hóa mà đã mang lại cho cuộc chiến ở Việt Nam bước ngoặc quyết định.

Chẳng bao lâu sau, người ta đã có thể nhận ra rằng Hồ Chí Minh đã gửi quân đội của ông vào cái máy xay thịt, vào hỏa lực không thương xót của cỗ máy chiến tranh Mỹ, cái mà bây giờ đã có thể phát huy hiệu lực vô song của nó, khi đối thủ đã xuất hiện. Cả một thế hệ chiến binh cách mạng, những người đã mang lại dấu ấn miền Nam riêng biệt cho Mặt trận Giải phóng đã bị nướng mất trong đợt tấn công vào dịp Tết. Việt Cộng, nhà cách mạng chính cống từ miền Nam, đã hoàn thành nhiệm vụ chết người cuối cùng của mình trong đợt tấn công Tết. 30.000 tới 50.000 lính, được ước lượng sau đó, đã chết ở bên phía cộng sản.

Các lỗ hổng sau đợt tấn công Tết đã được lấp đầy bằng các đơn vị chính quy từ Bắc Việt. Việt Cộng đã tự mình trở thành nạn nhân theo mệnh lệnh từ Hà Nội. Cơ hội của một sự phát triển chính trị độc lập ở Nam Việt Nam qua đó đã bị thủ tiêu.

Tết cũng đã dọn đường cho lần tái thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo và kiểm soát của Đảng Cộng sản ở Bắc Việt Nam.

Tàn phá để giải phóng

Ở Sài Gòn, những người tấn công không đạt được mục tiêu nào của họ. Họ không chiếm được cả tòa đại sứ quán Mỹ lẫn dinh tổng thống, cả đài phát thanh lẫn phi trường. Tuy vậy, thất vọng lớn nhất cho Đảng ở Hà Nội phải là việc người dân thường ở Nam Việt Nam đã không sẵn sàng nổi dậy, khởi nghĩa, cái đóng một vai trò trung tâm trong ý thức hệ của những người cộng sản Việt Nam. Người dân giữ khoảng cách như nhau với Việt Cộng cũng như với người Mỹ. Trong tháng Hai 1968, không thể nói tới một phản ứng dây chuyền đã được hy vọng mà đợt tấn công này có nhiệm vụ phải khởi động.

Chợ Lớn 1968, đoạn cuối đường Đồng Khánh
Chợ Lớn 1968, đoạn cuối đường Đồng Khánh

Sự việc cơ bản không thể nào chối cãi này của đợt tấn công dịp Tết đã không tìm được chỗ đứng đầy đủ trong các tường trình bao quát và chi tiết từ chiến trường. Các câu chuyện truyền hình thể hiện tính chiến đấu, tính bi kịch, máu, đổ nát và xác chết. Vào độ ngày 10 tháng Hai, tôi đã gửi một phim tường thuật về cho [chương trình truyền hình] “Weltspiegel”, chiếu người chỉ huy lực lượng cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan trong lúc đang thanh trừng ở Chợ Lớn. Đoạn trích dẫn sau đây từ bài viết kèm theo phim mang lại một hình ảnh cho bầu không khí ở Sài Gòn.

“Vị trí của Việt Cộng được phát hiện trong Quận 8 của Chợ Lớn. Sếp cảnh sát Loan gửi lực lượng của ông vào trận khi đã về chiều. Thiếu tướng Loan, không thích ống kính từ những lý do về an ninh, mới đây đã trở nên nổi tiếng một cách đáng buồn, khi ông tự tay bắn chết ngay trên đường phố một sĩ quan Việt Cộng bị bắt. Lính Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam được chở tới để tăng viện. Việt Cộng bắn từ phần phía trên của con đường. Những người cảnh sát tìm chỗ nấp ngay trong khu vực của họ, trong một của nhiều đồn bót nhỏ ở Chợ Lớn. Cũng từ ở đó, viên cố vấn Mỹ của đơn vị Việt Nam theo dõi diễn tiến của chiến dịch. Trong trường hợp khẩn cấp, ông có thể yêu cầu trực thăng chiến đấu hỗ trợ, để bắn Việt Cộng bằng hỏa tiển từ trên cao xuống. Một chiếc xe hồng thập tự thu nhặt những người bị thương đầu tiên trên đường phố.

Trong một khoảnh khắc ngưng bắn, những người dân cuối cùng của đoạn đường rời khỏi các ngôi nhà đang bị giành giật của họ. Họ đã ở lại đó vì sợ bị hôi của và trộm cắp. Ba Việt Cộng bị bắt. Người ta không tin họ và đối xử với họ hết sức thận trọng. Cũng từ con đường đó, con đường mà những người dân thường vừa mới chạy trốn ra khỏi đó, Việt Cộng đã bắn bằng một loại vũ khí chống tăng, cái được gọi là bazooka, nhưng không trúng chiếc xe tăng  và đã nổ tung trong không khí. Lực nổ đã hất các chiến binh xuống đất. Một vài người cảnh sát bị thương, cả hai người Mỹ cùng quay phim chiến dịch này với chúng tôi cũng bị thương. Chiếc xe hồng thập tự lại đến để chở những người bị thương vào bệnh viện. Đối với họ, trận chiến đã chấm dứt.”

Tính sẵn sàng của quân đội Mỹ, tạo thuận lợi cho việc làm của các nhà báo, đưa cho họ bất kỳ sự giúp đỡ và hỗ trợ nào được mong muốn, cũng vượt qua được thử thách trong khoảnh khắc căng thẳng và nguy hiểm lớn nhất. Khi phi trường Tân Sơn Nhứt bị bắn phá vào ngày đầu tiên, và hoạt động hàng không dân sự bị gián đoạn, các chiếc máy bay quân y chở những người bị thương nặng sang Tokio của Mỹ cũng mang cả những túi phim của các đài truyền hình Mỹ với những hình ảnh vây hãm tòa nhà đại sứ quán Mỹ đi cùng. Từ Tokio, nơi người ta tráng phim, các cảnh quay, không bị cắt xén và cả ban biên tập ở New York cũng không biết được nội dung, được truyền trực tiếp qua vệ tinh vào chương trình Huntlex Brinklex của NBC. 36 giờ sau đó, khán giả truyền hình trải qua được màn mở đầu đầy kịch tính của đợt tấn công vào Sài Gòn. Vào thời đó, với phim màu thông thường, còn chưa thể truyền đi hình ảnh nhanh hơn được. Sài Gòn còn chưa có nơi sao chép lại phim màu. Giả như thời đó đã có kỹ thuật hình điện tử mà ngày nay được dùng ở khắp nơi trên thế giới, thì tác động gây sốc của tường thuật chiến tranh không qua kiểm duyệt chắc chắn sẽ còn lớn hơn nữa.

Sau trận đánh giành giật đại sứ quán, đã chiếm lĩnh tít chính nhiều ngày liền, mối quan tâm của công chúng quay sang cuộc hành hình trên đường phố mà tướng Loan đã thực hiện lúc thanh trừng trong Chợ Lớn gần chùa Ấn Quang.  Lúc đó, không một ai quan tâm tới hậu cảnh của cuộc hành hình. Loan đã xuất hiện như một tên đồ tể, bắn chết tù nhân ngay sau khi những người này được dẫn tới cho ông.

Eddy Adams, nhiếp ảnh gia trầm tư của AP, người chụp cảnh đó, sau này đã không còn hài lòng với thông điệp bề ngoài của bức ảnh nữa. Trong một số đặc biệt của Newsweek, tháng Tư 1985, mười năm sau khi Sài Gòn kết thúc, Adams tường thuật về câu chuyện trước lúc hành quyết: “Tôi vừa mới khám phá ra rằng viên thiếu úy Việt Cộng bị hành quyết trên bức ảnh trước đó đã giết chết một thiếu tá cảnh sát Nam Việt Nam, một trong những người bạn thân thiết nhất của Loan, và thêm vào đó là toàn bộ gia đình với vợ con. Tất cả đều đã lên án Loan vì ông ấy đã bắn chết người tù binh. Nhưng nếu người ta ở trong tình trạng của Loan: khi có chiến tranh và những người của mình bị giết chết, thì làm sao mà người ta biết rằng liệu chính mình cũng có bắn chết một tù binh như vậy hay không?”

Vẻ ngoài gây sốc; nhưng nó chỉ hé lộ một phần của hiện thực phức tạp hơn, mâu thuẫn hơn những gì có thể thấy rõ trong tường thuật rất nhiều. Một phần của bức ảnh tổng thể thu hút toàn bộ sự quan tâm. Tiểu tiết có sức mạnh biểu tượng. Trận tấn công dịp Tết, vâng, toàn bộ cuộc chiến ở Việt Nam, cô đọng lại trong một bức ảnh hay trong một câu nói duy nhất, như Peter Arnett với thành tích cá nhân thứ nhì về mặt báo chí đã chứng minh.

Theo yêu cầu của một vài đại diện truyền thông Mỹ, của giới đứng ở vòng trong, vì nổi tiếng trong giới báo chí mà hưởng được sự chú ý đặc biệt của ban báo chí quân đội, cũng là giới đã được gọi tới trong đêm đại sứ quán bị bao vây, bộ tổng chỉ huy tổ chức trong tuần thứ hai của đợt tổng tấn công dịp Tết một loạt chuyến đi tham quan trong ngày, để mở rộng tầm nhìn của báo chí và thể hiện rõ quy mô thảm họa của Việt Cộng. Ở ngoài kia, hỏa lực được sử dụng tàn nhẫn hơn là trong thủ đô có mật độ dân cư đông đúc. Những người Việt Cộng tấn công đã bị bom và đạn pháo nghiền nát. Nhưng còn đáng sợ hơn nữa là các nạn nhân từ người dân thường và sự tàn phá về vật chất mà cỗ máy chiến tranh đã gây ra.

Bến Tre 1968
Bến Tre 1968

Vào ngày 7 tháng Hai 1968, một chiếc máy bay đặc biệt với một nhóm nhà báo người Mỹ đã khởi hành một chuyến đi trong ngày tới Bến Tre, một tỉnh lỵ trong đồng bằng sông Cửu Long mà từ nhiều năm nay đã có thể đứng vững như thành trì trong một vùng bị đối phương thâm nhập và trong thời gian đó hay bị các đơn vị Việt Cộng bắn phá bằng hỏa tiển. Trong diễn tiến của đợt tấn công Tết, các nhà chiến lược đối phương đã cử một lực lượng đặc biệt mạnh tấn công Bến Tre, để cuối cùng rồi cũng phải chiếm được tiền đồn của chính phủ Thiệu.

Trước áp lực hết sức lớn và mối nguy bị tràn ngập, những người lính Sài Gòn và các cố vấn của họ không còn có sự lựa chọn nào khác ngoài cách yêu cầu pháo binh và không quân yểm trợ, để dùng phương tiện mạnh mà tiêu diệt những người tấn công đã thâm nhập vào thành phố. Những hành động như vậy chắc chắn sẽ gây tàn phá rất lớn, và đồng thời cũng ảnh hưởng tới người dân thường. Với những người Việt Cộng, cả phụ nữ và trẻ em đã chạy trốn vào trong nhà, cũng bị trúng đạn và bị giết chết.

Nhóm nhà báo từ Sài Gòn quan sát vài giờ những chiếc máy bay chiến đấu lơ lửng trên các mái nhà và can thiệp vào trận đánh bằng súng máy hạng nặng. Qua đó, Bến Tre phần lớn chỉ còn là một đống đổ nát. Trong tường thuật của các thông tín viên, hoàn cảnh đó phần lớn cũng được đề cập tới. Thêm vào đó, trong phóng sự của Peter Arnett còn có một câu trích dẫn đã hội tụ tình trạng lại như một cái kính lúp. Peter Arnett đã để cho một thiếu tá người Mỹ không nêu tên nói một câu nói đã trở thành câu châm ngôn và đã lột trần tình trạng khó xử của Mỹ ở Việt Nam giống như một ngọn đèn pha chiếu sáng: “Cần phải phá hủy thành phố để cứu nó.”

Không một phóng viên nào khác từ nhóm tham quan ở Bến Tre đã nghe được và ghi nhận câu nói này. Sau này, giới chỉ huy quân đội đã ra chỉ thị điều tra, để tìm cho ra tác giả của câu nói gây đau đớn, gần như là mang tính lật đổ đó. Peter Arnett hẳn đã đoán trước, rằng trong trường hợp này thì tốt hơn là nên bảo vệ nguồn tin của mình trước những cuộc điều tra của Lầu Năm Góc; hay là ông đã tự viết ra câu đó, và từ những lý do về văn phong – bi kịch mà đã để cho một thiếu tá nặc danh nói. Một phương cách như thế cũng là thông thường và được chấp nhận trong báo chí Mỹ. Peter Arnett vẫn giữ bí mật của mình cho tới ngày hôm nay. Câu chuyện của ông đã có ảnh hưởng tới thái độ của giới công chúng Mỹ về cuộc chiến ở Việt Nam nhiều hơn là nhiều hình ảnh và tường thuật khác.

Cú sốc giúp Hà Nội chiến thắng

Mùa thu 1967, tướng Westmoreland trong một chuyến đi thuyết trình xuyên nước nhà đã vẽ nên một bức tranh tươi đẹp cho tới mức công chúng đã chuẩn bị tinh thần cho một chiến thắng sắp đến. Trong “Báo cáo về tình hình quốc gia”, cái mà tổng thống Lyndon B. Johnson trình bày vài ngày trước Tết, một đợt tấn công của Hà Nội không hề được để cập tới dù chỉ với một từ. Nước Mỹ đã không chuẩn bị trước cho một thất bại về quân sự ở Việt Nam.

Đợt tấn công dịp Tết đã tạo ra một cú sốc mà tường thuật báo chí không bị kiểm duyệt chỉ tăng cường nó lên, nhưng thật ra là không tác động. “Tôi đã nghĩ là chúng ta sẽOK thắng cuộc chiến này”, người dẫn chương trình truyền hình nổi tiếng Walter Cronkite bày tỏ, người đã thay đổi quan điểm cho tới lúc đó của ông qua Tết. Cronkite, người đã sang Sài Gòn ngay trong thời gian của đợt tấn công, để tận mắt nhìn tình hình, vào lúc đó đã từ bỏ hy vọng, rằng cuộc chiến này ở Đông Nam Á có thể thắng được bằng phương tiện quân sự.

Walter Cronkite, leggenda del giornalismo Usa e' morto a 92 anni. Racconto' agli americani i piu' importanti eventi del secolo scorso
Walter Cronkite

Robert Kennedy, người chuẩn bị thách thức Lyndon B. Johnson tại lần bầu cử tổng thống sắp diễn ra trong năm 1968 bằng cách ra ứng cử, đã đưa ra một đánh giá tình hình mà nhiều người Mỹ tự phát thấy nó rất hiển nhiên: “Từ hai mươi năm nay, chúng ta sống trong một ảo tưởng. Lịch sử chiến tranh không hề ghi nhận một sai lầm kéo dài lâu tương tự như vậy. Đã đến lúc phải từ giã một hình ảnh điên rồ và nhận ra hiện thực. Một chiến thắng quân sự không nằm trong tầm nhìn thấy, và trong tương lai cũng sẽ không thể đạt tới nó được.”

Trong khi Việt Cộng bị cỗ máy chiến tranh của Mỹ tiêu diệt ở Nam Việt Nam và chịu một chiến bại mang tầm cỡ chiến lược thì phản ứng hoảng hốt của giới công chúng Mỹ đã giúp cho chế độ Hà Nội có được một chiến thắng về chính trị. Nhưng chỉ với tường thuật đầy xúc cảm, hướng tới một worst case của truyền thông thì không thể giải thích được cú sốc của công chúng. Lý do rất đa dạng, và chúng nằm sâu trong cấu trúc nhận thức của xã hội Mỹ.

Quân đội Mỹ đóng ở Nam Việt Nam đã sáu năm nay. Cho tới lúc đó, con số đã tăng lên tới nửa triệu, trong đó đa số là những người phải đi lính, và chiến thắng được hứa hẹn thì còn lâu mới giành được. Ở Mỹ, cứ hai năm là bầu cử một lần. Hạ viện được bầu mới hoàn toàn, một phần ba thượng nghị sĩ phải bước ra tái ứng cử. Chính trị gia cần những thành công nhanh chóng, để có thể đứng vững trong sự xoay vòng đó. Hệ thống dân chủ Mỹ cho phép người dân có ảnh hưởng rất lớn tới chính trị. Trạng thái tâm lý của người dân đi bầu biến chuyển thành những đa số hay thay đổi. Nền dân chủ Mỹ không cổ vũ cho việc theo đuổi các phương án ngoại giao một cách nhẫn nại và kiên trì. Truyền thông hiện đại, sự thống trị của truyền thông lại còn khuếch đại các chỗ yếu của hệ thống này thêm nữa.

Trong Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến, giới công chúng Mỹ đã vượt qua được lần thử thách lòng kiên nhẫn, vì đối thủ xuất hiện như là cái xấu và tính cách giống như thập tự chinh đã có thể động viên được những dự trữ lớn của xúc cảm. Ở Việt Nam, nước Mỹ chỉ hoạt động với trí óc, không hoạt động với con tim. “Bác Hồ” và những người Việt Cộng sẵn sàng hy sinh không thu hút một sự căm thù thật sự về phía họ, cái mà người ta có thể biến đổi chúng thành sự trung thành với các nguyên tắc và ý chí muốn chiến thắng. Các tổng thống Kennedy và Johnson đã dẫn nước Mỹ vào chiến tranh mà không thông tin một cách trung thực và đầy đủ cho công chúng và cũng chưa từng bao giờ cố gắng mang dân tộc đoàn kết đứng ở sau các lực lượng đang chiến đấu. Quân đội Mỹ, viên tướng thông minh và tự phê phán Frederik Weyand đã viết ngay từ năm 1976, một năm sau cuộc chiến, “trước hết không phải là một công cụ của hành pháp, mà là cánh tay của nhân dân. Vì vậy mà không được phép sử dụng quân đội một cách thiếu thận trọng.”

Tổng kết của các phân tích quân sự mà sử gia về chiến tranh, đại tá Summers, đưa ra, cũng rõ ràng và không thể bị hiểu lầm: “Sai  lầm chiến lược lớn nhất trong Chiến tranh Việt Nam là việc không liên kết với ý chí quốc gia. Qua đó, mà một khả năng bị tổn thương đã thành hình, cái mà địch thủ đã có thể lợi dụng được.”

Cùng với giới quân đội, tổng thống Lyndon B. Johnson đã cố giấu giếm người dân Mỹ, rằng cuộc chiến phải được mở rộng từng bước một và phải nâng tiền đánh cược lên rất cao. Trong một bản ghi nhớ của Hội đồng An ninh Quốc gia trong tháng Tư 1965, việc đánh lạc hướng và thông tin sai công chúng được diễn đạt một cách điển hình. Theo ý muốn của tổng thống, việc tăng lực lượng quân đội lên thêm 18.000 cần phải được diễn tả “dần dần và hoàn toàn phù hợp với đường lối chính sách cho tới nay”. Đó là một bước leo thang mà cần phải được diễn tả không như là một bước leo thang. Nằm trong đường lối thông tin này, một nhà phân tích thông minh đã phán xét, là “bản chất của những gì sai lầm cơ bản trong chính sách và chiến lược Mỹ”.

Nhiệm vụ của báo chí là phát hiện ra âm mưu chống công chúng này và khoan thủng tính lạc quan của Lầu Năm Góc. Nhìn toàn bộ thì giới truyền thông đã làm tròn được vai trò trong hệ thống của nó. Ngược lại, đối với Westmoreland, điều chắc chắn là bắt đầu từ Tết [Mậu Thân], “cung cách ở bên phía các phóng viên Mỹ rõ ràng đã góp phần để cho kẻ địch có thể giành được một chiến thắng về mặt tâm lý ở Hoa Kỳ”. Tất nhiên, trong huyền thoại mới về con dao đâm sau lưng này, rõ ràng là người ta đã phớt lờ, rằng không chỉ các nhà báo mà cả giới chỉ huy quân đội ở Sài Gòn cũng đã bộc lộ một phản ứng hoảng hốt mà chính nó mới mang lại cho trận tấn công dịp Tết bước ngoặc quyết định.

Tuy Westmoreland tuyên bố chiến thắng Việt Cộng, nhưng đồng thời lại để cho sếp của bộ tham mưu liên quân, tướng Earl Wheeler, yêu cầu thêm 206.000 quân lính dựa trên một kịch bản cho tình huống xấu nhất. Yêu cầu của giới quân đội này đã khiến cho tổng thống Johnson bỏ cuộc. Ông ra lệnh xuống thang trong cuộc chiến ở Việt Nam, và đồng thời tuyên bố ý định rời bỏ chứ vụ, không đứng ra ứng cử cho một nhiệm kỳ thứ hai.

Mãi tới bây giờ Hà Nội mới giành được một chiến thắng ở Mỹ. Các tướng lĩnh, chứ không phải các nhà báo, đã khiến cho Johnson phải xét lại các mục tiêu của cuộc chiến và hướng tới việc thương lượng với Bắc Việt Nam. Các tường thuật báo chí về đợt tấn công dịp Tết chỉ hỗ trợ gián tiếp cho lần sửa đổi đường lối này.

Ngay cả khi huyền thoại về con dao đâm sau lưng của giới quân đội quanh Westmoreland không thuyết phục được, người ta cũng vẫn phải thừa nhận rằng giới truyền thông trong thời gian của đợt tấn công dịp Tết đã để cho tính bi kịch của các sự kiện bên ngoài trói buộc quá mạnh. Trên đường săn lùng các hoạt động chiến đấu và hình ảnh biểu tượng nhiều xúc cảm, đa số các phóng viên đã không nhận ra được giá trị thật của các sự kiện và cung cấp những bài tường thuật có thể đưa ra một hình ảnh phù hợp với tình hình quân sự. Tiếp theo sau cú sốc đầu tiên lẽ ra phải là một tường thuật bình tỉnh, mang tính phân tích mà trong đó thất bại của chiến dịch công kích của Việt Cộng và tổn thất đáng sợ của những người tấn công được thể hiện thật rõ.

Mãi sau nhiều tuần, khi cuộc chiến trên đường phố ở Sài Gòn và Huế đã giảm xuống, thì nhận thức mới lờ mờ hiện ra, rằng Việt Cộng đã không đạt được các mục tiêu chiến dịch của họ. Tất nhiên, giới công chúng thế giới chỉ được truyền tải lại một ám chỉ, không nhiều hơn, bị tương đối hóa bởi sự hoài nghi. Lẽ ra đó là thời điểm cho cỗ máy tuyên truyền của Lầu Năm Góc. Nhưng quân đội đã đánh mất mọi tính khả tin. Đa số người dân Mỹ đã tin vào người tổng chỉ huy ở Việt Nam, khi ông ấy đưa ra triển vọng chiến thắng. Bây giờ thì hầu như không còn ai tin vào ông nữa, khi ông trình bày một thành công chiến lược thật sự sau Tết.

Peter Braestrup, người thu thập kinh nghiệm báo chí của mình ở New York TimesWashington Post và sau đó chuyển sang khoa học về truyền thông, đã đưa ra một nghiên cứu tỉ mỉ về đợt tấn công dịp Tết, cái cáo buộc giới báo chí nói chung là đã lâm vào tình trạng hoảng loạn, nhận định và diễn giải sai lầm diễn tiến quân sự của các sự kiện ở Nam Việt Nam. “Big Story” là tựa đề của bản phân tích đã được xuất bản ngay từ năm 1977, cái đã đi tới lời phán xét mang tính hủy diệt sau đây: “Hiếm khi – lúc nhìn lại từ sau này – mà báo chí lại cách xa hiện thực như thời đó.”

Một tác giả khác, Philip Knightley, người nghiên cứu về quan hệ giữa quân đội và báo chí từ cuộc Chiến tranh Krym, thời điểm bắt đầu của tường thuật chiến tranh thật sự, đã thừa nhận rằng “phần lớn các thông tín viên đều nhìn Tết một cách sai lầm”, rằng trước hết là họ đã phớt lờ thảm họa quân sự của Việt Cộng. Mỗi một phóng viên ở Nam Việt Nam, Knightley đã cố gắng giải thích các lý do như vậy, chỉ có một phần thông tin, nhìn bao quát “một lĩnh vực quá nhỏ của nhận thức”. Vì các phóng viên không nhìn được tổng cục diện nên họ quay sang các biểu tượng, cuộc hành quyết của Loan, lần tàn phá Bến Tre, các tấn bi kịch bom napalm và cuối cùng là vụ thảm sát Mỹ Lai. Việt Nam đã làm cho các phóng viên trở nên kiêu căng, nghĩ rằng có thể mô tả tất cả và làm được tất cả. Thật sự thì Việt Nam là một tấn bi kịch phức tạp cho tới mức các nhà báo, cũng như tất cả những người tham gia khác, đã bị nó chế ngự. “Hãy cẩn thận trước quá nhiều biểu tượng”, Knightley khuyên, “chúng là một lối thoát êm ái.”

Thiếu sót của tường trình chiến tranh từ Việt Nam mãi sau này mới được xét ngiệm tỉ mỉ và hiểu thấu với các nguyên do, khi sự kiện đã trở thành lịch sử từ lâu. Một thiếu sót khác đã được các phóng viên nhận ra và than phiền ngay từ những năm chiến tranh. Tự do tường thuật chỉ có ở một bên, ở Nam Việt Nam tại các đơn vị Mỹ và quân đội của Sài Gòn.

Việt Cộng và quân đội Bắc Việt khép kín mình trước ánh mắt của truyền thông quốc tế. Trong thời gian của những năm chiến tranh, chỉ có một ít nhà báo chọn lọc là mới được phép đến thăm Hà Nội và tạo cho mình một hình ảnh riêng của hoàn cảnh.

Chuyến đi thăm Hà Nội

Đi thăm Bắc Việt Nam là mong muốn của hầu như tất cả các phóng viên, những người chỉ biết miền Nam và phải hài lòng với những phỏng đoán và suy đoán về phe cộng sản. Đảng viên trung thành với đường lối, không đưa ra những câu hỏi khó chịu và xác nhận những luận điểm chính của tuyên truyền chiến tranh Bắc Việt, thường được cho phép đi vào nhiều hơn là các nhà quan sát “thường dân”, tuy có thiện cảm cho phe yếu thế về kỹ thuật nhưng lại mở mắt đi khắp nước và so sánh phiên bản chính thức với hiện thực mà họ tiếp cận được.

Hà Nội, 1973
Hà Nội, 1973

Năm 1965, chính quyền đã cho phép đội quay phim truyền hình phương Tây đầu tiên dưới quyền của nhà báo tự do người Anh James Cameron nhập cảnh vào nước. Nhưng công việc quay phim bị chấm dứt mà không có lý do cụ thể, và những người khách được mời bay ra khỏi nước với chuyến bay Aeroflot kế đến. Phim của Cameron biểu lộ nhiều sự thông cảm và thiện cảm cho người dân đang phải chịu đựng cuộc chiến tranh ném bom. Lúc sản xuất, nhóm quay phim Anh quốc cũng biết rằng họ chỉ được cho phép nhập cảnh vì chính phủ hy vọng có lợi riêng cho họ. Cameron và đội quay phim Anh quốc không được mời tới Hà Nội để tường thuật tự do, khách quan, một tường thuật mà có thể làm cho tuyên truyền của Hà Nội lung lay. Lúc đó, ai đi thăm miền Bắc, nhà sử gia báo chí Philip Knightley phán xét, thì phải dự tính trước tới việc là tính đáng tin cậy và khả năng của mình cũng như các nguyên tắc chuyên nghiệp của mình sẽ bị thử thách.

Khi Walter Cronkite, người dẫn nổi tiếng của chương trình tin tức CBS, công khai thay đổi ý kiến của ông về cuộc chiến ở Việt Nam trên đỉnh cao của đợt tấn công dịp Tết và khuyên hãy ngưng tham chiến, tổng thống Lyndon B. Johnson đã cảm nhận điều đó như là một cú đánh mạnh vào chính sách của ông. Hà Nội phản ứng với lần thay đổi đường lối của con người quan trọng, theo chủ nghĩa tự do, có nhiều ảnh hưởng tới ý kiến công chúng đó bằng cách mời ông sang thăm Bắc Việt Nam.

Walter Crokite, đã tham dự Đệ nhị Thế chiến như là phóng viên của UPI, có linh tính của một nhà báo nhiều kinh nghiệm. Chịu nhiều ảnh hưởng của giới bảo thủ, ông chưa từng bao giờ nghi ngờ lòng yêu nước của mình,

Năm 1966, một năm trước đó, ông đã hoài công xin một thị thực cho Bắc Việt Nam. Lời mời bây giờ, sau khi ông khuyên chính phủ Johnson hãy chấm dứt cuộc chiến, đối với Walter Cronkite, một con người điềm tỉnh và không thể mua chuộc được, giống như một phần thưởng từ địch thủ cộng sản. Ông biết rằng có một câu chuyện lớn đang chờ đợi ông. Phản ứng của công chúng trước lần xuất hiện của ông ở Hà Nội có thể sẽ còn lớn hơn sự chú ý đến chuyến đi Sài Gòn của ông. Mặc dù vậy, Crokite đã yêu cầu CBS hãy từ chối lời mời. Ông không nghĩ rằng ông cần phải đi, ông đã đánh điện như vậy từ nơi nghỉ mát trong vùng Caribe.

Một đảng viên, người vẫn trung thành với đường lối và tuy vậy vẫn công bố nhiều thông tin cơ bản về miền Bắc và quân đội của nó, là nhà báo người Úc Wilfred Burchett, người luôn được mở rộng cửa ở Hà Nội, vì ông, như là cái loa và kênh thông tin, đã thỏa mãn các nhu cầu đặc biệt của chính phủ Bắc Việt Nam một cách đáng tin cậy.

Theo lời giới thiệu của Wilfred Burchett, chính phủ ở Hà Nội đã mời cộng sự nổi tiếng của tờ New York Times, Harrison Salisbury, vài năm sau đó. Salisbury với những bài tường thuật từ Bắc Việt Nam đã đưa ra một thước đo mà tất cả những người khách đến thăm từ Phương Tây sau đó đều được so sánh với nó. Vì người phóng viên của tờ New York Times, đã trải qua lần bao vây Leningrad trong Đệ nhị Thế chiến, và đã mô tả sự chịu đựng của người dân Xô viết một cách hết sức cảm động, cũng nhìn Bắc Việt Nam bằng đôi mắt thiện cảm.

Loạt bài của Salibury trên tờ New York Times cáo buộc không quân Mỹ đã bỏ bom không chỉ các mục tiêu quân sự và chiến lược ở Bắc Việt Nam. Ngay cả các con đê, Salisbury bảo đảm như vậy, cũng đã bị bom hạng nặng phá hủy, để làm ngập đồng bằng của miền Bắc. Với chứng nhận của Salisbury, cái bị Lầu Năm Góc tố cáo là tuyên truyền cộng sản, chính phủ của Hà Nội đã củng cố luận đề không chỉ đóng dấu người Mỹ như là những người tấn công mà còn là những kẻ phạm tội. Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, lời quả quyết là như vậy, bỏ bom có kế hoạch và hệ thống các vùng dân cư mật độ cao, để tiêu diệt người dân thường. Cuộc không chiến cũng phá hủy đê đập và qua đó là nền tảng của cuộc sống Bắc Việt Nam. Nước Mỹ mang tội khủng bố và diệt chủng.

Peter Weiss, người cả đời mình đã chịu ảnh hưởng nặng của các trải nghiệm từ thời Phát xít, tác giả người Đức phát xét với con tim, không chỉ với trí óc lạnh lùng, sau một chuyến đi xuyên qua Bắc Việt Nam năm 1968 đã tin rằng, “nước Mỹ muốn diệt chủng…Ý định của Mỹ là diệt chủng, và ý định này vẫn còn đó”, Peter Weiss trình bày trong một cuộc trao đổi với Spiegel mà tôi đã cùng với Georg Wolf tiến hành ở Stockholm trong mùa hè 1968.

Trong mùa xuân năm 1974, chính tôi cũng nhận được một lời mời ra Bắc Việt Nam. Cho tới lúc đó, nhà văn và phóng viên báo chí từ nước Cộng hòa Liên bang [Đức] đã được cho vào, trong số đó có Werner Holzer của tờ Frankfurter Rundschau, nhưng còn chưa có phóng viên truyền hình nào, từ [đài truyền hình] ARD lẫn từ [đài truyền hình] ZDF đều không. Lời mời chuyển tới giám đốc văn phòng ARD ở Hongkong là do một công ty phim Nhật Bản làm trung gian, có mặt chính thức ở Hà Nội với đội quay phim duy nhất từ một nước không cộng sản. Cộng tác với đội ngũ người  Nhật này là điều kiện gắn kết với tờ thị thực. Nhờ sự giúp đỡ của Nihon Denpa News, Tokio, mà tôi, như là phóng viên truyền hình duy nhất của nước Đức, đã có thể đi thăm Bắc Việt Nam trong thời chiến và đi thăm đất nước này cho tới biên giới phía Nam, thời đó ở cạnh sông Thạch Hãn tại thành phố Quảng Trị.

Vào ngày 10 tháng Tư năm 1974, tôi bay từ thủ đô Vientiane của Lào, nơi Bắc Việt Nam có một tòa đại sứ, cũng là nơi đóng thị thực cho tôi, tới Hà Nội. Khi rời chiếc máy bay Aeroflot, có một phái đoàn với bông hoa chào đón tôi. Những trang sau đây là các ghi chép nhật ký mà trong đầu mùa hè 1974 đã được phát sóng đi như là bài đặc biệt trong hầu như tất cả các chương trình radio của ARD.

Historical Vietnam - North Vietnam 1973
Hà Nội, tháng 3 năm 1973

10 tháng Tư 1974

“Là nhà báo mà được tiếp đón với bông hoa, điều đó đánh thức dậy những cảm nhận mâu thuẫn. Chính trị gia được đón tiếp như vậy, chính khách nhà nước luôn luôn được đóng tiếp như vậy, đặc biệt tất nhiên là các quý bà đi cùng, và thỉnh thoảng cả những người đang tranh cử cũng yêu cầu để sẵn những bó hoa thật to, thích nhất là hoa lay ơn, để dàn cảnh tiếp đón ứng cử viên đang tới một cách xứng đáng. Đón tiếp nhà báo với bông hoa khiến cho người ta suy ra rằng còn có ẩn ý ở phía sau.

Ở đây thì không có ai vào gian sảnh chờ mà không có báo trước. Toàn bộ khách tới đây đều có một người nhận, một người tiếp, người chuẩn bị tất cả cho lần lưu lại Hà Nội.

Bông hoa xác nhận một sự việc rõ ràng. Những cử chỉ nồng nhiệt, khiến cho người ta phải suy nghĩ, có liên quan tới tình huống khó khăn mà một nhà báo lâm vào, người chấp nhận một lời mời và tuy vậy vẫn quyết tâm bảo toàn tính độc lập của mình. Lần này thì rủi ro nằm ở cả hai bên. Tôi không muốn hứa hẹn điều gì cho công việc của chúng tôi. Thậm chí cũng không hứa hẹn tính khách quan, cái trong trường hợp tốt nhất là lời nói dối suốt đời của các chính khách. Tôi theo phe phái: phe phái của các sự kiện.

11 tháng Tư

Ấn tượng từ những chuyến đi qua thành phố để cho tôi phỏng đoán được tình cảnh khổ cực thật sự của đất nước này. Trong mười năm vừa qua, Hà Nội đã để cho khách viếng thăm ngạc nhiên bằng các dấu hiệu của sự nghèo khó và không màu sắc.

Trong một của những quyển sách của ông, Bernard Fall, người đã sống ở thủ đô trong thời còn của chính quyền thuộc địa Pháp và luôn nhìn Việt Nam, cả hai Việt Nam, với đôi mắt yêu thương, đã nói về “sự tồi tàn không thể tưởng tượng được” của Hà Nội. Từ hình ảnh thành phố, người ta hầu như phải kết luận rằng người Pháp rút đi hẳn đã mang theo tất cả các cây cọ tô màu và tất cả các dụng cụ để sửa chữa đá lót đường.

Mary McCarthy, thăm Hà Nội năm 1968, trước cuộc chiến tranh ném bom tập trung vào các trung tâm công nghiệp, đã so sánh thành phố với một cái bồn tắm cũ, đã trở nên xám xịt và tồi tàn bởi những chất tẩy rửa quá mạnh.

Thành phố, tôi có cảm giác như vậy, đã còn xuống cấp nhiều hơn nữa và ngày nay giống như một đài kỷ niệm đang bị sự tăng trưởng nhiệt đới của thiên nhiên phủ dần cây cỏ lên. Các tòa nhà từ thời thuộc địa, những biệt thự lớn mà người ta thỉnh thoảng chỉ còn có thể đoán ra được màu nâu nhạt của nó, đã bị thời tiết làm hư hỏng nhiều. Cửa sổ góc và góc nhà đầy rêu. Ẩm ướt đã xuyên qua tường và tạo thành một lớp mốc meo không lan tỏa đi nét óng ánh nào, mà chỉ đánh thức dậy nỗi nhớ nhung tới những thời tốt đẹp hơn.

12 Tháng Tư

Một khu cư dân ở cạnh đường Khâm Thiên, còn gần như là trung tâm Hà Nội, đã bị phá hủy bởi một thảm bom B-52 vào ngày lễ Giáng Sinh thứ hai năm 1972. Theo số liệu chính thức thì lúc đó có 534 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn và 1200 bị hư hại. Các quả bom của lần tấn công vào ban đêm này đã giết chết 283 người và làm bị thương 266 người. Ảnh chụp của khu dân cư bị tàn phá đó ngày nay được treo trong Bảo tàng Lịch sử Cách mạng.

Hôm nay, chúng tôi đã tới thăm Khâm Thiên và đã có thể nhìn qua khu phố đó từ lối đi ở trên cao của một đài tưởng niệm các nạn nhân lần máy bay B-52 tấn công đó. Ảnh chụp trong bảo tàng mang lại ấn tượng của một sự tàn phá làm cho người ta nhớ tới cuộc ném bom các thành phố lớn của Đức trong Đệ nhị Thế chiến. Thật sự thì đó là lần tàn phá một vùng tương đối bị giới hạn, có chiều ngang 200 mét và chiều dài 600 mét. Những đống đổ nát đã được mang đi và các hố bom đã được lấp lại. Trên vùng đất đã được làm phẳng đó là những ngôi nhà tre, những cái chỉ còn để cho người ta phỏng đoán sự tàn phá của năm 1972.

Đối với khách tham quan từ nước Cộng hòa Liên bang Đức, những người còn trải qua các cuộc không kích trên diện rộng trong thế chiến vừa qua, Khâm Thiên đưa ra một bằng chứng rõ ràng rằng ở Việt Nam, Không quân Hoa kỳ không tiến hành những cuộc tấn công khủng bố có hệ thống và có kế hoạch nhằm chống lại người dân thường như trong chiến tranh chống nước Đức và Nhật.

Không phải qua đó mà tác động của thảm bom ném xuống Khâm Thiên cần phải được làm giảm nhẹ đi; tôi hoàn toàn không muốn gợi lên ý nghĩ, rằng sự việc không quá tồi tệ vì xảy ra một lần ném bom nhầm và không có ác ý. Hà Nội trong tháng Mười Hai 1972 đã trải qua một cuộc chiến tranh ném bom đáng sợ mà hiệu ứng tâm lý của nó chỉ có thể hình dung ra được khi người ta có lần ở gần một lần ném bom rải thảm của B-52; ngoại trừ sự tàn phá ở Khâm Thiên và một vài nơi khác, ví dụ như bệnh viện Bạch Mai, các phi công Mỹ đã ném bom rất chủ định, thế nào đi nữa thì thành phố này cũng thoát được số phận của một sự tàn phá rộng lớn.

Điều đáng chú ý đối với tôi là Ủy ban điều tra tội ác chiến tranh Mỹ quan tâm tới thành phố Hà Nội trước hết và chỉ xem cuộc ném bom dữ dội ở phía Nam, gần giới tuyến khu phi quân sự, là thứ hạng. Lý do thật rõ ràng. Nếu như chính phủ cũng ta thán kịch liệt các hư hại như việc ném bom Hà Nội thì họ đã gián tiếp thú nhận, rằng không quân Mỹ đã đạt được hiệu ứng mà họ muốn có. Cân nhắc về quân sự ủng hộ việc đưa các chiến trường phụ của cuộc chiến tranh ném bom vào tâm điểm của chiến dịch công cộng, và càng lại phải như thế khi một vài nơi như Khâm Thiên hay bệnh viện Bạch Mai hứa hẹn có một tác động mạnh hơn tới công chúng thế giới, hơn là sự tàn phá lớn hơn nhiều ở cạnh giới tuyến khu phi quân sự.

Trong tai của những người vì lương tâm mà tham gia chiến dịch chống cuộc chiến tranh ném bom của Mỹ, luận điểm này có thể mang tính xúc phạm. Tôi cũng nhìn thấy mối nguy hiểm trong việc hợp lý hóa về sau cho cuộc chiến tranh ném bom của Mỹ và giải thích hợp lý cho các hậu quả ghê sợ của nó. Mặc dù vậy, cả ở đây trong Hà Nội, ở tại nơi xảy ra sự việc, tôi cũng không muốn bỏ qua việc phơi trần cơ chế tiến hành cuộc chiến tranh tâm lý ở cả hai bên, phản ánh dường như không có sự đồng cảm nội tâm, rằng đất nước nhỏ bé này phải với tới những phương tiện nào, những biện pháp tự vệ nào để cho ý kiến công chúng thế giới trở thành liên minh của họ trong xung đột với siêu cường quốc quân sự Hoa Kỳ. Vì đó không phải là một sự kiện tự nhiên, rằng ngoài các nhà nước xã hội chủ nghĩa thì cả các dân tộc và nhiều chính phủ nước Phương Tây cũng đứng về phía Bắc Việt Nam và đã để cho chính phủ Mỹ cảm nhận được áp lực của lương tâm thế giới.

Giới lãnh đạo Hà Nội đã chú tâm tới cuộc chiến tranh tuyên truyền chống Mỹ một cách xứng đáng với tầm quan trọng của nó, không nương tay cho tình cảm riêng và thỉnh thoảng cũng không nương tay cho sự thật. Việc liệu có ép buộc được Washington giới hạn cuộc chiến tranh ném bom và thậm chí sau đó là ngưng nó hay không phụ thuộc vào thành công của những cố gắng để cho nước Mỹ xuất hiện như là một thế lực tội phạm, tàn bạo, hung hãn trong con mắt của Phương Tây. Sự việc quá quan trọng để mà người ta có thể giao nó cho các nhà đạo đức và người nhân đức.

Tôi không muốn viết những từ ngữ phi thân thiện về những nhà đạo diễn cuộc chiến tranh tâm lý của Hà Nội; nhưng mà về các tác giả thiếu sức mạnh hay thiếu can đảm để mang lại danh dự cho sự thật. Vì từ những lý do lý trí mà đứng về phía chống lại cuộc chiến tranh ném bom của Mỹ trong những năm leo thang thì vẫn còn chưa đủ. Các nhà hoạt động thật sự ở Phương Tây từ những lý do về nguyên tắc đã yêu cầu thừa nhận các động cơ tội phạm của Mỹ và các ý định đen tối của tổng thống Johnson và Nixon, muốn tiêu diệt nhân dân Bắc Việt Nam.

Tôi chưa từng bao giờ thấy các lý lẽ cho sự diệt chủng trong quá khứ là thuyết phục. Các quan sát cho tới nay của tôi ở Bắc Việt Nam đã xác nhận các dè dặt và hoài nghi này.”

Cho tới đây là các trích đoạn từ quyển nhật ký năm 1974. Phản chiếu rõ ở trong đó là trải nghiệm, rằng chính phủ ở Bắc Việt Nam có một độc quyền thông tin mà họ dùng nó một cách cứng rắn. Lĩnh vực quân sự là lĩnh vực cấm đối với tất cả các đại diện truyền thông từ Phương Tây. Trong thành phố Đồng Hới, 30 kilômét về phía Bắc của vĩ tuyến 17, những người tháp tùng chỉ cho tất cả khách tham quan xem ngôi nhà thờ cạnh cảng đã bị bom Mỹ phá hủy ở mà chỉ còn chiếc tháp là đứng vững, vươn lên bầu trời tựa như một biểu tượng bị ám khói đen của lời kết tội.

Không được phép quay phim là kho hậu cần của quân đội nằm cách đó chỉ vài mét. Trong hàng dài dường như vô tận, xe tải với lá cờ của Việt Cộng chạy từ đây tới con đường mòn Hồ Chí Minh nằm xa hơn về phía Tây. Tất cả các nhiếp ảnh gia muốn đánh động công chúng thế giới bằng hình ảnh của ngôi nhà thờ đổ nát đó một cách thành thật thì phải làm cho rõ sự việc này. Nhưng những người Việt tháp tùng chú ý sao cho chỉ ngôi nhà thờ là được chụp ảnh chứ kho đạn thì không. Với ngôi nhà thờ ở Đồng Hới thì thật sự là không thể lên án không quân Mỹ được.

Không một người đối thoại nào ở Hà Nội mà lại cung cấp thông tin có thể gây nghi vấn cho phiên bản chính thức. Những người “đấu tranh cho tự do” ở miền Nam chỉ gồm các nhà cách mạng từ miền Nam Việt Nam, luận điểm đầu tiên là như vậy. Quân đội Bắc Việt Nam hoàn toàn không tham gia vào trong cuộc chiến ở miền Nam. Tướng Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và là người chiến thắng huyền thoại của Điện Biên Phủ, đã còn muốn làm cho Oriana Fallaci tin rằng Bắc Việt Nam “không có liên quan gì tới đợt tấn công dịp Tết Mậu Thân. Mặt trận (MTGPMNVN) đã tiến hành nó.”

Vì Bắc Việt Nam hoàn toàn không mang cuộc chiến vào miền Nam, luận điểm thứ hai là như vậy, nên Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của Nam Việt Nam. Việc nước Mỹ tham chiến vì vậy mà là một cuộc xâm lược với mục đích hủy diệt miền Bắc và tiêu diệt người dân. Cuộc chiến tranh ném bom chống Bắc Việt Nam là bằng chứng cho luận điểm này. Khách tham quan ở Bắc Việt Nam chủ yếu được dẫn tới những nơi mà sự việc dường như là ủng hộ cho phiên bản chính thức.

Trong lúc đó, nạn nhân của họ được giữ kín. Nghĩa trang quân nhân toàn bộ đều xuất phát từ thời của cuộc chiến chống Pháp. Mãi sau chiến thắng năm 1975, người ta mới được phép thiết lập nơi tưởng niệm cho những người đã hy sinh trong cuộc chiến chống Mỹ. Nỗi khổ cực và sự hy sinh của quân đội ở Nam Việt Nam được giữ bí mật trước chính người dân của họ. Trong hình ảnh tình hình mà chính phủ Bắc Việt Nam trình bày cho người dân của họ không có con đường mòn Hồ Chí Minh, không có quân đội Bắc Việt Nam ở miền Nam, không có chiến bại và không có nạn nhân. Hỉnh ảnh chỉ cho thấy tính anh hùng, lòng quyết tâm và tất nhiên là niềm tin chắc chắn, rằng chiến thắng những kẻ tấn công đần độn, xấu xí và dã man từ Mỹ là điều tất yếu.

Mỗi một nhà báo, người tin vào tự do và độc lập của báo chí, hết sức khó khăn khi phải thừa nhận rằng Bắc Việt Nam với sự kiểm duyệt cứng rắn ở bên trong và đóng kín ra bên ngoài, với một hoạt động báo chí có kế hoạch và được chỉ đạo, cái đưa ra cho công chúng thế giới những luận điểm tuyên truyền chứ hầu như không đưa ra sự kiện, đã thành công một cách đáng ngạc nhiên.

Sử gia chiến tranh người Mỹ Harry G. Summer, trong một quyển sách phân tích các lý do của chiến bại, thuật lại cuộc gặp gỡ của một sĩ quan tham mưu Mỹ và một của Bắc Việt Nam sau khi Hiệp định Ngưng bắn Paris được ký kết trong  mùa đông 1973. “Các anh chưa từng bao giờ chiến thắng được chúng tôi”, người Mỹ nói.

“Có thể là như vậy”, viên đại tá từ Hà Nội nói, “nhưng điều đó không quan trọng.”

Thật sự thì Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ thua cuộc chiến về mặt chính trị chứ không phải về mặt quân sự. Chính sách báo chí và thông tin của chính phủ ở Hà Nội đã đóng một vai trò trung tâm ở trong đó. Trong khi cuộc chiến ở miền Nam được giới truyền thông Mỹ và quốc tế mô tả lại trong hiện thực đầy tàn bạo của nó và đi vào nhận thức công chúng thì Bắc Việt Nam chỉ cho phép có lạc quan và niềm tin chắc vào chiến thắng, đưa đường lối thông tin vào phục vụ cho sự việc của quốc gia và đồng thời khéo léo lợi dụng các yếu điểm trong hệ thống chính trị của Mỹ.

Đó không phải là tình cờ, khi đợt tấn công Tết rơi vào trong thời gian ủ bệnh của tranh cử Mỹ. Trong vòng vài ngày, ở Hà Nội người ta cũng nhận ra rằng câu hỏi liệu Việt Cộng trong cuộc tấn công mở đầu có thâm nhập được vào trong tòa đại sứ hay không, có một tầm quan trọng cốt yếu trong con mắt của khán giả Mỹ. Chính phủ in ra các tường thuật trải nghiệm mà rõ ràng là đã được tưởng tượng ra, nhưng là những cái hỗ trợ cho xu hướng ở Mỹ và hé lộ cho thấy một cảm giác chắc chắn tới mức đáng ngạc nhiên về việc có thể lay động ý chí chính trị của giới công chúng Mỹ, muốn tiếp tục cuộc chiến, ra sao.

Từ thời gian Việt Nam, có một câu hỏi được đặt ra, rằng trong một xung đột liệu một bên có được phép cho báo chí tự do hay không, khi bên kia nâng sự kiểm duyệt và thông tin đánh lạc hướng lên thành nguyên tắc, và đưa toàn bộ truyền thông vào phục vụ cho chính phủ. Cuộc chiến ở Việt Nam, chấm dứt với chiến bại của Mỹ, cái, như là đỉnh cao của công tác báo chí nhiều thành công của Hà Nội, được nhiều phần của thế giới ăn mừng như chiến thắng, thắng lợi, hẳn đã không chỉ đặt ra câu hỏi mà cũng đưa ra cả câu trả lời.

Báo chí có phá hỏng chiến thắng hay không?

Trong lúc phân tích phê phán các nguyên nhân cho chiến bại của Mỹ ở Việt Nam, giới truyền thông bị cáo buộc rằng đã xói mòn tinh thần ở “mặt trận quê nhà” và qua đó đã hỗ trợ cho chiến bại đầu tiên mà Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ phải chịu đựng trong lịch sử của nó.

Năm 1981, Robert S. Elegant, một thông tín viên châu Á lâu năm, người cũng nổi tiếng như là một tác giả tiểu thuyết (“Dynasty”), cảm thấy bị thúc giục phải khiêu khích giới cùng nghề, bằng cách cho rằng họ đã có lỗi chính trong thảm họa ở Việt Nam. Elegant thuộc thế hệ nhà báo chịu dấu ấn của Đệ nhị Thế chiến và đối với họ thì đó là điều hiển nhiên, tự đồng nhất mình vô điều kiện với sứ mệnh của Mỹ, với sự việc của “thế giới tự do”.

Nhà báo ảnh huyền thoại Horst Faas trong Chiến tranh Việt Nam

Các old hands, những người am hiểu cũ của hoàn cảnh châu Á, ông viết như vậy trong một bài văn tranh luận, không bao giờ tự cho rằng Nam Việt Nam hưởng được một chế độ đáng để vui mừng. “Nhưng chúng tôi tin rằng sự thống trị của miền Bắc sẽ tồi tệ hơn cho đa số người dân.” Các phóng viên trẻ tuổi hơn, Elegant than phiền như vậy, đã lan truyền những ảo tưởng về Bắc Việt Nam. Vì họ không tin Lầu Năm Góc nên họ cho rằng Hà Nội là nơi chứa đựng sự thật; và họ làm cho thế giới tin rằng cũng là tốt cho Phương Tây, khi chế độ tham nhũng của Sài Gòn sụp đổ, vì sau đó sẽ có một sự phát triển hòa bình, độc lập và dân tộc ở Nam Việt Nam. “Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, kết cuộc của một cuộc chiến không được quyết định trên chiến trường mà là trên những trang báo và còn nhiều hơn nữa là trên màn hình.”

Tướng Westmoreland và nhiều sĩ quan bảo thủ trong Lầu Năm Góc có thể nhìn thấy trong tranh luận của Elegant một lời xác nhận cho “huyền thoại con dao đâm sau lung” được làm mới. Để đừng giúp giới quân đội có được một chiến thắng không xứng đáng về sau này, cái mà họ tin rằng nó đã ở gần tới mức có thể với tới được, hầu như tất cả các nhà báo mà cảm thấy mình có liên quan đến đều bước ra để tương đối hóa hay phản bác các luận điểm của Elegant.

Một lão thành khác trong số các phóng viên chiến tranh, Keyes Beech, thừa nhận rằng báo chí ít ra thì cũng cùng có lỗi tại chiến bại của Mỹ. “Tôi sẽ không tiến xa như Elegant. Nhưng truyền thông đã cùng giúp để thua cuộc chiến.”

Đa số những người tham gia vào trong cuộc thảo luận vào đầu những năm tám mươi đó thì ngược lại đã cực lực phản bác lời phê phán của Elegant. Trong đó, lý luận được đưa ra là báo chí không tạo nên mà chỉ phản ánh tâm trạng của người dân, rằng xu hướng ý kiến của các nhà báo không làm cho khán giả thay đổi cảm nhận. Walter Cronkite, Stanley Karnow thuộc giới báo chí tự do viết như vậy, đứng xa ở phía sau hiện tình tâm trạng của công chúng Mỹ. Khán giả đã từ bỏ chiến thắng từ lâu, trước khi người điểu khiển chương trình này, mà độ đáng tin cậy của ông được khán giả truyền hình đánh giá cao hơn là của tổng thống Mỹ, thay đổi quan điểm của mình. “Cronkite phản ánh các ý kiến nhưng ông không tạo ra chúng.”

Trong tháng Hai 1983, đại học của Nam California ở Los Angeles đã tổ chức một hội nghị chuyên đề để xem xét lại các kinh nghiệm của cuộc Chiến tranh Việt Nam, và tranh luận về các bài học đã được rút ra từ cung cách và tác động của một giới báo chí tự do, không bị kiểm duyệt ở Nam Việt Nam.

Trong đó, khi nhìn lại, Barry Zorthian đã thừa nhận rằng tình hình ở Việt Nam được truyền thông thể hiện đúng hơn là các tổ chức nhà nước, tức là đại sứ quán và quân đội. Tuy vậy, Zorthian vẫn không tha cho các nhà báo lời buộc tội, đã khám xét phía bên này tốt hơn là vị trí của đối thủ cộng sản. “Quá hiếm khi, thật ra là không bao giờ, mà phóng viên lại chuyển tải đúng mức chính sách và các mục tiêu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và của chính phủ ở Hà Nội.”

Thiếu sót và khiếm khuyết của công tác báo chí ở Việt Nam là không thể không nhận ra được. Mặc dù vậy, đánh giá của sử gia báo chí người Anh Philip Knightley đối với tôi dường như là đúng, người nhận định rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam đã được diễn tả tốt hơn và toàn diện hơn là tất cả các cuộc chiến trước đó. Trong lịch sử, chưa từng bao giờ mà những hiện thực ẩn nấp sau các từ ngữ máu, mồ hôi và nước mắt lại được đưa vào hình ảnh một cách không thương xót, bất kể tinh thần chiến đấu của quân đội và các cảm xúc của mặt trận quê nhà như là ở Việt Nam. Những sự khủng khiếp đó đã gây ấn tượng cho công chúng thế giới. Các phóng viên không tạo ra chúng mà chỉ làm cho người ta có thể nhìn thấy chúng.

Bài học từ một nhận thức như vậy chỉ có thể là, Harry G. Summers nhận định như vậy, các cuộc chiến tranh trong tương lai sẽ còn đẫm máu hơn và đáng ghê tởm hơn là cuộc chiến mà thế giới trải qua ở Việt Nam. Thật là phi lý khi tin vào “một cuộc chiến tranh nhân đạo”; và cũng mang tính ảo tưởng không kém khi cho rằng các sự việc của một cuộc chiến như vậy có thể được giữ bí mật trước công chúng. Kiểm duyệt, Đại tá Summers đưa ra cho giới chính trị gia suy nghĩ, không phải là giải pháp cho các vấn đề của tương lai.

“Nước Mỹ”, Tướng Frederik Weyand bổ sung trong một phân tích các kinh nghiệm Việt Nam, “tin vào vật chất, vào pháo binh, bom, hỏa lực thật mạnh, để giữ mạng sống những người lính của nó. Mặt khác, địch thủ bù đắp cho sự thiếu thốn ‘vật chất’ của họ bằng cách gửi con người đi trước thay cho máy móc, và họ đã chịu những tổn thất rất lớn trong lúc đó. Quân đội đã trải qua điều này ở Triều Tiên. Lẽ ra chúng ta cần phải truyền tải lại hiện thực này cho nhân dân Mỹ, trước khi người dân trải qua nó trên màn truyền hình. Quân đội phải đưa ra rõ ràng cái giá của một lần tham chiến, trước khi chúng ta gửi quân lính đi, để người Mỹ có thể cân nhắc cái giá phải trả bằng máu và bằng sự kinh hoàng với mối nguy hiểm sẽ đe dọa nếu như chúng ta không tham dự.”

Nữ phóng viên Catherine Leroy đang chuẩn bị nhảy dù cùng với Lữ đoàn Dù 173 trong chiến dịch Junction City.
Nữ phóng viên Catherine Leroy đang chuẩn bị nhảy dù cùng với Lữ đoàn Dù 173 trong chiến dịch Junction City.

Trong Đệ nhất Thế chiến, không có một bức ảnh duy nhất nào được in trên một tờ báo Đức hay Anh hay Pháp mà cho thấy một nạn nhân của những cuộc chiến, một xác chết. Năm 1915, chính phủ Anh còn cấm họa sĩ vẽ người chết trong các bức tranh về các trận đánh.

Nếu như báo chí thời đó được phép mô tả hiện thực thì các dân tộc Âu châu đã biết được những con số tổn thất gây sốc và đã tạo cho mình được một hình ảnh về những cuộc thảm sát hàng triệu người, và nếu thế cuộc chiến chắc đã chấm dứt sớm hơn. Chính trị gia và tướng lĩnh chắc đã không chịu đựng được áp lực, sự ghê tởm và kinh hoàng của công chúng; họ đã phải cho hòa bình một cơ hội sớm hơn, sớm hơn rất nhiều.

Ý nghĩ giả thiết này dẫn tới việc phải suy nghĩ lại 150 năm vừa qua dưới khía cạnh, rằng liệu lịch sử thế giới có cùng một diễn tiến hay không, khi lúc nào cũng có một giới báo chí tự do có mặt, để làm cho con người nhận thức được các tổn thất về xương máu và mạng sống. Đế quốc thuộc địa  Anh nói chung là có thành hình hay không khi chính trị gia và người dân ở London trải qua được hiện thực đẫm máu của cuộc nổi dậy ở Ấn Độ năm 1854? Nước Mỹ có chịu đựng được cuộc chiến tranh trên biển chống nước Nhật ở Thái Bình Dương hay không khi công chúng Mỹ biết chính xác hơn về trận đánh ở Guadalcanal (1942); thậm chí chỉ nhiều hơn là vị trí địa lý và chiến thắng cuối cùng? Cuộc chiến chống Hitler, những lần công kích Hamburg, Dresden, Tokio có được công chúng trong các nước Đồng Minh chịu đựng được về mặt tâm lý hay không nếu như có một tường thuật thực tế như ở Việt Nam?

“Nếu như truyền hình đã có từ trận đánh Gettysburg thì nước Mỹ đã có hai nhà nước”, nhà báo bảo thủ George F. Will viết trong báo Newsweek. “Cuộc tàn sát đó sẽ khiến miền Bắc để cho miền Nam đi theo con đường riêng của họ. Đó là một câu hỏi còn chưa được trả lời, rằng liệu một nền dân chủ với công nghệ thông tin hiện đại và với sự nhạy cảm hiện đại nói chung là có thể trả cái giá cho việc là một cường quốc hay không.”

Chiến tranh không còn là phương tiện của chính trị nữa, khi truyền thông mô tả nó đúng và thực tế. Việt Nam đã dạy cho các chính trị gia cầm quyền, rằng chỉ có thể chịu đựng qua được những cuộc chiến, khi truyền thông bị thao túng và kiểm duyệt, được đưa vào phục vụ cho chính phủ một cách bất chấp, chỉ còn được phép hỗ trợ cho chính phủ, không còn được phép phê phán.

Cuộc Chiến tranh Falkland mà Liên hiệp Anh đã tiến hành năm 1982 ở Nam Thái Bình Dương chống Argentina là thử thách lớn đầu tiên cho sự tự do của báo chí sau Việt Nam. Qua áp lực thật lớn, chính phủ Anh đã tác động để báo chí đứng vào phục vụ cho sự việc của quốc gia. Thông tín viên nước ngoài không hề được chấp thuận ở bên phía Anh. Chỉ một ít phóng viên Anh từ những cơ quan chọn lọc là được phép cùng đi trên con tàu chỉ huy của hải quân; họ chỉ có thể trải nghiệm các trận đánh từ khoảng cách ở xa, từ tàu thủy dưới sự kiểm soát của quân đội. Các tường thuật của nhà báo bị kiểm duyệt, giới quân đội hoàn toàn tự quyết định cái gì được phép công bố vào lúc nào.

Chỉ một mình BBC là đã cố tranh đấu để hoàn thành nhiệm vụ thông tin của họ đối với xã hội. Họ đã để cho người ta chê trách, rằng họ không chỉ nghi ngờ các thông cáo của Argentina mà cả các khẳng định của chính phủ họ. “Chúng tôi không thể chứng minh được”, có lần một người dẫn chương trình tin tức buổi tối của BCC nói, “rằng chính phủ của chúng tôi nói dối – từ Argentina thì chúng tôi biết được điều đó.”

Một năm sau đó, 1983, chính phủ Mỹ dưới Tổng thống Ronald Reagan cũng chứng tỏ rằng họ đã học được bài học ở Việt Nam. Lần chiếm Grenada đã diễn ra mà không có truyền thông. Phóng viên chỉ được chở bằng máy bay tới khi chiến dịch đã kết thúc thành công.

Ở Cộng hòa Liên bang Đức, nghị sĩ nội vụ trước đây của Berlin Wilhelm Kewenig đã nổi bật với lời phát biểu, rằng sự tự do báo chí phải lui lại ở nơi xảy ra vụ việc. Chỉ riêng việc một vài ngàn kẻ vô chính phủ tụ tập tại ngày kỷ niệm của Ngân hàng Thế giới trong tháng Chín 1988 thì trong mắt của Kewenig là đã đủ để bào chữa cho sự giới hạn tự do thông tin mà không có nó thì một sự tự do thật sự của báo chí không thể có.

Tính nhỏ bé của nguyên cớ để cho người ta mường tượng được, truyền thông sẽ còn sở hữu được không gian tự do nào ở một mối đe dọa từ bên trong hay từ bên ngoài. Không có, lo ngại là như vậy. Một tranh luận công khai về vai trò của truyền thông trong tình cảnh hiểm nghèo (vẫn còn) không có ở đất nước này mặc cho Falkland và Grenada.

Lào: con chuột gầm thét

“Bình tâm trên hết thảy!”

Trong tháng Mười 1970, tôi đã nhân một lệnh tạm thời cấm nhập cảnh vào Nam Việt Nam, mà chính phủ ở Sài Gòn đã ban hành cho tôi vì những nhận xét phê phán Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, để đi thăm Lào. Ngay từ chuyến đi đầu tiên tới Vientiane này, đặc tính của xã hội Lào đã gây ấn tượng cho tôi, một xã hội khác rõ ràng với nước Việt Nam láng giềng trong hệ thống giá trị và hình thức sống của họ. Chuyến bay này là lần dẫn dắt đầu tiên vào trong những hoàn cảnh mới.

Ở Bangkok, chiếc DC6 của “Royal Air Laos” chở hành khách cho chuyến bay 17 giờ về Vientiane. Hãng hàng không hoàng gia không có gì tốt hơn là một chiếc máy bay cánh quạt bốn động cơ, do một hãng hàng không Mỹ loại ra. Ngay người Khmer thời đó là đã tới được với giao thông phản lực. Người Lào thì dường như không vội vàng chuyển đổi. Cái mà người ở Phương Tây gọi là thời gian bị mất đi thì họ xem như là một thắng lợi, một phần thưởng cho sự thư nhàn và yên bình.

Lào đầu những năm 1970
Lào đầu những năm 1970

Lào biết những giá trị cao hơn là chính xác và toàn hảo. Bài học này được chuyển tải cho tôi khi tôi nhìn xuống con đường đắp bằng đá dăm từ chỗ ngồi của tôi trong cabin, nơi tôi đang chờ lần cất cánh bay lên bầu trời mùa mưa đang mang vẻ đe dọa, bị ép giữa những cái giỏ và bó của các hành khách địa phương đi cùng. Viên phi công trưởng đã rời buồng lái thêm một lần nữa và cực nhọc bước qua lối đi giữa những hàng ghế, để kiểm tra các động cơ thêm một lần nữa. Ông cầm trong tay một cái giẻ lớn, đầy dầu mỡ, cái mà ông dùng nó để lau đầy trìu mến phần dưới của lớp vỏ ngoài các động cơ. Sự tin tưởng của tôi vào trong viên phi công được tăng cường rất nhiều qua cảnh tượng đó.

Sự ngờ vực vào “khí cụ bay” này đã biến chuyến bay chữ chi qua những đám mây nguy hiểm thành một trải nghiệm hành hạ tôi. Tôi phải mở lòng ra cho nhận thức, rằng ở Lào thì người ta hầu như nhắm mắt tin vào số phận. Số phận muốn rằng chuyến bay vào lúc hoàng hôn này được tặng thưởng cho một vòng cung lớn trên con sông Mekong rộng, đang tràn qua bờ vì những cơn mưa, trước khi chiếc máy bay đáp nhẹ nhàng và an toàn xuống đường băng của Vientiane.

Ngồi cùng máy bay là Hans Walter Berg, một thông tín viên nhiều kinh nghiệm từ New Delhi. Ông không hề chú ý tới cái giẻ dầu mỡ và tình trạng của chiếc máy bay; ông đã học được cách tin vào số phận từ lâu. Ông không ghi nhận những đám mây to chồng chất lên nhau. Ông bình thản ngủ.

Có lần, một nhà quan sát người Anh chuyên về tình hình ở Lào đã tới thăm một trong những viên tướng chỉ huy của Lào, người đã trang hoàng cho cửa vào phòng làm việc của mình với một câu khẩu hiệu đáng chú ý. Không phải là “Kẻ thù đang nghe lén” hay “Hãy nhận ra địch thủ” được viết ở trên đó, như người ta dự đoán trong một trại lính, mà là: “La tranquillité avant tout” – “Bình tâm trên hết thảy”. Câu khẩu hiệu của viên tướng cung cấp chiếc chìa khóa để thông hiểu một đất nước mà thời đó quảng bá cho mình trên các tấm áp phích to lớn với câu nói: “Fall in love with a small country, let it happen to you.”

  Thời đó, Bangkok, Jakarta và Manila đang thay đổi hình ảnh của chúng với vận tốc hết sức nhanh chóng. Nhà chọc trời đặt dấu ấn lên hình dáng mới. Ngay cả Sài Gòn và Phnom Penh cũng trải qua lần ập vào của thời Hiện đại. Vientian cương quyết giữ chặt lấy cái xưa cũ. Chỉ các bảo tháp của những ngôi chùa, những cái tháp hình trụ mà hài cốt nằm ở trong đó, là vươn lên bầu trời cao hơn các hàng cây. Nhà nằm trong bóng mát của cây cối. Thủ đô này hoàn toàn không có gì phô trương, không có gì là khoác lác và tự phụ. Ở đây vẫn còn có sự kín đáo, tính riêng tư, khiêm tốn, ít nhất là ở mặt tiền bên ngoài.

Hầu như trong bất cứ một mô tà nào về đất nước này cũng xuất hiện từ “ngủ quên”. Người ta có ý muốn nói tới cái nề nếp kín đáo của một xã hội châu Á, cái mà cả trong thủ đô cũng vẫn bảo toàn cái tính khoan thai của nó, “tranquillité” của nó. Dường như là người dân không biết tới sự hoạt động sôi nổi, niềm say mê, bộc phát tâm hồn. Cái “không sao cả”, cái mà ở Thái Lan cũng là một điều khôn ngoan cho cuộc sống, có tên là “bau pinh yanh” trong tiếng Lào. Sự thờ ơ và bình thản được chứa dựng ở trong đó để cho “ngày mai” nghe giống như “Cẩn thận!”, như một người chế nhạo nói. Người ta tin là ở đây đã gặp một dân tộc mà đã tiếp nhận những lời giảng dạy của Đức Phật vào trong cuộc sống thực tế nghiêm túc hơn các xã hội còn lại của châu Á. Khi đời là bể khổ thì nổi dậy chống lại nó không có lợi. Khi tất cả là vô thường thì cái tạm thời và nhất thời là vừa đủ để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hàng ngày. “Ngủ trên chiếu thì không rơi từ trên cao xuống” là một câu nói khôn ngoan có ý nghĩa sâu sắc của Lào. Tính bình thản của xã hội này bắt nguồn từ niềm tin tôn giáo, rằng chỉ cái nghiệp là quan trọng, tổng kết của cuộc sống và những công quả tích tụ được ở trong đó, chứ không phải sở hữu, đẳng bậc và thanh danh. “Khoảnh khắc quan trọng nhất trong cuộc sống là cái chết”, người Lào suy diễn lời giảng dạy của Đức Phật là như vậy. Thế giới quan này có ảnh hưởng tới hiện thực từ sự tồn tại cá nhân cho tới chính trị.

Nơi cư ngụ của nhà vua là Luang Prabang nằm ở phía Bắc của Vientiane, một thành phố nhỏ trong vùng núi non, trông giống như một trung tâm Phật giáo vì có nhiều chùa. Chính phủ thuộc địa Pháp không muốn định cư ở Luang Prabang hẻo lánh. Họ thích Vientiane nằm ở đồng bằng, ngay cạnh sông Mekong hơn và đã làm cho nó trở thành thủ đô hành chánh của Lào.

Tất cả những gì khiến cho người ta nhớ tới một thành phố thật sự đều xuất phát từ thời Pháp: ba hay bốn con đường trải nhựa, được kéo tương đối thẳng qua hình ảnh thành phố, một vài ngôi nhà văn phòng, quán cà phê, nhà hàng khiêm tốn, được các ông chủ người Pháp giữ ở đẳng cấp đáng ghi nhận, thêm vào đó là một vài quán rượu và nhà chứa có tiếng tăm đặc biệt không hay trong số những người biết châu Á. Ở Lào trước 1975, trước chiến thắng của người cộng sản, cần sa và thuốc phiện được bán ở chợ công khai và hợp pháp. Ở đây còn có những tiệm hút thuốc phiện mà trong đó người ta có thể hút một tẩu thuốc, nằm trên những thứ đồ đạc sờn cũ, dơ dáy, trong một môi trường đưa người khách vào thế giới ảo của những cuốn phim cải lương về châu Á. Ngay tới thủ tướng của nước này, nhà quý tộc Souvanna Phouma, cũng không hề che dấu việc ông tự cho phép mình hút vài ba tẩu thuốc phiện trong ngày và cho rằng sự thưởng thức này là không độc hại và có thể dung thứ cho được.

Phần lớn hơn rất nhiều của Vientiane không được lát đá. Đường cát với những cái ổ gà thật sâu dẫn vào khu biệt thự, nơi giới tinh hoa của đất nước này, có tường và bờ giậu che chắn ánh mắt người xa lạ, sống một cuộc sống tiện nghi, hoàn toàn không xa xỉ. Ai đến Vientiane mà không có lời giới thiệu, không tìm được người đầu mối liên lạc, người mở lối vào xã hội, người đó sẽ có ấn tượng đang ở trong một ngôi làng lạc hậu, bị xây che mất tầm nhìn, ở rìa của thảo nguyên mà trong đó cuộc sống hầu như đã đứng lại. Hình thức được coi trọng ở Vientiane. Người xa lạ chỉ được chào mừng khi họ được dẫn nhập vào đúng theo nghi thức và khi họ chú ý tới truyền thống, kính trọng các tập quán và tôn trọng những điều không được nói tới.

Thật khó có thể hiểu thấu được, rằng nước Lào ít dân cư với 91.000 dặm vuông, phần lớn là đồi núi, đóng kín, không có đường ra biển và từ nhiều thế kỷ là đối tượng và thường là nạn nhân của chính sách các láng giềng hùng mạnh, của người Việt và người Thái, rằng đất nước nghèo nàn, lạc hậu, thật sự là vô hại này vào đầu những năm sáu mươi lại đứng trong tiêu điểm của chính trị thế giới. Sự trung lập hóa được ban hành trong Hiệp định Genève năm 1954 không ngăn được nước Lào rơi vào trong lực hút của Chiến tranh Việt Nam đang leo thang.

Sự trung lập đã trở thành ảo tưởng, từ khi giới lãnh đạo Đảng ở Hà Nội tin rằng lần bầu cử thống nhất đất nước được thỏa thuận trong Hiệp định Genève sẽ không diễn ra. Năm 1959, Hồ Chí Minh và những người cùng đấu tranh với ông từ bỏ niềm hy vọng, có thể “giải phóng” miền Nam Việt Nam bằng các phương pháp hòa bình. Họ quyết định đấu tranh vũ trang, việc đã lôi Lào vào trong cuộc chiến, vì việc tiếp tế cho quân đội cách mạng ở miền Nam chỉ có thể được bảo đảm bằng cách lạm dụng tính trung lập của Lào.

Đứng ở vĩ tuyến 17, đánh dấu ranh giới giữa Bắc và Nam Việt Nam ở sông Bến Hải, là các lực lượng mạnh của Sài Gòn, ngăn chận không cho quân lính Bắc Việt thâm nhập vào dưới số đông và lén mang qua vũ khí với đạn dược. Để đi vòng qua rào cản này, để nói chung là che dấu việc tham gia vào trong cuộc chiến ở miền Nam, Hà Nội gửi quân lính và tiếp tế qua một con đường rừng bí mật xuống Nam Việt Nam, chạy qua lãnh thổ Lào và sau đó về phía nam là cũng chạy qua cả lãnh thổ Campuchia.

Năm 1960, công cuộc mở rộng cho cái được gọi là đường mòn Hồ Chí Minh đó bắt đầu, cái dẫn từ ở ngay trước sông Bến Hải, ở vĩ độ của thành phố Đồng Hới, dẫn sang lãnh thổ Lào và từ đó chạy song song với biên giới Lào-Việt xuống miền Nam trên vùng đồi núi khó tiếp cận được. Huyện lỵ Tchepone là một giao điểm của đường mòn. Tiếp tục về phía Nam, con đường mòn chạm vào các tỉnh Saravane và Attapeu của Lào. Từ đây có những con đường ngang dẫn trở lại Việt Nam vào vùng hoạt động của các đơn vị ở miền Trung Việt Nam. Tiếp tế cho Sài Gòn vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng được chở từ lãnh thổ Lào tiếp tục sang lãnh thổ Campuchia, cũng là trung lập, và chỉ tới được với lực lượng chiến đấu ở miền Nam sau khi vi phạm tính trung lập của hai đất nước.

Vùng đất cần thiết cho đường mòn Hồ CHí Minh trên thực tế là bị quân đội Bắc Việt chiếm đóng. 30.000 tới 40.000 người lính đã giành sự kiểm soát một vùng đất khó tiến tới gần, hầu như chỉ có các bộ tộc miền núi sinh sống, mà không cần quan tâm tới luật pháp quốc tế và không có thỏa thuận với chính phủ ở Vientiane.

Hoạt động của Việt Nam này được che chắn bởi một tổ chức – mặt trận thống nhất Lào, Neo Lao Hak Sat (Mặt trận Yêu nước Lào), có “Đảng Nhân dân Cách mạng Lào” đứng điều khiển ở phía sau, mà trong đó những người con lai, người Lào-Việt và thành viên của thiểu số người Việt ở Lào nắm quyền lực trong tay. Quân lính của các tổ chức cộng sản theo Việt Nam này được biết dưới tên Pathet Lào (Đất Lào).

Phần lớn của tất cả tám tỉnh Lào có biên giới với Việt Nam đều bị quân đội Hà Nội chiếm đóng và qua đó bị giật ra khỏi sự kiểm soát của chính phủ ở Vientiane. Ở đây, dưới sự bảo vệ của quân đội Bắc Việt hùng mạnh, trong tỉnh lỵ Sam Neua còn hoang sơ chưa được khai phá, Pathet Lào, lực lượng hỗ trợ của Lào, có tổng hành dinh của họ.

Sự cắt xén chủ quyền, sự bất lực của chính phủ ở Vientiane, không thể bảo vệ quyền kiểm soát trên toàn bộ lãnh thổ, đã khiến cho xã hội Lào phân rã ra thành ba phần: thành Pathet Lào, những người thành lập một nhà nước trong nhà nước, được Việt Nam hỗ trợ và cung cấp quân trang quân dụng; rồi người cánh hữu dưới sự lãnh đạo của tướng Phoumi Nosavan, những người tin rằng có thể tái thiết lập sự toàn vẹn lãnh thổ; và cuối cùng là phe “trung lập” , làm trung gian giữa tả và hữu và không muốn rời bỏ niềm tin, rằng hòa bình có thể được tái thiết lập ở Lào, chỉ cần người Lào giải quyết các vấn đề của họ ở bàn đàm phán và cùng chung sống hòa bình không có sự can thiệp từ bên ngoài, trong tinh thần của sự khoan dung và phi bạo lực.

Trụ cột chính của những người trung lập là hoàng tử Souvanna Phouma (Ph phát âm như P), sinh năm 1901. Lần nước Nhật xâm chiếm Đông Nam Á đã mang Souvanna Phouma ra chính trường năm 1942. Ông tham gia phong trào Lào Issra, phong trào mà sau 1945 với những sức lực cuối cùng đã cố gắng ngăn chận lần quay trở lại của thế lực thuộc địa Pháp.

Sau khi việc này thất bại, một chia rẽ có nhiều hậu quả đã xảy ra trong phong trào Lào Issara. Một nhóm dưới sự lãnh đạo của Souvanna Phouma quyết định cộng tác dè dặt với chính quyền thuộc địa, để qua đàm phán và áp lực, thế nào đi nữa thì cũng bằng phương tiện hòa bình, mà đạt tới nền độc lập quốc gia. Nhóm Lào Issar thứ hai dưới sự lãnh đạo của người em cùng cha khác mẹ trẻ hơn mười một tuổi của ông, Souphanouvong quyết định đấu tranh vũ trang. Đồng thời, họ cũng thiết lập một liên minh về chính trị và quân sự với Hồ Chí Minh và Việt Minh của ông. Sự chia rẽ của Lào Issara là một sự chia rẽ của giới tinh hoa Lào, và là lời mời Đảng Cộng sản Bắc Việt can thiệp vào tình hình nội bộ.

Souvanna Phouma đã dùng phần còn lại của cuộc đời mình để tái thống nhất dân tộc. Sự hòa giải của hai anh em cần phải là một tấm gương, một ví dụ cho tính cùng chung với nhau của Lào. Nó cần phải chứng minh, rằng tình yêu huynh đệ và tình đoàn kết quốc gia sẽ vượt qua được tất cả các hố sâu. Chính trị đã để cho lý tưởng của Souvanna Phouma rơi vào chân không.

Năm 1960, cuộc khủng hoảng của Lào tăng cao khi Hà Nội bắt đầu xây dựng con đường mòn Hồ Chí Minh. Dựa trên đề nghị của hoàng tử Sihanouk, người đứng đầu nhà nước Campuchia, các thế lực ký tên ở Genève năm 1954, đã cùng nhau bảo đảm tính trung lập của Lào, lại gặp nhau trong tháng Hai 1962 tại một hội nghị thứ nhì, cũng diễn ra ở Genève.

Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ bây giờ cũng sẵn sàng từ bỏ không ủng hộ nhóm “cánh hữu” và trong tương lai sẽ chấp nhận những người trung lập quanh Souvanna Phouma. Moscow đưa ra lời bảo đảm, rằng Bắc Việt Nam sẽ tôn trọng tính trung lập của Lào. Và Souvanna Phouma tuyên bố sẵn sàng cho tất cả ba nhóm trong đất nước, cánh hữu, những người trung lập của ông và Pathet Lào, tham gia vào một chính phủ liên minh và qua đó là tham gia nắm quyền lực.

“Lào là vấn đề lớn của anh”, Eisenhower đã nói với John F. Kennedy lúc bàn giao chức vụ. Cả người kế nhiệm cũng đã hoàn toàn đồng ý với đánh giá của Bộ Ngoại giao, rằng Lào mà một cột trụ cho sự ổn định ở Đông Nam Á, và rằng an ninh của Hoa Kỳ bị đe dọa trực tiếp, nếu như Lào rơi vào sự kiểm soát của người cộng sản.

“Lào là con chuột đang gầm lên”, nữ sử gia người Mỹ Barbara Tuchman sau này đã viết châm biếm như vậy. Thời đó, khi kết cuộc của lịch sử ở Đông Dương vẫn còn chưa được nhận ra, chỉ có một vài người là nhận ra được sự không tương xứng giữa đất nước nhỏ bé đó ở cạnh sông Mekong và sự chú ý quốc tế giành cho nó. Hầu như không ai có được một hình dung thích hợp với hoàn cảnh địa lý ở Đông Nam Á, nhất là về đường biên giới và kết cấu ở Lào. Mặc dù vậy, đó dường như là điều tự nhiên, khi Kennedy và Khrushchev xem Lào như là một đề tài trao đổi quan trọng tại cuộc họp thượng đỉnh ở Wien. “Nếu chúng ta bỏ rơi Lào”, Eisenhower và người đơn giản hóa lớn, ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles, giảng giải cho giới công chúng như vậy, “thì chúng ta có thể bỏ đi cả vùng đó.”

Tính trung lập được quốc tế bảo đảm của Lào được xem như là giải pháp mô hình cho xung đột ở Nam Việt Nam. Các cường quốc thế giới kình địch nhau thay vì can thiệp từ bên ngoài vào và tiếp tế đạn dược cho các bên của cuộc nội chiến thì phải cho sự hòa giải có một cơ hội: những người trung lập, “lực lượng thứ ba”, là cốt lõi của một liên minh lớn, cái có thể chấm dứt cuộc chiến và dẫn tất cả các nhóm đi tới chung sống hòa bình và cộng tác. Charles de Gaulle đã tin vào phương án này và luôn cố thuyết phục các tổng thống Mỹ tin vào sự đúng đắn của nó.

Mặc dù vậy, Lào vẫn bị lôi cuốn vào cuộc chiến vì Hà Nội không giữ lời hứa của mình là từ bỏ không sử dụng lãnh thổ Lào. Trưởng đoàn đàm phán Moscow Georgi Pushkin còn thỏa thuận chính thức với người đàm phán phía Mỹ, Averell Harriman, rằng Liên bang Xô viết sẽ bào đảm việc Hà Nội tuân thủ đúng theo Hiệp định Genève.

Cả Hà Nội lẫn Moscow đều không giữ đúng lời hứa của họ. Cố vấn an ninh của John F. Kennedy, Walter Rostow, sau này nhận ra trong đó một bước ngoặc của tiến trình chính trị: “Tôi cho rằng chính phủ Kennedy bất lực trong việc ép buộc giữ đúng các thỏa thuận về Lào là sai lầm chính trị lớn nhất của những năm sáu mươi.”

Thuốc phiện như là vũ khí

Giới báo chí nước ngoài tường thuật từ Lào và Việt Nam thời đó gồm một giới nhỏ, mở rộng ra tới vài trăm người trong thời gian khủng hoảng leo thang, nhưng chưa từng bao giờ đạt tới được con số của đạo quân từ 2000 tới 4000 nhà báo đổ về các sự kiện quốc tế lớn của ngày nay. Ở Vientiane hiếm khi có hơn 50 hay 100 thông tín viên hoạt động cùng lúc. Họ có thể tự do tiếp cận tới giới tinh hoa chính trị, tới các đại diện ngoại giao từ Đông và Tây, thậm chí tới cả các đại diện của Pathet Lào, những người sống ở trung tâm thủ đô, ở cạnh một cái chợ lớn, trong một ngôi biệt thự màu nâu, được canh gác bởi du kích quân cộng sản bằng xương bằng thịt, tay cầm AK 47.

Lính Pathet Lào năm 1974
Lính Pathet Lào năm 1974

Vào buổi sáng sớm, người ta có thể quan sát thấy một nhóm Pathet Lào, trong những bộ quân phục màu xanh quá rộng và mũ nồi với lưỡi trai đen trên đầu. Họ mua gạo và rau cải ở chợ. Đối với người dân Lào bình thường, nhất là đối với những người phụ nữ ở chợ, thì cảnh tượng đó hoàn toàn bình thường. Người lạ, các nhà quan sát từ Phương Tây bị mê hoặc bởi tính hoàn toàn tự nhiên mà Pathet Lào đi lại trong thủ đô với nó. Vì trong cùng thời gian đó, quân đội chính phủ đang chiến đấu chống lại chính những người lính này ở các tỉnh phía đông và trên Cánh đồng Chum. Ở Lào, người ta chiến đấu theo một cách đặc biệt; và giới báo chí quốc tế đóng một vai trò quan trọng ở trong đó.

Vientiane là điểm quan sát tốt nhất, để nhìn ra phía sau cái được gọi là bức màn tre mà các nước cộng sản châu Á dùng nó để che chắn họ. Không chỉ Pathet Lào có đại diện ngoại giao; cả người Bắc Việt, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, Liên xô và Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ cũng được đại diện qua nhân sự có trình độ cao, những người xuất phát trực tiếp từ tình báo hay đã được chuẩn bị rõ ràng cho một nhiệm vụ intelligence nhạy cảm. Tại các buổi tiệc cocktail trong thủ đô Lào, Đông và Tây giao tiếp hết sức tự nhiên và thanh lịch – khoan dung như không ở nơi nào khác trên thế giới.

Bởi vì có mặt ở Vientiane là có lợi nên các cơ quan tình báo hiện diện nhiều lần: qua các chuyên gia cải trang làm nhà ngoại giao trong các sứ quán và qua các điệp viên trong trang phục của đại diện thương mại, doanh nhân nhỏ và cố vấn. Một người trong số họ, tiến sĩ Henn, đã học nghề của ông tại Berlin của thời Quốc Xã ở đô đốc Canaris huyền thoại. Ông đã lành lặn trải qua được lần kết thúc của cuộc chiến và chẳng bao lâu sau đó đã tìm thấy nhiệm vụ mới ở châu Á. Ở Thái Lan, ông điều hành một công ty tàu thủy nhỏ trên sông Chao Phraya, cái mang lại lợi nhuận nhiều đủ để ông cũng có thể bước vào kinh doanh khách sạn.

Ở Vientiane, tiến sĩ Henn mướn một ngôi nhà nhỏ, nằm ngay cạnh sông Mekong, chỉ cách bờ sông có một con đường cát. Người sếp thường ngồi ở trong đó sau một tấm màn màu xám, trông có vẻ thô, bảo vệ trước những cái nhìn từ phía ngoài nhưng mà lại cho phép quan sát cuộc sống ở bên ngoài. Đó là một cái “cửa sổ trưng bày” theo hai nghĩa. Vì dưới tấm màn có những tệp sách quảng cáo được bày biện để giả vờ tạo nên một văn phòng du lịch đang hoạt động.

Vào một ngày nào đó, trợ lý của người sếp công ty bắt chuyện với tôi trên đường phố và mời tôi theo ông ấy vào văn phòng để trao đổi một việc quan trọng. Sau tấm màn, tiến sĩ Henn lúc đó độ chừng sáu mươi tuổi chào tôi với câu nói khiến cho người ta không thể nào giận ông được: “Tất cả những gì mà anh nhìn thấy ở đây chỉ là ‘window dressing’.””

Một tập tài liệu lớn mà ông lôi ra có nhiệm vụ thuyết phục tôi rằng công ty “Dr. Henn Western Union Finance” rất thành công trong môi giới tin tức và cung cấp các phân tích tình hình cho khách hàng cao cấp, trong số đó, được minh chứng bằng một thư cảm ơn, là cho William Fulbright, chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Thượng Viện Hoa Kỳ và hiện đang là người phê phán mạnh mẽ chính sách Đông Dương của chính phủ ông. Tiến sĩ Henn có những thông tin đặc biệt về giới ma túy. Đổi lấy một khoản tiền dollar không nhỏ, ông đưa cho tôi một tập đặc biệt từ dịch vụ thông tin của ông, cái chuyên về đề tài kinh doanh ma túy ở Lào. Tuy vậy, nhà hoạt động tự do tiến sĩ Henn đã không thể có thêm văn phòng truyền hình ARD ở Hongkong, nơi tôi công tác, như là người thuê bao dài hạn được.

Lào đã đạt tới một vị trí trung tâm trong buôn bán ma túy quốc tế, việc mà đã có thêm khách hàng mới qua cuộc chiến ở Nam Việt Nam. Những người lính Mỹ chán nản, không còn có thể nhận ra được ý nghĩa của cuộc chiến, lũ lượt nghiện bạch phiến được cung cấp từ Lào về Sài Gòn.

Trồng cây anh túc đã có truyền thống ở các bộ tộc trên núi của Lào, những người mà trong những năm sáu mươi, CIA đã trang bị vũ khí cho họ và thúc đẩy họ chiến đấu chống lại các đơn vị Bắc Việt ở vùng núi. Những người bảo trợ từ Mỹ vì vậy mà hầu như không muốn làm gì để ngăn chận hay trấn áp việc sản xuất thuốc phiện. Nhu cầu ở Sài Gòn càng lớn thì diện tích trồng trên núi cao hơn một ngàn mét lại càng tăng nhanh, nơi thuốc phiện thô được lấy ra từ hoa của cây anh túc bằng cách dùng thủ công cực nhọc rạch vào bông mo, cái được cô đặc thành morphine và cuối cùng thành bạch phiến. Là bạch phiến có nồng độ cao, thứ gây nghiện này được chở đi và buôn lậu dễ dàng nhất.

Hàng không tư nhân, mà trong đó các tay cựu chiến binh già dặn của quân đội viễn chinh Pháp có tiếng nói quyết định, đã tham gia đáng kể vào trong việc chuyên chở thuốc phiện từ các ngôi làng trên núi về tới Vientiane. Để ngụy trang, cũng chính các công ty này chào mời những chuyến bay thuê bao cho thông tín viên ngoại quốc. Ai muốn có được một hình ảnh tại chỗ về cuộc chiến tranh của người Mèo, bộ tộc lớn nhất ở trên núi, thì đều phải dựa vào những chuyến bay như vậy. Nhưng nếu như chỉ dựa vào các hợp đồng thất thường với nhà báo thì các viên phi công chuyên bay thuê bao đó không thể chi trả cho công ty của họ được. Việc chuyên chở thuốc phiện mới mang lại lợi nhuận cho công ty.

Ở Vientiane, nhiều phòng thí nghiệm lớn được thành lập, để tinh chế thuốc phiện thô từ trên núi. Một doanh nhân người Hoa với cái tên Huu Tim Heng có phần lớn nhất trong cuộc kinh doanh này. Ở ngoại ô, Huu đã xây một nhà máy đóng chai Pepsi Cola. Giám đốc điều hành là Panya, con trai của thủ tướng Souvanna Phouma mà lời giới thiệu của ông ấy đã tác động để cho doanh nghiệp Huu cũng nhận được tiền hỗ trợ từ “US-Agency for International Development” (USAID). Tuy vậy, các nhân viên điều tra về ma túy của sứ quán Mỹ đã rất nhanh chóng nhận ra rằng nhà mày đóng chai này không hề đi vào hoạt động.

Năm năm sau khi giàn máy được xây dựng hoàn tất, tới một cái chai được đổ đầy duy nhất cũng không đi ra tới thị trường. Các chuyên gia Mỹ dần dần mới nhận ra rằng rõ ràng nhà máy này chỉ là mặt ngoài che chắn cho việc sản xuất bạch phiến. Thông qua nhà máy Pepsi Cola, Huu Tim Heng đã mua các hóa chất cần thiết cho phương pháp biến chuyển thuốc phiện sang bạch phiến.

Đảm nhiệm việc tiếp tục chuyên chở loại hàng nóng này về Sài Gòn ngoài những người khác là phòng vận tải của Không quân Nam Việt Nam, trung thành với thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Dưới mắt của các cố vấn Mỹ, những tổ lái máy bay của Kỳ mang bạch phiến từ Lào về tỉnh lỵ Pleiku của Việt Nam, rồi từ đó về Sài Gòn. Sau này, sau cuộc đảo chính Sihanouk năm 1970, việc chuyên chở lậu chuyển sang thủ đô Phnom Penh của Campuchia. Máy bay Nam Việt Nam bay tiếp tế hầu như mỗi ngày cho quân đội của tướng Lon Nol. Trong chuyến bay trở về căn cứ ở Tân Sơn Nhứt, phi trường của Sài Gòn, các tổ lái chở lậu bạch phiến.

Hồ Chí Minh và Hoàng tử Souphanouvong
Hồ Chí Minh và Hoàng tử Souphanouvong

Một nguồn cung cấp ma túy khác cũng có thể là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, thời đó thỉnh thoảng bị CIA nghi ngờ là lại sản xuất bạch phiến và dùng nó như là vũ khí chống lại nước Mỹ. Không có bằng chứng cho việc này. Thời đó, các phỏng đoán này được cho là một phần của chiến tranh tâm lý, cái cũng không e dè trước những tin sai.

Một manh mối cho loại vũ khí “thuốc phiện” được Trung Quốc sử dụng là hồi ký của Mohammed Haikal, người thân cận của Nasser đã cùng nghe những cuộc trao đổi mà Chu Ân Lai đã tiến hành trong chuyến viếng thăm chính thức Cairo năm 1965. Trung Quốc sử dụng thuốc phiện, để làm suy đồi nhanh chóng quân đội Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam, Chu Ân Lai thừa nhận. “Một vài người Mỹ muốn hút thuốc phiện, chúng tôi muốn tạo sự dễ dàng cho họ. Chúng tôi đưa ra những loại thuốc phiện tốt nhất cho lính Mỹ ở Việt Nam.” Khi Nasser tỏ vẻ không muốn tin, Chu Ân Lai nói thêm để thuyết phục: “Anh hãy nhớ rằng Phương Tây đã dùng thuốc phiện để chống lại chúng tôi. Bây giờ, chúng tôi chống lại họ bằng chính vũ khí của họ. Chúng tôi mong muốn rằng Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ can thiệp với một đạo quân lớn mà chúng tôi có thể bắt làm con tin và có thể làm cho họ suy đồi. Tác động của sự suy đồi này lên Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ sẽ lớn hơn những gì mà hầu hết mọi người nhận ra được ngày nay rất nhiều.”

Có là phi đạo đức hay không, khi làm cho quân lính đối phương nghiện ngập thay vì giết chết họ với súng ống và đại bác? Người ta cũng phải đặt câu hỏi này ra cho cả Hà Nội, cũng có thể sản xuất thuốc phiện với số lượng lớn trên vùng núi cao hơn một ngàn mét. Thật đáng ngạc nhiên, như Derek Davies nhận xét, người mang cuộc trao đổi của Chu Ân Lai ra trước một giới công chúng rộng rãi trong Far Eastern Economic Review, rằng vũ khí thuốc phiện trong tay của Bắc Việt và Trung Quốc nhận được ít sự chú ý tới như vậy. Hậu quả, suy đồi kéo dài của quân đội Mỹ, đã được Chu Ân Lai tiên đoán chính xác đáng kinh ngạc. Sự nghi ngờ về nguồn gốc không rơi xuống Bắc Việt và cũng không rơi xuống Trung Quốc, nước trước 1949, trước khi người cộng sản nắm quyền lực, là một trong những nhà sản xuất thuốc phiện lớn nhất. Tầm nhìn chỉ hướng tới Tam giác Vàng, đặc biệt là tới Lào.

Ngoài gỗ, một ít thiếc và bồ tạt, Lào không có sản phẩm nào có thể bán được trên thị trường thế giới. Số lượng nhỏ, thu nhập ngoại tệ cũng thế. Thật sự nhiều thì chỉ có việc xuất khẩu thuốc phiện và bạch phiến. Chính phủ ở Vientian không hề che dấu, rằng họ quan tâm tới việc kinh doanh này. Người am hiểu giới ma túy châu Á tốt nhất, sử gia người Mỹ Alfred McCoy, đã cống hiến cho đề tài này một quyển sách tỉ mỉ, nói về một chiến lược thị trường “năng nổ” của giới lãnh đạo Lào. Trong đó, họ giỏi giang giống như “những người bán đồ điện Nhật và người bán ô tô từ Đức”.

Việc thuốc phiện được mua bán tự do ở Vientiane đã lôi kéo hàng đoàn hippie và người sống lập dị tới, ngồi với nhau trong các quán rượu và nhà hàng riêng, và không chỉ Lào hóa qua y phục. Họ tiếp nhận trước hết là lối sống có định hướng tới hưởng thụ và thư nhàn của dân tộc chủ nhà. Các cơ quan nhà nước để tự do cho những người trẻ tuổi xa rời thực tế, say thuốc lâng lâng từ Âu Mỹ đó. Lào tôn trọng tự do cho tới cùng cực. Ở Vientiane, người ta hoàn toàn không nhận ra trách nhiệm gắn liền với việc đó.

Anh em, đối thủ, đối tác

Hầu như không ai thể hiện bản chất của xã hội Lào, các thế mạnh và thế yếu của họ một cách nhiều ấn tượng như thủ tướng Souvanna, người sống trong một ngôi biệt thự đồ sộ với tầm nhìn ra con sông Mekong to lớn, và luôn dành nhiều thời gian để tiếp khách nước ngoài trong gian phòng làm việc của ông, được trang trí với các tác phẩm của Gandhi.

Tại các nghi thức quốc gia và ở hoàng cung của vua Savang Vattana, hoàng tử Souvanna Phouma luôn xuất hiện trong y phục Lào chỉnh tề, với quần lụa và áo khoác bằng bông vải không có cổ và được cài lại bằng dây vải. Nhưng người ta thường trông thấy ông trong bộ comlê hai hàng nút lịch sự theo kiểu Tây Phương nhiều hơn, với áo sơ mí trắng sang trọng, chiếc cà vạt được thắt nút rộng và một cái khăn trang sức trong túi áo ngực: một người đàn ông lịch lãm, nhìn với đôi mắt nhân từ qua tròng kính được nhuộm màu của một cái kính mắt không viền, và để cho người ta nhận ra được sự hài lòng của ông, rằng ông đã hợp nhất ở mình các truyền thống tốt đẹp nhất của nền văn minh Lào và Pháp.

Hoàng tử Souvanna Phouma và phu nhân
Hoàng tử Souvanna Phouma và phu nhân

Những vẻ ngoài của cuộc sống, y phục, nhà ở, thức ăn và thức uống mang nặng dấu ấn của những năm học đại học tại Pháp – ông đã học xây dựng ở Paris và Grenoble. Phong cách của ông, cái để cho người ta mường tượng ra tính khí, cốt lõi trong cùng của cá tính, thì ngược lại vẫn rõ ràng là của Lào: khiêm tốn trong cử chỉ, toát ra vẻ điềm tỉnh và thanh thản, một sản phẩm của Phật giáo, đặt kỷ luật tự giác và bất bạo động lên trên tất cả. Ông kiên nhẫn để cho người ta tiến hành các công việc chuẩn bị về kỹ thuật với mình, những công việc gắn liền với một lần quay phim truyền hình. Không bao giờ ông để lộ ra những dấu hiệu giống như ông đang chịu áp lực, giống như thời gian đang thúc giục. Người khách của ông nhanh chóng hiểu được, rằng mình đang ngồi đối diện với một chính trị gia, người mà đồng thời cũng giống một người bậc thầy, một bậc triết gia như thế nào đó, người quan sát tất cả những sự xuất hiện của cuộc sống từ xa, và miễn cho mình những cơn bùng nổ của tâm hồn, của sự thịnh nộ, căm ghét, thất vọng, nhưng cũng cả tình cảm mạnh mẽ mãnh liệt nữa.

“Người Mỹ nói tôi là người cộng sản”, hoàng tử Souvanna Phouma đã có lần mô tả thế giới quan của ông như vậy, “điều đó thật đáng để thương hại. Làm sao mà họ có thể nghĩ như vậy được? Tôi tìm một con đường để giữ cho Lào phi cộng sản. Theo Phương Tây không có nghĩa là bắt buộc cũng phải theo Mỹ. Chống Mỹ không có nghĩa là theo cộng sản.”

Vị trí ở giữa này hoàn toàn không có giáo điều và hoàn toàn không có tư tưởng hệ, chỉ có định hướng tới lợi ích quốc gia. Souvanna Phouma tin chắc rằng không chỉ những người bất đồng chính kiến cánh hữu, mà cả những người bất đồng chính kiến cánh tả cũng vì sự thống nhất của dân tộc, và có khả năng hòa giải với nhau mà không cần có sự can thiệp từ bên ngoài. Chín mươi phần trăm Pathet Lào, Souvanna Phouma tin là vậy, trước hết là người Lào và rồi mới là người xã hội chủ nghĩa. “Là Phật tử, chúng tôi cũng là người xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi không được phép quên rằng cả người Lào ở phía bên kia cũng là Phật tử, kính trọng vua và muốn thống nhất quốc gia. Lào là một trường hợp đặc biệt.”

Souvanna Phouma không muốn nhận ra sự tàn bạo của một cỗ máy quyền lực cộng sản. Vị hoàng tử đã tự chứng tỏ mình không có khả năng phân biệt được tuyên truyền và chính trị thực tế. Về sau này, ông bị cáo buộc là đã hành động phi chính trị và thậm chí còn là nhẹ dạ và ngây thơ nữa.

Việc hoàng tử Souvanna Phouma sống trong một thế giới mơ mộng cho tới cuối cùng và đã xua đuổi đi tất cả những niềm nghi ngờ về tính đáng tin cậy các tiền đề của ông, bắt nguồn từ những mối liên quan tới người em cùng cha khác mẹ Souphanouvong của ông, người đã đưa ra lời hứa danh dự với ông, rằng Pathet Lao sẽ tôn trọng chế độ quân chủ và sự thống nhất quốc gia. Hoài nghi lời nói của một người họ hàng, của một người quý tộc, của một người yêu nước, điều đó vượt quá chân trời của Souvanna Phouma.

Người anh em cùng cha khác mẹ dường như đã ám chỉ tới vị trí của ông trong xã hội và trong chính trường qua vẻ ngoài. Khác với nhà quý tộc trau chuốt Souvanna Phouma, người đàn ông cánh tả Souphanouvong có tầm vóc của một người nông dân mà không có một nét thanh lịch nào muốn tỏa ra từ đó: chắc nịch, với một cái đầu vuông vức, mắt sinh động và một bộ râu mép. Quần áo ông đúng mực với đặc tính thô kệch, phi thời trang, được cắt may theo ý thích của một người thợ may quê mùa. Viên cán bộ cộng sản, người suy nghĩ vô sản, nhưng trong diện bộ lại tỏ vẻ tiểu tư sản, rõ ràng là một gương mẫu cho Souphanouvong. Thời đó, ở trên khắp thế giới, thanh lịch được đảng cộng sản xem như là tấm thẻ nhận dạng của sự suy đồi và quan điểm nguy hiểm. Nhà cách mạng trung thành với đường lối thì khinh thường hình thức; ông ấy cho rằng quần rộng và áo khoác chật là tiến bộ, thật ra thì đã lầm lẫn giữa thị hiếu tồi và quan điểm thật sự.

Vẻ ngoài của Souphanouvong để cho người ta nhận ra rằng ông giữ khoảng cách rõ rệt với người anh cùng cha khác mẹ, người mà ông đã gắn kết cả đời mình với ông ấy qua ganh đua, qua cạnh tranh. Vào giữa những năm ba mươi, người em trẻ hơn mười một tuổi Souphanouvong cũng học đại học ở Paris và đã có một kỳ thi cuối khóa xuất sắc tại “Ecole Nationale des Ponts et Chaussées”, đẩy lùi thành tích hàn lâm của người anh mình vào bóng tối. Sau những chuyến đi xe đạp xuyên qua vùng đồng quê nước Pháp, người ta thuật lại như vậy, ông đã nghiên cứu về những vấn đề trong tưới nước ở Bắc Phi. Tại các bến cảng của Le Havre, ông đã trở thành thành viên của Mặt trận Nhân dân chống phát xít, nơi ông lần đầu tiên tiếp xúc với những người cộng sản và ý tưởng cộng sản.

Trước khi quân đội Đức tiến vào Pháp, Souphanouvong đã trở về châu Á, nơi ông cũng như người anh cùng cha khác mẹ bắt đầu sự nghiệp của một kỹ sư cầu đường. Tuy vậy, đó là một sắp xếp của định mệnh, khi chính quyền thuộc địa Pháp không để ông làm việc ở quê hương Lào mà lại cử ông sang thành phố Nha Trang ở miền Trung Việt Nam, nơi ông xây cầu đường cho tới khi nước Nhật chấm dứt chiếm đóng năm 1945.

Ở Nha Trang, Souphanouvong kết hôn với Lê Thị Kỳ, con gái của một gia đình khá giả, rõ ràng là có tham vọng chính trị lớn và cùng hoạt động trong phong trào chống thuộc địa. Bà gắn kết ông với Việt Nam chặt cho tới đâu, có thể lôi kéo ông vào phương án lãnh đạo Đông Dương của Hà Nội cho tới đâu, và cả hai bị ý thức hệ cộng sản lôi cuốn cho tới đâu thì cho tới nay vẫn còn là đề tài của sự suy đoán. Rõ ràng là sự liên kết với Việt Nam qua gia đình đã tạo sự dễ dàng cho một liên minh với những người cộng sản hoạt động bí mật, với Việt Minh và đảng cộng sản ngụy trang. Thế nào đi nữa thì trước 1975, trước khi phe cánh tả của Lào nắm quyền,  Souphanouvong cũng đã không bày tỏ niềm tin Mác xít.

Là chủ tịch của “Neo Lao Hak Sat”, Souphanouvong là nhân vật của một chủ nghĩa dân tộc cánh tả của Lào, người tuy là liên minh với người cộng sản Việt Nam, nhưng lại quả quyết không biết mệt trách nhiệm của ông đối với sự thống nhất của dân tộc và lòng trung thành với nhà vua. Không ai muốn nói chắc chắn rằng bao nhiêu phần trong chương trình này của mặt trận là tuyên truyền và bao nhiêu là niềm tin. Souvanna Phouma, người thủ tướng trung lập, luôn tin vào những lời bảo đảm của người em cùng cha khác mẹ của ông.

Một cuộc họp của Ủy ban Trung ương Mặt trận Yêu nước Lào dưới sự chủ trì của Hoàng tử Souphanouvong
Một cuộc họp của Ủy ban Trung ương Mặt trận Yêu nước Lào dưới sự chủ trì của Hoàng tử Souphanouvong

Sức mạnh gợi ý và thuyết phục của người hoàng tử chủ tịch mặt trận thật sự mạnh cho tới đâu, điều này được chứng tỏ qua một mẩu chuyện từ năm 1959. Thời đó, cán cân chính trị giữa các nhóm kình địch với nhau bị phá vỡ. Chính phủ của thủ tướng nhất thời Phoui Sananikon, đã rơi vào ảnh hưởng mạnh của bên hữu, bắt giam ông “hoàng tử đỏ” và những người thân cận nhất của ông, trong số đó có Phoumi Vongvichit và Phoun Sipraseuth, hai nhà quý tộc cánh tả, có khả năng làm bộ trưởng và trung thành với đảng. Họ bị giam trong trại cảnh sát Phone Keng, ở ngoài Vientiane. Souphanouvong, những người thuộc phe ông lan tin đi trong thành phố, đang giết thời gian bằng cách đọc sách cổ điển Hy Lạp.

Lời lên án: Phạm tội làm hại tới an ninh quốc gia. Luật sư đã được nêu tên và cuối cùng một thời điểm xử án cũng được ấn định. Mãi cho tới lúc đó, chính phủ mới nhận ra rằng họ đã trượt vào trong một cuộc đối đầu mà đã mang lại cho cánh tả một diễn đàn để họ tự trình diễn họ trong tư thế của người hùng và phô bày hết sức hiệu quả mối liên quan giữa những nhóm cánh hữu dưới quyền tướng Phoumi Nosavan với CIA. Chính phủ thoát ra khỏi cảnh tiến thoái lưỡng nan này bằng cách trì hoãn hết lần này tới lần khác phiên xử án và giữ “những kẻ phản bội” trong nhà từ mà không có án tòa.

Sau mười tháng, hoàng tử Souphanouvong đã có thể giải quyết vấn đề khó khăn này cho tất cả các bên. Làm sao mà thành công được, việc này được ông kể lại trong một tường thuật trải nghiệm cho tờ báo đảng Việt Nam Nhân Dân trong tháng Năm 1961. Với thời gian, ông đã thành công trong việc chiếm lấy thiện cảm và rồi là lòng trung thành của những người lính gác. Cùng với những người đó, ông đã trốn khỏi nhà tù cảnh sát vào buổi sáng sớm của ngày 24 tháng Năm năm 1960, lúc đang có một trận mưa to. Phiên canh gác tới vào lúc sáu giờ sáng để thay ca chỉ còn nhìn thấy cửa mở và trại giam trống rỗng.

Souphanouvong  dành năm tháng trời để đi xuyên qua các tỉnh do Pathet Lào đang nắm giữ và thanh tra những người theo ông. Mãi tới tháng Mười Một 1960, ông mới trở về tổng hành dinh Sam Neua. Có lý do để tin rằng “phe Việt Nam” trong “Neo Lao Hak Sat” đã lợi dụng thời gian vắng mặt dài của ông để đẩy mạnh kiểm soát tổ chức Mặt trận Lào. Trong những tháng đó, dường như là như vậy, nhiều sự việc đã rồi được tạo nên, những việc mà cuối cùng đã để cho cả hai vị hoàng tử thất bại. Trong khi Souphanouvong bị bắt giam ở Vientiane và sau đó đi xuyên qua các tỉnh, một người được Hà Nội tin cậy đã nắm được quyền kiểm soát Mặt trận và đã tạo lập nền tảng cho một nước Lào mới, cho một nước Lào không có quân chủ và phụ thuộc vào Việt Nam. Kaysone Phomvihan là tên của métis này, như người Pháp nói, một người con lai mà bắt đầu từ bây giờ giật dây “Neo Lao Hak Sat” từ trong hậu trường.

Vì cha ông là người Việt, chỉ người mẹ là người Lào, nên người ta gọi Kaysone là “tên người Việt”. “Cai Song”, “hạ sĩ Song”, là tên Việt Nam. Đối với người Lào rất ý thức về truyền thống thì tất cả những điểm đặc biệt trong cuộc đời ông đều chỉ tới Hà Nội. Thế nào đi chăng nữa thì Kaysone dường như không phải là người một đại diện đáng tin cậy cho một chủ nghĩa dân tộc Lào.

Kaysone Phomvihan và Hồ Chí Minh
Kaysone Phomvihan và Hồ Chí Minh

Ông sinh ra đời năm 1920 hay 1925 ở Savannakhet. Có thời gian ông đã học y khoa ở Hà Nội. Bên cạnh tiếng Lào và tiếng Việt, người ta còn ca ngợi ông biết tiếng Thái, Shan, Pháp và cả tiếng Anh nữa. Ở Hà Nội dưới thời Nhật Bản chiếm đóng, dường như Kaysone đã hoạt động trong liên hiệp sinh viên cộng sản. Ông đã được Đảng Cộng sản và cánh tay quân sự của họ, Việt Minh, đào tạo về chính trị và quân sự. Nhóm lãnh đạo quanh Hồ Chí Minh phải sớm nhận ra rằng một người như Kayson là thích hợp để thâm nhập vào các tổ chức cánh tả của Lào và chuyển chúng sang hướng phục vụ cho các lợi ích của Hà Nộ.

Khi Souphanouvong bắt đầu tổ chức phong trào Lào Issra trong thành phố Savannakhet sau lần đầu hàng của Nhật Bản, Kaysone đã có mặt với một nhóm nhỏ người theo ông. Sau một thời gian kình địch ngắn, metis đã phải nhường lại cho vị hoàng tử quyền lãnh đạo trên danh nghĩa. Nhưng Kaysone giữ chặt trong tay của ông quyền kiểm soát phương tiện quyền lực, cỗ máy quân sự. Ông mới chính là viên chỉ huy thật thụ của Pathet Lào; các chuyên gia Lào đã nhận ra ông trong vai trò này ngay từ đầu những năm sáu mươi, như là người đàn ông nhiều quyền lực hoạt động trong hậu trường của “Neo Lao Hak Sat”.  Nhiều điều ủng hộ việc, rằng phe Việt Nam tạo thành trung tâm quyền lực của Đảng Nhân dân Cách mạng, đảng cộng sản bí mật, chỉ huy “Mặt trận” của Lào. Kaysone và những người cộng tác thân cận nhất, người ta được phép phỏng đoán như vậy, có đảng tịch đôi trong Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Đảng Cộng sản Lào, những đảng mà thời đó tất nhiên là ngụy trang bằng những cái tên khác và xem sự hợp tác của họ như là một bí mật quốc gia.

Liệu Souphanouvong có nhận ra đan kết quyền lực, nói chính xác hơn là sự xâm nhập vào tổ chức cánh tả của Lào này hay không, đó là một câu hỏi không có trả lời. Cho tới chừng nào mà cuộc chiến tranh của Mỹ ở Nam Việt Nam vẫn còn tiếp diễn và Hà Nội phải chịu đựng áp lực chưa từng có của siêu cường quốc Hoa Kỳ, thì Kaysone và Souphanouvong đều hoàn toàn không hoài nghi nhiệm vụ hỗ trợ cho pháo đài xã hội chủ nghĩa ở Hà Nội và cuộc đấu tranh của “Mặt trận Dân tộc Giải phóng” ở miền Nam Việt Nam. Phe Việt Nam chỉ cởi bỏ lớp ngụy trang mãi sau chiến thắng năm 1975.

Liên minh với các tổ chức cánh tả ở Lào mang tầm quan trọng cực cao cho Hà Nội. Vì Pathet Lào giúp bảo vệ những tỉnh biên giới đó của Lào,  những tỉnh mà các trung đoàn Bắc Việt hành quân qua chúng đi về phương nam. Con đường mòn Hồ Chí Minh đã trở thành mạch sống của cuộc cách mạng ở miền Nam Việt Nam.

Cuộc chiến mà Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tiến hành ở Đông Dương không được quyết định ở Khe Sanh và cũng không được quyết định qua đợt tấn công vào dịp Tết Mậu Thân 1968. Nó đã được quyết định ở tại Lào, trên con đường mòn Hồ Chí Minh, trong một cuộc chiến mà hai bên đều không loan báo thông tin chính thức.

Đường mòn Hồ Chí Minh

Quân đội Mỹ biết chính xác đến ngạc nhiên về đường mòn Hồ Chí Minh. Cuốn sách mỏng của Bộ Ngoại giao Nam Việt Nam từ năm 1967, do CIA trợ giúp, mô tả tỉ mỉ một hệ thống đường đi tỏa ra rất rộng, dài 5600 kilômét, cái mà người ta có thể nhìn thấy rõ trên những bức không ảnh được đính kèm.

Cuốn sách mỏng này có nhiệm vụ thuyết phục giới báo chí quốc tế, rằng con đường mòn vi phạm tính trung lập của Lào đó nói chung là có tồn tại. Bởi vì chính phủ ở Hà Nội  nhấn mạnh là không gửi quân đội vào Nam và tôn trọng sự trung lập của Lào. Thuộc vào trong giáo điều của những người có thiện cảm với Hồ Chí Minh và chống Mỹ ở Phương Tây là việc “Mặt trận Giải phóng” chỉ tuyển mộ binh lính từ nhân dân ở miền Nam, Bắc Việt không tham gia trực tiếp vào cuộc chiến, và cuộc chiến tranh ném bom miền Bắc của Mỹ là không có lý do và trái với luật lệ. Hình ảnh về con đường mòn Hồ Chí Minh vì vậy mà cần phải chứng minh cho “cuộc xâm lược” của Hà Nội và qua đó chứng minh cho quyền của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, hỗ trợ một đồng minh chống lại một cuộc tấn công từ bên ngoài.

Xe tải trên đường mòn Hồ Chí Minh
Xe tải trên đường mòn Hồ Chí Minh

Robert Shaplen, một chuyên gia châu Á người Mỹ, người tường thuật bốn mươi năm trời từ Đông Nam Á và được cho rằng có quan hệ tốt với CIA, đã mô tả “phức hợp” của con đường mòn Hồ Chí Minh trong nhiều quyển sách. Các cơ quan tình báo và cả giới chỉ huy quân đội đều biết rằng tuyến tiếp tế đó không chỉ là một con đường duy nhất hay một con lộ, mà là một mạng lưới của những con đường và đường mòn, chạy song song với nhau và tất cả cùng với nhau tiến hành tiếp tế cho miền Nam.

Năm 1960, khi cuộc khảo sát vùng đồi núi cho tới lúc đó hết sức khó đi lại và cuộc xây dựng những con đường đầu tiên bắt đầu, một nhóm người từ thành phố Đồng Hới ở phía Bắc của vĩ tuyến 17 cần độ khoảng nửa năm để hành quân cho tới mức ngang với Sài Gòn, tức là cho một đoạn đường tròn một ngàn kilômét. Ngay trong lúc vượt biên giới sang Lào, những người lính phải vượt đèo Mụ Giạ, cái đã khiến cho những người lính phải kiệt sức và bị sốc cho tới mức hẳn là nhiều người đã từ bỏ niềm hy vọng có thể còn sống hay lành lặn mà đi tới cuối con đường hành quân khủng khiếp này.

Người Việt là những người sống ở đồng bằng, nông dân trồng lúa, phó mặc vùng đồi núi, phần lớn của đất nước họ, cho Montagnard và không bao giờ, như dân cư châu Âu, cố gắng khai khẩn vùng trung du và dùng nó để chăn nuôi bò. Rừng rậm của vùng đồi núi đối với những người lính của Hà Nội là một vùng đất xa lạ, kỳ bí, đáng sợ cũng như đối với người Mỹ và người Âu. Khi những người lính đứng vững trước nguy hiểm và cực khổ thì đó không phải là một việc hoàn toàn tự nhiên. Giới lãnh đạo Đảng trao cho họ một nhiệm vụ mà họ không có tài năng đặc biệt và không có kinh nghiệm cho nó. Ý nghĩ về con đường mòn trong rừng rậm hẳn đã đầy những sự miễn cưỡng và kinh hoàng.

Ngày nay, trong Bảo tàng Quân đội, con đường mòn Hồ Chí Minh có một màn trình diễn riêng. Một tấm bảng bằng gỗ với bóng đèn điện minh họa hệ thống đường đi đó, cái khiến cho người ta nhớ tới cấu trúc của mô người mà trong đó một con số lớn các mạch máu và dây thần kinh tiếp tế cho các bắp thịt. Mỗi một con đường riêng lẻ trong lúc đó tương đối ít có giá trị và có thể được thay thế, mỗi một phần tử chỉ có tầm quan trọng của nó như là một phần của tổng thể. Cũng như ở cơ quan của con người, chỉ một lần cắt ngang, một lần mổ đẫm máu mới có thể chia cắt được những con đường đó và qua đó là có thể làm ngưng dòng chảy. Những biện pháp tại từng điểm một quấy rối và gây đau, nhưng không thể ngăn chận cái mô đó làm tròn chức năng của nó. Một cái bảng trong bảo tàng đưa ra những con số sau đây cho con đường mòn Hồ Chí Minh: chiều dài của tất cả các con đường và đường mòn là 16.000 kilômét, 7 triệu mét vuông đất đã được dịch chuyển, 56.000 quả bom đã đánh trúng vào hệ thống đường đi này, và hai triệu người lính đã đi trên con đường này vào miền Nam.

Quân đội Bắc Việt đã tham chiến ngay từ tháng Chín 1964. Vũ khí và quân lính được lén lút mang vào miền Nam qua con đường mòn Hồ Chí Minh.
Quân đội Bắc Việt đã tham chiến ngay từ tháng Chín 1964. Vũ khí và quân lính được lén lút mang vào miền Nam qua con đường mòn Hồ Chí Minh.

Đường đi thật sự chỉ được xây dựng mãi trong nửa sau của những năm sáu mươi, khi đợt tấn công Tết Mậu Thân cần nhiều tiếp tế cho tới mức chỉ người vác hàng, xe đạp và ngựa không thôi thì không còn đủ nữa. Xe vận tải chỉ chở hàng hóa vào Nam. Quân đội hành quân với 30 kílô hành lý trên lưng; chỉ một phần nhỏ trong số đó là vật dụng cá nhân: gạo, muối và một cái võng cho những đêm tối đáng sợ trong rừng nhiệt đới nguyên thủy. Cứ ba người lính tạo thành một tổ mà thành viên của nó giúp đỡ và giám sát lẫn nhau. Thiếu kỷ luật, yếu đuối về tinh thần hay thể xác đều được chống lại bằng phê bình, và nếu cần thiết thì với những biện pháp hà khắc.

Những người lính Bắc Việt trẻ tuổi, phải đi xuyên qua một môi trường rừng rậm xa lạ và thù địch đối với họ, chỉ có thể chịu đựng được gánh nặng, vượt qua được nỗi sợ hãi, hoàn thành phần việc làm và đoạn đường hành quân được giao cho hàng ngày nhờ vào áp lực thật nặng nề, nhờ vào một sự quyết tâm đã tiến sát gần tới sự tàn bạo. Người lính nhìn thấy khỉ, cọp và voi. Muỗi chích và lan truyền bệnh sốt rét đi dưới quy mô thật đáng sợ. Viêm đường ruột là chuyện bình thường. Thường xuyên phải điều trị vết rắn cắn. Người lính nào cũng mang theo mình một ống thuốc tiêm với thuốc giải độc. Cả những con đỉa rơi xuống từ cành cây và bám chặt vào da để hút máu cũng góp phần vào trong việc biến cuộc sống trong rừng rậm thành một cuộc thử nghiệm sức chịu đựng của con người.

Khi người Mỹ bắt đầu ném bom với cường độ cao xuống con đường mòn Hồ Chí Minh năm 1964, giới lãnh đạo quân đội ở Hà Nội phản ứng lại với chỉ thị hành quân vào ban đêm và nghỉ ngơi vào ban ngày ở những vị trí đã được ngụy trang. Người ta phải cần một ít trí tưởng tượng, để hình dung ra được mệnh lệnh đó có ý nghĩa gì trong thực tế. Người ta yêu cầu những người lính đang vác nặng phải chập choạng đi xuyên qua rừng nguyên thủy với một nguồn ánh sáng tối thiểu, không thể nhận ra được những đặc điểm của mặt đất. Trong mùa mưa, mặt đất mềm và trơn trượt. Những người lính phải hoàn toàn tin tưởng đi theo người trước mình, lúc nào cũng phải giữ vận tốc của đoàn vì nếu mất liên lạc với người ở trước thì có nghĩa là mất định hướng hoàn toàn. Trước khi quân đội từ Hà Nội tới chiến trường thật sự ở Nam Việt Nam thì họ đã đi qua “địa ngục xanh” trong các tỉnh miền Đông của Lào.

Một nữ đại úy của quân đội Bắc Việt có tên là Phung Thi Vinh đã mô tả lại cho tôi những trải nghiệm của bà trên con đường mòn Hồ Chí Minh. Bà luôn nhắc tới sự nhiệt tình và tính sẵn sàng hy sinh của thế hệ trẻ thời đó, không e ngại bất cứ sự cực nhọc và hy sinh nào để tiến hành tiếp tế cho lực lượng chiến đấu ở miền Nam. Bắt đầu từ 1968, phụ nữ trẻ được sử dụng để lái xe tải. Bà lái trên một đoạn đường dài 70 kilômét ở đầu của con đường mòn qua đèo Mụ Giạ. Lúc mặt trời lặn, đoàn xe tải bắt đầu chạy với mỗi chiếc một cây đèn nhỏ ở dưới xe. Tại điểm đến và kiểm tra, bà giao chiếc xe tải chở đầy hàng đó lại và ngay tức khắc lái một chiếc xe khác quay trở lại, để có thể về tới căn cứ của bà vào lúc bình minh. Tổn thất đồng đội đã là một áp lực lớn cho bà. Nỗi lo sợ bị ném bom hiện diện ở khắp nơi.

Trên đường về, sàn xe tải đầy những người tàn phế và bị thương nặng, được chở về miền Bắc để phục hồi chức năng. Trên toàn bộ tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, đoàn khốn cùng của các nạn nhân từ cuộc chém giết ở miền Nam phải đi ngang qua những người lính còn chờ chiến trận ở trước họ và trong trí tưởng tượng của họ buộc phải nhìn thấy cái tương lai đó còn đang ở phía trước của họ. Đối với những người bị thương trên sàn xe tải thì đó phải là một trải nghiệm thật đáng kinh sợ, được chở đi trên 800 hay 1000 kilômét trong bóng tối trên những con đường đất đầy ổ gà làm chiếc xe lắc lư và gây đau ghê gớm cho những người vừa được mổ xong. Những người bị thương, theo như bà Phung nói, muốn có tài xế là nữ; phụ nữ lái xe cẩn thận hơn đàn ông rất nhiều.

Không quân Mỹ đã dùng toàn lực để làm gián đoạn dòng chảy tiếp tế của đối phương. Những vị trí trung tâm của mạng lưới đường đi này đã bị chất hóa học làm rụng lá, để phi công chiến đấu cơ có thể nhận ra các di chuyển trên mặt đất. Từ 1965 cho tới 1973, trên hai triệu tấn chất nổ đã được ném xuống con đường mòn Hồ Chí Minh, nhiều bom hơn là trong Đệ nhị Thế chiến đã được sử dụng để chống lại châu Âu và Nhật Bản cộng lại. Không quân tăng cường hoạt động lên 700 tới 800 phi vụ mỗi ngày. Chiến dịch “Steel Tiger” đã biến các tỉnh phía Đông của Lào trở thành một vùng thử nghiệm cho hiệu quả của không chiến hiện đại. Về số lượng, việc sử dụng phương tiện như vậy lẽ ra là phải đủ để đẩy tổn thất của đối phương lên cao cho tới mức Hà Nội phải từ bỏ không sử dụng con đường mòn Hồ Chí Minh nữa. Việc sử dụng máy bay ném bom B-52 một cách có hệ thống, những người lập kế hoạch ở Washington tin là vậy, sẽ ngăn chận cuộc tiếp tế từ miền Bắc.

Tromg mùa hè 1968, Không quân Hoa Kỳ đã cho phép một phóng viên của tạp chí Mỹ Time bay cùng trong một phi vụ chống đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào. Các chiếc máy bay ném bom khổng lồ đó mang mỗi chiếc 30 tấn bom. Một ít B-52 đóng ở Thái Lan. Đa số các chiếc máy bay bay tới Lào đều đến từ Guam, Okinawa và Đài Loan. Ở trên Philippines, chúng được máy bay KC-135, phiên bản quân sự của Boeing 707, tiếp tế nhiên liệu trên không. Ở một độ cao từ 10.000 tới 12.000 mét, từ mặt đất hầu như không nhìn thấy và không nghe được, chúng bay tới mục tiêu của chúng.

Các tổ lái thực hiện một phi vụ mang lại cái chết. Nhưng ở trên cao trong chiếc máy bay khổng lồ đó thì không cảm nhận được gì về bản chất nhiệm vụ của họ cả. Tất cả các thành viên của tổ lái đều cảm nhận họ là chuyên gia kỹ thuật, điều khiển các thiết bị hiện đại mà không trải qua tác động xuất phát từ công việc của họ. Các phi công giữ đúng chính xác đường bay cho trước. Thêm vào đó, khi viên hoa tiêu làm việc không phạm lỗi, thì rồi khu vực mục tiêu cũng được giới hạn hết sức chính xác ở độ cao 12.000 mét. Ngay cả khi máy bay bay trên mây hay bay về đêm, và tổ lái không thể dùng mắt thường để mường tượng ra được hình dạng của mục tiêu, thì viên hoa tiêu với thiết bị của ông cũng có khả năng cho bom rơi xuống chính xác trong một hình chữ nhật 1000 x 2000 mét.

Tổ lái có hoàn thành đúng nhiệm vụ của họ hay không, điều này thì họ được một “controller” trên không thông báo cho, người bay thấp ở tít phía dưới và đánh giá sơ bộ tác động của lần ném bom đó. “Bom trúng mục tiêu”, phóng viên tờ Time nghe “controller” báo qua vô tuyến. “Một chuyến bay tốt. Chúc bay trở về êm đẹp. Hẹn lần sau.”

Đường mòn Hồ Chí Minh
Đường mòn Hồ Chí Minh

Thuộc vào bản chất của chiến tranh hiện đại là các tổ điều khiển những loại vũ khí giết người hàng loạt đó đều ở cách xa nơi bị tác động và hoàn toàn không cảm nhận được họ đã tạo ra một địa ngục nào. Các đội lái B-52 biết trọng tải bom của họ. Một “tấm thảm” như vậy gây ra thiệt hại nào trên mặt đất, nó để cho mặt đất trong phạm vi 30 kilômét rung chuyển như thế nào, điều đó thì họ chưa từng trải qua. Tổ lái bay trở về căn cứ mà không nhìn thấy mục tiêu, đối thủ, nạn nhân. Ngay cả người dân Sài Gòn, hầu như không bị chiến tranh quấy nhiễu, cũng vẫn còn có một mường tượng mơ hồ về tác động dữ dội của những chiếc B-52 mà từ 1966 đã thường xuyên ném bom khu “Tam giác Sắt”, một vùng Việt Cộng nằm 30 kilômét về phía bắc. Khi những quả bom rơi xuống tới, mặt đất trong thành phố bắt đầu rung chuyển. Ly cốc kêu lách cách, một âm thanh ầm ầm làm đầy không khí, giống như có một đoàn xe lửa cao tốc đang chạy ngang qua.

Ai trải qua tác động của những quả bom B-52 nổ ở cự ly gần, người đó cả đời mình sẽ gắn kết trải nghiệm này với cảm giác đã nhìn thấy một phần của lần tận thế, lần thế giới chìm đắm. Không có thông báo trước, không có cảnh báo trước, đúng theo nghĩa đen từ trên trời rơi xuống, mặt đất rung chuyển và bị lung lay cho tới mức nó làm cho con người có cảm giác như đang rơi vào trong một sự hỗn loạn khủng khiếp. Tiếng ồn kinh khủng đó gây ra một sự hoảng loạn, cái khiến cho lý trí không còn có hiệu lực nữa, và chỉ để cho bản năng hoạt động. Trong cái “box”, như các đội bay của B-52 gọi mục tiêu của họ, sự hủy diệt là toàn thể.

Nhưng những lần B-52 ném bom cũng có tác động lâu dài lên những người ở trong vùng lân cận, tuy là lành lặn về thể xác nhưng dứng dưới cú sốc của một trải nghiệm có ảnh hưởng tới lý trí ít hơn là tới tiềm thức rất nhiều.

Cuối cùng, quân đội của Hà Nội cũng đã chống lại được với cuộc chiến tranh ném bom dữ dội này. Trên con đường mòn Hồ Chí Minh, “yếu tố tinh thần” cuối cùng cũng quyết định cuộc chiến. Cuộc ném bom dữ dội nhất mà lịch sử thế giới trải qua cho tới lúc đó đã không thể bẻ gãy được ý chí chiến đấu của quân đội Bắc Việt và của người dân.

Cuộc chiến thường được nhìn quá nhiều từ vị trí của các tướng lĩnh và lãnh đạo chính trị, những người ở trong các trung tâm chỉ huy và văn phòng quốc gia xa xôi của họ, ở những nơi mà họ hoàn toàn không biết và không thể hiểu thấu được hiện thực của tình huống mà quân đội chiến đấu trải qua. Thuộc vào trong số những nhà chiến lược bàn giấy này cũng là thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng, người mà thời đó đã giải thích cho một viên khách nước ngoài: “Toàn bộ lịch sử của chúng tôi chỉ bao gồm chiến tranh. Kết quả của 2000 năm đau khổ là việc dân tộc chúng tôi có một hệ thống thần kinh rất ổn định. Chúng tôi không biết tới sự hoảng loạn.”

Đối với lực lượng trên con đường mòn Hồ Chí Minh thì 2000 năm lịch sử không phải là niềm an ủi và sự giúp đỡ. Hẳn đã phải có một con số lớn những vụ suy sụp tinh thần. Một sự hoảng loạn tổng thể chỉ có thể tránh khỏi qua kỷ luật tàn bạo, qua tổ chức vi mô trong những tổ ba người, qua tuyên truyền và tổng động viên những sức lực dự trữ cuối cùng.

Ở Mỹ, giới truyền thông ngày một hỏi thúc bách hơn, tại sao quân đội không chận được dòng tiếp tế và qua đó làm suy yếu một cách quyết định đối thủ ở Nam Việt Nam. Các lý do chính trị đã ngăn cản không cho Lầu Năm Góc thông tin cho công chúng, rằng chính mục tiêu đó đã được theo đuổi với chi phí nào và cường độ chưa từng có nào. Một nhóm chuyên gia đặc trách, cái được gọi là “Jason Group”, đã được thành lập, nhóm mà tương tự như ở dự án nguyên tử “Manhattan” trong Đệ nhị Thế chiến có quyền sử dụng tất cả nguồn lực của Mỹ để chận đứng con đường mòn Hồ Chí Minh. Thiết bị cảm biến điện tử, ghi nhận các di chuyển của quân đội và báo về trung tâm, đã được ném với số lượng thật lớn xuống vùng đất này. Bất cứ một phương tiện phá hoại nào được nghĩ ra, thuốc độc và thuốc nổ dưới nhiều hình thức, cũng đều được sử dụng, để ngăn chận không cho quân đội Hà Nội đi trên con đường mòn ở Lào này vào tới Nam Việt Nam. Họ đã không đạt được mục tiêu của họ, dù tổn thất của Bắc Việt có cao tới đâu đi chăng nữa,

Trong số một ngàn xe tải, ngày nay người ta ước lượng như vậy, có ít hơn sáu trăm chiếc là có thể mang hàng hóa của chúng tới nơi. Không một quân đội nào có thể chịu đựng được tổn thất gần năm mươi phần trăm trong một thời gian dài, theo như một quy tắc quân sự, mà không bị thiệt hại về tinh thần chiến đấu và qua đó là hiệu quả. Trận đánh vì con đường mòn Hồ Chí Minh đã đặt ra những thước đo mới. Quân đội Bắc Việt đã tiến gần tới hoảng sợ và hỗn loạn; mặc dù vậy họ đã tránh được sự sụp đổ. Cũng như trong Đệ nhị Thế chiến và trong chiến tranh Triều Tiên, trận đánh ở Lào cũng chứng minh rằng chỉ một mình không quân thôi thì không thể dẫn tới một quyết định ngã ngũ được.

Vì chính giới chỉ huy quân đội cũng không tin chắc vào hiệu lực của cuộc chiến tranh ném bom nên họ đã bắt đầu những chiến dịch bí mật trên mặt đất, do các đơn vị của “Special Forces” tiến hành. Trong các tỉnh Lào có biên giới với Việt Nam và trên Cánh Đồng Chum, chuyên gia du kích Mỹ tuyển mộ từ những bộ tộc ở trên núi, trước hết là từ người Mèo để thành lập một nhóm chiến binh cố gắng làm mất an ninh trên các tuyến đường tiếp tế của Hà Nội. Trong cuộc chiến tranh bí mật này, người Mèo đã làm những việc phi thường. Trong đó, nhóm người Mèo do tướng Vang Pao tài ba và nhiều bản năng lãnh đạo đã phải trả một giá cao bằng máu. Người dân của những ngôi làng trên núi chẳng bao lâu sau đó chỉ còn bao gồm đàn bà, trẻ con và người già. Đổi lại, Special Forces của người Mỹ phải cho phép các bộ tộc mở rộng sản xuất thuốc phiện và qua đó cải thiện cơ cở vật chất của họ. Đối với Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, thắng lợi và mất mát vào lúc cuối hẳn là đã ngang bằng cán cân.

Cuộc chiến trên vùng núi của Lào cũng bí mật như việc vận chuyển trong kinh doanh ma túy. Chính thức thì người Mỹ và người Bắc Việt tôn trọng nền trung lập của Lào. Không ai phản đối các chiến dịch của đối phương, vì qua đó thì sự hiện diện của quân đội chính mình ở Lào sẽ bị phơi bày ra.

Chiến dịch “Lam Sơn 719”

Năm 1968, tướng Westmoreland tin rằng những chiến dịch “bí mật”, được che đậy, không còn đủ để làm gián đoạn con đường mòn Hồ Chí Minh nữa. Vì vậy mà ông xin chính phủ Washington cho phép tấn công qua Lào, với sáu sư đoàn được chia thành hai quân đoàn, để chiếm và ngăn chận con đường mòn Hồ Chí Minh. Chiến dịch trên mặt đất dự định đi theo đường 9, dẫn từ thành phố Việt Nam Đông Hà ở phía nam của vĩ tuyến 17 qua pháo đài Khe Sanh trên núi tới huyện lỵ Tchepone của Lào. Tchepone, điều này thì đã được máy bay trinh sát chứng minh rõ, là một giao điểm và điểm đóng quân bậc nhất. Westmoreland cho rằng cần thiết phải tập trung sáu sư đoàn, vì Bắc Việt sẽ bảo vệ rất chặt phần hẳn là quan trọng nhất của con đường mòn Hồ Chí Minh. Tuy vậy, với hai quân đoàn cùng với sự hỗ trợ của không quân, Westmoreland tin rằng có thể hoàn thành được nhiệm vụ đặt ra và ngăn chận được dòng tiếp tế của đối phương.

Lam Sơn 719: Quân lính VNCH chờ trực thăng chở ra mặt trận.
Lam Sơn 719: Quân lính VNCH chờ trực thăng chở ra mặt trận.

Mặc dù đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đã xem xét tính khả thi chính trị của chiến lược quân sự này và ủng hộ kế hoạch tiến quân vào nước Lào, tổng tống Lyndon B. Johnson không muốn chuẩn y dự định của các tướng lãnh. Johnson không muốn chịu trách nhiệm cho việc xâm phạm nền trung lập của Lào một cách công khai và trên quy mô lớn. Các kế hoạch xâm lấn tạm thời được xếp vào hồ sơ.

Ba năm sau đó, 1971, tình hình đã thay đổi cho tới mức dự án lại được đưa vào chương trình nghị sự ở Washington. Tổng thống Richard Nixon và ủy viên an ninh Henry Kissinger của ông, người đã phân tích đặc biệt nhiều về tình tiết này trong các hồi ức của mình, cố gắng bảo đảm việc rút quân lính Mỹ bằng những biện pháp phòng trước. Một cuộc tấn công chống con đường mòn tiếp tế của Hà Nội, bây giờ các tướng lãnh ở Sài Gòn hy vọng như vậy, có thể sẽ làm suy yếu khả năng tấn công của người Bắc Việt cho tới mức nhà nước ở miền Nam có thêm được một thời gian hai năm để lấy sức. Sếp của Hội đồng Tham mưu trưởng, bảo đảm với tổng thống, “rằng đã lo liệu cho mọi việc”. Bộ binh Mỹ chỉ đi cùng tới Khe Sanh, tới biên giới Lào. Quân đội Nam Việt Nam sẽ đẩy cái nêm cho tới Tchepone, được che chở và hỗ trợ bởi Không quân Mỹ.

Những người chống lại chiến dịch này ở trong Bộ Ngoại giao Mỹ cố gắng tác động lên thủ tướng Lào để ông phản đối trước. Thế nhưng Souvanna Phouma khước từ, không phản đối kế hoạch của giới quân đội. Ông đồng ý với hoạt động này, ông báo cho Washington biết, nếu như chiến dịch không kéo dài quá ba tuần.

Vào ngày 18 tháng Giêng 1971, Hội đồng An ninh Quốc gia ở Washington quyết định tiến quân vào Lào.  Vào ngày 8 tháng Hai, 17.000 người lính Nam Việt có nhiệm vụ vượt biên giới và tiến quân cho tới Tchepone cách đó 35 kilômét. Đơn vị Mỹ với lực lượng khoảng 10.000 người sẽ hỗ trợ pháo binh và tiến hành các phi vụ máy bay trực thăng.

Dường như không ai nhắc cho Richard Nixon rằng tướng Westmoreland, khi ông lập kế hoạch cho một chiến dịch như vậy trước đó ba năm, đã cho rằng phải cần hơn gấp đôi con số quân lính như vậy. Thêm vào đó, không ai ở Washington biết rằng người tổng thống Nam Việt Nam, người mà suy nghĩ chiến lược của ông bám rễ sâu vào trong truyền thống châu Á, đã chỉ thị cho các viên chỉ huy của ông ngưng chiến dịch nếu như các đơn vị bị tổn thất quá 3000 người. Mục tiêu quan trọng nhất của một viên tư lệnh Á châu là bảo toàn nền tảng quyền lực, sự tồn tại thực thể của quân đội mình. Khôn ngoan là việc không đạt tới mục tiêu và giữ lại quân đội của mình, hơn là hoàn thành thành công một nhiệm vụ và qua đó mất đi phần tốt nhất của quân đội.

Tổng Tư lệnh Tưởng Giới Thạch trong Đệ nhị Thế chiến đã đẩy cố vấn người Mỹ của ông, tướng Joseph Stilwell có tài cũng như nóng tính, đi tới chỗ tuyệt vọng với chiến thuật này. Viên tướng tinh khôn Nguyễn Văn Thiệu, biết những quyển sách kinh điển về quân sự ở châu Á của ông, đã đưa ra chỉ thị giống như vậy cho chiến dịch “Lam Sơn 719”, được đặt tên theo địa danh một trận đánh thắng lợi của Việt Nam chống một đạo quân từ Trung Quốc: Bảo tồn các đơn vị tinh nhuệ của ông có ưu tiên cao hơn việc hoàn thành nhiệm vụ.

Henry Kissinger trong hồi ức của ông đã gọi chiến dịch này “được phác thảo với sự nghi ngại, có hoài nghi tháp tùng và được tiến hành trong sự lộn xộn”. Bộ tham mưu của ông đã góp phần đáng kể vào trong sự hỗn loạn mà cuộc xâm chiến chấm dứt ở trong đó. Hội đồng An ninh Quốc gia đã đánh giá quá thấp lực lượng phòng thủ của đối phương; và đặc biệt là ông đã chọn đúng địa điểm đó ở trên con đường mòn Hồ Chí Minh, địa điểm mà Hà Nội từ nhiều năm nay đã xác định là vùng có tiềm năng bị xâm chiếm và đã củng cố tương ứng. “Lam Sơn 719” không mang tính bất ngờ. Bắc Việt Nam đã chuẩn bị tối ưu cho một sự việc đã có thể nhìn thấy rõ trước.

Từ pháo đài núi Khe Sanh, các đơn vị Nam Việt Nam vượt biên giới sang Lào vào ngày 8 tháng Hai trong thời tiết lạnh có mưa và mây thấp, di chuyển trong một vùng đồi núi có rừng rậm bao phủ và Việt Cộng đã cẩn thận đặt mìn trên tất cả các con lộ và đường mòn. Mũi nhọn của cái nêm chỉ có thể tiến chậm chạp lên phía trước. Một con số lớn của những ổ phục kích được ngụy trang và các khó khăn của địa hình đã tác động khiến cho chiến dịch diễn tiến chậm nhiều hơn là các nhà lập kế hoạch ở Sài Gòn và Washington dự tính. Mãi sau bốn tuần cực nhọc làm sạch địa hình và thỉnh thoảng chạm trán nhỏ với các đơn vị đối phương, những người lính đầu tiên của Nam Việt Nam mới đến được huyện lỵ Tchepone.

Mãi tới lúc đó, các tướng lĩnh Hà Nội mới dẫn quân đội quen thuộc với địa hình của họ chuyển sang thế phản công. Một cái bẫy sập xuống. 17.000 người lính Nam Việt Nam nhìn thấy mình đối diện với một lực lượng đông hơn từ ba tới bốn lần của đối phương, kẻ quyết tâm không chỉ bảo vệ con đường mòn mà còn muốn bao vây và tiêu diệt đạo quân xâm nhập. Toàn bộ đoạn đường từ Khe Sanh cho tới Tchepone bất thình lình biến thành một địa ngục mà trong đó dường như có lửa từ trên trời rơi xuống, lộn xộn và hoảng loạn bùng phát, và các viên chỉ huy Nam Việt Nam mất tầm nhìn tổng quát và sự kiểm soát.

Đoàn máy bay trực thăng của Nam Việt Nam và của Mỹ bay đến để trợ giúp đã rơi vào trong một hàng rào hỏa lực bắn chặn chưa từng bao giờ được nhìn thấy trước đó trong cuộc chiến này. Các phi đội trực thăng – đúng theo nghĩa đen – đã bay trực diện vào trong một biển lửa mà trong đó các máy bay đã bị bắn rơi hàng loạt. Và mặc dù vậy, các tổ lái hết lần này đến lần khác vẫn buộc phải bay vào trong vòng vây, để lấy thương binh và di tản những người lính ra khỏi các vị trí không còn có thể giữ vững được nữa.

Mục tiêu đã hoàn toàn biến mất ra khỏi tầm nhìn. Chỉ còn những nhà lập kế hoạch trong các công sự an toàn ở hậu phương hay ở cạnh bàn hội nghị tại Washington là còn nói tới con đường mòn Hồ Chí Minh. Trong địa ngục màu xanh của Tchepone, gần như tất cả mọi người chỉ còn nghĩ tới sự sống còn. Quân đội Nam Việt Nam đã vượt quá giới hạn tổn thất từ lâu, cái mà người tổng thống đã đưa ra. Quân lính chạy trốn về biên giới. Không một sĩ quan nào có thể động viên họ tiếp tục trận đánh đã tuyệt vọng đó nữa. Hãy tự cứu lấy chính mình, đó là điều răn của lúc này.

Lam Sơn 719: Đoàn xe của Lữ đoàn 1 Thiết giáp trên QL 9 tiến đến Căn cứ Alpha
Lam Sơn 719: Đoàn xe của Lữ đoàn 1 Thiết giáp trên QL 9 tiến đến Căn cứ Alpha

Một vài thông tín viên đã mạo hiểm bay về hướng Tchepone, để qua chụp ảnh hay quay phim mà hình dung được sự hỗn loạn trên con đường số 9. Thêm vào đó, từ những lý do về chính trị mà Không quân Mỹ từ chối không chở các phóng viên bay qua lãnh thổ trung lập của nước khác. Luật quốc tế có giá trị đối với báo chí, những đạo luật mà giới quân đội trong một tình trạng khẩn cấp đã tự vô hiệu hóa chúng cho họ. Lý do này hẳn chỉ là viện cớ. Thật sự thì quân đội cho rằng rủi ro đi liền với việc này là quá cao.

Thuộc trong số nhóm nhỏ các phóng viên ảnh quyết tâm cho tới cùng là người Anh Larry Burrows, từ nhiều năm nay thuộc trong số các ngôi sao nhiếp ảnh gia của tờ báo ảnh Life. Larry Burrow đã có mặt tại nhiều trận đánh ở Nam Việt Nam. Trong lần bao vây pháo đài Khe Sanh trên núi năm 1968, ông đã chụp được nhiều bức ảnh đầy tính bi kịch, làm rung động về cuộc chiến đấu và về cái chết của những người lính cổ da ở chiến tuyến đầu. May mắn bao giờ cũng ở bên cạnh ông. Vào ngày 6 tháng Hai 1971, hai ngày trước cuộc hành quân sang Lào, Burrow tại một vị trí tiền đồn đã bị một trận mưa bom của Không quân Nam Việt Nam. Ông cũng lành lặn qua được cả lần rủi ro này và trong lúc nguy hiểm nhất đã chụp được những bức ảnh chuyển tải hiện thực của cuộc chiến: về sức mạnh của những quả bom nổ và sự sợ hãi bản năng của những người lính.

Larry Burrows, một người đàn ông 41 tuổi, điềm tỉnh, hoàn toàn không kiêu ngạo, hay tự mỉa mai, người mà chiếc kính mắt to có gọng sừng mang lại cho một nét nghiêm trang hàn lâm, người mà thế nào đi nữa cũng ít có điểm chung với các nhiếp ảnh gia hút cần sa của thế hệ trẻ, được Life gọi một cách xứng đáng là “nhiếp ảnh gia chiến tranh can đảm nhất và nhiệt tình nhất” ở Việt Nam. Trong số những người cầm máy thì chỉ có thể đặt người Úc Neil Davis ngang hàng với ông.

Vào ngày 19 tháng Hai, hai ngày sau khi cuộc thâm nhập bắt đầu, cuối cùng thì Larry Burrows cũng tìm được một viên tướng Nam Việt Nam cho phép ông bay cùng trong một phi đội gồm năm chiếc trực thăng do chính viên tướng này dẫn đầu. Hai chiếc máy bay trực thăng đã không trở về từ phi vụ này. Phòng không Bắc Việt Nam đã bắn cháy và khiến cho chúng rơi xuống. Sau chín năm làm việc xuất sắc ở Việt Nam, Larry Burrows đã tìm thấy cái chết trên con đường mòn Hồ Chí Minh.

Tin tức về việc chiếc trực thăng báo chí bị bắn rơi đã làm xấu thêm bầu không khí trước sau gì thì cũng đã không thuận lợi ở các phóng viên chiến trường. Các nhà báo hoạt động ở hậu phương Nam Việt Nam chuyển tải cho giới công chúng thế giới ngày một rõ hơn ấn tượng, rằng một chiến dịch quân sự lớn đã được bắt đầu ở đây, cái phải chấm dứt với một chiến bại, cái sẽ không mang lại cho Nam Việt Nam một thời gian để dưỡng sức như những nhà lập kế hoạch trong Hội đồng An ninh Quốc gia hy vọng, mà chứng minh dứt khoát rằng cái được gọi là “Việt Nam hóa” chiến tranh, công cuộc xây dựng một quân đội mạnh, có kỷ luật chuyên nghiệp của Nam Việt Nam, có thể tự sức mình mà cầm cự được với đối thủ từ miền Bắc, đã thất bại không thể chối cãi.

Khi tiền quân Nam Việt Nam bị tiêu diệt trước Tchepone và lực lượng vượt trội của Hà Nội để cho chiến dịch “Lam Sơn 719” trở thành một cuộc rút quân mất trật tự, giống như bỏ chạy, thì thực tế là đã có những cảnh tượng có thể được đánh giá như là bằng chứng cho sự thất bại của Việt Nam hóa. Hỗn loạn ở khắp mọi nơi. Không quân Mỹ bay tấn công cho tới ranh giới của sự kiệt sức mà không thể làm giảm thiểu được các hoạt động của Bắc Việt. Hỏa lực trên con đường mòn Hồ Chí Minh dữ dội cho tới mức con số tổn thất lớn của những chiếc trực thăng đã làm lay động tinh thần chiến đấu của quân đội. 176 người Mỹ đã hy sinh ở Lào, 1042 người bị thương. Các phi đội trực thăng Mỹ chưa từng bao giờ phải chịu những tổn thất như vậy trước đó. Vì chỉ lực lượng bay mới bị ảnh hưởng. Tổn thất trên mặt đất là do quân đội Nam Việt Nam gánh chịu.

LamSơn 719
LamSơn 719

Truyền thông Mỹ đổ lỗi thất bạị ở Lào về cho tổng thống Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Thiệu, và các viên tướng của ông. Hầu như không ai làm sáng tỏ thẩm quyền của Hội đồng An ninh Quốc gia ở Washington; không ai nhắc tới việc là quân đội trên mặt đất của Mỹ thật ra chỉ dám thực hiện cuộc tiến quân sang Lào khi có sáu sư đoàn chớ không chỉ với hai sư đoàn mà tổng thống Thiệu, được Mỹ hỗ trợ và cố vấn, đã bắt đầu chiến dịch với họ. Quân đội Nam Việt Nam rõ ràng là đã thất bại. Họ đã bị đánh bại, họ đã hoảng loạn bỏ chạy khỏi Lào mà không thể phá hủy và chận được con đường mòn Hồ Chí Minh.

Những chiếc trực thăng lành lặn trở về từ Lào nhét đầy người bị thương và những người lính mà trong cơn hoảng loạn đã giành được một chỗ trong máy bay. Loại “Bell Huey”, mà quân đội Mỹ vẫn còn sử dụng cho tới ngày nay, thông thường chở chín người cộng phi đội. Người Việt nhẹ cân hơn và mảnh khảnh hơn rất nhiều đã tăng tải trọng lên hai mươi người và hơn thế. Những chiếc trực thăng trở về từ Lào đã chở nặng gần tới mức không thể bay được. Ai không tìm được chỗ trong cabin thì mạo hiểm một chuyến bay trên càng hạ cánh. Trong lúc đó, nhiều người lính đã rơi xuống. Nhưng cũng có không ít người đã chịu đựng được áp lực cực kỳ nặng đó, và đã ngồi trên càng máy bay mà sống sót đi ra khỏi được địa ngục.

Những chiếc trực thăng quá tải với những người lính không còn súng ống trên càng máy bay, khiến cho các phi công phải hết sức cẩn thận trong lúc đáp xuống, đã trở thành một hình ảnh tượng trưng cho một chiến dịch quân sự lớn buộc phải chấm dứt với một cuộc rút lui mất trật tự. Khắp thế giói, truyền hình với cảnh tượng đó đã có thể thuyết phục khán giả, rằng quân đội Nam Việt Nam đã không vượt qua được lần thử thách. Đặc biệt giới truyền thông Mỹ đã đổ hàng đống sự nhạo báng lên quân đội Sài Gòn. Dưới cùng những điều kiện thì quân đội Mỹ cũng không thể làm được gì tốt hơn nhiều. Mặc dù vậy, dấu ấn của sự bất tài, sự hèn hạ bây giờ đã bám vĩnh viễn lên quân đội Sài Gòn. Ít nhất thì giới truyền thông đã rõ, rằng Nam Việt Nam không thể tự lực để khẳng định mình trước miền Bắc. Cuộc phong tỏa đường mòn Hồ Chí Minh đã thất bại, không còn có thể thắng cuộc chiến chống Bắc Việt được nữa.

Cả trong Hội đồng An ninh quốc gia ở Washington, người ta cũng nhận ra sự nghiêm trọng của thất bại. “Người Nam Việt đã chiến đấu dũng cảm hơn là cho tới nay”, tiến sĩ Kissinger đã viết trong hồi ký của ông. Nhưng sức mạnh tấn công của Hà Nội đã không bị làm giảm đi qua chiến dịch “Lam Sơn 719”.

Tuy vậy, Nixon và Thiệu vẫn cố gắng nói dối công chúng. Vào ngày 7 tháng Tư 1971, tổng thống Richard Nixon quả quyết trong một bài diễn văn trên truyền hình gửi toàn quốc, rằng đã đạt được một chiến thắng to lớn: “Tối hôm nay tôi có thể tường trình, rằng Việt Nam hóa đã thành công.” Tổng thống Thiệu tổ chức một buổi duyệt binh mừng chiến thắng ở Sài Gòn. 13.000 người lính Bắc Việt, con số tuyên truyền là như vậy, đã bị giết chết trong chiến dịch.

Henry Kissinger trang trí cho lần phân tích cuộc xâm nhập qua Lào bằng một hồi tưởng tới Konrad Adenauer. Năm 1962, ông, Kissinger, nhận nhiệm vụ từ Kennedy, đã thông báo cho người thủ tướng Đức “khó chịu” Konrad Adenauer về một vài kế hoạch chiến lược của quân đội Mỹ. Sau một bài diễn văn dài, Adenauer hỏi người giáo sư Harvard, từ đâu mà ông biết rằng những lý thuyết này là đúng. Kissinger khẳng định rằng một viên tướng đã đưa thông tin cho ông. Tiếp theo đó, Adenauer hỏi rằng viên tướng này có mặc quân phục hay không.  “Khi tôi nói là tôi không nhớ rõ thì ông nói rằng tôi nên yêu cầu viên tướng đó lập lại bài thuyết trình của ông ấy trong thường phục; khi ông ấy vẫn còn gây ấn tượng cho tôi thì tôi hãy cho ông biết.”

Vì vậy mà con người dân sự từ Rhöndorf [ý nói cố thủ tướng Đức Konrad Adenauer] vẫn còn có chỗ đứng của mình trong lịch sử chiến tranh của Đông Dương. Sự ngờ vực của Adenauer đối với giới quân đội, nỗi lo ngại của ông, bị lóa mắt bởi ánh hào nhoáng của những bộ quân phục, lẽ ra đã có thể giúp để tránh được nhiều chiến bại và chấm dứt cuộc chiến ở Đông Dương bằng phương tiện chính trị.

Ở Lào, lẽ ra người ta đã tưởng thưởng cho sự khéo léo trong chính trị, thậm chí còn cho sự xảo quyệt và mưu mô. Tất nhiên, chính trị cũng không thể làm thay đổi được số phận. Các con đường đi đã được định trước. Thảm họa bắt đầu tiến trình của nó.

Hậu phương của Hà Nội

Cho tới ngày hôm nay, Lào vẫn còn bị người ngoài quyết định. Đất nước có dân cư thưa thớt với chưa tới ba triệu người bị gắn chặt với Việt Nam qua cuộc Chiến tranh Đông Dương. Tự lực mình thì người Lào không đủ khả năng bảo vệ lãnh thổ của họ và ngăn chận cuộc hành quân của quân đội Bắc Việt trên con đường mòn Hồ Chí Minh.

Chiến bại của Mỹ đã được quyết định ở các tỉnh phía đông của Lào. Yếu tố quân sự quan trọng nhất quyết định cuộc chiến là công cuộc tiếp tế chưa từng bao giờ bị gián đoạn từ miền Bắc Việt Nam cho Việt Cộng, cái phải được chuyên chở qua lãnh thổ của Lào. Hà Nội đã biến Lào trở thành hậu phương theo nghĩa quân sự của họ, đã lấy đi mọi chức năng ra khỏi biên giới đất nước, đã đóng một lực lượng đáng kể quân đội của mình trên vùng đất của nước láng giềng và qua đó đã có được ảnh hưởng chính trị mà người Lào yếu ớt phải tuân theo.

Một cuộc họp của Ủy ban Trung ương Mặt trận Yêu nước Lào dưới sự chủ trì của Hoàng tử Souphanouvong
Một cuộc họp của Ủy ban Trung ương Mặt trận Yêu nước Lào dưới sự chủ trì của Hoàng tử Souphanouvong

Người Lào chỉ tham gia ở rìa của cuộc chiến trên lãnh thổ của họ. Hàng năm, Pathet Lào tiến hành vài trận đánh với quân đội hoàng gia trung lập trong mùa khô, những trận đánh mà bây giờ nhìn lại, theo góc nhìn lịch sử, thì người ta phải chứng nhận cho chúng tính trình diễn. Thật sự chiến đấu ở Lào là quân đội Bắc Việt Nam và các bộ tộc ở trên núi do Mỹ cung cấp tiền và vũ khí, trước hết là người Mèo. Người Lào, một nhà quan sát người Mỹ đã chế diễu như vậy, “khác với các quốc gia được cho là văn minh, chưa từng bao giờ thật sự học cách giết nhau”. Họ đã trả giá cho sự bình thản của họ, tính hiền lành và niềm tôn sùng định mệnh của họ bằng một quyền tự chủ bị giới hạn và một sự phụ thuộc đau đớn vào Hà Nội. Những cố gắng yếu ớt chống lại áp lực của Việt Nam đều thất bại một cách vô vọng.

Khi Mỹ ký kết một hiệp định ngừng bắn với Hà Nội ở Paris trong tháng Giêng 1973 và rút những lực lượng cuối cùng ra khỏi Đông Dương, thủ tướng Lào Souvanna Phouma bất thình lình nhận ra rằng chỉ có một bên rời bỏ chiến trường, nhưng Bắc Việt Nam thì sẽ ở lại. Đứng trước mối nguy hiểm, Souvanna Phouma đã thố lộ nỗi lo lắng của mình một cách dữ dội, đối với người Lào là thái quá, khi Henry Kissinger, thời gian này đã thăng tiến trở thành Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ, dừng chân ở Vientiane trên đường tới Hà Nội.

Lời kêu cứu là một phần của lời chúc mừng lúc nâng cốc mà người thủ tướng Lào đã đưa ra cho những vị khách Mỹ của ông trong một bữa ăn tối tại nhà riêng của ông. Liên kết với một “toast” là điều lạ lùng. Dịp yến tiệc vui vẻ bề ngoài này không thể làm giảm được sự căng thẳng ở bên trong. “Sự sống còn của Lào phụ thuộc vào các ông”, Souvanna Phouma nói, hướng tới Kissinger, “chúng tôi yêu cầu láng giềng của chúng tôi hãy để cho chúng tôi sống trong yên bình trên mảnh đất này, mảnh đất còn lại từ vương quốc đáng kính của chúng tôi… Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ không thể mong muốn rằng các cố gắng của họ sẽ chấm dứt với sự thống trị của Bắc Việt Nam ở Đông Dương. Đó là nỗ lực của Hồ Chí Minh, người muốn bước ra thay thế người Pháp trở thành người thống trị Đông Dương. Vì vậy mà chúng tôi phải tin tưởng rằng những người bạn lớn của chúng tôi, người Mỹ, sẽ giúp chúng tôi sống còn.”

Lịch sử Đông Dương cô đọng trong vài câu nói ít ỏi này. Chúng cũng chứa đựng cốt lõi của cái triết lý chính trị quyết định mọi hành động của giới lãnh tụ ở Hà Nội. Chúng phác họa quan hệ đặc biệt, liên kết Lào và Campuchia với Việt Nam, cộng đồng bị cưỡng bức cùng chung số phận đó, cái đã mang lại cho con người trong ba đất nước nhiều bất hạnh và không có lợi lộc nào.

Đối với các lãnh tụ ở Hà Nội thì điều đó là hoàn toàn tất nhiên, tự cảm nhận mình như là người thừa kế của chính quyền thực dân Pháp, tin rằng mình sở hữu một yêu cầu mang tính lịch sử, thi hành cùng một quyền tối cao trên toàn Đông Dương như “Gouverneur Général” đã từng thi hành cho tới năm 1954. Cũng như hầu hết những lãnh tụ của các dân tộc được trao trả độc lập, Hồ Chí Minh và những người đồng hành với ông cũng tiếp nhận khuôn mẫu suy nghĩ của các ông chủ da trắng. Pháp đã tiến hành kiểm soát các vùng đất bảo hộ Lào và Campuchia từ Hà Nội. Nhậm chức trong dinh thự của toàn quyền sau 1954 là Hồ Chí Minh và thủ tướng Phạm Văn đồng, những người trong nghi lễ quốc gia của họ đã thể hiện rõ rằng họ muốn thừa hưởng di sản không suy suyển của nước Pháp.

Kaysone Phomvihan và Hồ Chí Minh
Kaysone Phomvihan và Hồ Chí Minh

Sứ mệnh khai hóa của Pháp đã không thật sự gây hại cho tính độc lập về văn hóa của ba dân tộc châu Á này. Các nhà khảo cổ Pháp thậm chí còn tham gia đáng kể vào trong việc bảo tồn các di tích lịch sử. Qua đó, họ đã làm tăng thêm lòng tự tin của các quốc gia đó, và khởi đầu một sự phục sinh về văn hóa. Việt Nam sẽ không tiếp tục vai trò này. Hà Nội quan tâm tới các lợi ích chiến lược và vật chất. Nhưng Việt Nam đồng thời cũng là một quyền lực văn hóa bành trướng mà trong quá khứ đã Việt Nam hóa và hấp thụ nhiều dân tộc và nền văn minh khác. Việt Nam trong vai trò của Pháp đối với Lào và Campuchia có nghĩa là một mối nguy hiểm cho bản sắc văn hóa, một sự đe dọa cho sự tồn tại của quốc gia họ.

Souvanna Phouma đã nhìn thấy rõ nguy hiểm này cũng như hoàng tử Sihanouk của Campuchia. Giới tinh hoa chính trị ở Lào không bao giờ quên rằng Việt Nam đã từng cố gắng Việt Nam hóa nhiều phần của Lào một lần, năm 1832. Vùng Cánh đồng Chum, tỉnh Xieng Khouang, ít nhất về địa lý là trái tim của đất nước, đã rơi vào tay Việt Nam năm 1832, vào vương quốc An Nam được cai trị từ Huế. Một sử gia mô tả nền thống trị của Việt Nam ở Xieng Khouang là “cứng rắn cho tới cực đoan”. Người dân còn bị bắt buộc phải mặc quần áo Việt Nam. Cuối cùng, người dân nổi dậy làm loạn và giết chết viên thống đốc người Việt.

Triều đình Việt Nam đã có thể trấn áp lần nổi dậy đó. Tuy vậy áp lực của Việt Nam đã giảm đi nhanh chóng sau đó, vì triều đình phải chống cự lại với sự can thiệp quân sự của Pháp. Lực bành trướng của Việt Nam đã tê liệt gần 80 năm. Lần nước Pháp chiếm hai đất nước này làm thuộc địa đã mang lại cho người Khmer cũng như người Lào một thời gian nghỉ ngơi. Tuy vậy, sau khi Hà Nội chiến thắng Pháp và Mỹ, Việt Nam lại nhìn thấy một cơ hội để đẩy mạnh sự thâm nhập vào Lào và Campuchia, và Việt Nam hóa từng bước toàn Đông Dương.

Điều đó giải thích tại sao Souvanna Phouma đàm phán một cách kiên trì và nhẫn nại tới như vậy, để hòa giải người Lào của cả hai bên. Ông không thể dựa vào Mỹ, điều này thì chắc chắn là ông đã biết rõ vào lúc phát biểu ở bàn tiệc. Chỉ khi những người trung lập và Pathet Lào vượt qua được những đối chọi của họ, toàn thể nhân dân tựu họp xung quanh nhà vua thì Lào mới có thể có được một cơ hội để bảo vệ nền độc lập và bản sắc văn hóa của họ.

Quá trình hòa giải và tích hợp này kéo dài hai năm. Trong tháng Tư 1974, hơn một năm sau “Hiệp ước Hòa bình” Paris và cuộc rút quân của Mỹ, hai anh em cùng cha khác mẹ Souvanna Phouma và Souphanouvong thống nhất với nhau để thành lập một chính phủ liên minh mới.

Người dân Vientiane đã tháp tùng theo mỗi một bước tiến hòa giải với những buổi lễ hội tự phát, với reo hò và hân hoan, những cái đã làm tê liệt nỗi sợ hãi trong thâm tâm. Thủ đô đã rơi vào trong một cơn say vui mừng, khi Souphanouvong rời tổng hành dinh của Pathet Lào, để tiếp nhận vị trí của ông trong chính phủ của Vientiane. Các nhà sư trong chùa đã hoạt động theo cách thức đặc biệt, qua diễn văn, xuất hiện trước công chúng và qua những nghi thức chính trị hóa, vì sự hòa giải của một dân tộc mà đã gắn chặt mình với niềm tin vào các nguyên tắc bất bạo lực. Các nhà sư tin rằng Phật giáo có thể đồng hóa được những ý tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Đại đa số người dân tin vào sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc và vào truyền thống khoan dung của Lào. Họ đã xua đuổi hiện thực.

Hòa giải và tái tích hợp ở Lào trong thực tế có nghĩa là Pathet lào vẫn tiếp tục độc quyền thống trị lãnh thổ của họ, nhưng thêm vào đó lại có thêm quyền lực ở những vùng cho tới nay do quân đội phe trung lập kiểm soát. Họ mở rộng từng bước một cơ sở của họ. Souvanna Phouma và những người của phe trung lập phải mang lại sự hy sinh này, cái mà nhờ vào nó mới có được sự thỏa hiệp đó.

Trong tháng Tư 1975, Hà Nội chấm dứt cuộc chiến ở Nam Việt Nam với lần xâm chiếm Sài Gòn. Hai tuần trước đó, người Khmer Đỏ đã chiến thắng ở Campuchia. Những điều đó tạo cơ hội cho những người cộng sản ở Lào bộc lộ mối tương quan quyền lực thật sự và hoàn thành cuộc cách mạng cả ở trong đất nước thứ ba của Đông Dương, ở Lào.

Một màn trình diễn lớn ở Savannakhet

Thành phố có khoảng 30.000 dân Savannakhet nằm trong vành đai hẹp ở Nam Lào mà trong đó các vùng ảnh hưởng của phe trung lập và Pathet Lào tiếp giáp với nhau không có ranh giới rõ rệt, trong thực tế là chồng lên nhau. Nằm ở phần phía đông của tỉnh cùng tên là huyện lỵ Tchepone, đã tìm thấy được vị trí của nó trong lịch sử cuộc chiến. Nằm ở phần phía Tây là tỉnh lỵ Savannakhet, cho tới mùa xuân 1975 là một thành trì của những người bảo thủ và của những người chống cộng sản trong Vương quốc Lào.

Cuối tháng Năm 1975, giới báo chí ngoại quốc được di tản khỏi Sài Gòn đã đổ xô hàng đoàn tới Vientiane để quan sát màn cuối cùng của cuộc tranh giành quyền lực ở Lào. Trong khách sạn “Lane Xang”, một ngôi nhà khiêm tốn nằm ngay cạnh sông Mekong, không thể gọi là giản dị hay thậm chí là sang trọng được, và mặc dù vậy vẫn chiếm hạng nhất trong số các nhà nghỉ phần lớn là tồi tàn của đất nước này, có người gọi điện thoại nặc danh cho chúng tôi với lời đề nghị chở chúng tôi với một chiếc máy bay đặc biệt của không quân tới Savannakhet. Không rõ ai tổ chức chuyến bay này. Nhưng có thể cảm nhận rõ mối quan tâm của một cơ quan rõ ràng là của nhà nước, muốn mang các đại diện truyền thống quốc tế đang ở Vientiane tới Savannakhet nhân một dịp đặc biệt nào đó.

Vientiane 23 tháng 5 năm 1975
Vientiane 23 tháng 5 năm 1975

Khoảng 30 nhà báo ngồi đầy chiếc DC 3 ọp ẹp của “Không quân Hoàng gia Lào”, bay rì rì xuyên qua bầu trời của mùa mưa về phía nam. Giới báo chí phải trả tiền cho chuyến đi máy bay ngay lập tức sau khi đáp xuống Savannakhet, trên đường băng bằng tiền mặt, và là bằng dollar xanh của Mỹ. Các viên phi công quân đội, nhìn xuống người thâu tiền từ cửa sổ buồng lái của họ, thích thú để các nhà báo nhét cho họ một khoản tiền thưởng. Chuyến khứ hồi đã bao gồm trong đó.

Nhiều sinh viên xuất hiện để chào mừng giới nhà báo, loan báo chương trình trong ngày trên các tấm băng rôn: Các lực lượng quân đội Pathet Lào đang đóng quân ở chung quanh thành phố cần phải trở về với quê hương trong một cuộc diễu hành long trọng. Thành phố cho tới nay là bảo thủ trung lập mở rộng cửa của nó để đối thủ tiến vào. Công cuộc thống nhất quốc gia, được chào mừng trên các biểu ngữ với nhiều cảm xúc, dự định sẽ được hoàn tất ngay trong ngày hôm nay ở Savannakhet.

Một chiếc xe buýt cũ đợi sẵn để mang nhóm nhà báo từ phi trường về tổng hành dinh của quân khu ba – của phe trung lập –, nơi một viên tướng hai sao chắc nịch, đã trở nên mập mạp vì cuộc sống sung túc, bảo đảm trong giọng ngực của niềm tin, rằng đó chính là ý tưởng riêng của ông, chấm dứt cuộc nội chiến vào ngày hôm nay. Chính ông, viên tướng nói như vậy, đã mời lực lượng Pathet Lào vào thành phố với vũ khí của họ. Để chứng minh cho tính hòa bình của mình, ông đã buộc các cộng sự quân đội của ông đứng thật sát và thân thiện với nhau cho một tấm hình chụp chung. Trong tương lai, mọi người Lào cần phải đối xử với nhau với tình huynh đệ như đội ngũ này, điều đó được gợi ý cho những nhà quan sát nước ngoài.

Sau lần chuẩn bị tinh thần trước cho cái ngày đó, chiếc xe buýt chở nhóm nhà báo đi trên một con đường chật hẹp về phía bắc, vào thành phố nhỏ Seno cách 30 kilômét, nơi các đơn vị của Pathet Lào đã tập hợp lại ở đó. Đoàn xe bao gồm một vài chiếc xe tăng cũ kỹ xuất xứ từ Nga, đại bác và xe tải chạy trên mọi địa hình. Hai chiếc chiến xa chở bộ binh được trang hoàng bằng những tấm biểu ngữ gợi lên một tương lai vinh quang của Lào. Trẻ con và người hiếu kỳ bao quanh các thiết bị quân sự, giống như quân đội cộng sản đã mời họ đến để tham quan. Tất nhiên là cũng có nhiếp ảnh gia quân đội để mang hoạt động lớn cuối cùng của cuộc chiến này vào trong hình ảnh một cách xứng đáng.

Cuối cùng vào khoảng mười một giờ trưa, trong lúc mặt trời đốt nóng không thương xót từ trên bầu trời, đoàn xe bắt đầu chuyển động. Đi đầu là một chiếc Jeep mà ngồi ở trong đó là những người tổ chức thật sự cho lần hòa giải quốc gia này ở Savannakhet: sinh viên từ thủ đô Vientiane, những người đã cùng với hàng trăm người hoạt động tới Savannakhet vài ngày trước đây và chiếm giữ các địa điểm chiến lược trong một hoạt động bất ngờ, theo như thông tin mà chúng tôi bây giờ có được. Chính quyền chống cộng sản của thành phố và cả các sĩ quan của quân khu ba cũng đã biết rõ từ lâu, rằng thời điểm đã đến, rằng chống cự lại đã trở nên vô nghĩa. Hầu như không cần phải tốn công sức nhiều cho lắm trong lúc ép buộc họ trang hoàng cho lần thoái vị của họ với lời mời lực lượng Pathet Lào hãy nhận lấy vị trí của họ.

Vào khoảng mười lăm giờ, đoàn xe về tới ngoại ô Savannakhet, nơi sĩ quan của quân đội chính phủ đã đứng sẵn để chào đón các đối thủ trước kia. Thêm một lần nữa, người ta gọn gàng trao đổi văn kiện, kiểm tra giấy tờ và nhắc lại và xác nhận lại những thỏa thuận miệng. Ở đây, tại ngoại ô thành phố, lần tiến quân vào của Pathet Lào trở thành một sự kiện chung với quân đội chính phủ. Hai bên đều mang quân phục nhiệt đới màu xanh. Quân đội chính phủ theo phong cách của lục quân Mỹ: quần ôm sát, tay áo khoác của quân phục được cuộn lên, và nón che nắng với những cái vành to khiến cho người ta liên tưởng tới trang bị cho bóng chày hay đánh golf. Lực lượng Pathet Lào theo phong cách Mao: “giày thể thao” màu xanh, quân phục rộng, với một cái nón tròn với cái lưỡi trai nhỏ màu đen – dấu hiệu đặc trưng của Pathet Lào.

Bây giờ có một đoàn xe máy tháp tùng đi đầu đoàn xe mà trong đó có đại diện sĩ quan của cả hai bên. Người dân Savannakhet chen nhau đứng ở hai bên đường, rõ ràng là đã được khẩn thiết yêu cầu phải hiện diện và vỗ tay như hiệu lệnh được ban hành.

Khi đoàn xe tới trung tâm, viên chỉ huy Pathet Lào leo lên một chiếc xe tăng, để vẫy chào những con người đang reo mừng với một bó hoa màu đỏ. Những gì trên thực tế là sự đầu hàng hòa bình của quân đội chính phủ bây giờ trông giống như một đoàn diễu hành vui vẻ, sưởi ấm con tim quốc gia, như một hội hóa trang hay lễ hội nhân dân do sinh viên cánh tả ép buộc, nhưng cuối cùng rồi thì tất cả đều cùng chào mừng.

Việc rước lực lượng Pathet Lào trở về đã che dấu nhiều cảnh tượng đẫm máu và xấu xa đã có trong cuộc nội chiến ở Lào. Mặc dù vậy, người Lào vẫn còn giữ nhiều thiện cảm cho những người chiến đấu của phía bên kia hơn là các binh lính ở Việt Nam và ở Campuchia.

Bây giờ, cả ở Lào quyền lực cũng chuyển sang phía của những người cộng sản. Đoàn diễu hành mừng chiến thắng làm mờ đi, ít nhất là trong khoảnh khắc, sự khác biệt giữa kẻ thắng và người thua. Một cảnh tượng như cảnh tượng này không có ở quân đội của các nước láng giềng. Điều đó có thể giải thích cho sự mừng rỡ của người dân, không chỉ mừng chiến tranh đã chấm dứt. Họ tự khuyến khích bản thân mình hy vọng, rằng lòng khoan dung và tính ưa chuộng hòa bình của Lào cũng sẽ tạo một tương lai tốt đẹp. Ở Lào, người ta gọi việc chấp nhận điều không thể tránh khỏi là hòa hợp với lịch sử.

Chính quyền mới

Mùa xuân năm 1975, bưu điện Lào phát hành một con tem đặc biệt chào mừng lần hòa giải dân tộc. Ở giữa con tem giá 80 kip, nhìn ra từ một khuôn hình bầu dục là vua Savang Vattana, với một sợi dây chuyền vàng làm trang sức như là dấu hiệu cho vị thế đặc biệt của ông. Bên trái và phải, được đặt thấp hơn thấy rõ, là hai anh em hoàng tử: bên tay phải của nhà vua là Souvanna Phouma, với y phục hoàng cung cài kín, bên tay trái, trong chiếc áo “dân sự”, có một cái cà vạt trang sức, là ông hoàng tử đỏ Souphanouvong, người ngước nhìn lên qua chiếc mắt kính, trong khi ánh mắt của những người kia nhìn xuống thì nhiều hơn.

Con tem đặc biệt minh họa một giấc mơ mà đại đa số người Lao đã mơ trong những tuần này. Nền quân chủ là biểu tượng cho sự thống nhất quốc gia. Đã từ lâu, nó không còn bắt rễ sâu như vương quyền trong nước Thái Lan láng giềng, đất nước chưa từng bao giờ là thuộc địa. Các vị vua của Lào đã phải hợp tác với quyền lực thực dân Pháp và qua đó đã đánh mất sự hậu thuẫn tại giới trí thức quốc gia.

Vua Lào Savang Vattana
Vua Lào Savang Vattana

Trong nội chiến, Savang Vattana với ánh mắt buồn rầu, trông giống như một ông bác không quan trọng, đã cố đứng trên các đảng phái thù địch với nhau. Từ những lý do nhà nước mà ông cũng cố gắng tích hợp lực lượng Pathet Lào. Nhưng trái tim ông thì rõ ràng là đập ở bên phải.

Nhiều người Lào cảm nhận được rằng nền quân chủ sẽ không thể ngăn chận được lần đảo lộn các quan hệ đang hiện dần ra. Pathet Lào không còn cần phải tranh giành quyền lực nữa. Nó được đưa cho họ, trao cho họ một cách phi bạo lực, khi cả thủ đô cũng xếp mình dưới sự cai trị mới trong tháng Tám. Những cuộc ăn mừng chiến thắng bắt đầu trong tháng Mười. Lần “giải phóng” Vientiane được chào mừng, và đồng thời cũng là kỷ niệm 30 năm lần tuyên bố độc lập đầu tiên sau chiến bại của Nhật.

Vào một buổi sáng sớm thứ bảy, khoảng 200.000 người tụ họp lại trên quảng trường lớn cạnh Thạt Luông, trung tâm Phật giáo đẹp nhất và lớn nhất ở Vientiane. Mùa mưa đã biến mặt đất thành một bãi lầy sâu. Mây thấp, ánh sáng mờ mịt như bầu không khí.

Chính phủ cũ sẽ không thể tập hợp được tới 20.000 người và sẽ còn phải trả tiền cho họ nữa, chính quyền thành phố mới của Pathet Lào nói mỉa mai như vậy. “Bây giờ thì không có tiền thưởng”, một nhà tư sản Lào thố lộ với chúng tôi, người sắp sửa chạy trốn qua bên kia sông Mekong, “nhưng người dân Vientiane thì cũng không tự nguyện mà đến.”

Các dấu vết cuối cùng của bản sắc Lào, văn hóa dân gian Phật giáo và truyền thống hoàng gia, đã bị xóa bỏ. Một vài nhà sư đã trở thành thành viên của Mặt trận Yêu nước, với một chỗ ngồi trên khán đài, giữa các đại diện khác của những nhóm xã hội tự tỏ ra là chống đế quốc và tiến bộ. Người dân diễu hành trong những nhóm nhà máy và đơn vị hành chánh: quan chức của các bộ tỏ vẻ cố gắng đặc biệt, để thể hiện tinh thần cách mạng lúc lội sâu trong bùn lầy. Một thời đại mới đã bắt đầu ở Lào.

Chủ tịch Ủy ban Cách mạng Thành phố Somvichit đọc bài diễn văn chào mừng. Đáng chú ý trong bài diễn văn được trình bày theo phong cách thống nhất xã hội chủ nghĩa không phải là các công kích nước Mỹ và Thái Lan láng giềng. Đáng chú ý là sự lạc quan về kinh tế. Các tiền đề để xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc biệt thuận lợi ở Lào, Somvichit nói, vì nhân dân Lào có tinh thần và một tình yêu đặc biệt dành cho lao động.

Các nhà ngoại giao tụ tập trên khán đài phải cố gắng lắm mới nén cơn buồn cười xuống được. Chứ nếu không thì tiếng cười rộ đã đi kèm theo lần tự mô tả đặc tính này. Quan chức Somvichit mơ mộng trong một thế giới hoàn toàn có điểm gì chung với Lào. Vì lần “giải phóng” Vientiane đã gây ra một làn sóng chạy trốn làm tê liệt nền kinh tế đất nước. Giới tri thức kỹ thuật, kể cả thợ thủ công, băng qua con sông Mekong chỉ rộng 500 mét dưới sự che chở của bóng tối, để qua Thái Lan và tiếp tục đi đến Mỹ hay Pháp. Các gia đình giàu có lâu đời cũng rời bỏ quê hương, tiếp theo đó là giới tư sản thành thị không thể nhận ra được triển vọng nào cho họ trong một nước Lào xã hội chủ nghĩa. Người Mèo làm cho cuộc di cư này trở thành một hiện tượng đông người. Đạo quân hỗ trợ của CIA dưới sự chỉ huy của tướng Vang Pao đã cùng với gia đình tìm nơi an toàn tại các trại ở Thái Lan. Sau này, hơn 50.000 người Mèo đã di cư sang Mỹ.

Cuộc “cách mạng” diễn ra nhẹ nhàng hơn là ở Nam Việt Nam. Campuchia của Khmer Đỏ thế nào đi chăng nữa thì cũng là một trường hợp đặc biệt. Vài ngàn người Lào bị đày lên một hòn đảo trên hồ nước Nam Ngun, nơi họ được “cải tạo” theo ý muốn của chính phủ mới.

Người ta có thể nói rằng, tôi đã trình bày như vậy vào thời đó trong một cuốn phim tường thuật về hòn đảo là nhà tù này, “rằng ở đây không tàn bạo như thời trước trong trại tù binh Nhật ở River Kwai. Sự khác biệt rất rõ ràng. Nhưng cũng rõ ràng như vậy là ấn tượng, rằng đây là một trại cưỡng bức lao động và cái tên gọi chính thức “cải tạo” đã làm giảm nhẹ thực tế.”

Giam giữ các thành viên của chính quyền cũ, những tên gian tà xã hội như bây giờ người ta nói, những người nghiện ma túy, những tên ma cô, những cô gái điếm, người xin ăn và ngay cả những người khuyết tật tâm thần, mà tất cả đều bị mang ra hòn đảo trên cái hồ nước đó, đã làm cho người dân Lào ít ngạc nhiên hơn là cú đánh vào nền quân chủ được tiến hành trong tháng Mười Hai 1975. Đầu tiên, các quan chức cao cấp của ĐCS giật dây ở hậu trường tuyên bố chấm dứt chính phủ liên minh. Souvanna Phouma từ chức. Ông nhận danh hiệu của một “cố vấn chủ tịch hội đồng bộ trưởng”. Sau đó, ông không còn có ảnh hưởng thật sự tới nền chính trị của đất nước ông nữa.

Nền quân chủ ngã xuống sau chính phủ liên minh. Vua Savang Vattana bị ép buộc thoái vị qua áp lực thật lớn. Người ta thậm chí còn phỏng đoán rằng lần thoái vị của ông đã được tuyên bố mà không có sự đồng ý của nhà vua. Souphanouvong, hoàng tử đỏ, bước ra đứng đầu nước “Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” như là chủ tịch nước, và Kaysone Phomvihan, “người Việt”, tiếp nhận chức vụ chủ tịch hội đồng bộ trưởng, người bây giờ, để cho tất cả mọi người thấy rõ, nắm quyền lực trong tay.

Vua Savang Vattana phải rời khỏi các dinh thự của mình ở Vientiane và Luang Prabang. Ông sống cùng với gia đình trong một ngôi nhà khiêm tốn ở Luang Prabang, gần chùa Xien Thong, hai năm kế tiếp theo sau đó.

Chùa Xieng Thong
Chùa Xieng Thong

Chính quyền mới chào mừng ngày thành lập nước cộng hòa vào ngày 3 tháng Mười Hai trong cung điện hoàng gia. Chủ tịch nước Souphanouvong mời các nhà ngoại giao và phần danh nhân còn lại, những người trong con mắt của đảng là không mang tội, tới dự một tiệc chiêu đãi vào buổi tối. Đó có lẽ là một giờ đồng hồ cay đắng nhất mà Souvanna Phouma đã trải qua trong bước đường sự nghiệp dài của ông. Gần hai thập niên, ông đã biện minh cho mỗi một thỏa hiệp, mỗi một nhượng bộ đối với Pathet Lào với lập luận rằng sự tồn tại của nền quân chủ và sự thống nhất quốc gia là quan trọng hơn các liên minh, ý thức hệ hay phe phái. Để giữ lại nước Lào hoàng gia “xưa cũ”, cuối cùng ông còn tình nguyện trao ra quyền lực cho những người chống lại ông, những người mà ông tin rằng mặc cho tất cả mọi khác biệt vẫn là những người Lào theo đạo Phật trung thành với nhà vua. Lần tuyên bố thành lập nước cộng hòa là một cú đánh “làm mất thể diện” ông.

Bầu không khí tại buổi tiệc mừng lần thành lập nước cộng hòa, được những cái bóng đèn tròn đủ màu chiếu sáng theo kiểu “pháo sáng”, để cho những người khách nghĩ rằng họ đang ở tại một tang lễ chứ không phải là ở tại một lần khai sinh. Các hoàng tử đóng vai trò mà nghi thức trao cho họ, không để lộ những cảm xúc nội tâm. Họ chịu đựng không ta thán. Mãi tới bây giờ, họ và tất cả người dân Lào, những người đã chôn vùi hy vọng cuối cùng của họ tại buổi tối này, mới rõ là điều đó đau đớn và cay đắng cho tới chừng nào, chấp nhận cái không thể tránh khỏi, tìm thấy sự hòa hợp với lịch sử, để cho một sự phát triển xảy ra, một sự phát triển mà người ta không mong muốn.

Trong năm 1976 tiếp theo sau đó, Souvanna Phouma đi sang Pháp để chữa bệnh. Ông đã chống lại được sự cám dỗ ở lại lưu vong. Ngược với lời khuyên của người con trai đã chạy trốn sang Paris của ông, người mà đã lo liệu trước cho trường hợp khẩn cấp nhờ vào sự giúp đỡ của Pepsi Cola, ông đã trở về Vientiane.

Khi một vài bộ lạc trên núi nổi dậy trong mùa hè 1977 và tấn công một tiền đồn của quân đội, chính phủ Kaysone đã nhân cơ hội bất ổn trong nước này để bắt giam vị vua, vợ ông và các hoàng thái tử và “vì sự an toàn của chính họ”, theo như lời giải thích chính thức, và trục xuất họ tới tỉnh Houa Phan. Gia đình nhà vua được nhìn thấy lần cuối cùng lúc đang trên đường đi tới đó.

Những người sống sót từ một trại cải tạo ở Sam Neua, huyện lỵ nghèo nàn đã từng là tổng hành dinh của Pathet Lào, tường thuật lại rằng vị vua đã chết vào giữa năm 1979 trong trại này, cái trại mà đã nổi tiếng vì hết sức cực khổ và thiếu thốn.

Không có lời xác nhận chính thức cho điều này. Trong những năm đầu tiên, chính phủ trả lời cho các câu hỏi với phiên bản rằng vị vua vẫn khỏe, ông làm việc trong ngôi vườn của ông trong thành phố Vieng Sai nằm ở phía Bắc. Ngược lại, hoàng tử Souvanna Phouma đã thừa nhận năm 1983 rằng vị vua đã qua đời. Tìm hiểu từ các nhà báo người Úc và câu hỏi trực tiếp của Ngoại trưởng Úc Bill Hayden, người do sáng kiến ngoại giao cho Campuchia của ông mà được Hà Nội kính trọng, được Bộ Ngoại giao Lào trả lời bằng câu nói mơ hồ nhưng tuy vậy vẫn làm sáng tỏ: “Người ta ai cũng chết.”

Dường như những người lãnh đạo cộng sản không nhận thức được hết hệ quả của lần lật đổ nhà vua. Họ đã biến nền quân chủ thành một điều không được phép nói tới, để cho họ không phải đưa ra một lý do hay một lời biện minh chính thức.

Chủ nghĩa Xã Hội và Phật giáo

Sau chiến thắng của Việt Cộng ở Nam Việt Nam, ngoại giao Mỹ đã dự tính với một làn sóng cộng sản tràn ngập toàn bộ Đông Nam Á. Nguyên thủ quốc gia trong vùng, Lý Quang Diệu ở Singapore và Ferdinand Marcos trên Philippines, đã ủng hộ đáng giá đó của Washington. Chiến thắng của người cộng sản ở Sài Gòn, Phnom Penh và Vientiane trong thực tế thì ngược lại đã làm ổn định và thúc đẩy Đông Nam Á tiến lên. ASEAN, liên minh của các quốc gia không cộng sản Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia và Philippines, đối mặt với mối nguy hiểm đe dọa từ Đông Dương, đã đạt tới một sự năng động mà từ đó đã thành hình một nhận thức mới và khởi đầu một thành công kinh tế có một không hai trong Thế giới thứ Ba.

Các quốc gia ASEAN lo sợ đã tự nắm lấy vận mệnh của mình, trong khi những người cộng sản chiến thắng ở Việt Nam, Campuchia và Lào đã nhanh chóng phát tán hết tất cả những ánh sáng chói lọi của cách mạng, giống như họ đã không đốt cháy một ngọn đuốc nào mà chỉ là một cây nến pháo hoa.

Quân đội Pathet Lao năm 1970 với AK của Trung Quốc
Quân đội Pathet Lao năm 1970 với AK của Trung Quốc

Lần bỏ nước ra đi của những người tỵ nạn đã làm suy yếu Lào nhiều hơn là những người lãnh tụ đang trong cơn say chiến thắng có thể nhận ra được. Chiến tranh thế nào đi nữa thì cũng đã gây thiệt hại nặng cho nền kinh tế. Trong vòng mười năm cuối cùng, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ đã cung cấp chín mươi phần trăm ngân sách của chính phủ trung lập ở Vientiane. Cả lực lượng Pathet Lào cũng được nước ngoài trợ cấp tài chính, từ Liên bang Xô Viết và từ Trung Quốc.

Sau năm 1975, người ta đã mất sự giúp đỡ của Mỹ. Trợ giúp từ khối Đông Âu, đặc biệt là từ Liên bang Xô viết, đã không đủ để đắp vào lỗ hổng đó. Thay thế cho các cố vấn người Mỹ là người Việt. Người ta ước lượng là có 50.000 lính Việt Nam vẫn còn đóng quân ở Lào sau “giải phóng”. Trong các bộ, cố vấn từ Hà Nội giật dây ở hậu trường. Lào và Việt Nam, chuyên gia người Mỹ về Lào Dommen nhận định, cho thấy “một sự đồng nhất hoàn toàn trong hành động và ý muốn, những cái đặc trưng cho một cấp quyết định chung”.

Chủ tịch hội đồng bộ trưởng Kaysone Phomvihan lái đất nước đi theo đường hướng do Hà Nội đưa ra. Là tổng bí thư, ông kiểm soát đảng Lào và đồng thời cũng là thành viên ủy ban trung ương của tổ chức Việt Nam anh em. Gần hai thập niên liền, ông sống trong sự hẻo lánh tách biệt và trong sự kín đáo bí mật của Sam Neua. Ông cũng giữ phong cách sống trong bí mật khi đi vào thủ đô năm 1975 và bước lên đứng đầu của chính phủ.

Đầu tháng Tư 1977, tôi có dịp quan sát Kaysone ở Vientiane tại một lần xuất hiện công khai. Giới quân đội, nhà ngoại giao và một vài ký giả chờ ở phi trường để đón tiếp vị chủ tịch hội đồng bộ trưởng trở về từ một chuyến đi thăm Triều Tiên.

Một đại đội danh dự, mặc áo khoác trắng được cắt rất thô, bước đi thật sự là theo kiểu dân sự để tới chỗ đứng của họ. Không có khả năng và không muốn đi đều bước, điều đó đã mang lại tính người cho nhóm quân lính trong cung cách xuất hiện không chuyên của họ.

Các nhà ngoại giao và bộ trưởng đi ra phi trường lần này là lần thứ hai. Vào ngày trước đó, họ đã chờ hai tiếng đồng hồ dưới ánh nắng thiêu đốt, cho tới khi họ được thông báo rằng viên chủ tịch hội đồng bộ trưởng tuy đã cất cánh ở Triều Tiên, nhưng lại quyết định dừng chân ở Bắc Kinh. Ông sẽ trở về Vientiane muộn hơn 24 giờ.

Rồi ông trở về thật sự trên một chiếc máy bay Ilyushin đặc biệt do Kim Nhật Thành cung cấp. “Nhân dân” đứng chào mừng ông xuất phát từ văn phòng của các bộ. Người dân Lào bình thường, công nhân, người buôn bán và nông dân bị cấm vào. Từ lúc “giải phóng” trước đây mười chín tháng, Kaysone chỉ công khai xuất hiện hai lần. Ở nước ngoài, tại những chuyến đi sang Moscow, Hà Nội, Bắc Kinh và Đông Berlin, ông hẳn là đã gặp nhiều người hơn là trong đất nước của chính ông.

Lần chào đón của các bộ trưởng và quan chức cho thấy sự thiếu quan tâm cũng như cứng nhắc. Kaysone ôm hôn Souvanna Phouma chống gậy tham dự nghi thức. Cả hai đều không để cho người khác nhận ra được một xúc cảm nào.

Con người cách mạng và quan chức từ vùng đồi núi đó không muốn bước ra khỏi cái tranh tối tranh sáng bao quanh ông lúc còn trong bí mật, ngay cả ở Vientiane, đứng ở vị trí dẫn đầu Đảng. Ông vẫn là một con người xa lạ trong giới những người thích xuất hiện trong công chúng, những người mà sau các gian khổ thiếu thốn thời chiến đấu bây giờ muốn hưởng sự công nhận và kính trọng của xã hội. Kaysone, điều này thì có thể cảm nhận rõ trong cảnh tượng đó, có thể từ bỏ thiện cảm và yêu mến của người Lào. Ánh mắt của ông hướng sang Việt Nam. Phán xét của các đồng chí ở đó lay động ông nhiều hơn là tiếng vỗ tay ở Vientiane.

Đồng bộ với trung tâm quyền lực chính trị ở Hà Nội, Kaysone đã đưa chủ nghĩa xã hội vào Lào, mặc dù các điều kiện trong đất nước này hết sức bất lợi. Không có một tình huống cách mạng, thậm chí còn không có cả lớp đất mùn của phong trào đó trong xã hội, tức là sự khốn cùng của đại đa số người dân, bất công bằng xã hội sâu sắc và một chính quyền đàn áp dã man. Nước Lào của hoàng gia là một nước nghèo, hiền lành, không có nhu cầu cao, thêm vào đó là tin vào định mệnh và khoan dung cho tới mức tự gây hại cho chính mình. Chủ nghĩa xã hội có thể làm thay đổi, nhưng ít cải thiện. Nó có thể cải tạo bộ máy nhà nước và xã hội, nhưng hầu như không dự tính với việc người dân sẽ cảm ơn vì điều đó.

Tổng thống Kennedy tiếp hoàng tử Lào tại Nhà Trắng

Chỉ một phần của các bộ tộc trên vùng núi là chống lại chính phủ mới, gây nhiều vấn đề về an ninh, đặc biệt là ở Nam Lào, trong vương quốc thủ cựu Champassak. Quân đội Việt Nam chiến đấu chống cuộc nổi dậy, không bao giờ có thể đàn áp được hoàn toàn, nhưng kiểm soát được tình hình. Trong trung tâm của Lào, ở vùng đồng bằng quanh Vientiane và ở Luang Prabang hoàng gia ngày xưa, con người đã khuất phục, không hào hứng, nhưng cũng không phản đối hay chống đối có hiệu quả. Chính quyền mới đã giao trách nhiệm chính trị cho Sangha, dòng tu của các nhà sư, và gợi ý cho các tín đồ, rằng Phật giáo và chủ nghĩa xã hội thuộc vào với nhau và rằng không có lời khuyên răn nào của Phật giáo ngăn cản chủ nghĩa xã hội hết. “Các nhà sư Lào biết”, Tổng thư ký của các tổ chức Phật tử, đức Wat Ong Tu khẳng định trước ống kính của chúng tôi, “họ phải diễn giải đạo lý Phật Giáo như thế nào đó để nó hòa hợp với chính trị.”

Đặc tính của người dân Lào, một nhà ngoại giao sống ở Lào nhiều năm trước và sau khi “giải phóng” tóm tắt ấn tượng của ông như vậy, “cho tới nay đã sống sót qua tất cả các cuộc tấn công của chủ nghĩa Marx–Lênin mà tương đối không bị hư hỏng”. Cuộc sống ở làng quê ít thay đổi. Không phải “tình yêu lao động” đặt dấu ấn lên hiện thực mới như giới lãnh đạo Đảng hy vọng vào lúc ban đầu, mà chính là sự thật, rằng lễ hội vẫn tiếp tục chiếm giữ một vị trí trung tâm trong cuộc sống ở Lào.

Trong tháng Bảy 1977, một phái đoàn cao cấp do Tổng bí thư Lê Duẩn dẫn đầu đến Vientiane từ Hà Nội để ký kết một hiệp ước hữu nghị và hợp tác, có giá trị ban đầu là 25 năm. Hiệp ước này, được chủ tịch hội đồng bộ trưởng Kaysone và Phạm Văn Đồng ký, đánh dấu một “quan hệ đặc biệt”, một tình thế đặc biệt, được chào mừng hết sức trữ tình trong lời tuyên bố chung đi kèm theo. Hai bên “hết sức hạnh phúc và tự hào vì các quan hệ đặc biệt, trung thành và trong sạch gắn kết hai dân tộc Việt và Lào”.

Từ đó, Việt Nam không chỉ có quyền lực, mà còn có quyền, vâng nhiệm vụ, can thiệp vào các quan hệ của Lào, bảo vệ và giúp đỡ nước láng giềng, để nhận lại đặc quyền, sự kính trọng và trung thành. Hiệp ước hữu nghị hiện thực “viễn tưởng Đông Dương” của Hồ Chí Minh, biến Lào trở lại thành một nước bảo hộ được cầm quyền từ Hà Nội.

Các nước không cộng sản Đông Nam Á chấp nhận không phản đối ảnh hưởng thống trị mà Hà Nội có được đối với Lào. Quan hệ đặc biệt này đã được tạo nên một cách “hợp pháp”, không có bạo lực bên ngoài và không vi phạm luật lệ quốc tế. Ý muốn của chính phủ dường như được chứng minh rõ ràng, mong muốn của người dân không đóng vai trò nào trong lúc đó.

Chỉ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là không tán thành vai trò dẫn đầu trong khu vực của Việt Nam. Vì vậy mà Bắc Kinh cũng không muốn chấp nhận “quan hệ đặc biệt” đó, mặc dầu nó có một nền tảng “hợp pháp”. Vì lợi ích riêng, Trung Quốc muốn bảo tồn chủ quyền quốc gia của các nước láng giềng và không để cho một thế lực dẫn đầu khu vực thành hình, một thế lực mà trong trường hợp Việt Nam còn liên minh với một cường quốc ở ngoài vùng để chống lại Bắc Kinh. Bằng mọi biện pháp, Trung Quốc sẽ làm tan rã quan hệ đặc biệt của ba dân tộc Đông Dương và để cho Campuchia là Lào lại độc lập với Hà Nội.

Lào sẽ quay lại với bản sắc riêng và lợi ích riêng, và về lâu dài chỉ chịu đựng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản khi đảng này quay sang một đường lối dân tộc chủ nghĩa. 50.000 người lính Việt Nam bảo đảm cho sự ổn định của chính quyền được cho là sẽ rút ra khỏi Lào năm 1988. Lúc đó, Lào sẽ lại có cơ hội trở về với một chính sách đặt lợi ích quốc gia lên trên “các quan hệ đặc biệt, trong sáng và trung thành” với Việt Nam. Kaysone Phomvihan là người của quá khứ.

Souvanna Phouma đã đóng vai trò “cố vấn” của ông cho tới khi kết thúc mà không bao giờ ta thán công khai. Ông qua đời ở Vientiane năm 1984. Ông đã canh giữ thanh danh của ông trong lịch sử Lào cho tới hơi thở cuối cùng. Tương lai có thể phục hồi cho phương án của ông: Trung lập, hòa giải dân tộc, hữu nghị với tất cả láng giềng, cả với Việt Nam. Thu mình lại, không chống cự bằng bạo lực thì cuối cùng Lào có thể giữ được bản sắc và độc lập. Sự hòa hợp với lịch sử, điều mà Souvanna Phouma đã tuyên bố ngay từ năm 1975, vẫn còn là một hứa hẹn của tương lai cho đất nước này. Phật giáo không bị làm hư hỏng nặng từ những năm chủ nghĩa xã hội thống trị. Cả nước Lào nông dân cũng không thay đổi về cốt lõi.

Sau 1975, Souphanouvong chỉ làm tròn các nhiệm vụ đại diện như là chủ tịch nước. Ông không có ảnh hưởng thật sự đến việc tạo lập chính sách. Từ “những lý do về sức khỏe” mà ông đã từ bỏ chức vụ trong tháng Mười 1986. Ông sẽ đi vào lịch sử như là một nhân vật bi thảm. Ông đã cương quyết bám chặt vào bản chất các lợi ích của Lào và Việt Nam. Chỉ là: đất nước của ông đã không nhận được sự bình đẳng. Tên ông vẫn gắn chặt với lần tước quyền quốc gia và với lần lật đổ nền quân chủ.

Cùng với lần Souphanouvong bước xuống bục sân khấu, các ảnh hưởng của chính sách Xô viết mới bắt đầu có thể cảm nhận được tại Đại hội Đảng lần thứ IV trong mùa thu 1986. Cuộc đổi mới của Gorbachev đã tạo can đảm cho Đảng Cộng sản Lào để bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế và tranh cãi cởi mở về những thất bại của mô hình xã hội chủ nghĩa. Việc tập thể hóa nông nghiệp và quốc hữu hóa công nghiệp, theo sếp Đảng Kaysone trong tờ Sự Thật của Moscow, “đã làm tê liệt sản xuất và phân phối hàng hóa, và qua đó đã ảnh hưởng mạnh tới hoàn cảnh sinh sống của người dân”.

Từ đó, đất nước bắt đầu đi lên. Sáng kiến cá nhân được khích lệ, doanh nhân nhỏ bắt đầu bù đắp vào cho các thiếu hụt của nền kinh tế kế hoạch nhà nước. Với các cải cách, những cái xấu cũ của xã hội cũng tái hiện. Với một bước nhảy, nước Lào từ sự kiểm soát nghiêm ngặt của chính phủ đã lâm vào một tình trạng cận kề với sự vô chính phủ, một nhà quan sát nước ngoài phàn nàn ở Vientiane, người đặc biệt muốn nói đến sự tham nhũng, cái đã quay trở lại cùng với những cuộc cải cách.

Cả trên một lĩnh vực khác, Lào dường như cũng nối kết trở lại với truyền thống. Trong mùa hè 1988, Bộ Ngoại giao Mỹ tố cáo chính phủ cộng sản Lào tham gia buôn bán ma túy có kế hoạch. Đại diện cho các cơ quan nhà nước có dính líu “trực tiếp” vào đó; cơ quan chính phủ tổ chức mua, trữ và bán ra nước ngoài để lấy ngoại tệ.

Một chính quyền cộng sản tham gia tích cực mua bán ma túy quốc tế là một đối tác khó khăn, thậm chí là nguy hiểm cho cộng đồng nhà nước quốc tế. Mặc dù vậy vẫn có hy vọng cho Lào, cho một dân tộc hiền lành, khoan dung, đã phải đi qua nhiều con đường vòng, nhưng cái đã tránh được cho mình sự tàn bạo, là đặc điểm của cuộc cách mạng trong đất nước Campuchia láng giềng, tại lực lượng Khmer Đỏ.

Phía sau nụ cười của người Khmer

Khi máy bay phản lực cách mạng hóa hàng không vào đầu những năm sáu mươi, du lịch đường xa đã tăng vọt mà cả Campuchia cũng nhanh chóng hưởng lợi từ điều này. Các đền thờ Angkor, những công trình xây dựng tôn giáo khổng lồ đầy bí ẩn đó ở rìa của rừng rậm, đã thu hút khách du lịch vào nước, những người mà các phương tiện giao thông hiện đại bây giờ cho phép họ hiện thực một giấc mơ với giá tiền có thể chi trả được. Siem Reap, một thành phố nhỏ trong tỉnh Battambang có biên giới với Thái Lan, nhận được một phi trường có thể cho phép Caravelle hạ cánh. Trước đền thờ chính, trước Angkor Wat, có hai khách sạn rộng lớn, đơn giản, mà từ đó các du khách có thể đi bộ tới các di tích. Campuchia quyến rũ du khách từ nước ngoài.

Nhiều du khách đã trải nghiệm Campuchia như một thiên đàng và cũng đã giữ đất nước này như vậy trong ký ức. Vũ khí đã nổ vang trong nước Việt Nam láng giềng. Ở đây vẫn còn hòa bình. Người dân trên những cánh đồng ruộng lúa dường như là hài lòng. Họ không phải chịu đựng thiếu thốn, và họ hưởng thụ sự thong dong trong lúc đang làm những công việc thường nhật. “Nếu nhà vua ép buộc chúng tôi phải làm việc cực nhọc như người Trung Quốc”, một phóng viên người Anh có lần nghe được một nông dân nói như vậy, “thì chắc chúng tôi sẽ chết mất.” Đồng lúa xanh, dừa, sông hồ nhiều cá dưới bầu trời xanh khiến cho những người khách phương xa tin rằng họ đang ở trong một đất nước có một hạnh phúc khiêm tốn.

Ankor Wat
Ankor Wat

Cả Phnom Penh, thủ đô, cũng mang lại một hình ảnh phản chiếu sự thơ mộng. Ở châu Á, du khách cảm thấy đẹp nhất là các thành phố khiến cho họ liên tưởng tới quê hương. Phnom Penh với những ngôi biệt thự được quét vôi màu vàng hoàng thổ, với những cái mái ngói màu đỏ cũ kỹ, bị sương gió làm hư hỏng, với những con đại lộ rộng nhiều cây thật sự là khiến cho người ta nhớ tới một thành phố nhỏ của Pháp trong vùng Provence.

Nhà sư trong những chiếc áo cà sa màu vàng và nâu mang lại cho hình ảnh đường phố một nét chấm màu sắc. Ở bờ của Tonle Sap, dinh thự hoàng gia, phản chiếu ánh sáng mặt trời qua những mảnh ghép tranh khảm nhiều màu, nhô lên trên một quảng trường để đi dạo mà người dân đang tiêu khiển ở trên đó. Tiếng nhạc vẳng xuống từ hàng hiên trên cổng chính. Đội múa hoàng gia tập dượt ở đó; và cả người đứng đầu nhà nước, hoàng tử Sihanouk, cũng thường ở lại hàng hiên đó một lúc  lâu, để chiêu đãi những người khách xa lạ, chủ yếu là nhà báo, bằng sâm banh và nhìn ngắm những chuyển động yêu kiều của các vũ nữ trẻ đẹp kỳ lạ.

Campuchia chi những khoảng tiền lớn cho nghệ thuật, đặc biệt là cho múa, bảo tàng, âm nhạc và phim. Năm 1968, nước này còn tổ chức cả một lễ hội phim quốc tế. “Một thành phố thịnh vượng trong truyện cổ tích”, nhiều khách đến thăm đã trải nghiệm và mô tả Phnom Penh như vậy. Một nhà làm phim tài liệu người Pháp, với lòng đầy nhiệt tình đã đưa những mặt đẹp nhất của đất nước và xã hội này vào hình ảnh và đệm nhạc đầy xúc cảm, cũng chọn một cái tựa đã mạ vàng lên hình ảnh rập khuôn đó: “Đất nước của những nụ cười”.

Ai nhìn cho kỹ và đặc biệt lắng nghe, thì lẽ ra đã phải hết sức ngạc nhiên, rằng tiếng nói của đất nước này hầu như không được nói trong thủ đô Phnom Penh. Những người trong hoàng cung, giới tinh hoa và tầng lớp có học thức thường thích sử dụng tiếng Pháp để qua nền văn minh của thế lực thuộc địa đã lui bước mà minh chứng cho sự tinh tế tao nhã. Nhưng cả giới doanh nhân, nhân viên nhà nước, thậm chí người buôn bán ở chợ cũng hiếm khi nói tiếng Khmer. Một phần lớn những người sống trong thủ đô của Campuchia là người xa lạ, đã có được quyền lực và thịnh vượng trên đất khách. Buôn bán và thủ công nằm chắc trong tay của người Hoa, chiếm khoảng 20 phần trăm dân số. Con số người Việt nhập cư cũng khoảng chừng đó.

Chính quyền thuộc địa Pháp đã cho người Việt vào nước. Như là cu li cho các đồn điền cao su của Michelin, như là những người phục dịch trong các cơ quan nhà nước và trợ lý văn phòng, họ được người Pháp đón chào. Những người nhập cư chứng tỏ mình khéo léo hơn và siêng năng hơn là người Khmer chậm chạp, không muốn làm việc có kỷ luật. Ngay “người khám phá” ra Angkor, nhà khoa học chu du Henri Mouhot, đã than phiền công khai rằng những nhà nông có làn da nâu đó, những người Khmer mệt mỏi và kiệt lực của hiện tại có thật sự là con cháu của dân tộc anh hùng và sáng tạo đó hay không, dân tộc mà đã nghĩ ra và xây dựng Angkor. Mouhot và đại đa số các nhà hành chánh người Pháp có khó khăn thấy rõ trong việc mang tài năng của nghệ thuật Khmer cổ điển vào trong sự hòa hợp với tình trạng của xã hội hiện tại.

Hơn nửa triệu người Việt đã nhập cư vào Campuchia từ Sài Gòn và vùng châu thổ sông Cửu Long. Họ là bằng chứng rõ ràng cho phán xét của các ông chủ thuộc địa về tình trạng của quốc gia Khmer. Người da trắng cho người Khmer là lười biếng, suy đồi và phải chịu số phận suy tàn. Nếu như người Pháp không xuất hiện năm 1863 thì người Việt và người Thái nhiều sức sống hơn sẽ chia nhau phần còn lại của vương quốc Khmer đang trải qua cuộc suy tàn liên tục từ những ngày phung phí của Angkor.

Đội múa Hoàng gia Campuchia
Đội múa Hoàng gia Campuchia

Đánh giá khinh thường của chính quyền thực dân đánh trúng người Khmer ở một điểm nhạy cảm. Lịch sử đầy bi kịch của họ, lịch sử mà trong vòng 500 năm cuối cùng hầu như chỉ bao gồm chiến bại và bị sỉ nhục, đã làm tổn thương nặng nội tâm người Khmer. Sự suy tàn của quốc gia đã để cho một chấn thương thành hình, cái có thể cảm nhận được trong tất cả các tầng lớp của xã hội, ở tại những người có thể bộc lộ nỗi đau của họ, và cả ở những nông dân bình thường, mơ một giấc mơ luôn trở lại trong truyện cổ tích, chuyện kể và bài ca: giấc mơ về quyền lực và tầm vóc của Angkor.

Nỗi lo sợ, phải chịu số phận suy tàn, được cảm nhận sâu thẳm trong thâm tâm, đã kết đôi với quyết tâm chống lại số phận, cả bằng bạo lực trong trường hợp cần thiết. Chưa từng bao giờ mà người Khmer lại từ bỏ niềm hy vọng là một dân tộc được lựa chọn, một ngày nào đó sẽ trở về với vinh quang của Angkor.

Một vài người Pháp, bước đến đầy yêu thương và cùng giúp người Khmer bảo tồn và phục hồi nghệ thuật của họ, đã nhận ra nỗi ray rứt sâu thẳm đó trong tâm hồn của người Khmer và đã cảnh báo một thảm họa. Bernard-Philippe Groslier, con trai của một nhà khảo cổ nổi tiếng và tự bản thân ông cũng là một nhà khảo cổ, có lẽ là người am hiểu Angkor tốt nhất, đã đưa ra chẩn đoán xã hội sau: “Nằm ngủ dưới bề ngoài vô tư lự là những sức mạnh hoang dại và bản năng giết người đáng sợ, những cái mà lần nào đó có thể bùng phát ra trong một sự tàn bạo say sưa.” Sáu năm sau đó, cố vấn trưởng của Sihanouk, Charles Meyer, đã chọn tựa đề “Phía sau nụ cười của người Khmer” cho hồi ký của ông.

Trong ghi chép sử “thiên tả”, mà thuộc trong số đó là một số nhà khoa học Australia, hình ảnh rập khuôn của “đất nước trong truyện cổ tích” Campuchia đã bị lay động bởi những số liệu đáng sợ. Tuy đa số nông dân sở hữu ruộng đất mà họ trồng trọt ở trên đó. Nhưng các phương pháp của họ lạc hậu cho tới mức họ đạt năng suất thấp nhất ở Đông Nam Á. “Những người nông dân”, Huo Youn, một người đồng hành tri thức của Pol Pot nắm quyền hành sau này, đã viết như vậy trong bài luận văn tốt nghiệp tiến sĩ của ông, “không kiểm soát được cả bầu trời lẫn giá cả hàng hóa của họ. Tất cả quyền lực đều nằm trong tay người Hoa.”

Ba phần tư người nông dân, Huo Youn phát hiện, mắc nợ rất nhiều. Trong cái được gọi là thiên đường thì thiếu cả những cái cần thiết nhất. Nghèo nàn, chứ không phải hạnh phúc, các nhà quan sát phê phán tin là như vậy, là dấu hiệu đặc trưng của xã hội này.

Giữa những năm sáu mươi, người đứng đầu nhà nước Sihanouk bắt đầu cuộc đàn áp không thương xót phe đối lập sinh viên, cánh tả và cộng sản. Cảnh sát bắt và giết người. Các biện pháp vô luật lệ đó, những cái mà cho tới ngày nay vẫn còn đè nặng lên người hoàng tử và là những biện pháp mà ông không muốn đứng ra nhận chúng về phần mình, đã khiến cho một vài nhà phê bình dịch ông tới gần Pol Pot. Campuchia trong những năm sáu mươi, nhà tư tưởng hệ cực đoan nhất của trường phái cánh tả, người Australia Michael Vickery, viết như vậy, “chỉ mỉm cười và thân thiện với những người khách thỉnh thoảng đến thăm, nhưng thật sự lại là một đất nước mà ai cũng sống trong sự sợ hãi ở đó.”

Cả sự thán phục mang tính lãng mạn lẫn lời lên án khái quát của cánh tả đều ít giống với hiện thực trong vương quốc của bảy triệu người Khmer. Tất nhiên là phi lý khi xếp hoàng tử Sihanouk vào một hàng với Pol Pot. Nhưng cũng không thể nghi ngờ gì về những vụ giết người và hành động bạo lực của cảnh sát hoàng gia. Nhà nước và xã hội đã lâm vào một cuộc khủng hoảng vào giữa những năm sáu mươi, có nguy cơ rơi ra khỏi sự kiểm soát của hoàng tử Sihanouk đầy tự tin và tài năng chính trị.

“Cha kính yêu”

Norodom Sihanouk [RF: Cambodia RF]
Norodom Sihanouk

Ở Campuchia, hai gia đình có quan hệ họ hàng đã kình địch với nhau vì ngai vàng từ nhiều thế hệ: gia đình Sisowath và gia đình Norodom. Gia đình Sisowath đã cai trị cho tới năm 1941. Sau khi vua Monivong qua đời, toàn quyền Đông Dương của Pétain, Đô đốc Decoux, quyết định nghiên về cho người hoàng tử Sihanouk mới 19 tuổi từ gia đình Norodom. Thời đó, Sihanouk còn học ở trường Chasseloup-Laubat ở Sài Gòn. Madame Decoux, ông tự hào như vậy, đã nâng đỡ ông vì lối ứng xử và vẻ ngoài đẹp của ông.

Mềm dẽo và với sự dè dặt khôn ngoan, Sihanouk đã qua được những năm người Nhật chiếm đóng từ 1941. Khi người Nhật phải rút quân năm 1945, Sihanouk tuyên bố Campuchia độc lập. Tất nhiên là điều đó không cản trở ông lại xếp mình dưới nước Pháp như là quyền lực bảo vệ khi người Pháp quay trở lại. Tuy vậy, mục đích chính sách của ông vẫn là nền độc lập. Các biện pháp để đạt được tới nó thì thay đổi. Chúng không coi khinh việc phản lại lời hứa, mưu mẹo và lừa gạt. Đối với Sihanouk, những nguyên tắc bất di bất dịch bao giờ cũng là đáng ngờ và gây trở ngại, chắc chắn không phải là thành tích. Sihanouk muốn đẩy người Pháp ra khỏi đất nước, điều này nhanh chóng trở nên rõ ràng, bằng các biện pháp chính trị. Bạo lực cách mạng, như nó đặc trưng cho cuộc đấu tranh giành tự do trong nước Việt Nam láng giềng, không phải là việc làm của hoàng gia Phnom Penh.

Nền độc lập, mà nước Việt Nam của Hồ Chí Minh bị khước từ, được trao trả một cách hòa bình cho Campuchia năm 1953. Cả tại Hội nghị Đông Dương ở Genève, đưa ra một nền hòa bình tạm thời với lần chia cắt Việt Nam sau chiến bại của nước Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954, Campuchia cũng nhận được những điều kiện tốt nhất: con số ít ỏi những người cộng sản chiến đấu với vũ khí, hầu hết đều xuất phát từ thiểu số người Việt, đều phải buông súng xuống và sang sống lưu vong ở Bắc Việt Nam. Thậm chí các bên cộng sản ký kết hiệp định là Liên bang Xô viết và Trung Quốc cũng chấp thuận quy định này. Sihanouk đã thành công, để cho Hội nghị Genève không công nhận những người cộng sản Khmer của ông và cũng không để lại cho họ “vùng đất giải phóng” nào cả. Nếu như có một chính phủ thắng toàn bộ ở Genève thì đó là chính phủ của nhà vua người Khmer.

Sinh năm 1922, Norodom Sihanouk bước vào thời kỳ cai trị hạnh phúc nhất của ông trong những năm còn rất trẻ, khi đã bảo đảm được nền độc lập của đất nước ông. Người Khmer nhìn ông như một deva-raj, một ông vua thiêng liêng, người nhân danh thượng đế và nhân danh các thánh thần mà cai trị. Ông bảo tồn sự hài hòa giữa trời và đất, sự hài hòa trong vũ trụ. Qua bàn tay may mắn của ông, ông đã chứng tỏ cho thần dân thấy rằng ông thật sự là được trời cao giao phó cho.

Năm 1955, ông tự rời khỏi chức vụ nhà vua, để tham gia ứng cử tại cuộc bầu cử do Hội nghị Đông Dương ở Genève quy định. Cha ông được tuyên bố là nhà vua. Hoàng tử Sihanouk bước lên sân khấu của đất nước như là một chính trị gia kiểu mới. Ông thành lập “Sangkum Reastr Niyum”, Đảng Nhân dân Xã hội Chủ nghĩa, đảng mà ông đã dẫn dắt nó tới các chiến thắng huy hoàng trong những cuộc bầu cử tiếp theo sau đó. “Rassemblement du peuple français” của Tướng de Gaulle đã gợi nên ý tưởng thành lập đảng cho ông. De Gaulle vẫn là người thầy chính trị của ông. Ông tôn kính ông ấy chỉ sau Đức Phật.

Các ứng cử viên của ông được chọn lựa rất kỹ lưỡng. Đại diện phe tả và hữu có chỗ đứng của họ trong “Sangkum”, được giữ thế cân bằng bởi hai cánh mạnh như nhau. Kinh tế gia có bằng tiến sĩ ở Paris Khieu Samphan, người mà sau này trở thành một người trợ giúp cho Pol Pot, bước vào Quốc Hội cho Đảng “Sangkum”, và cả Hou Yuon nữa, người đã nghiên cứu tình trạng của những người nông dân qua luận án bảo vệ tiến sĩ. Cả ông sau này cũng tìm thấy chỗ đứng của mình ở bên cạnh Pol Pot.

Nhưng nhân vật chính vẫn luôn là hoàng tử Sihanouk. Sau cái chết của người cha năm 1960, ông trở thành người đứng đầu quốc gia, hợp nhất quyền lực của một tổng thống có chính danh qua bầu cử với sự thánh hóa của một nhà vua thiêng liêng. Chính trị ở Campuchia: đó là màn trình diễn của ông. Ông là ngôi sao, ông viết kịch bản và ông đạo diễn: vai hát chính, nhà ảo thuật, người làm trò tiêu khiển và nhạc trưởng trong một người. Ông đã trình bày màn độc diễn thành công nhất của thế giới chính trị trong nhiều năm liền.

Thuộc vào trong những lần xuất hiện đầy ấn tượng nhất của ông là khi ông tiếp đón nhân dân, người dân từ Phnom Penh và những phái đoàn nông dân từ các tỉnh trong dinh thự của ông. Người dân được cho vào để trình bày các than phiền và khiếu nại, những cái mà nhà vua lắng nghe và rồi hoán chuyển thành mệnh lệnh, phục vụ cho sự công bằng và thịnh vượng. Tưởng tượng Hindu về deva-raj không đặt người giữ chức vụ lên cao cho tới mức thần dân không được phép trực tiếp đi tới ngai vàng. Nhà vua là Thượng Đế và đồng thời cũng là cha của tất cả người Khmer.

Một cái giá đỡ vững chắc với cả một bó to mi-crô đứng ở giữa gian phòng tiếp kiến. Thời đó, vị hoàng tử đã thử nghiệm với một loại âm thanh stereo khiến cho tất cả mọi người trong gian sảnh, kể cả những người đứng sau ông, đều có cảm giác là ông đang nói chuyện trực tiếp với họ từ phía trước. Tất nhiên là đài phát thanh Campuchia truyền trực tiếp buổi gặp gỡ người dân kéo dài nhiều tiếng đồng hồ này. Toàn thể đất nước cần phải có mặt ở đó, khi người hoàng tử thêm một lần nữa giải thích các nguyên tắc của chính sách ông ấy, nhận lấy sự tôn kính của người dân và ngay lập tức ban hành chỉ thị để cải thiện cuộc sống hàng ngày của con người. “Samdech Euv” – Cha kính yêu – người Khmer gọi vị vua của họ như vậy, người hoàng tử may mắn, dường như vẫn còn có thể dẫn dắt đất nước Campuchia đi tới một tương lai vàng son.

Sihanouk bước ra trước các mi-crô trong bộ lễ phục của đất nước: với một chiếc áo khoác màu trắng và cúc áo mạ vàng, một cái quần lụa phồng ra ở chân giống như một cái quần có thắt lưng, với tất bằng lụa và giày bóng màu đen.

Hoàng tử Sihanouk và Tổng thống Indonesia Sukarno (1901 - 1970)
Hoàng tử Sihanouk và Tổng thống Indonesia Sukarno (1901 – 1970)

Năm 1962, trên đỉnh cao của triều đại ông, Sihanouk mới 40 tuổi. Người hoàng tử nhỏ con hẳn là đã có tài xuất hiện ở trước công chúng – cũng như tất cả người Khmer – ngay từ lúc còn nằm trong nôi. Thành công tạo cho ông một sự tự tin mà thần dân của ông cảm nhận nó như là quyền tối cao và uy quyền. Ông có cử chỉ và nét mặt của một diễn viên tài giỏi mà không cần phải cố gắng. Chỉ có giọng nói là hay vượt khỏi tầm kiểm soát. Cơ quan cao giọng đó của người hoàng tử tăng lên đến chói tai, the thé. Sihanouk bộc lộ sự hồi hộp nội tâm qua giọng nói cực cao, khiến cho người lạ cảm thấy buồn cười và dễ bị hiểu lầm là dấu hiệu của sự cuồng loạn. Người hoàng tư suy nghĩ nhanh hơn là ông có thể nói ra. Ông nói không che chắn, như người ta nói trong biệt ngữ của giới ngoại giao. Ông để cho tính khí mạnh mẽ của ông được tự do. Lời nói của ông thú vị, nhưng chúng không được định trước để mang lên trên bàn cân vàng.

Nhà báo người Pháp Jean Lacouture, người giành được sự tin tưởng của Sihanouk mà ít ai có, đã mô tả xuất sắc ấn tượng mâu thuẫn của những lần ông ấy xuất hiện: Ông gắn kết nhãn hiệu của những thời trước đó với “một sự tức thì không thể đè nén xuống được, và sự xuất hiện của một vị vua trong lúc đi nghỉ mát với một ‘thành viên hiền lành’ của câu lạc bộ nghỉ mát Club Méditerranée”.

Bên cạnh đó, Samdech Euv là một playboy và là một kẻ trác táng. Cũng như Felix Krull, ông yêu cuộc sống và được cuộc sống yêu. Những cuộc áp phe và ngoại tình của ông đầy trong biên niên sử, ông đã công nhận như vậy sau này trong lúc sống lưu vong, không phải là không hãnh diện. Ông xin thứ lỗi cho cách sống của ông với một lập luận từ người cha cũng có tài tương tự như vậy: “Anh muốn tôi đi tới cái chết mà không được vui thích một chút ư? Tức là anh cho phép tôi chuẩn bị cho cái chết một cách vui vẻ.”

Richard Nixon, Phó Tổng thống dưới Eisenhower, có lần sẽ đóng vai của số phận đáng sợ cho Campuchia, đã gặp Sihanouk trong năm tuyên bố độc lập. Như tường thuật lại sau này trong hồi ký, ông thấy nhà vua trẻ tuổi “hoàn toàn phi thực tế trong các vấn đề mà đất nước của ông ấy đang đối mặt”. Nixon, chính trị gia nhiều quyền lực từ miền Trung Tây, lúc đó là đã tin chắc rằng mình nhìn bao quát được những nhu cầu và khó khăn của Campuchia tốt hơn là Sihanouk nhanh nhẹn.

Cũng như Bixon, nhiều nhà quan sát vì những thành kiến vội vàng mà đã ghi nhận lại sự không hiểu biết của chính họ hay, còn tồi tệ hơn thế, sự không quan tâm của họ tới những nỗi lo âu của một đất nước nhỏ bé. Washington thời đó chịu ảnh hưởng nặng của tư tưởng John Foster Dulles cứng nhắc và nhìn những cuộc đi dây của Sihanouk với thái độ miễn cưỡng thấy rõ. Trung lập thời đó là một khái niệm mang tính xấu cho một chính sách mà Phương Tây cảm thấy mình bị đe dọa qua đó. Mặc dù vậy, Sihanouk vẫn cam đảm ngồi giữa hai chiếc ghế; và có một thời gian mà trông như ông ấy có thể qua vượt được cuộc khủng hoảng đang trỗi dậy ở Việt Nam.

Đi dây trên chính trường thế giới

Nước Pháp của de Gaulle đã giúp đỡ nước Camphuchia trung lập với thiện cảm. Lần rút lui của thế lực thuộc địa diễn ra trong hòa bình và được hai bên thỏa thuận. Charles de Gaulle vẫn là người thầy khuyến khích và hỗ trợ cho vị vua trẻ tuổi. Cho tới khi hoàng tử bị lật đổ trong tháng Ba 1970, Campuchia lúc nào cũng có thể tin cậy vào sự giúp đỡ về tinh thần và vật chất của nước Pháp.

Trên Hội nghị Á-Phi ở Bandung, do Sukarno tổ chức năm 1955 và là động lực để tiến tới liên minh của “Phong trào không liên kết”, Sihanouk thành công trong việc thiết lập một quan hệ cá nhân với Chu Ân Lai, người đã giúp bảo vệ các lợi ích của người Khmer ngay từ ở Genève. Chu khuyến khích Sihanouk nối kết với người thủ tướng cứng nhắc của Bắc Việt Nam, Phạm Văn Đồng.

Norodom Sihanouk, khoảng năm 1960
Norodom Sihanouk, khoảng năm 1960

Hai người, Chu và Phạm, cư xử như những ông quan lại. Họ đến với đảng cộng sản từ niềm tin chứ không phải từ thiện cảm với giới vô sản. Khả năng tìm được một phong cách phù hợp với tình hình của họ đã giúp cho Sihanouk. Đối với Sihanouk thì đó là một điều tự nhiên, bày tỏ sự kính trọng đặc biệt trước tuổi tác.

Trong những năm cuộc Chiến tranh Việt Nam leo thang, Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng và Sihanouk đã tạo thành một liên minh chính trị mà trong đó, theo phép tắc châu Á, trách nhiệm được nhận lấy và rồi được đáp trả, sự phụ thuộc và quan hệ đặc biệt của cá nhân đã phát triển, những cái nằm trong vòng bí mật một thời gian dài. Không có liên minh bí mật này của hai quan với người đứng đầu nhà nước người Khmer thì không thể giải thích hoàn toàn được diễn tiến của cuộc Chiến tranh Việt Nam.

Dưới thời của John F. Kennedy, nước Mỹ đã bước vào hỗ trợ quân sự cho Nam Việt Nam, một sự hỗ trợ dẫn thẳng vào bãi lầy của một cuộc chiến tranh xấu xa và đẫm máu trên đất liền ở Đông Dương. Khi tình hình dưới thời Ngô Đình Diệm, viên tổng thống kiêu ngạo và phi lý, xa lạ với thế giới thực của Sài Gòn, người do không ai khác hơn là John Foster Dulles đưa lên bục, không còn có thể chịu đựng được nữa, CIA đã vào cuộc với sự hiểu biết và chấp thuận của John F. Kennedy. Viên “trưởng chi nhánh” ở Sài Gòn đã khuyến khích một nhóm sĩ quan Nam Việt Nam đảo chính. Vào ngày 2 tháng Mười Một 1963, Diệm bị lật đổ.

Kết liễu của ông lại làm cho các nhà lập kế hoạch trong CIA nhận thấy rõ một cách đáng sợ, rằng chính trị ở Sài Gòn được làm theo các quy tắc tại chỗ. Hội đồng quân sự chiến thắng không để cho Diệm và Ngô Đình Nhu, người em và là cố vấn thân cận nhất, đi lưu vong. Họ bị giết chết. Tất nhiên là chính phủ ở Washington tuyên bố rằng hoàn toàn không có liên quan gì tới vụ đảo chính đó. Ở châu Á thì hầu như không ai tin vào lời phủ nhận này.

Đối với nhiều chính phủ trong khu vực thì những sự kiện ở Sài Gòn là một cú sốc. Hoàng tử Sihanouk, người mà Mỹ bí mật nghi ngờ cộng tác với Việt Cộng, từ lâu đã lo sợ cánh tay dài của CIA. Đối với ông hoàng tử, vụ giết chết Diệm là bước ngoặc chỉ cho thấy chiều hướng của tấn bi kịch tương lai. “Chúng ta phục vụ tốt nhất cho lợi ích của chúng ta”. Sau này, Sihanouk diễn đạt lại những suy nghĩ lúc đó của ông, “khi chúng ta nghiên sang phía của phe sẽ thống trị cả châu Á vào một ngày nào đó, và chúng ta phải thích ứng từ trước khi chiến thắng, để nhận được những điều kiện thuận lợi nhất.”

1963, sau vụ giết chết Diệm, Sihanouk từ chối không tiếp tục nhận sự giúp đỡ của Mỹ. Nhân một bài báo của Newsweek mang hoàng hậu vào trong mối liên quan với những vụ tham nhũng, ông cắt đứt quan hệ ngoại giao với Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ trong tháng Năm 1965. Hoàng tử đã quyết định, Đối với ông thì không còn nghi ngờ gì nữa, rằng các lợi ích của Camphuchia được bảo toàn tốt nhất là ở đâu.

“Người Mỹ có thể giết chết mười hay hai mươi triệu người Việt”, Sihanouk nói trong tháng Mười Một năm 1965 với tờ Far Eastern Economic Review nổi tiếng, “nhưng trước sau gì thì họ cũng sẽ buộc phải để đất nước Việt Nam lại cho những người còn sống. Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ đã lao vào trong một cuộc phiêu lưu mà nhất định sẽ chấm dứt với một chiến bạn.”

Trong tính toán đó, Trung Quốc cộng sản là “phe” sẽ thống trị toàn châu Á. Trung Quốc là siêu cường quốc tương lai. Nhưng thuộc phe đó cũng là Bắc Việt Nam, sau đó là toàn Việt Nam, láng giềng trực tiếp, đã đe dọa và xâm phạm tính toàn vẹn lãnh thổ của vương quốc Khmer suốt nhiều thế kỷ.

Bằng phương tiện quân sự, hoàng tử nhận ra điều đó rõ ràng hơn bất cứ ai ở Phnom Penh, thì không thể bảo vệ Campuchia được. Ông sợ Trung Quốc, và ông sợ Việt Nam.  Nhưng đó là nhiệm vụ của ông, toan tính hoàn toàn thực tế tình hình địa chính trị, cơ hội và khả năng của dân tộc bảy triệu người của ông giữa những gã khổng lồ. Nơi voi làm tình thì cỏ sẽ bị dẫm nát, đó là một câu châm ngôn châu Á. Vị Vua-Thượng Đế không cho phép mình có ảo tưởng, không được phép tự đánh giá quá cao, không được phép mơ về sức lực anh hùng của chủng tộc Khmer. So với viên tướng huyền bí Lon Nol và kẻ ảo tưởng giết người Pol Pot, ông là một người hành động theo lý trí, rất khác thường đối với dân tộc Khmer. Kịp thời ngã sang phía của kẻ mạnh và của người chiến thắng ước đoán, điều đó không chứng minh cho tính táo bạo hay thậm chí là cơ hội hèn nhát, mà là sự ranh mãnh được coi trọng trong lối suy nghĩ chính trị và chiến lược ở châu Á. Người lãnh tụ tốt nhất là người thắng cuộc mà hoàn toàn không cần phải chiến đấu.

Các quan hệ với Trung Quốc cộng sản phát triển nhanh chóng và thuận lợi. Năm 1956 và 1960, Chu Ân Lai sang thăm Campuchia. Hoàng gia tổ chức những cuộc viếng thăm chính thức với nhiều công sức để gây ấn tượng cho những người khách, kể cả những người cộng sản. Sihanouk tháp tùng khách của ông, bất cứ lúc nào có thể được, tới Angkor để vinh quang sáng lên trên một đất nước mà bây giờ đang cố gắng ngăn chận lần suy tàn lịch sử và ổn định nền tảng cho sự tồn tại. Có thể thấy rõ rằng Chu Ân Lai đã thích thú với các chuyến đi sang Phnom Penh, những lần được hướng dẫn đi thăm Angkor, những buổi trình diễn múa ba lê trong ánh sáng đuốc trước hậu cảnh Angkor Wat và sự xa hoa của những nghi lễ hoàng gia.

Sihanouk đã thăm đáp trả ba lần ở Bắc Kinh; 1956, 1960 và 1963. Từ 1956 cho tới 1960, Trung Quốc đã giúp đỡ về mặt vật chất tròn 50 triệu dollar Mỹ. Campuchia của Sihanouk nhận được nhiều viện trợ như nước Indonesia của Sukarno với hơn 100 triệu dân cư của nó. Tình hữu nghị mới với Bắc Kinh cũng làm tăng thêm giá trị cho Sihanouk trên trường quốc tế và tạo sự che chở bên sườn chống lại láng giềng Việt Nam nguy hiểm.

Chu Ân Lai, người mà ngay từ Hội nghị Bandung 1955 đã bắc cầu sang Phạm Văn Đồng, bây giờ lại xuất hiện thêm một lần nữa như là người môi giới. Ông đề nghị với Sihanouk, người mà theo truyền thống Trung Quốc bị trói buộc bởi trách nhiệm đạo đức của một người được ưu đãi, rằng hãy làm một việc giúp cho “Mặt trận Dân tộc Giải phóng” (MTDTGP) ở Nam Việt Nam. Ai được tặng một con bò thì phải trả lại một con ngựa, đó là cách diễn đạt phổ thông cho những việc làm giúp như vậy.

Chính Chu Ân Lai đã yêu cầu vị hoàng tử chuyển giao các viện trợ vũ khí và vật chất của Trung Quốc cho MTDTGP ở Nam Việt Nam qua đường Campuchia. Hàng hóa tiếp tế sẽ đáp vào cảng Sihanoukville. Để bù đắp lại cho công sức của FRAK (Forces Royales Armées des Khmers – Lực lượng Vũ trang Hoàng gia Khmer), chuyên chở số hàng hóa đó tới biên giới Việt Nam, vương quốc được phép giữ lại một phần ba số hàng cung cấp đó cho mình. Lời mời tài trợ đó tương ứng với phong tục địa phương. 10 tới 20 phần trăm là thông thường. Một phần ba là hào phóng, nhưng cũng là một chứng minh cho tính cấp thiết mà Chu Ân Lai muốn người ta thể hiện khi tiến hành giúp đỡ cho Việt Cộng.

Lúc đầu, Sihanouk thố lộ sau này, ông “không hạnh phúc” về ý muốn đó. Nhưng ông không muốn từ chối người Trung Quốc. Và tỷ lệ đó cũng quyến rũ. “Với giá đó thì người ta bán cả thân mình.”

Cảng đó, cái mà bây giờ nhận được một tầm quan trọng chiến lược, được xây cách Phnom Penh khoảng 120 kilômét về hướng tây nam, để cho Campuchia độc lập với Việt Nam. Trong thời Pháp, vương quốc được cung cấp từ những cảng ở miền Nam Việt Nam. Hàng hóa được chở từ đó trên sông Mekong sang Phnom Penh.

Thành phố yên tĩnh này lúc trước có tên là Kompong Som, nơi mà bây giờ cái cảng biền được xây ở đó. Bây giờ thì nó nhận được tên của người bảo trợ hoàng tộc: Sihanoukville. Và người hoàng tử lo sao cho thành phố của ông được đối đãi ưu tiên tại tất cả các dự án phát triển, bên cạnh Phnom Penh. Hoa Kỳ, trước khi các quan hệ ngoại giao bị cắt đứt, đã xây một con đường trải nhựa rộng và chắc chắn, để mà hàng hóa từ cảng mới có thể được chở về tới thủ đô. Con đưởng cao tốc này được đặt tên là “Đường Hữu nghị”, mà rồi vũ khí cho đối thủ của nước Mỹ được chở ở trên đó ra chiến trường từ năm 1966. Sự sỉ nhục mà Sihanouk qua đó mang lại cho người Mỹ tương xứng với tinh thần chính trị của ông trong lúc đó. Nhưng tạm thời thì vấn đề chính là giữ kín vụ kinh doanh này.

Một hiệp ước bí mật đầy nguy hiểm

Khi Sihanouk bắt đầu nói công khai ở chốn lưu vong về sự cộng tác theo ý muốn của Trung Quốc, ông đã đẩy những phần thưởng vật chất ra phía sau. Cân nhắc chính trị, ông nói như vậy, đã làm cho các rủi ro trở nên có thể tính toán và chịu đựng được. “Tôi đã hoạt động với ý định nhận được sự cảm kích của Việt Minh, rồi của Hà Nội hay của Việt Cộng, giúp đỡ họ trong cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa đế quốc của họ và bảo đảm cho Campuchia những quan hệ tốt đẹp với láng giềng hùng mạnh này.”

Sihanou (thứ hai từ bên phải) và Khieu Samphan (thứ ba từ bên trái) đứng cạnh một cột mốc
Sihanou (thứ hai từ bên phải) và Khieu Samphan (thứ ba từ bên trái) đứng cạnh một cột mốc

Sau khi ông bị lật đổ, khi nước Cộng hòa Khmer nổ lực hủy hoại thanh danh của người hoàng tử, người ta đã nói nhiều về tham nhũng của hoàng gia và về việc làm giàu trực tiếp của Sihanouk. Với sách và bài viết, Sihanouk đã chống lại lời lên án xúc phạm danh dự đó. Thật sự là ông vẫn nghèo, một người khách của chính phủ Trung Quốc và Triều Tiên, cho phép ông tỵ nạn và trợ cấp tiền bạc cho nhà nước hoàng gia của ông. Cuộc kinh doanh vũ khí với Chu Ân Lai diễn ra, “tôi long trọng bảo đảm, là để cho nước Việt nam cộng sản cam kết rằng họ sẽ không bao giờ dám, mà không mất danh dự hoàn toàn, giơ bàn tay lên chống lại đất nước chúng tôi và dân tộc chúng tôi, ân nhân của họ”.

Có hai rủi ro đi liền với cuộc kinh doanh Bắc Kinh. Nếu như người hoàng tử có tiên đoán chúng trước thì ông đã tin vào sự may mắn của mình, rằng ông và đất nước của ông sẽ không phải chịu đựng hậu quả. Rủi ro thứ nhất là Hiệp Chúng Quốc Hoa kỳ, nước sẽ trả lời cho lần tích cực nghiên về phe của đối thủ – nếu như hoạt động đó bị phát hiện – bằng những phương tiện quân sự. Rủi ro thứ nhì là quân đội của ông, đang lo tiến hành cuộc kinh doanh đó.

Đứng đầu quân đội hoàng gia là Tướng Lon Nol nhiều thủ đoạn, có vai rộng và nước da đen, người mà toàn bộ con đường sự nghiệp đều nhờ vào người hoàng tử, và là người mà ông hoàn toàn không tin là sẽ nổi loạn. Lon Nol, người cũng giám sát cảnh sát và mật vụ, là một người thăng tiến nhanh, một người từ quần chúng, người mà giới tinh hoa da trắng khinh thường vào lúc ban đầu. Sihanouk thầm cho rằng ông là một sĩ quan có tài trung bình, ít hiểu biết nhưng lắm mưu mẹo và vô lương tâm, điều xác nhận cho tính chất phù hợp với một người sếp an ninh của ông.

Tuy vậy, lực lượng 30.000 người của FRAK hưởng lợi nhuận rất khác nhau. Thật sự làm giàu chỉ là các sĩ quan đứng đầu, trước hết là Lon Nol. Tham nhũng, ganh tỵ và ghen ghét đi liền với hoạt động này. Nó phá hủy đạo  đức và cuối cùng lây lan ra toàn xã hội. Nhiều người biết về cuộc kinh doanh bí mật này. Tất nhiên là họ có cảm giác được chia lợi nhuận không đầy đủ.

“Cho người của Lon Nol và cho chính Lon Nol” thì đó là một vụ mua bán “rất béo bở”, như Sihanouk giải thích sau này. Trung Quốc còn phải nhét thêm tiền bôi trơn cho viên tướng, để hàng hóa cung cấp đã giảm đi một phần ba cũng thật sự là được mang tới cho Việt Cộng. Nhưng người hoàng tử cho rằng mãi đến khi sống lưu vong ông mới hay biết về những sự việc này từ những người bạn Trung Quốc và Việt nam của ông. Thật sự thì ông đã chỉnh sửa hình ảnh của ông, để có thể bác bỏ mọi trách nhiệm cho các hậu quả phụ của hoạt động bí mật đó trong xã hội, và làm cho người khác tin rằng không ai thân cận với ông đã tham gia hay chỉ biết về việc đó.

Hồi ký người cố vấn của ông, Charles Meyer, chứng minh điều ngược lại. Là nhà chiến lược của “Bình Xuyên”, đảng cướp trên sông và trùm giới giang hồ, “Charly” Meyer đã đóng một vai trò đáng ngờ cho tới khi Diệm làm khô vũng bùn lầy đó và tước vũ khí của lực lượng phụ cho quân đội này. Từ Sài Gòn, người Pháp khéo xoay sở này đã tìm được con đường đi tới hoàng cung Phnom Penh, nơi mà sau một thời gian ông đã có ảnh hưởng đáng kể, thậm chí còn có quyền lực nữa. Ông có thể mở ra cánh cửa hay ngăn chận không cho tiếp cận tới hoàng tử. Ông luôn luôn ủng hộ các chiến dịch chống Mỹ và những người đi khắp nơi để tổ chức chúng, những người mà ông cung cấp vật liệu và tạo những mối quan hệ ở khắp nơi trên thế giới. Tất nhiên, Charles Meyer là một nhân chứng đáng nghi. Nhưng năm 1971, khi hồi ức của ông được xuất bản ở Paris, thì ông không có lợi ích gì khi gây hại cho người hoàng tử.

Người Trung Quốc, Meyer kể lại như vậy, đã phàn nàn với ông về việc Lon Nol đã lừa họ trong lúc tiến hành các vụ cung cấp này. Ông trình báo sự việc với Sihanouk. “Lon Nol thông minh đấy”, Sihanouk cười to, nhưng ông không làm gì cả.

Lon Nol
Lon Nol

Quân đội, thứ mà người đứng đầu nhà nước theo những lời bày tỏ của chính ông thì thật ra là ông không quan tâm tới – không phải nghệ thuật cầm binh, nghệ thuật mới quyến rũ ông – đi theo một đường hướng riêng, ra khỏi trọng trường của người hoàng tử. Tướng Lon Nol, được cho là trung thành nhưng có nhiều tham vọng, âm thầm mơ tưởng đặt mình vào vị trí của vị vua thần thánh này.

Cũng đáng ngại không kém là phản ứng của Mỹ trước việc làm của Campuchia cho Việt Cộng. Lầu Năm Góc, trong thỏa thuận với “Military Assistance Command Vietnam” (Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự Việt Nam), luôn lưu ý tới chức năng quan trọng của Sihanouk và yêu cầu phải có biện pháp quân sự. Westmoreland yêu cầu từ 1966 quyền hot persuit, quyền tự do truy đuổi địch thủ trên lãnh thổ Campuchia. Ông yêu cầu sự hỗ trợ của pháo binh và máy bay ném bom B-52.

CIA cương quyết chống lại phân tích này của giới quân đội. Họ không thể tìm thấy bằng cớ cho thấy rằng cảng Sihanoukville đóng một vai trò quan trọng. Công cuộc tiếp tế cho Việt Cộng, cơ quan mật vụ lý luận như vậy, phần lớn được chuyên chở trên con đường mòn Hồ Chí Minh qua lãnh thổ Lào. Đó thuần túy là may mắn cho Sihanouk, rằng CIA với đánh giá tình hình của họ đã thắng thế.

Cho tới chừng nào mà Lyndon B.Johnson còn tại chức, cho tới đầu 1969, thì yêu cầu “xâm lược” Campuchia của quân đội vẫn bị bác bỏ. Sau đó, Richard Nixon và cố vấn an ninh Henry Kissinger của ông bắt đầu tổng kết mới tình hình. Họ đưa ra bản tính toán năm 1970 và khởi động một chiến dịch quân sự lôi kéo vương quốc này vào trong vòng xoáy của sự điêu tàn.

“Không thể giấu voi chết vào trong giỏ được”

Lần đi dây giữa Đông và Tây của Sihanouk ngày càng trở nên nguy hiểm hơn. Người hoàng tử hẳn phải nhìn thấy vực thẳm trước mắt mình. Nhưng ông tạm thời còn có thể che dấu được nỗi sợ hãi của ông.

May mắn của ông dường như dần cạn kiệt. Nếu như cho tới nay ông còn tìm được con đường đúng đắn với sự chắc chắn của một người mộng du thì bây giờ, vào giữa những năm sáu mươi, ông phạm phải một loạt quyết định sai lầm gây hại tới an ninh trong nước, tới sự thịnh vượng về vật chất và sự ổn định về chính trị.

Sihanouk
Sihanouk

Ít có nhà quan sát nào nhận biết được sự thay đổi tính khí và hoàn cảnh sống đó như nhà ngoại giao và học giả người Úc Milton Osborne, người mà năm 1959 đã choáng ngợp trước nét quyến rũ của đất nước này. Năm 1966, trong lần thứ hai đến nước này, ông tin là đã nhận ra được những dấu hiệu khủng hoảng. “Tôi chợt hiểu”, Osborne viết trong lúc nhìn lại thời gian này, “Campuchia dễ vỡ tới đâu trong năm 1966 đó: dễ vỡ và ốm đau.”

Lần tán tỉnh người cộng sản trên trường thế giới không ngăn chận Sihanouk dùng bàn tay cứng rắn đàn áp những người cộng sản của chính ông, những người mà ông đã mang lại cái tên “Khmer Rouges” cho họ. Ông khoe khoang là người chống cộng sản thành công nhất của thế giới. Lời nói của ông thường thể hiện tính tàn bạo mà cảnh sát cũng thật sự hoạt động với nó: “Tôi không cần biết mình có xuống địa ngục hay không … Thậm chí tôi sẽ tự mình đưa hồ sơ cho quỷ sứ … Tôi để cho xử bắn họ.”

Người hoàng tử tin rằng mình hết sức khéo léo, khi ông cũng tước những sự lựa chọn chính trị khác ra khỏi cánh tả, nắm lấy tư tưởng hệ của họ. Ông bắt đầu một chính sách cướp đi các đề tài của họ. Năm 1963, một cuộc thử nghiệm được bắt đầu, cái cần phải dẫn tới “Chủ nghĩa Xã hội Phật giáo”. Sihanouk quốc hữu hóa ngân hàng và các nhà máy lớn. Người quan liêu và người của hoàng cung bước vào thay thế cho những nhà tư sản và doanh nhân. Họ không cần thời gian lâu để làm phá sản nền kinh tế. Cũng như giới quân đội, Sihanouk hẳn cũng khinh thường người buôn bán và kẻ vơ vét. Ông mạo hiểm can thiệp vào trong nền kinh tế quốc dân mà không nhìn thấy hết những hậu quả của nó. Cho tới nay, ông đều thành công trong mọi việc. Điều này dẫn dụ ông tin rằng ông không thể thất bại trên trường nội địa.

“Chủ nghĩa Xã hội Phật giáo” làm tê liệt lực sáng tạo mà trước sau gì thì cũng đã phát triển yếu ớt của giới tư sản Khmer, giới mà người hoàng tử nhanh chóng nhận được sự chống đối của họ. Người nông dân chịu thiệt thòi vì giá lúa giảm. Để tránh áp lực thuế, họ bí mật bán bất hợp pháp lúa gạo của họ cho Việt Cộng và cho các đơn vị Bắc Việt Nam. Đó là những người nông dân gợi lên hình ảnh dễ hiểu của con voi chết mà không có cái giỏ nào có thể giấu được nó. Như bệnh dịch hạch, một dịch bệnh không có thuốc chữa, tham nhũng lây lan toàn xã hội. Mỗi một người Khmer đều bị nhiễm. Nhưng chỉ số ít là hưởng lợi từ đó. Nền kinh tế quốc dân mang lại càng ít thành quả thì tất cả những người đó lại càng tham lam, những người có quyền hành và có thể tự lấy phần cho mình. Hầu như ai ở Phnom Penh cũng đều biết rằng mẹ của công chúa Monique và gia tộc của bà tham gia rất sâu vào trong những vụ kinh doanh đen tối. Thông qua những người bù nhìn Trung Quốc họ thoải mái hưởng lợi từ sòng bạc mới thành lập.

Tất nhiên là mỗi một cố gắng ngăn chận cái xấu xa đều dẫn tới một cuộc đấu quyền lực với giới quân đội và Lon Nol. Một cố gắng ngăn ngừa tham nhũng của thủ tướng một thời Penn Nouth chỉ làm cho thấy rõ rằng có một cỗ máy bất khả phân ly đã thành hình, một loại “mafia” rộng lớn mà cùng với việc sở hữu vũ khí cũng có một tờ giấy phép cướp giật, như Sihanouk sau này thừa nhận. “Penn Nouth nhận ra rằng người ta không thể bắt được bất cứ ai mà không động đến Lon Nol, và điều đó đồng nghĩa với một cú đánh vào toàn thể quân đội.”

Giờ đây, trong tình thế khó khăn đó, Sihanouk cũng mất cả quyền kiểm soát “Sangkum”, đảng của nhà nước. Tại các cuộc bầu cử 1958 và 1962, họ đã thắng tất cả các ghế trong Quốc Hội. Danh sách ứng viên được chính người hoàng tử lập ra. Nó lưu ý tới sức mạnh thích hợp và sự cân bằng của phe tả và phe hữu, nó cho các ngành nghề có vị trí của họ, nó liên kết nhiều mối lợi ích và qua đó có tác động tích hợp các lực lượng xã hội quan trọng nhất.

Bây giờ, 1966, Sihanouk lần đầu tiên trao sự lựa chọn ra cho cuộc chơi tự do của các thế lực, cho người dân như ông muốn tự mình tin như vậy. Chính ông đã làm sụp đổ sự cân bằng đầy nghệ thuật trong chính sách đối nội của ông.

Những người lãnh đạo phe cánh tả chạy trốn vào trong rừng. Phe cánh tả bị hình sự hóa và bị tiêu hao nhiều. Lần trừ khử họ đã mang lại thêm rất nhiều quyền lực cho phe hữu, vì không còn có thể làm cân bằng các phe phái được nữa. Thêm vào đó, người của phe hữu có tiền để mua phiếu bầu và kiểm soát Quốc Hội. Vương quốc trải qua lần dịch chuyển sang phía hữu, việc cướp đi nền tảng của Sihanouk và dọn đường cho lần thăng tiến không còn có thể ngăn chận lại được nữa của Tướng Lon Nol.

Với một lần “chống chính phủ”, Sihanouok đã yếu ớt cố tạo ảnh hưởng tới diễn tiến của sự việc. Nhưng ngày càng có thể thấy rõ là ông không còn hứng thú bước ra đấu tranh, chống lại thất bại. Sự quan tâm của ông quay lưng lại với chính trị và quay sang nghệ thuật, là nơi ông đã luôn phỏng đoán tài năng của mình.

Trong năm định mệnh 1966, ông sản xuất phim truyện lớn đầu tiên của ông, có tựa đề là “Apsara”, theo những nữ thần gợi cảm trên các phù điêu. Đóng một vai trò chính ở trong đó là Tướng Nhiek Tioulong, người đã từng là Ngoại trưởng và sếp kế hoạch, và bây giờ là tổng thanh tra của quân đội. Cũng phải có mặt là người sếp của lực lượng không quân nhỏ bé, Tướng Ngo Hou, vì nhà sản xuất, đạo diễn, tác giả kịch bản và soạn nhạc phim Sihanouk cần dùng trực thăng. Vai nữ chính dành cho Bopha Devi, con gái của hoàng tử và là ngôi sao xinh đẹp của đội múa hoàng gia. Trong những phim sau này, chính ông cũng tham gia diễn và cả công chúa Monique, vợ ông.

Phim của ông, Milton Osborne phán xét như vậy, người đã xem chúng và cũng trải qua những buổi tiệc chiêu đãi cho lần trình chiếu đầu tiên, là những câu chuyện cổ tích, ít hay hoàn toàn không có liên quan gì tới hiện thực của Campuchia. Niềm đam mê phim ảnh bắt đầu thống trị cuộc đời ông, và qua ông, như Osborne viết, “cuộc sống của nhà nước”.

Thoát ly thực tế, chạy trốn hiện thực, chỉ riêng điều đó thì không đủ để giải thích hành vi của Sihanouk. Một cách giải thích thứ nhì, dẫn tới gần cốt lõi hơn, quy về một sự đồng nhất lợi ích câm lặng giữa nhà vua và phe hữu. Sihanouk đã thừa nhận rằng thử nghiệm thiên tả của ông đã thất bại, rằng cơ hội ở lại vị trí đứng đầu nhà nước của ông chỉ còn có thể tìm thấy trong một liên minh với phe hữu. Chỉ những người thủ cựu và phe hữu mới có khả năng sửa chữa đường lối đối nội và đối ngoại. Chỉ họ cũng sẽ nhanh chóng tái thiết lập các quan hệ với Mỹ vả để cho dòng dollar giúp đỡ chảy vào trong nước. “Chủ nghĩa Xã hội Phật giáo” đã thất bại, sự lựa chọn khác chỉ có thể là một chủ nghĩa tự do tư bản, cái công khai tự thừa nhận mình và hưởng những lợi thế từ sự giúp đỡ của Mỹ.

Thuyết này có thêm tính đáng tin qua chính bản thân Sihanouk, người sau này đã giải thích rằng ông đã bật đèn xanh cho người thủ tướng mới của ông, Lon Nol, cho “thử nghiệm nguy hiểm này”, nhưng chỉ sau khi người này bảo đảm với ông rằng, “ông sẽ không bao giờ để cho chính phủ của ông trở thành con rối của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ”.

Một động cơ thứ ba cũng cần phải được làm sáng tỏ, cái có lẽ có ảnh hưởng mạnh nhất tới quyết định mang tính số phận của năm 1966. Tính kiêu ngạo cá nhân bước vào cuộc chơi. Ở người hoàng tử, nó tăng lên càng mạnh khi chính sách của ông càng lâm vào khủng hoảng. Kiêu hãnh và quá nhạy cảm đã tác động mạnh tới các hành động của ông trong những năm khó khăn nhất của cuộc đời. Trong giai đoạn này của cuộc đời ông, ông yêu chính bản thân mình còn nhiều hơn là người dân yêu ông.

Hoàng tử Sihanouk phần lớn cũng thích tiếp xúc với các thông tín viên nước ngoài. Ông yêu thích tiếng vang trong giới báo chí quốc tế. Sự chú ý của các nhà báo vuốt ve tính kiêu ngạo của ông. Ngay cả các thông tín viên của trường lớp trước, mô tả ông với một sự kính trọng lớn trong các bài báo của họ, thỉnh thoảng vẫn làm cho ông bực dọc, khi họ không thấu hiểu hết những điều không được nói ra quanh một vị “vua-thượng đế”, cho những huyền thoại của chức vụ ông. Nhưng còn làm cho ông giận dữ nhiều hơn nữa là tên gọi “nước nhỏ” cho Campuchia. Ông ký tên dưới những bức điện tín phản đối với diễn đạt: “Veuillez agréer, Monsieur, l’expression de ma deception”.  (“Hãy chấp nhận, thưa ông, biểu hiện sự thất vọng của tôi.)

Khi người hoàng tử lâm vào cuộc khủng hoảng giữa những năm sáu mươi, tính nhạy cảm của ông đã tăng lên. Mỗi một phê phán cá nhân ông đều được Sihanouk thể hiện như là một sự tấn công tới Campuchia. Ông để cho lập một danh sách đen, nhằm ngăn cản không cho các nhà báo tái nhập cảnh, những người mà ông không thích các bài báo của họ. Ông thích nhất là quy tụ các nhà báo của khối Đông Âu quanh mình. Ông chỉ nhận được những lời khen ngợi từ họ.

Các cuộc bầu cử mang tính quyết định của năm 1966 đã bị ảnh hưởng trực tiếp bởi cuộc xung đột với nhiều phần của giới báo chí Phương Tây. Thậm chí các old hands đã phê phán dè dặt màn trình diễn đơn độc đó, chỉ được chính danh hóa qua một nền dân chủ giả hiệu. Phóng viên chiến tranh trẻ tuổi đến thăm ngắn hạn từ Sài Gòn, tiếp cận vấn đề trực tiếp hơn: Sihanouk trên thực tế là một nhà độc tài, không cho người dân các quyền dân chủ của họ.

Lời lên án này dường như đã làm tổn thương Sihanouk đặc biệt sâu nặng. Vì ông đã góp phần đáng kể vào trong quyết định, để cho “nhân dân” quyết định vào năm 1966:  “Ở Hoa Kỳ, các báo Times, Newsweek, US-News and World Report tranh nhau chế nhạo tôi. Chiến dịch này đã làm cho tôi tuyệt vọng, và để chứng minh cho chủ nghĩa tự do của tôi, tôi quyết định nới lỏng dây cương. Tôi tuyên bố tôi tin cậy vào trí tuệ của người dân.”

Tất nhiên là Sihanouk phải biết tốt hơn giới báo chí Phương Tây, bầu cử tự do sẽ dẫn tới đâu trong một xã hội chưa từng trải qua một điều gì tương tự như vậy. Những kẻ mị dân sẽ được lợi, những người hứa hẹn nhiều nhất và trả tiền nhiều nhất. Người dân hầu như bất lực trước quyền lực có tổ chức của phe hữu và giới giàu có.

Sau này, Sihanouk đã gọi đó là sai lầm lớn nhất của ông, quá coi trọng tường thuật về Campuchia và “phản ứng quá nhạy cảm với nó”. Ai bút chiến với báo chí thế giới thì người đó chỉ gây hại cho thanh danh của chính mình. Những điều như vậy giống như là tự sát. Trong một cuộc phỏng vấn của Playboy trong tháng Năm 1987, Sihanouk biết cách diễn đạt chính xác lối đối xử sai lầm của ông: “Nếu như tôi có thể đặt tôi trở lại quá khứ thì tôi sẽ ít hãnh diện hơn.”

Từ 1966, bầu trời trên vương quốc bắt đầu tối tăm. Môi trường quốc tế phát triển khác với Sihanouk tự tin giả định. Nền tảng tan vỡ, nền tảng mà nền chính trị Campuchia xây dựng ở trên đó.

Năm 1966, Trung Quốc chìm vào trong sự hỗn loạn của cuộc Cách mạng Văn hóa. Những nhà giáo điều và cực đoan đã cắt vụn mạng lưới kết nối nước Cộng hòa Nhân dân với cộng đồng quốc tế. Các quan hệ ngoại giao với hầu hết các láng giềng đều bị cắt đứt. Cách mạng là chương trình nghị sự hàng ngày. Chu Ân Lai không lộ diện. Mao “ông Phật già”, mơ giấc mơ lớn cuối cùng của ông nhờ sự giúp đỡ của “bè lũ bốn tên”.

Saloth Sar là người đàn ông mới của Khmer Đỏ, người mà năm 1963 đã có thể giành lấy quyền lãnh đạo về cho mình và hướng hoàn toàn tới ngưởi cầm lái vĩ đại ở Trung Quốc. Mãi sau này, khi ông lấy tên là Pol Pot, người ta mới biết rằng Saloth Sar vào cuối 1965 đã có một chuyến đi qua Hà Nội tới Bắc Kinh, và đã được Mao Trạch Đông tiếp đón qua những cuộc trao đổi kéo dài.

Mao đánh giá nhà cách mạng 37 tuổi đến từ rừng rậm Campuchia như thế nào, điều này thì chính phủ ở Hà Nội tin là đã biết được tương đối chính xác. Trong quyển “Sách trắng về những tội ác của Trung Quốc với dân tộc Khmer” được phát hành sau khi quân đội Việt Nam tiến quân vào Camphuchia, các tác giả của Bộ Ngoại giao viết, sở hữu được những tường trình bí mật từ Bắc Kinh: “Với một mục đích nhất định ở trước mắt, Mao khen ngợi Pol Pot là ‘một người có tinh thần dân tộc mạnh mẽ’. Mao gọi cuộc cách mạng ở Campuchia là ‘điểm nóng của cách mạng ở Đông Nam Á’.”

Norodom Sihanouk ngày 12 tháng 4 năm 1973 cùng với Hou Youn (trái) và Son Sen (phải)
Norodom Sihanouk ngày 12 tháng 4 năm 1973 cùng với Hou Youn (trái) và Son Sen (phải)

Sau khi những người anh em cộng sản Trung Quốc và Việt Nam trở nên thù địch với nhau năm 1979, một loạt trích dẫn hồ sơ được công bố ở Hà Nội, nhằm làm mất uy tín giới lãnh tụ Trung Quốc và đổ lỗi một phần cho các tội ác của Khmer Đỏ. Nhà sử gia phải chú ý tới ý định này, phải tương đối hóa những mẩu câu đó từ hồ sơ nguyên thủy, phải chú ý tới hoàn cảnh của thời đó và hết sức cẩn thận. Nhưng cả với những giới hạn này thì các hồ sơ do Hà Nội công bố dường như cũng đã mô tả đúng đường hướng của chính sách Trung Quốc đối với Sihanouk.

Thay vì dựa vào ông ta, Bắc Kinh dường như đã dựa vào Khmer Đỏ. Cho tới lúc đó, Bắc Kinh và Hà Nội đã yêu cầu Pol Pot và người của ông không phá rối các giới xung quanh Sihanouk, mặc cho sự săn lùng cộng sản. Cuộc đấu tranh cách mạng ở Nam Việt Nam nhờ vào tính trung lập vẻ ngoài đó. Thế nhưng bây giờ thì Pol Pot và số người nhỏ theo ông trong rừng rậm bắt đầu chuẩn bị cho cuộc đấu tranh vũ trang. “Tuần trăng mặt của Sihanouk với Trung Quốc đã qua rồi”, các tác giả quyển Sách Trắng viết.

Trong tháng Ba/Tư 1967, người hoàng tử phải đối diện với một cuộc nổi dậy của những người nông dân ở thị trấn Samlaut, tỉnh Battambang, cái mà ông để cho đập tan với một sự cứng rắn khác thường. Sinh viên tỏ tình đoàn kết với các nạn nhân. Như là dấu hiệu của sự phản kháng, họ cạo trọc đầu. Họ mang băng đen ở cánh tay. Góp phần quyết định vào cho hành động đoàn kết này là một tin tức được các truyền thông của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công bố. Những người trí thức cánh tả đã lui vào trong bí mật Khieu Samphan, Hou Yuon và Hu Nim, theo Bắc Kinh, đã bị các cơ quan an ninh chính phủ bắt giữ và hành hình.

Đó là một tin sai. Những người được nêu tên còn đóng một vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng sắp tới đây. Cho tới ngày nay vẫn còn chưa rõ liệu tin tức sai lầm này là có chủ ý hay dựa trên một nhầm lẫn.

Khmer Đỏ của Pol Pot, nhiều nghiên cứu tỉ mỉ đã chứng minh như vậy, không giàn dựng cuộc nổi dậy của những người nông dân ở Samlaut. Nhưng họ đã sử dụng nó, để đốt lên ngọn lửa nhỏ đầu tiên của cuộc cách mạng. Đảng đã quyết định đấu tranh vũ trang, chính thức bắt đầu vào ngày 1 tháng Giêng năm 1968.

Các thế lực của số phận dường như bây giờ âm mưu với nhau chống lại Sihanouk. Ông rơi vào thế bị cô lập. Thế giới di chuyển theo một hướng khác với hướng ông đã tính trước. Campuchia đã thế chấp an ninh của nó cho những đối tác mà đã không thực hiện những lời cam kết của họ. Các tiền đề cho chính sách của ông đã sụp đổ dưới gánh nặng của hoàn cảnh.

Từ 1965 cho tới 1967, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ đã mang tròn nửa triệu lính sang Nam Việt Nam để tiêu diệt đối thủ cộng sản qua các chiến dịch tìm và diệt. Một sự tham chiến như vậy của thế lực mạnh nhất thế giới  để cho người ta nhận thấy ý muốn của giới lãnh đạo, biến một chiến bại đang có nguy cơ xảy ra thành một chiến thắng, thế nào đi nữa thì cũng không để cho Hà Nội xua đuổi ra khỏi Nam Việt Nam trong sự nhục nhã.

Hoàng tử Sihanouk hẳn phải hoài nghi rằng liệu ông có đánh cá đúng con ngựa hay không. Ông nhận ra rằng ông đã gây nguy hiểm cho đất nước ông với những việc làm cho phe cộng sản. Sớm muộn gì thì nước Mỹ cũng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của Sihanoukville và cả của những nơi trú ẩn cạnh biên giới Camphuchia-Việt Nam. Quân đội Mỹ sẽ can thiệp.

Ngoài ra, chính Sihanouk cũng đã tự nhận ra rằng trong khoảnh khắc này thì không thể chờ đợi lòng biết ơn mãi mãi đã được hy vọng từ Hà Nội. Biện pháp của quân đội Mỹ chống lại những nơi trú ẩn đó chỉ đẩy các đơn vị Việt Nam vào sâu hơn trong lãnh thổ Campuchia. Ông không còn có thể giữ mãi cho ông và người dân của ông ảo tưởng đó, rằng CIA khiêu khích ở biên giới và cố gắng mở rộng cuộc chiến sang Campuchia mà không có lý do. Có quá nhiều người ở Phnom Penh nhận biết được tình hình thật sự. Người “Duồn”, một diễn đạt mang tính xúc phạm cho người Việt bị khinh miệt, trong thực tế đã chiếm nhiều vùng rộng lớn của Campuchia. Điều đó gây tức giận ở khắp nơi. Mối nguy hiểm xuất phát từ người “Duồn” đào xới những lớp sâu lắng nhất trong tâm hồn dân tộc mà sự bi quan và nỗi lo sợ bị xóa sổ nằm ẩn ở trong đó.

Để chống lại làn sóng cảm giác này, Sihanouk đưa vấn đề biên giới và toàn vẹn lãnh thổ trở thành việc chính trong chính sách của ông ấy và thành đề tài dẫn đầu trong các cuộc nói chuyện hầu như vô tận của ông trước những người nông dân, người dân thành thị và quân nhân. Giới ngoại giao ở Phnom Penh bị nhẹ nhàng ép buộc phải tham gia vào trong những chuyến đi tới các tỉnh vùng biên giới. Sihanouk rõ ràng cảm nhận sự hiện diện của các đại sứ như là sự bày tỏ tình đoàn kết của quốc tế. Nó dường như xoa dịu được nỗi bất an nội tâm của ông.

Những lần xuất hiện của hoàng gia vẫn còn có tác động của chúng lên người nông dân tỉnh lẻ. Người dân miền quê chờ hàng giờ liền để có thể nhìn người “Cha kính yêu” một lần, ấn mình xuống bụi bặm ở trước ông trong hy vọng rằng ông nhìn họ, chào họ với một cử chỉ hay thậm chí chạm vào người họ.

Ở người dân thành thị thì phép kỳ diệu đó đã mất biến hầu hết rồi. Người hoàng tử hầu như không đến được với tai nghe của tầng lớp trung lưu, những người sợ hãi và căm thù người Việt, quá ngao ngán với tham nhũng và tiếc rẻ đồng dollar của Mỹ mà Sihanouk đã tự ý bỏ đi. Có thể cảm nhận được một bầu không khí nổi loạn tại các trường đại học. Ít nhất thì trong thủ đô cũng đã thành hình một “tình huống cách mạng”, nhưng hoàn toàn không trong ý nghĩa Mác-xít. Phe hữu nhìn sang Mỹ chờ đến giờ của họ.

Lon Nol trở thành thủ tướng năm 1969. Ông cử hoàng tử Sirik Matak làm người phó cho ông, một người bạn đã qua thử thách của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, anh em họ và địch thủ của Sihanouk từ dòng họ Sisowath.

Cuộc đảo chánh

Chỉ có tài năng trình diễn của ông là che dấu được nỗi bất an nội tâm của Sihanouk, sự tự nghi ngờ chính bản thân mình trong những năm khó khăn cho tới 1970. Sự kiểm soát bộ máy chính phủ đã hầu như hoàn toàn trượt ra khỏi tay ông. Chính phủ Lon Nol chẳng bao lâu sau đó đã tự gọi mình là “chính phủ cứu quốc”, khiến cho ông lấy làm hết sức khó chịu. Ý tưởng về “Chủ nghĩa Phật giáo” của ông đã thất bại. Đã đến lúc phải từ giã “Chủ nghĩa Sihanouk”. Bắc Kinh và Hà Nội đã làm sụp đổ tòa nhà chính sách đối ngoại được dựng lên một cách hết sức nghệ thuật của ông. “Một cảm giác mất can đảm sâu sắc” đã ập vào người ông, theo lời tự thú nhận. “Tôi ghi nhận, rằng Chủ nghĩa Xã hội Phật giáo đã thất bại, và trên thực tế là không có lối thoát trong đường hướng này.”

Tổng thống Lon Nol ở Phnom Penh kể từ cuộc đảo chánh trong tháng Ba 1970
Tổng thống Lon Nol ở Phnom Penh kể từ cuộc đảo chánh trong tháng Ba 1970

Lời thú nhận này sau nhiều năm của thành công và khen ngợi là một cú đánh mạnh vào lòng tự tin của ông. Ông, ông “vua-thượng đế”, không có khả năng tái khởi động con tàu nhà nước từ sức lực riêng của ông.

Trong tình huống nguy hiểm này, Sihanouk quyết định đi nghỉ mát một thời gian tương đối lâu ở Pháp. Từ nhiều năm nay ông đã không cho phép mình hưởng kỳ nghỉ mát nào. Người thích ăn ngon Sihanouk đã có vấn đề thừa cân ngay từ những năm còn trẻ. Ông muốn chữa trị ở trong vùng Provence, tại thành phố Grasse. Ông thông báo sau đó sẽ đi thăm chính thức Moscow và Bắc Kinh. Cuối tháng Ba 1970, hoàng cung thông báo như vậy, hoàng tử sẽ trở về lại Phnom Penh.

Thật sự thì người ta hẳn phải nhìn chuyến đi nghỉ mát này như là một cuộc chạy trốn trước chính bản thân mình. “Tôi ra đi”, ông tự mô tả khoảnh khắc đó, “thất vọng vì những thất bại của mình và đồng thời quyết định nhận ra những giải pháp mới.” Chỉ trong nhận thức tình huống ban đầu này thì mới có thể hiểu được tại sao người hoàng tử lại tê liệt một cách kỳ lạ, dường như không có khả năng hành động, phản ứng hoàn toàn khác với bạn bè và hẳn là cả đối thủ của ông cũng đã dự tính trước trong những ngày của tháng Ba năm 1970 đó.

Ông khởi hành vào ngày 6 tháng Giêng. Nhân viên hoàng cung và thầy bói đã quyết định ngày tháng này hết sức cẩn thận. Những cái xấu có thể vướng vào chuyến đi cần phải được xua đuổi bởi tác động của những yếu tố tốt lành. Lúc đó, người hoàng tử đã phải lo sợ rằng thần dân sẽ phát hiện ra cuộc khủng hoảng trong thâm tâm của ông. Ông có thật sự là đã mất nhiệm vụ do trời cao giao phó hay không? Dường như công cuộc cai trị của ông đã đứng dưới ảnh hưởng của một vì sao xấu.

Và thật sự là bầu không khí trong thủ đô bắt đầu xoay chiều chẳng bao lâu sau lần ra đi đó. Tin đồn được lan truyền đi, hoàng tử Sihanouk sẽ không trở về quê hương nữa. Đã nhìn thấy cá sấu trắng ở trên sông, người ta thuật lại như vậy trong Phnom Penh, con vật mà người dân tin rằng nó luôn xuất hiện khi những sự kiện lịch sử quan trọng sắp xảy ra. “Repartir à zero”, người ta phải bắt đầu từ con số không, chính phủ tuyên bố và qua đó khiêu khích người đứng đầu nhà nước.

Sinh viên cảm thấy như được giải phóng. Sự thống trị của người hoàng tử đã biến tất cả người Khmer, có là giáo sư hay người mù chữ cũng vậy, thành “con cái” của ông. Tính gia trưởng này làm cho giới tinh hoa đau đớn và tổn thương. Thậm chí trước tai nghe ngoại quốc, giới trí thức Khmer, trước hết là những người đã học đại học ở nước ngoài và thất nghiệp tại quê hương, cũng thảo luận về tính cần thiết của một hình thức nhà nước mới. Họ cho rằng sự thống trị độc quyền của hoàng tử là đã lỗi thời. Trước đây tám năm thì không thể nghĩ tới một cuộc tranh luận như vậy được.

Đầu tháng Ba 1970, khi cuộc chữa trị tiến dần tới kết thúc, sinh viên bắt đầu biểu tình chống sự hiện diện của quân đội Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia. Vào ngày 8 tháng Ba, hoạt động đầu tiên của những hoạt động trên đường phố như vậy được báo tin từ Svay Rieng, một thành phố nằm gần biên giới Việt Nam. Tỉnh này bị “Duồn” kiểm soát một phần lớn.

Chưa từng bao giờ có bằng chứng cho việc là chính phủ hay quân đội có nhúng tay vào. Nhưng phải phỏng đoán rằng Lon Nol và Sirik Matak muốn ép buộc người hoàng tử, rốt cuộc hãy cùng với họ tạo thành mặt trận chung chống lại việc Việt Nam chiếm đóng nhiều dãy đất biên giới. Có lẽ Lon Nol và Sirik Matak đã bước vào trò chơi ẩn nấp này, để cứu thoát quốc gia Khmer đang lâm nguy.

Nhưng hoạt động này thoát khỏi tầm sự kiểm soát của họ. Không ai trong chính phủ có được khả năng ước lượng, ý thức được thực tế và hiểu biết về cơ chế chính trị để ngăn chận được việc mất kiểm soát. Ông thần độc ác của chủ nghĩa dân tộc Khmer bạo lực và phi lý đã thoát khỏi cái chai. Từ mặt phẳng nghiên, vương quốc trượt vào trạng thái rơi tự do.

Vào ngày 11 tháng Ba, một đám đông tụ tập trước đại sứ quán Bắc Việt Nam và CPCMLT, “Chính phủ Cách mạng Lâm thời” của Nam Việt Nam. Cảnh sát đứng nhìn sinh viên học sinh bị cuồng tín hóa đập phá cửa ra vào và hôi của trong các văn phòng. Trên những tấm biểu ngữ và cũng đồng thanh hô hào, đám đông yêu cầu quân đội Việt Nam rút quân. Kẻ thù truyền kiếp, kẻ đã hưởng những sự ưu đãi bí mật, cần phải ra khỏi đất nước ngay lập tức. Ở đây, sự tự đánh giá quá cao của người Khmer, tính kiêu ngạo xuất phát từ tuyệt vọng, tái xuất hiện lần đầu tiên. Quốc gia Khmer vĩ đại, đã từng xây dựng Angkor, ưu việt hơn người Việt Nam rất nhiều; đối với những người đang biểu tình thì điều này là hoàn toàn không thể nghi ngờ gì được nữa.

Cùng lúc đó, Quốc Hội thông qua một nghị quyết chống lại “chính sách Việt Nam thân cộng sản” được cho là do Sihanouk thúc đẩy.

Phản ứng của người hoàng tử ở nước Pháp xa xôi khác với những người giật dây hy vọng. Sihanouk tố cáo chính phủ có “khuynh hướng thân Mỹ” và để cho biết rằng ông sẽ sa thải những người chịu trách nhiệm khi trở về nước.

Vào ngày 12 tháng Ba, một bức điện được gửi về từ Pháp. Sihanouk báo cho mẹ-hoàng hậu Kossamak ý định của ông, trở về Phom Penh vào ngày 18 tháng Ba. Ông có ý định đặt người dân trước sự lựa chọn hoặc là chính sánh của ông được tiếp tục tiến hành hoặc là đường hướng mới của chính phủ Lon Nol.

Ngày hôm sau đó, “thứ sáu 13”, mang lại hai quyết định đầy tai hại. Thủ tướng Lon Nol gặp các đại diện của Bắc Việt Nam và Việt Cộng. Nhưng trước đó, ông yêu cầu công khai và dứt khoát, rằng các đơn vị Việt Nam hãy rời khỏi các vùng chiếm đóng trên đất Campuchia “trong vòng 72 tiếng đồng hồ”. Gần như đồng thời, tin tức từ Paris cũng về đến nơi, Sihanouk đã thay đổi kế hoạch hành trình của ông. Người hoàng từ thông báo, rằng ông, như đã dự định vào lúc ban đầu, muốn đi thăm chính thức Moscow và Bắc Kinh, và mãi tới ngày 24 tháng Ba mới trở về Phnom Penh.

Cho tới nay vẫn không có lời giải thích hợp lý cho việc tại sao Sihanouk lại không trở về nước ngay lập tức, để đuổi “những con chuột” đó, như ông đã gọi các đối thủ của ông như vậy trong cơn thịnh nộ, vào lại trong hang. Tất cả các nhà quan sát đã và cho tới ngày nay vẫn còn thống nhất với nhau trong đánh giá tình hình, rằng quyết tâm hành động lẽ ra đã có thể tái dựng lại được uy quyền đang lung lay của người hoàng tử. Vẫn còn có một cơ hội tốt để tránh được thảm họa.

Cho tới nay, Sihanouk không giải thích hành vi của ông. Có lẽ ông đã đánh giá sai tình hình ở Phnom Penh. Có lẽ ông còn không muốn nhìn nhận, rằng lời đe dọa “hậu quả” chỉ làm tăng thêm con số những người chống lại ông. Charles de Gaulle, người mà ông thích hỏi ý kiến trước đây, đã không còn tại chức nữa. Nhân một buổi họp báo trong tòa đại sứ Campuchia ở Paris, người hoàng tử còn đi xa cho tới mức mang cái chết ra đe dọa thủ tướng của ông.

Chính phủ đề nghị gởi một phái đoàn sang Paris để trình bày tình hình ở biên giới dựa trên các tài liệu. Thế nhưng Sihanouk đã cộc cằn từ chối. Ngay một lời xin của người mẹ ông cũng không thể làm cho ông từ bỏ quyết định đó. Cung cách cư xử của ông vẫn khó hiểu.

Như dự định, Sihanouk bay vào ngày 13 tháng Ba sang Liên bang Xô viết để tiến hành chuyến viếng thăm chính thức kéo dài sáu ngày. Nikolai Podgorny, chủ tịch Đoàn Chủ tịch Tối cao Xô viết, người đồng thời cũng nhận lấy trách nhiệm của người đứng đầu nhà nước, tiếp đón ông tại cảng hàng không.

“Hoàng tử”, ông nói ngay sau lần chào mừng chính thức, “tình hình ở Campuchia rất nghiêm trọng. Người dân của ngài đang cần ngài. Ngài nên trở về Phnom Penh ngay lập tức bằng máy bay, đừng mất thời gian ở đây và đừng thăm viếng Bắc Kinh. Một chiếc máy bay đặc biệt đã sẵn sàng. Ngài có thể bay vào bất cứ lúc nào. Nếu như ngài mệt mỏi thì ngài có thể nghỉ ngơi vài giờ. Chúng tôi luôn hoan nghênh ngài ở Moscow.”

Ông sẽ suy nghĩ “nghiêm túc”, Sihanouk trả lời như vậy, về việc này; tuy vậy ông có ý định ở lại đây; ông không nghĩ đến việc thay đổi chương trình. “Ông chủ tịch”, Sihanouk mô tả tình huống đó trong hồi ký của ông, “dường như bối rối và thậm chí còn thất vọng nữa.”

Người Xô viết tin là đã đánh giá đúng tình hình ở Campuchia. Nhưng họ không thể ép buộc người khách quốc gia của họ phải tuân theo những lời đề nghị của họ được. Chương trình thăm viếng được tiến hành. Trong lúc đó, số phận của Sihanouk được quyết định ở Phnom Penh.

Vào ngày 16 tháng Ba 1970, tại lần gặp gỡ thứ nhì với Lon Nol, các đại diện của Bắc Việt Nam yêu cầu đền bù cho các hư hỏng của tòa nhà đại sứ quán và một lời xin lỗi chính thức. Họ còn chẳng hề ghi nhận lời yêu cầu rút quân trong vòng 72 tiếng.

Mãi sau lần trao đổi này, có lẽ là còn sang ngày hôm sau nữa, quyết định phế truất Sihanouk mới được đưa ra. Lon Nol và Sirik Matak, theo một lời giải thích hợp lý, do cung cách hành động không dự tính trước được của hoàng từ mà đã “trượt” vào trong một tình huống vượt quá năng lực giải quyết của họ. Với tối hậu thư 72 giờ, Lon Nol đã đi vào trong một thế giới của những giấc mơ ban ngày. Cả Sirik Matak trong những ngày này cũng chỉ gây ấn tượng nhiều nhất là qua vẻ ngoài. Những năm công tác ngoại giao cho Sihanouk đã không làm cho bản năng chính trị của ông nhạy bén hơn. Nhà ngoại giao đã không trở thành nhà chính trị. Vì vậy mà Lon Nol cũng dễ dàng thao túng ông, và chẳng bao lâu nữa cũng đã có thể trung lập hóa ông.

Trước những động tác đe dọa của Sihanouk, người từ lý do nào đi chăng nữa thì cũng đã từ chối thỏa hiệp và đàm phán và lâm vào tình trạng đối kháng, Lon Nol và những người theo ông quyết định hành động. Ngay từ năm 1962, như Sirik Matak sau này thừa nhận,  ông đã “nói chuyện với người bạn Lon Nol lúc đó về việc hủy bỏ chế độ quân chủ”. Ý nghĩ, không chỉ lật đổ gia đình kình địch Norodom mà qua đó cũng hủy bỏ chế độ quân chủ lâu đời hàng trăm năm ở Campuchia, rõ ràng là đã được cân nhắc từ lâu và không phải là chỉ được sản sinh ra từ tình huống. Bây giờ thì nó được thực hiện.

Tổng thống Lon Nol tại một cuộc họp báo
Tổng thống Lon Nol tại một cuộc họp báo

Vào ngày 13 tháng Ba, hoàng hậu Kossamak đánh điện khuyên người con trai bà không nên trở về Phnom Penh. Từ những lý do không thể giải thích được, thông điệp này mãi tới ngày 17 tháng Ba mới tới tay Sihanouk. Nó củng cố ý định của ông, tiếp tục các cuộc trao đổi với người Xô viết cho tới cuối cùng và tiếp tục đi sang Bắc Kinh như đã dự tính.

Trưa ngày 18 tháng Ba vào lúc 13 giờ, Quốc Hội ở Phnom Penh họp lại để nhất trí “đưa ra nghị quyết”, hoàng tử Sihanouk không còn được nhân dân tin tưởng nữa. “Bắt đầu từ ngày hôm nay, 18 tháng Ba năm 1970, 1 giờ 00, hoàng tử Sihanouk không còn là người đứng đầu nhà nước nữa. Chủ tịch Quốc Hội, ông Chen Heng, thay thế vị trí của ông ấy.”

Quân đội xuất hiện để chiếm cứ một vài vị trí quan trọng trong thành phố. Việc bảo vệ đặc biệt dinh thự hoàng gia đã chứng tỏ là thừa. Cuộc đảo chánh không đổ máu và phi bạo lực. Người dân thành thị, mà Sihanouk đã trở nên xa lạ đối với họ, ăn mừng trên đường phố. Đám đông đơn giản là không muốn tràn vào dinh và phá hủy những biểu tượng của nền quân chủ. Chỉ cảng hàng không là bị đóng cửa. Sau khi tin tức về cuộc đảo chánh được đánh điện ra ngoài, bưu điện cũng cắt đứt các kết nối đường dài trong vòng vài giờ. Bằng cách này, người ta hy vọng là sẽ cô lập Sihanouk ra khỏi những người trong hoàng cung và những người trung thành theo ông trong những giờ quyết định đầu tiên.

Phái đoàn tháp tùng người hoàng tử sang Moscow nghe tin tức từ Phnom Penh vào lúc sáng sớm từ “Đài Tiếng nói Hoa Kỳ”. Không ai dám báo tin cho Sihanouk. Đó là ngày khởi hành. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Aleksey Kosygin tháp tùng phái đoàn hoàng gia ra sân bay.

Trong chuyến đi trên ô tô, Kossygin tường thuật cho người hoàng tử biết những gì đã xảy ra ở Phnom Penh. Rồi ông hỏi ngay, Sihanouk định làm gì trước “tình huống mới” này. Nếu như người ta muốn tin vào “hồi ức” của ông thì Sihanouk, không ngần ngừ, đã đưa ra quyết định có lẽ là quan trọng nhất trong đời ông. “Tôi không chấp nhận sự việc đã rồi ở Phnom Penh. Nhìn từ quan điểm của hiến pháp và đạo đức thì việc phế truất tôi là bất hợp pháp. Tôi nói đạo đức, vì tôi không nhận ra vi phạm nào với đất nước của tôi. Những người đảo chánh và những người giúp đỡ đã phản bội, muốn trao đất nước của chúng tôi cho người Mỹ và từ bỏ nền độc lập quốc gia. Đứng đầu người Khmer yêu nước, tôi sẽ đấu tranh chống lại họ và chống lại đế quốc Mỹ, cho tới chiến thắng cuối cùng, ngay cả khi cuộc chiến sẽ kéo dài. Sự việc mà tôi bảo vệ là đúng đắn, nó sẽ chiến thắng.”

Nhưng bây giờ thì Sihanouk lại rơi vào giữa những hòn đá cối xay của sự kình địch Trung-Xô, cái đã biến thành sự thù địch hầu như không còn được che đậy nữa. Đại sứ Campuchia ở Moscow lúc đó cho rằng mình đã nghe được Kossygin cảnh báo: “Hoàng tử, ngài không nghĩ là sẽ tốt hơn khi chờ ở đây hay trở về Pháp sao? Tôi lo ngại là ngài, một khi đã ở Bắc Kinh, có thể sẽ trở thành công cụ tuyên truyền của chính phủ Trung Quốc.”

Có thể là trong khoảnh khắc đó, Sihanouk hầu như không có khả năng hiểu được ý nghĩa lời nói của Kossygin. Tin tức từ Phnom Penh đã đánh trúng quá mạnh vào sự hãnh diện vương gia của ông, để mà ông còn có thể tỉnh táo và đưa ra những quyết định có suy nghĩ. Ông đã quen tiến hành những cuộc hội nghị với những người có nhiều quyền lực nhất thế giới, đứng đối diện với họ như là người đối thoại cùng đẳng cấp. Trong khi ở đây ông với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, Leonid Brezhnev, bàn bạc ngang hàng với nhau về những mối lo và vấn đề của đất nước ông, thì “bộ hạ” ở Phnom Penh dám truất phế ông, biến ông thành một kẻ đáng buồn cười trước con mắt của thế giới. Quân đội “của ông” đã đảo chánh chống lại nhà vua. Mới trước đây vài tháng, ông còn khẳng định trước giới báo chí nước ngoài, quân đội “của ông” có lẽ là quân đội duy nhất ở Đông Nam Á mà hoàn toàn không biết đảo chánh là gì.

Bây giờ thì đứng đầu cuộc nổi loạn là một Lon Nol, người mà tất cả những gì có được là đều nhờ vào sự chiếu cố của hoàng gia. Và người anh em họ của ông, từ dòng dõi hoàng gia, cũng hạ mình xuống để cùng chơi trò hề cộng hòa này. Sihanouk đã “mất mặt”, đã bị sỉ nhục mà lực mạnh hiện hữu của nó không được người châu Âu cảm nhận được hết. Một cảm giác bất hạnh và bị sỉ nhục hẳn đã phải tràn đầy trong toàn bộ suy nghĩ của ông, trong khi nghi thức từ giã được tiến hành ở sân bay.

Mãi lúc ở trên chiếc máy bay đặc biệt của Xô viết, ông thừa nhận như vậy sau này, ông mới “cuối cùng tìm lại được sự bình tỉnh”. Cùng với người cố vấn của ông, Penn Nouth, người trong tương lai cũng ở bên cạnh ông, và với tướng Ngo Hou, sếp lực lượng không quân “của ông”, người mà trong thời tốt đẹp hơn đã trợ tá cho ông trong lúc quay phim, ông bàn bạc trên chuyến bay tới Bắc Kinh, rằng bây giờ phải làm gì. Đau đớn nhất là sự không chắc chắn về lần chào đón sắp tới ở Bắc Kinh. Sihanouk có còn là người đứng đầu nhà nước Campuchia hay không? Hay ông đã trên đường đi lưu vong về mặt nghi thức?

Sihanouk giữ một bí mật

Màn kế tiếp trong tấn bi kịch hoàng tử Campuchia là lần liên minh với Khmer Đỏ. Nhưng trước đó còn phải trả lời vài câu hỏi mà động thái của Sihanouk ở Paris và Moscow đã đưa ra.

Tại sao, câu hỏi thứ nhất phải là như vậy, Sihanouk không bay trở về Phnom Penh ngay tức khắc, khi các tin tức đầu tiên về những cuộc biểu tình bài Việt tới với ông ở Paris? Cho tới nay, người hoàng tử vẫn khước từ một câu trả lời.

Thay vì vậy, ông đã đưa ra nhiều phiên bản khác nhau cho câu hỏi thứ nhì, tức là về câu hỏi tại sao ông không tuân theo lời khuyên của Podgorny, ít nhất thì vào ngày 13 tháng Ba cũng từ Moscow bay về Phnom Penh với một chiếc máy bay đặc biệt của Xô viết. Cách giải thích thứ nhất có thể lấy ra được từ một cuộc trao đổi mà ông đã tiến hành với Jean Lacouture ở chốn lưu vong: “Tôi kiệt quệ, cuộc đấu tranh chống tôi được cởi trói ra ở Phnom Penh đã tấn công rất mạnh vào tâm hồn tôi.”

Sihanouk với các tướng lãnh Pháp ở Paris năm 1946
Sihanouk với các tướng lãnh Pháp ở Paris năm 1946

Lời bày tỏ này không bắt buộc phải là không đáng tin. Chuyến đi nghỉ mát của ông ở Pháp có thể là một cuộc chạy trốn trước những gì đã đến ở đó. Có lẽ là trong khoảnh khắc quan trọng nhất của cuộc đời mình, Sihanouk đã kiệt sức, yếu ớt và chao đảo, không khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, bị tê liệt và không có khả năng hành động nhiều cho tới mức có lẽ ông đã không thể thực hiện được điều được nhận ra.

Để giải thích quyết định nhanh chóng của mình trên phi trường Moscow, vẫn ở đó và không nhận lời mời sử dụng chiếc máy bay đặc biệt, Sihanouk có sẵn một cách diễn giải thứ hai. Lon Nol và quân đội của ông ấy sẽ chuẩn bị mọi thứ trên hai cảng hàng không quốc tế Siem Reap và Phnom Penh để bắt ông và bắn chết ông “như một con chó”. Sĩ quan trung thành với nhà vua, những người sau này có thể trốn ra khỏi vùng do Lon Nol kiểm soát, được cho là đã xác nhận điều này. Trong các hồi ký của mình, Sihanouk phỏng đoán liệu Podgorny có biết cái bẫy đó ở Campuchia hay không. Người hoàng tử cân nhắc, liệu “sự thất vọng” mà ông tin là đã nhận ra được trên gương mặt của chính khách Xô viết, có đứng trong mối liên quan này hay không. “Nếu như tôi nghe theo lời khuyên của người Xô viết thì thật ra tôi đã chết vào  ngày 14 tháng Ba 1970 rồi.”

Sihanouk dùng một lời khẳng định không được chứng minh để giải thích hành động của chính ông. Thật khó mà tin rằng ngay trước lần truất phế chính thức Sihanouk vào ngày 18 tháng Ba, khi tình hình còn chưa rõ ràng, Lon Nol và Sirik Matak đã ra lệnh dùng phương tiện cực đoan nhất, giết người. Nhưng ngay cả khi lời quả quyết này đúng đi chăng nữa, thì vẫn còn lại câu hỏi, làm thế nào mà Sihanouk biết được điều đó ngay từ lúc còn ở trên sân bay tại Moscow.

Jean Lacouture đã không bỏ lỡ cơ hội để đối chất Sihanouk với những mâu thuẫn này, và xin một lời giải thích cụ thể hơn. Không có câu trả lời nào của cuộc trao đổi mà dài hơn câu trả lời này, và không có sự lập lại nào mà chứa đựng ít thông tin về sự việc hơn là lần lập lại này. Sihanouk nói. Nhưng ông từ chối đưa ra thông tin theo cách thông thường của đất  nước ông. Và Lacouture không hỏi tiếp.

Người hoàng tử không thể dự tính với tính lịch sự và nhân nhượng Á châu, khi ông tiếp đón các biên tập viên của tờ Spiegel tại dinh thự của ông ở Bắc Kinh trong mùa Thu 1979, sau khi ông được giải phóng ra khỏi chốn giam cầm của Khmer Đỏ nhờ quân đội Việt Nam tiến vào. “Ông không tin”, Augstein, Engel và Terzani hỏi, “rằng ông đã phạm sai lầm hay sao? Ông không phải bay về ngay lập tức hay sao?”

“Hoàn toàn không. Không, tôi đã không  phạm phải sai lầm”, Sihanouk trả lời, và ông kể lại thêm một lần nữa, rằng Lon Nol muốn cho bắn chết ông.

Khác với Lacouture, các biên tập viên Spiegel dám nghi ngờ lời nói này. “Không sai lầm ư?” họ hỏi thêm. Sihanouk bị kích động mạnh, và ai quen biết ông thì có thể cho rằng vẫn có thể nghe được giọng nói cao the thé của ông nay cả từ bản dịch tiếng Đức.

“Các anh là người Đức! Tôi là người Campuchia, tôi biết sự việc tốt hơn là các anh! Nếu các anh cho phép thì tôi được phép nhận xét là tôi chưa từng bao giờ quan tâm tới việc của nước Đức! Các anh chưa từng bao giờ thấy tôi phê phán nước Đức, Phương Đông hay là Phương Tây! Tôi không nói với các anh là Helmut Schmidt cần phải làm gì hay đừng nên làm gì! Tôi cũng không nói với các anh báo Spiegel cần phải làm gì! Tức là các anh cũng đừng nên nói với tôi rằng lẽ ra tôi nên làm điều này hay điều khác!”

Các biên tập viên Spiegel lịch sự giải thích tại sao họ hỏi, như họ không lùi bước trước lần tấn công này. “Chúng tôi không muốn định đoạt là ngài cẩn phải làm gì. Chúng tôi muốn biết mọi việc đã như thế nào, vì vậy mà chúng tôi đến đây.”

“Các anh từ Phương Tây muốn nói với tôi”, lời nói cứ tuôn ra như vậy từ Sihanouk, “lẽ ra tôi phải trở về – trở về để cho người ta giết chết tôi. Điều đó lẽ ra đã thu xếp tốt đẹp cho kinh doanh của thế giới tự do… Tôi đã có thể cứu được gì? Tôi đã có thể cứu thoát thế giới tự do. Nhưng tôi không quan tâm tới thế giới tự do, tôi không thuộc vào trong đó.” Và rồi tiếp theo sau đó thêm một lần nữa là câu nói cốt lõi: “Tôi là người Campuchia. Tôi biết phải làm gì.”

Cả lần này, Sihanouk cũng từ chối đưa ra thông tin, nhưng ông đưa ra một chỉ dấu, để tìm những yếu tố khác, những yếu tố đã góp phần cho lần quyết định đó, quyết định mà ông không muốn động chạm tới, quyết định mà ông muốn che dấu nó. “Tôi là người Campuchia” – với lời khẳng định này, ông nhấn mạnh tới sự khác biệt cơ bản với những người chịu ảnh hưởng mạnh của Phương Tây. Hơn thế, ông đưa ra yêu cầu, hành động từ những động cơ khác và được đo với những thước đo khác.

Trong cuộc trao đổi với Jean Lacouture, Sihanouk nhớ lại khoảnh khắc mà tin báo đó đã tới với ông, rằng ông là vị vua mới của Campuchia. Ông học lớp kế cuối của trường Chasseloup-Laubat tại Sài Gòn: “Phản ứng đầu tiên của tôi là giật mình và sợ hãi; tôi bật khóc, khiến cho cha mẹ tôi hoảng hốt. Mẹ tôi cho rằng đó là một điềm xấu. Người ta cứ hãy tưởng tượng: một người cai trị mà đầu tiên là phải khóc đã! Rồi những điềm xấu khác tụ lại.”

Các tu sĩ trong hoàng cung được yêu cầu hãy dùng phép thuật của họ để chống lại tai họa đang đe dọa. Các thầy tu mang một cây nến khổng lồ bằng sáp tới, cái mà nhà vua trẻ tuổi phải đốt nó lên: “Tôi đốt cho nó cháy, nhưng vì là tháng Mười Một và có một ngọn gió mạnh thổi nên nó đã tắt vào đêm thứ hai. Các thầy tu hoảng sợ cho tới mức họ dấu tôi việc này. Họ chỉ nói điều đó cho mẹ tôi: anh có thể tưởng tượng được là bà lo âu tới đâu. Nhưng chẳng bao lâu sau đó, lời đồn đãi đã lan truyền đi trong thành phố, và người ta tiên đoán những điều bất lành cho vị vua này.”

Không còn nghi ngờ gì nữa, rằng các tu sĩ đã thao túng và che dấu, khi lời giải thích có chiều hướng xấu. Lời tiên đoán một điều không may có thể trở thành nguyên nhân của chính điều đó. Các nhà chiêm tinh châu Á cũng biết rằng những lời tiên đoán có thể tự nó hiện thực, là cớ cho một sự kiện mà nếu như không có lời tiên đoán thì hoàn toàn không xảy ra. Nếu như may mắn có thể có bằng cách này thì càng tốt. Nhưng tai ương thì phải tránh, ít nhất là phải được che dấu. Thường thì lời giải thích một thông điệp xấu nằm trong hình dạng của một tin đồn. Câu chuyện của con cá sấu trắng được nhìn thấy trước thành phố có thể cũng đã được lan truyền đi là vì như vậy.

Phiên bản của các tu sĩ, một ngọn gió mạnh của tháng Mười Một đã thổi tắt ngọn nến, có thể sẽ làm cho người đọc châu Âu dễ tin hơn là người ở Sài Gòn và Phnom Penh, những người không liên kết tháng Mười Một với những cơn bão giá lạnh, mà với lần chấm dứt mùa mưa và bắt đầu một thời kỳ của thời tiết ổn định và nhiệt độ dễ chịu.

Hoàng hậu Kossamak suốt đời chịu ảnh hưởng quyết định của các nhà chiêm tinh. Bà đã lấy lá số tử vi cả đời cho người hoàng tử ngay sau khi sanh hạ. Giới tinh hoa ở Phnom Penh cũng biết được những nét chính: Trong nửa sau của cuộc đời, người hoàng tử sẽ gặp phải khó khăn lớn. Với niềm tin hay để an ủi, các nhà chiêm tinh đã thêm vào: nhưng cuối cùng thì ông sẽ vượt qua được tất cả các đối thủ.

15/7/1982, từ Bangkok, Thái Lan, Sihanouk lên tiếng phản đối cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Campuchia.
15/7/1982, từ Bangkok, Thái Lan, Sihanouk lên tiếng phản đối cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Campuchia.

Sihanouk còn thuật lại cho Lacouture một phiên bản thứ nhì của lời tiên đoán, chứa đựng một lời khuyên đặc biệt cho mẹ ông: “Người đàn ông trẻ tuổi này có số mệnh cao nhất, sẽ không còn ai đứng cao hơn ông trong Campuchia, nhưng ông sẽ có nhiều địch thủ… Để ngăn chận đừng cho ông chết trẻ, bà phải xa rời ông. Nếu như bà nuôi nấng ông thì ông sẽ gặp tai họa, và ông sẽ chết sớm. Bà phải cho ông đi, xa rời ông. Cho tới chừng nào ông ở xa bà thì ông sẽ không gặp nguy hiểm.”

Khó mà tin rằng lời tiên đoán đen tối này đã không gây ấn tượng cho người hoàng tử nhạy cảm. Thế nào đi nữa thì gia đình ông cũng nhất nhất tuân thủ theo đó. Sihanouk được đưa ra khỏi nhà trong những năm còn trẻ. Lúc đầu, bà của ông chăm sóc và dạy dỗ ông. Rồi ông được gởi sang một trường ở Sài Gòn. “Tôi sống một thời thơ ấu kỳ lạ, giải thích cho một loạt cá tính của tôi.”

Chính Sihanouk có tin vào chiêm tinh hay không? “Tôi lưỡng lự”, ông thừa nhận như vậy, “giữa ý muốn tiến tới hiện đại và ấn tượng mà những lời tiên đoán về tôi đã tạo nên.” Nhận thức hay vô thức, cả Sihanoul cũng bị ảnh hưởng bởi những lời tiên đoán, rằng sự gần gũi về thể chất với mẹ ông gắn liền với một rủi ro nhất định, rằng thế nào đi chăng nữa, trong những khoảnh khắc khủng hoảng, nguy hiểm, thì nên giữ khoảng cách về không gian và rời xa vùng của người mẹ thì tốt hơn.

Ngay lời tiên tri này của những nhà chiêm tinh là đã có thể giải thích tại sao Sihanouk lại hành động “phi lý” và “khó lường” như vậy, tại sao ông tiếp tục đi từ Paris sang Moscow thay vì bay trở về nhà. Nhưng vẫn còn một chỉ dấu thứ nhì, cái khiến cho sự phỏng đoán này trở thành gần như là một sự chắc chắn.

   Vài năm sau đó, khi ông lại đứng trước một quyết định quan trong trong tháng Tư năm 1977, (từ chức chủ tịch Khmer Đỏ hay là không), công chúa Monique đã đưa ra lời khuyên sau đây cho ông: “Các tháng Ba và tháng Tư chưa bao giờ mang lại may mắn cho anh. Từ những năm bốn mươi, anh bao giờ cũng gặp nhiều xui xẻo trong thời gian này. Vì vậy mà hãy kiên nhẫn một thời gian. Hãy để cho những tháng xui xẻo trôi qua mà không đưa ra quyết định quan trọng nào cả. Sau đó, anh có thể hành động, khi các ngôi sao thuận lợi hơn.”

Người đại diện cho nước Mỹ ở Phnom Penh, Lloyd Rives, đánh điện về cho Bộ Ngoại giao một bản tường trình về “bầu không khí”. Bà giúp việc nhà người Campuchia đã kể lại cho “Mike” Rives một câu chuyện khiến cho người Khmer rất lo lắng. Bà mẹ vua, các nhân viên trong dinh đã bép xép lại, đã cho tiến hành một nghi lễ để biết xem liệu người con trai của bà có trở về hay là không. Đóng một vai trò quan trọng trong nghi lễ này là một thanh kiếm mà vào thời tốt hơn đã óng ánh kim loại khi người ta tuốt nó ra khỏi vỏ. Nhưng lần này thì lưỡi gươm cùn và dơ bẩn. Rives bình luận tin này với lời chỉ dẫn, theo niềm tin của người bản xứ thì sự kiện này hướng tới “những câu trả lời xấu và thời gian khó khăn”.

Chỉ với lời tiên tri và chỉ dấu của các vì sao không thôi thì không thể giải thích được hành động của Sihanouk trong tháng Ba 1970. Trạng thái tâm thần của ông, nhận thức là đã thất bại và phải từ giã những gì cho tới nay, tất nhiên đã tác động mạnh tới các quyết định của ông. Nhưng không có nhận biết về những lời tiên tri, không có các nguyên tố “Campuchia” trong suy nghĩ và cảm nhận của ông thì không thể giải thích được diễn tiến của tháng Ba khủng hoảng. Trước một giới khán giả phi mê tín Phương Tây, dường như Sihanouk đã xấu hổ khi phải hé lộ tâm hồn bắt rễ thật sâu trong truyền thống của ông. Ông giữ một bí mật, vì ông không tin rằng công chúng thế giới sẽ hiểu được và đánh giá được các động cơ của ông.

Cả Milton Osborne, nhà quan sát nhạy cảm của các hoàn cảnh Campuchia, cũng ghi nhận sự phụ thuộc của Sihanouk vào tử vi và điềm báo trước. Qua một bà đồng, ông đã tiếp xúc với thần linh của một tổ tiên nổi tiếng để nhận được lời khuyên cho các quyết định quan trọng, cả trong chính sách đối ngoại. Không quyết định mang tầm quan trọng thật sự nào, Osborne phán xét như vậy, mà có thể được dẫn về thế giới huyền bí “một cách đơn giản”. Tuy vậy, các khoảnh khắc huyền bí có tầm quan trọng của nó. “Xem thường sự mê tín của Sihanouk, nhiều lắm thì cười nhạo nó như là một nguyên tố xa lạ, đó chính là nét đặc trưng cho sự tự mãn và kiêu ngạo của nhiều nhà quan sát nước ngoài ở Campuchia.”

Bắc Kinh gian lận

Vào buổi sáng của ngày 19 tháng Ba năm 1970, chiếc máy bay Xô viết đặc biệt đáp xuống phi trường của thủ đô Trung Quốc. Một cái nhìn qua cửa sổ thuyết phục được Sihanouk, rằng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đứng ở bên cạnh ông. “Tiếp đón thật nồng hậu và thật là nhẹ nhỏm”, ông viết trong hồi ký, “sau những giờ phút đáng sợ mà tôi vừa trải qua.”

Sihanouk, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai, tháng 5 năm 1970Sihanouk, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai, tháng 5 năm 1970
Sihanouk, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai, tháng 5 năm 1970

Giới chóp bu chính phủ chào mừng Sihanouk ở lối xuống máy bay. Thủ tướng Chu Ân Lai biết cách gây ấn tượng cho người khách từ Phnom Penh như thế nào. Đoàn Ngoại giao đã được kín đáo yêu cầu hãy tạo vẽ hào nhoáng cho quang cảnh trên sân bay. “Tối hôm qua”, Chu Ân Lai thuật lại cho người khách nhà nước của ông, “chúng tôi đã thông báo cho tất cả các đại diện ngoại giao, rằng Trung Quốc xem ông như là người đứng đầu nhà nước hợp pháp duy nhất. Tôi đã có ý rằng chúng tôi rất hy vọng vào sự hiện diện của các đại diện ngoại giao ở cảng hàng không để chào mửng ngài. Tất cả họ đã có mặt ở đây, và tôi rất vui mừng về điều này.”

Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông, những người mà ông đi thăm ngay sau khi tới nơi, trong “sự thân ái” của họ còn đi tới mức bảo đảm với Sihanouk, rằng những cuộc kiểm tra và những sự thù địch đó ở Phnom Penh trên thực tế đã củng cố cho vị trí của ông, “vì ngài đã khước từ không nhượng bộ các thế lực của cái xấu”.

Giới lãnh đạo Trung Quốc thúc giục Sihanouk lập một “Mặt trận Quốc gia Thống nhất” của tất cả người Khmer, cái sẵn sàng chiến đấu chống lại chủ nghĩa đế quốc, chống Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ và những người ủng hộ nó. Thuộc vào một liên minh như vậy tất nhiên cũng là Khmer Đỏ, kẻ tử thù ngày hôm qua của ông. Ý nghĩ này gây đau. Chính phủ Trung Quốc cố gắng không dùng áp lực vào lúc ban đầu, chỉ nhờ vào tâng bốc và khuyến khích về vật chất để đưa người hoàng tử đi theo chiều hướng muốn có.

Sihanouk nhận trọn một khu nhà đẹp, chắn chắn và tiện nghi cho ông và phái đoàn của ông, cái mà ông có thể bài trí xứng đáng với đẳng cấp của ông. Ngôi nhà chính, trước đây từng là đại sứ quán Pháp, nằm trong khu phố ngoại giao cũ, trong trung tâm Bắc Kinh, chỉ cách Quảng trường Thiên An Môn có vài trăm mét. “Dinh thự riêng của tôi”, Sihanouk tường thuật lại như  vậy, “là một ngôi nhà lớn và sang trọng mà trong đó có sẵn nhiều người phục dịch, cả một đoàn đầu bếp có tài, một văn phòng được trang bị rất tốt và tất cả những dịch vụ đó của một dinh thự hoàng gia: một đội xe, người trông nom nhà cửa, người làm vườn, sân thể thao, rạp chiếu bóng và nhiều thứ nữa.”

Ngay cả khi sau này ông cố gắng gây ấn tượng, như thể là sau cuộc đảo chánh ở Phnom Penh chỉ có một con đường duy nhất cho ông, tức là cuộc đấu tranh vũ tranh bên cạnh tất cả những người Khmer yêu nước để cứu vãn danh dự cho nền quân chủ, thì trên thực tế dường như Sihanouk hoàn toàn không chắc chắn là chỗ đứng của ông ở chốn lưu vong là nơi đâu.

Người hoàng tử mời đại sứ Pháp, người quen biết tốt và có thiện cảm với ông, Etienne Manac’h, tới gặp để hỏi rằng liệu trong trường hợp cần thiết thì ông có được phép trở về ngôi nhà của ông ở Mougins miền nam nước Pháp hay không. Đại sứ Manac’h bảo đảm với Sihanouk, rằng ông lúc nào cũng được hoan nghênh ở Pháp và sẽ được tỵ nạn chính trị.

Mao và Chu thúc giục Sihnouk ở lại Bắc Kinh và gắn kết số phận của ông với cuộc cách mạng chống Lon Nol. Không có sự tham gia tích cực của ông, họ nói như vậy với ông, thì không thể lật đổ được chính quyền do Mỹ thiết lập ở Campuchia. Trả đũa, trả thù những kẻ phản bội ở Phnom Penh, đó rõ ràng là mong muốn mạnh mẽ nhất đang thúc đẩy Sihanouk. Những kẻ nhờ ông mà có được tất cả đã dám đặt tay lên nền quân chủ.

“Tái lập danh dự của tôi đối với lịch sử, đối với dân tộc Khmer và người của tôi, đó là mục đích của tôi”, ông đã viết về những cảm nhận của ông như  vậy. “Tôi hướng tới trả đũa thì ít, mà nhiều hơn là tới việc tái phục hồi danh dự.”

Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng làm ngã ngũ sự việc, khi ông đến Bắc Kinh vào ngày 22 tháng Ba để bí mật gặp và đã có thể thuyết phục được Sihanouk, rằng ông sẽ có nhiều khả năng nhất để đạt được các mục đích của ông khi liên minh với Việt Nam.

Sihanouk mắc chứng mất ngủ. Vì vậy mà ông mời Phạm Văn Đồng, người mà từ sau khi chôn cất Hồ Chí Minh ông gọi là người bạn của ông, đến dinh thự của ông vào lúc sáng sớm ngày 23 tháng Ba để ăn sáng. Phạm đến nơi lúc đúng tám giờ. Gương mặt của ông bộc lộ “một xúc động mạnh ở bên trong. Ông ôm chầm lấy tôi rất lâu và bày tỏ những cử chỉ thân mật.”

Sihanouk tuyên bố sẵn sàng liên minh, nhưng gắn kết điều đó với ba điều kiện:. Thứ nhất: một hội nghị thượng đỉnh của các lãnh tụ Việt Nam, Campuchia và Lào cần phải được tổ chức, để chứng tỏ cho thế giới “tình đoàn kết” của ba dân tộc Đông Dương và chứng minh quyết tâm của họ, “chiến thắng đế quốc Mỹ và những tên tai sai của nó ở Phnom Penh, Sài Gòn và Vientiane”. Thứ nhì: Việt Nam cần phải tuyên bố sẵn sàng cung cấp hàng viện trợ từ Trung Quốc cho kháng chiến quân Sihanouk qua con đường mòn Hồ Chí Minh. Thứ ba: Việt Nam cần phải trợ giúp quân đội Sihanouk mới: qua huấn luyện quân sự cho các sĩ quan và nhượng lại vũ khí với đạn dược. Phạm Văn Đồng, Sihanouk chứng nhận như vậy, “đã nhân danh đất nước của ông mà hân hoan chấp nhận” ba điều kiện.

Với sự chắc chắn, rằng đã nắm chắc được sự ủng hộ hoàn toàn về mặt quân sự của Việt Nam cho quân đội còn cần phải được thành lập của những người theo Sihanouk, bây giờ Sihanouk tin rằng mình có thể dẫn đầu một mặt trận thống nhất mà có cả Khmer Đỏ cũng tham gia vào trong đó.

Vẫn còn trong ngày hôm đó, ngày 23 tháng Ba, hoàng tử Sihanouk công bố một lời kêu gọi tất cả những người Khmer yêu nước, hãy “đi vào bí mật” và “bắt đầu cuộc đấu tranh vũ trang chống bè nhóm phản bội Lon Nol/Sirik Matak và các ông chủ của chúng, những tên đế quốc Mỹ”.

Sihanouk cho rằng đó là một việc tất nhiên, rằng Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ đã nhúng tay vào cuộc chơi, để lật đổ ông và đặt một chính quyền sẵn sàng liên minh với họ thay thế vào đó. Tình huống lợi ích của Washington rõ ràng cho tới mức ngay từ đầu là đã có sự nghi ngờ, rằng CIA tham gia vào âm mưu này qua “bí mật trợ giúp tích cực”, như đại sứ quán Mỹ Cabot Lodge đã gọi phương thức đó bảy năm về trước lúc lật đổ Diệm ở Sài Gòn.

Mặc cho nhiều nổ lực điều tra, những cái cần phải chứng minh điều mà người ta cho rằng đã biết từ lâu, cho tới nay vẫn không có tài liệu nào được đưa ra để làm bằng chứng cho một sự tham gia tích cực từ phía CIA. Tổng thống Nixon quả quyết trong quyển sách “No more Vietnam” của ông, là “hoàn toàn bị bất ngờ” về cuộc đảo chánh ở Phnom Penh. Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ không xúi giục Lon Nol, hoàn toàn không biết gì về kế hoạch của ông.

Henry Kissinger, thời đó còn là cố vấn an ninh, đã xác nhận trong “hồi ký” của ông gần như là đúng từng chữ một những lời trình bày của Nixon. “Các ý tưởng của chúng tôi khập khiểng ở xa sau các sự kiện. Chúng tôi không thúc đẩy cuộc đảo chánh Sihanouk lẫn biết trước điều gì đó về việc này.”

Theo mức nhận biết của ngày nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ không tham gia trực tiếp vào cuộc đảo chánh Sihanouk. Tất nhiên là họ đã lợi dụng cuộc đảo chánh để lôi kéo Campuchia vào cuộc chiến. Họ đã khích lệ Lon Nol, thơ ngây và không biết gì, dẫn đất nước của ông đi vào thảm họa vì lợi ích của Mỹ. “Con đường đau khổ”, Henry Kissinger viết như vậy trong “Hồi ký” của ông, “bắt đầu với tính không thể tránh khỏi của một tấn bi kịch Hy Lạp.” Thật sự thì vở kịch diễn ra trên sân khấu ở Washington; Nixon và Kissinger đóng vai trò của Đấng Tối Cao.

Những người hưởng lợi khác của cuộc đảo chánh ở Phnom Penh là người Bắc Việt và Khmer Đỏ. Với phúc lành của người “Cha kính yêu”, quân đội Bắc Việt Nam trong vòng vài tuần đã “giải phóng” được một phần tư lãnh thổ Campuchia, tức là nắm lấy quyền kiểm soát. Lời kêu gọi của Sihanouk, hãy đứng lên chống lại những kẻ phạm tội tày đình ở Phnom Penh và chiến thắng Lon Nol bằng vũ khí, đã gây ấn tượng cho những người nông dân.

Cả lực lượng Khmer Đỏ trong những tháng tiếp theo sau đó cũng đã có thể biến một nhóm phiến quân vài trăm người thành một quân đội thật sự với mười ngàn chiến binh. “Không có quyết định của Sihanouk, giúp Khmer Đỏ chống lại Lon Nol, thì Khmer Đỏ đã không thể giành được quyền lực”, người hoàng tử đã tự đánh giá vai trỏ của mình như vậy. “Sự thật thì Khmer Đỏ không là gì hết, thật sự hoàn toàn không là gì hết, và họ chỉ có thể sống sót trước đó vì có Việt Nam giúp đỡ.”

Sihanouk đã đưa ra lời phán xét này với nhận thức về phần trách nhiệm của ông trong lần dựng dậy chế độ khủng bố độc ác nhất của lịch sử Campuchia. Ông không muốn nhận phần lỗi. Nhưng khiêm tốn trước lịch sử không phải là việc của ông. Vì vậy mà ông không muốn nói giảm nhẹ đi quyền lực của ông, ảnh hưởng của ông lên các sự kiện.

Chính phủ ở Bắc Kinh tuy đã mai mối cho lần kết hôn không tương xứng giữa Sihanouk và Khmer Đỏ. Nhưng Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai lúc đầu vẫn không chắc chắn rằng liệu các phương tiện của cuộc Cách mạng Khmer có thật sự đủ để trợ giúp cho Việt Cộng ở Nam Việt Nam và ngăn chận một chiến thắng của Mỹ hay không. Lợi ích sống còn của Việt Nam có lẽ chỉ đóng vai trò nhỏ nhất trong tính toán của Trung Quốc. Các lợi ích của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được ưu tiên, nước mà trong thời kỳ cuối của cuộc Cách mạng Văn hóa tự hủy hoại đã hoàn toàn bám chặt vào một hình ảnh tưởng tượng về nước Mỹ: Chủ nghĩa Đế quốc Mỹ phải bị tiêu diệt.

Mao Trạch Đông và Norodom Sihanouk
Mao Trạch Đông và Norodom Sihanouk

Năm 1958, Mao đã nghĩ đến việc dẫn dụ quân đội Mỹ lên đất liền Trung Quốc qua Đài Loan, Kim Môn và quần đảo Mã Tổ, để cho họ bị Nga ném bom nguyên tử. Moscow đã từ chối thẳng thừng ý nghĩ này. Giới lãnh đạo Trung Quốc có ý tưởng muốn sử dụng cuộc tham chiến của của Mỹ ở Việt Nam như là một cái bẫy, rất giống với kế hoạch của những năm năm mươi mà người Xô viết đã không muốn tham gia. Chu Ân Lai giải thích tình hình chiến lược cho Tổng thống Ai Cập Nasser trong tháng Sáu 1965 với những lời nói sau đây: “Hoa Kỳ gởi càng nhiều lính sang Việt Nam thì chúng tôi càng mừng, vì chúng tôi biết rằng họ nằm trong tay chúng tôi và có thể chảy máu cho tới chết. Nếu anh muốn giúp đỡ Việt Nam thì anh hãy động viên nước Mỹ gởi thêm quân lính tới đất nước đó, càng nhiều càng tốt.”

Về mặt đối nội là một thử thách, cuộc Cách mạng Văn hóa là một mồi thuốc nổ mà cũng có thể gây ra một cuộc thế chiến diệt chủng bằng nguyên tử. Rủi ro mà Mao mong muốn dường như cũng được một vài người ở Phương Tây nhìn thấy, nhưng đã không thật sự tới được nhận thức của công chúng thế giới thời đó. Những lời hùng biện của Trung Quốc về con cọp giấy và về tính không thể tránh khỏi được của Đệ tam Thế chiến mang vẻ quá lố và không đáng tin. Thật sự thì cuộc Cách mạng Văn hóa của Mao là một lần đi dây ở vực sâu.

Chính sách đối ngoại của Bắc Kinh thật sự là đã sử dụng những biện pháp “cách mạng”. Thuộc trong đó cũng là một trò chơi nước đôi, cái mà được lôi ra ánh sáng mãi sau này và cũng chỉ từng đoạn một. Nó khác thường vì tính xảo quyệt của nó và vì sự khinh thường Sihanouk.

Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong quá khứ không chỉ giữ mối quan hệ tốt với Sihanouk mà cả với người sếp cảnh sát và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của ông, Lon Nol. Dưới tư cách là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Lon Nol thăm viếng chính thức nước Cộng hòa Nhân dân năm 1965 và được tặng thưởng cả từ Mao bởi một lần diện kiến. Là thủ tướng, Lon Nol được mời sang Bắc Kinh lần thứ nhì năm 1969. “Ông nhận được một lần tiếp đón công phu”, theo một quyển “Sách Xanh” Việt Nam mà trong đó trò chơi nước đôi của Trung Quốc bị lên án, “và người ta đã cho ông có cơ hội đến thăm ngôi mộ ông của ông trong tỉnh Phúc Kiến.”

Mao và Chu không muốn bỏ qua bất cứ cố gắng nào để lôi kéo người kế nhiệm Sihanouk về phía của họ. Một phái đoàn bí mật đi sang Phnom Penh, để đưa ra nhiều đề nghị cho chính quyền mới. Trung Quốc sẵn sàng trợ giúp Campuchia và khống chế Khmer Đỏ, không xây dựng họ, khi Lon Nol và Sirik Matak về phần mình hứa giúp đỡ như sau: Tái mở cửa Cảng Sihanoukville cho các cung cấp tiếp tế từ Trung Quốc, và quân đội Bắc Việt Nam được phép tiếp tục ở lại những nơi trú ẩn của họ trên lãnh thổ Campuchia.

Ngay vào ngày 18 hay 19 tháng Ba, khi Sihanouk bay với chiếc máy bay đặc biệt từ Moscow sang Bắc Kinh, người đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh đã được mời vào Bộ Ngoại giao để nhận thông điệp sau và chuyển tiếp về Hà Nội. “Sihanouk không có lính, Việt Nam cần giúp cho Lon Nol. Trung Quốc chào mừng Sihanouk, nhưng đồng thời vẫn giữ quan hệ tốt với Đại sứ quán Phnom Penh.” Lời yêu cầu giúp đỡ Lon Nol cũng được đại sứ Trung Quốc ở Phnom Penh chuyển cho đồng nhiệm Việt Nam.

Vào ngày 25 tháng Ba, hai ngày sau lời kêu gọi người dân đi vào bí mật của Sihanouk, chính phủ Việt Nam tuyên bố chính thức ủng hộ Sihanouk của họ. Đó đồng thời cũng là câu trả lời cho Mao và Chu Ân Lai. Việt Nam không sẵn sang, dù chỉ là cố gắng, hợp tác với Lon Nol.

Ngược lại, sự ủng hộ công khai của chính phủ Trung Quốc cho Sihanouk và “Mặt trận Thống nhất” của ông đến rất chậm. Lời đề nghị được đưa cho Lon Nol có hiệu lực suốt cả tháng Tư 1970. Vào ngày 24 và 25 tháng Tư, hội nghị thượng đỉnh đó của ba quốc gia Đông Dương diễn ra ở Quảng Châu, hội nghị mà Sihanouk đã đưa ra như là điều kiện cho sự cộng tác của ông với Phạm Văn Đồng. Ở đó, Chu Ân Lai là một người chủ nhà lịch sự, chất đầy sự thân mật lên người hoàng tử. Trong cùng thời gian đó, phái đoàn của Bắc Kinh ở Phnom Penh vẫn còn chờ một quyết định của Lon Nol.

Lời đề nghị đưa ra cho ông ấy vẫn còn được giữ vững ngay cả sau hội nghị thượng đỉnh ở Quảng Châu. Nhưng Lon Nol, đã xa rời thực tế, được khuyến khích bởi sự hân hoan của người dân Phnom Penh và rơi vào giấc mơ của một đại vương quốc Angkor mới, không muốn chấp nhận lời chào mời của Trung Quốc.

Vào ngày 30 tháng Tư năm 1970, Richard Nixon, không tham khảo ý kiến của chính phủ ở Phnom Penh hay là chỉ thông báo, đã để cho quân đội Mỹ và Nam Việt Nam tiến vào Campuchia, để phá hủy những nơi trú ẩn và Văn phòng Trung ương Cục miền Nam, tổng hành dinh được phỏng đoán ở đó của Việt Cộng. Mãi tới ngày này, phái đoàn của Trung Quốc mới rời Phnom Penh. Vào ngày 4 tháng Năm, Bắc Kinh chính thức quay lưng lại với chính quyền mới ở Campuchia. Tới bây giờ người ta mới đoạn tuyệt và đưa ra một đường lối mới.

Vào ngày 5 tháng Năm 1970, Sihanouk giới thiệu chính phủ lưu vong của ông ở Bắc Kinh: GRUNC (Chính phủ Hoàng gia Quốc gia và Thống nhất Campuchia). Trên thực tế, quốc vương đã chạy trốn vào một cái lồng đỏ-vàng.

Liên minh với quái vật

Chính phủ Trung Quốc chi trả cho bất cứ hóa đơn nào xuất phát cuộc sống hoàng cung tốn kém của Sihanouk. Trong đó, tiền cho rượu sâm banh là một khoản tiền lớn. Thế nhưng người hoàng tử nhớ lại năm năm ở Bắc Kinh của ông như là một thời kỳ “bị sỉ nhục và hạ cấp chưa từng có”. Không cần lâu lắm, ông biết rõ rằng ông chỉ là sếp trên giấy tờ của “Mặt trận thống nhất” và “Tổng thống” của chính phủ lưu vong. Trên thực tế, ông đã bị loại trừ ra khỏi bất cứ một quyết định nào. Bây giờ Penn Nouth, người thân cận cũ của ông, giữ chức vụ thủ tướng lưu vong. Thế nhưng cả người này cũng được Khmer Đỏ yêu cầu là không cung cấp cho tổng thống bất cứ thông tin nào về các sự việc quan trọng.

Norodom Sihanouk ngày 12 tháng 4 năm 1973 cùng với Hou Youn (trái) và Son Sen (phải)
Norodom Sihanouk ngày 12 tháng 4 năm 1973 cùng với Hou Youn (trái) và Son Sen (phải)

Khmer Đỏ không tin hoàng tử không phải là không có lý do. Trước đây nhiều năm, bộ máy nhà nước của ông còn cố gắng triệt tiêu họ. Về phần mình, từ sự ngờ vực sâu thẳm, người hoàng tử vẫn có ác cảm với những nhà âm mưu và tư tưởng hệ đỏ. Khmer Đỏ chỉ có một lợi ích trong cộng tác với quốc vương: họ có thể xuất hiện trước người nông dân như là nhà quản lý được ủy quyền của hoàng cung Campuchia. Phần còn lại thì đều là đạo đức giả ở cả hai bên!

Khmer Đỏ đặc biệt chọn một người làm sĩ quan liên lạc, người có quan hệ căng thẳng nhất với hoàng tử trong số tất cả các lãnh tụ cộng sản: Ieng Sary. Người đàn ông vạm vỡ này với nụ cười giả tạo trên khuôn mặt tròn là người bạn thân cận nhất và là em rể của Tổng bí thư Pol Pot. Là một “Khmer Krom”, một người Khmer có gốc Nam Việt, ông nhờ vào sự siêng năng và sức mạnh của ý chí mà giành được một học bổng của Đại học Phnom Penh. Thế nhưng ông không bao giờ bỏ giọng nói Việt, cái bị ghét cay ghét đắng trong giới cao sang ở thủ đô. Ông vẫn bị khuyết điểm là có gốc gác từ ngoài.

Trong cỗ máy này, với đôi mắt dửng dưng, Sihanouk nhìn sự hiện thân cho tình thế bị hạ nhục của ông như là một người bù nhìn và con tin của những nhà cách mạng mà thật ra thì ông không có điểm chung nào với họ cả.

Sự chống cự của Sihanouk mang tính buồn cười nhiều hơn, và thể hiện sự bất lực của ông. Ông mượn từ đại sứ quán Pháp những cuốn phim gợi dục và trình chiếu chúng trước những khán giả được mời tới mà trong đó không thể thiếu Ieng Sary. Con người đại diện cho Khmer Đỏ này cố gắng hết sức để không biểu lộ điều gì. Ông rời buổi tiệc ngay vào lúc hợp lễ. Sau đó, Sihanouk thưởng thức lần báo thù của ông. “Ngày mai Ieng Sary phải tự phê bình kiểm điểm thật nhiều”, Sihanouk trêu chọc. Ông dũng cảm cố gắng che đậy sự tuyệt vọng ở bên trong sau hành vi hài kịch này.

Vì vậy mà ý tưởng đó lại càng mang tính quyến rũ nhiều hơn, sống ở Pháp như là một uy quyền dự phòng, như là quân bài trong trò chơi chính trị của tương lai, chờ và có thể quyết định trong toàn bộ sự tự do, khi nào thì ông lại muốn can thiệp vào sự phát triển. Lẽ ra thì từ chốn lưu vong tạm thời ở miền Nam nước Pháp, Sihanouk ít nhất là có thể đóng vai trò của một người trung gian, giảm bớt được cho đất nước của ông một phần đau khổ của chiến tranh và có thể là cả cuộc khủng bố của Khmer Đỏ nữa. Nhưng ý nghĩ này chỉ là phỏng đoán và không thể chứng minh được. Ở Bắc Kinh thì thế nào đi chăng nữa ông cũng bị trói chặt vào Khmer Đỏ.

Sihanouk đã nhiều lần cố gắng từ bỏ chức vụ của ông và tạo khoảng cách với Khmer Đỏ, những người lợi dụng tên tuổi của ông. Thế nhưng lần nào thì Chu Ân Lai cũng khiến cho ông rút lại quyết định đó và ở lại trong khối liên minh, vì chỉ với sự giúp đỡ và tham gia của Sihanouk thì mới có thể lật đổ được Lon Nol. “Là người yêu nước, tôi đã chấp thuận, nhưng tôi đã giải thích với thủ tướng Chu Ân Lai rằng tôi sẽ từ chức sau khi lật đổ được Lon Nol, vì tôi tin chắc rằng người Khmer Đỏ sẽ không trao ra một phần nhỏ quyền lực nào cho tôi cả.”

Thời đó, Sihanouk không muốn biết gì về tính cách tàn bạo của Khmer Đỏ, về những ý định và kế hoạch khủng bố của họ. Trong khi đó thì khi còn là người đứng đầu nhà nước ở Phnom Penh, ông đã không chừa cố gắng nào nhằm để lột trần các mục đích và biện pháp chính trị của những người cộng sản của ông. Trong những năm đầu tiên ở Bắc Kinh, ông cho rằng mình đã không phản đối điều gì về cơ bản. “Người Khmer Đỏ còn chưa xuất hiện như là những kẻ giết người của nhân dân Campuchia, họ mang vẻ của những nhà cách mạng và yêu nước – tôi không có lý do nào để khước từ  sự cộng tác với họ trong khuôn khổ của Mặt trận”, ông đã bào chữa cho cung cách đối xử của ông như vậy về sau này.

Khi không thể đi sang Pháp thì ít nhất là ông muốn trở về Campuchia. Về phần đất đã được “giải phóng”. Đầu 1973, phần lớn đất nước nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Bắc Việt hay của Khmer Đỏ. Quân đội Lon Nol sau hai đợt tấn công gây nhiều tiếng vang với tổn thất lớn đã mất thế chủ động. Phần lớn quốc lộ đều bị cắt đứt. Nước “Cộng hòa Khmer” do Mỹ cung cấp tiền bạc và đạn dược chỉ còn bao gồm vùng đô thị Phnom Penh và một vài nơi mà phân nửa dân số người Khmer sống ở trong đó như là người tỵ nạn.

Sihanouk muốn nhìn lại Campuchia, muốn thử sức lan tỏa và tác động của ông lên những người nông dân. Đặc biệt ông muốn tới Angkor, di tích mà ông biết rằng nó được quân lính của Khmer Đỏ canh giữ. Ieng Sary, thầy giáo và quan chức, nhận đơn xin đi thăm các vùng đất đã được giải phóng. Người hoàng tử không bao giờ nhận được một câu trả lời. Thay vì vậy, ông nghe được những lời thoái thác và những lời giải thích dài dòng về cuộc sống khó nhọc và nguy hiểm trong rừng rậm. Không trả lời trong trò chơi nhập vai của châu Á đồng nghĩa với lời nói không, dứt khoát vả rõ ràng.

Vào dịp năm mới của năm 1973 – tính theo âm lịch Trung Quốc, vào dịp Tết – Sihanouk sang gặp các đồng minh của ông ở Hà Nội. Lần này thì ông thu hết can đảm và mô tả cho người bạn Phạm Văn Đồng của ông, ông quan trong số các lãnh tụ cộng sản của Bắc Việt Nam, tình thế thật sự của ông. Khmer Đỏ, Sihanouk than phiền như vậy, dùng mọi thoái thác để ngăn cản không cho ông trở về và loại trừ không cho ông tham gia vào cuộc đấu tranh. Nếu như ông không thể trở về lâu dài thì ông vẫn muốn thăm quê hương và nhìn lại Angkor. Sihanouk nhờ Phạm trợ giúp cho niềm mong muốn này.

Phạm can thiệp không thành công tại Ieng Sary. Mãi khi người đứng đầu chính phủ Bắc Việt Nam nhờ cả các lãnh tụ Trung Quốc đứng về phía của Sihanouk, tổng hành dinh của Khmer Đỏ cuối cùng mới chấp thuận. Sihanouk và vợ ông, công chúa Monique, được phép về thăm các vùng đất “giải phóng” vài tuần.

Trong tháng Ba 1973, nhóm người này bay từ Hà Nội với một chiếc Antonov 26 của Bắc Việt Nam tới Đồng Hới, ở gần vĩ tuyến 17. Máy bay ném bom Mỹ đã biến thành phố trại lính này thành đống gạch vụ trước khi Hiệp định ngưng bắn Paris có hiệu lực (tháng Giêng 1973). Đường băng được sửa chữa tạm. Được Ieng Sary và đại sứ Việt Nam tại GRUNC tháp tùng, Sihanouk đi cùng với công chúa Monique qua con đường mòn Hồ Chí Minh khó nhọc sang Campuchia.

Không có sự giúp đỡ về mặt tiếp vận của Việt Nam thì người Khmer Đỏ không thể đi ra ngoài hay tiếp đón khách nước ngoài đến thăm. Cả những lần Pol Pot thỉnh thoảng sang thăm Mao Trạch Đông cũng chỉ có thể diễn ra với sự trợ giúp về mặt tổ chức và cung cấp phương tiện chuyên chở của Bắc Việt Nam. Sự phụ thuộc này đã đè nặng lên mối quan hệ giữa những người đồng hành chiến đấu, giữa Việt Cộng, như người ta gọi như  vậy ở Phương Tây, và Khmer Đỏ. Người Khmer Đỏ chia sẻ ác cảm sâu sắc của dân tộc họ đối với “Duồn”. Mối quan hệ căng thẳng và thậm chí còn là thù địch, điều mà Sihanouk đã nhận ra được rõ ràng như chưa từng có trên chuyến đi này.

Người Khmer Đỏ cuối cùng đã cho ông vào nước, nhưng người chủ nhà đón tiếp ông biết cách ngăn chận một cuộc gặp gỡ trực tiếp người dân. Bất cứ nơi nào có đám đông người tụ tập chờ ông thì họ đều bị những người lính vũ trang không cho đến gần. Không một ai dám, không một ai có dù chỉ một cơ hội để quỳ xuống trước “Samdech Euv”, chạm vào người ông, ông vua-thượng đế, để cho phép kỳ diệu của ông tác động lên người mình.

Ngược lại, được chuẩn bị trước là một màn trình diễn truyền thông cho đội truyền hình và nhiếp ảnh do chính phủ Trung Quốc cử sang. Sihanouk và công chúa Monique mặt y phục người Khmer Đỏ: bộ quần áo bông vải màu đen của nông dân với chiếc khăn trùm đầu kẻ ô đỏ nâu, cái mà những người nổi tiếng của phe cánh tả quấn quanh cổ như là khăn quàng cổ. Giống như một du kích quân thật sự, Sihanouk đi qua rừng rậm, được tháp tùng bởi Ieng Sary và Khieu Samphan, người bộ trưởng “Sangkum” ngày xưa của ông, người đã trốn vào bí mật để tránh sự trả thù của hoàng tử và bây giờ cố gắng che dấu những cảm xúc thật sự của mình.

Có những lần ôm nhau thắm tình anh em cho các ống kính. Sihanouk và Khieu Samphan, bạn bè và người đồng hành chiến đấu, cả hai trong y phục Khmer Đỏ đứng cười về phía ống kính. Đỉnh cao là chuyến đi thăm Angkor. Sihanouk và công chúa Monique đứng cho chụp hình trên một cầu thang của Angkor Wat, với lối vào hành lang ở dưới phía sau, cả hai người cải trang như là du kích quân: một đôi vợ chồng hoàng gia hạnh phúc, cuối cùng cũng tìm thấy vị trí xứng đáng của mình ở bên cạnh những nhà cách mạng vũ trang. Nhưng cả ở đây người ta cũng chú ý để cho công chúa đứng dưới Sihanouk một bậc, người cao hơn bà một cái đầu. Chân của ông cần phải chứng minh cho sự tồn tại nhọc nhằng, cho cuộc sống đơn sơ trong rừng rậm. Người tổng thống của chính phủ lưu vong trình diễn mình trong đôi xăng-đan Hồ Chí Minh, tất nhiên là chân không, như “Bác” đã làm trước mọi người ở Hà Nội.

Chuyến đi kéo dài bốn tuần. Hình ảnh của chuyến đi và của lần ôm nhau được chính phủ Trung Quốc lan truyền đi khắp thế giới. Chúng đã để lại ấn tượng lớn trong giới công chúng thế giới và củng cố cho ý kiến rằng chính quyền được Mỹ ủng hộ ở Phnom Penh không có chính danh. Những người Khmer trung thành với nhà vua buộc phải chống Lon Nol và chống Mỹ để giành lại tự do và phẩm cách của họ. Hoàng tử Sihanouk, có vẻ là như vậy, đã đưa Khmer Đỏ lên làm người điều hành lợi ích quốc gia.

Vực sâu của sự căm thù chia cắt Khmer Đỏ và người Việt đã trở nên rõ ràng trên chuyến đi này. Pol Pot và Khieu Samphan đã không thể che dấu được ác cảm đối với những người “Duồn” của họ trên đất Campuchia. Nhưng người hoàng tử thì không nói gì về đề tài này. Hoàn toàn ngược lại với tính khí của mình, ông ngậm miệng và chỉ mở mắt. Thật ra thì ý kiến của ông cũng không được quan tâm tới. Việc ông không nhìn thấy “người Sihanouk” nào hẳn đã phải làm cho ông buồn rầu. Với sự giúp đỡ của Bắc Việt Nam, họ lẽ ra đã có thể được tổ chức để tạo cho ông một cơ sở riêng trong nước. Nói chung là hoàn toàn không có “người Sihanouk” trong cuộc đấu tranh vũ trang, hay là họ đã bị tiêu diệt?

Sihanouk (thứ hai từ bên phải) và Khieu Samphan (thứ ba từ bên trái) đứng cạnh một cột mốc
Sihanouk (thứ hai từ bên phải) và Khieu Samphan (thứ ba từ bên trái) đứng cạnh một cột mốc

Có ít thiện cảm ở giữa ông và Khmer Đỏ, tổng thống của GRUNC thừa nhận như vậy trong một cuộc phỏng vấn. Ở bên trong thì cả hai bên hẳn là căm ghét nhau; và rồi ông nói lời tiên tri: Nếu như Khmer Đỏ đã hút hết ông rồi thì họ sẽ “nhổ ông ra như một cái hột anh đào”.

Sếp thông tín viên của tờ Far Eastern Economic Review nổi tiếng, Russel Spurr, được Sihanou thố lộ hầu như toàn bộ sự thật trong mùa xuân 1974. Câu chuyện thật cảm động và đồng thời cũng thật bi thảm. Các nhà báo đã giữ đúng luật danh dự của nghề nghiệp. Họ giữ kín bí mật mà người hoàng tử đã trao cho họ. Phá luật, ít nhất là khi nhìn lại về sau này, không phải là một tội phạm mà là có công.

Trên đường trở về từ một chuyến đi thăm Bình Nhưỡng, Russell Spurr đã ở lại Bắc Kinh vài ngày trong mùa xuân 1974, và ông dùng cơ hội này, ngoài những việc khác, để xin Chef de Cabinet được phép phỏng vấn Sihanouk. Lịch hẹn của ông ấy hẳn là phải trống lạ thường vào tuần đó. Chỉ vài giờ sau khi đưa lá thư, Russell Spurr đã nhận được lời chấp thuận.

Hoàng tử chờ ông vào buổi sáng lúc 10 giờ trong dinh. Russell Spurr đại diện cho một tờ báo quan trọng đối với Sihanouk. Nhưng ông cũng là một người đối thoại quen biết. Năm trước đó ông đã có thời gian sống tại Bắc Kinh. Ông đã góp phần chính trong việc lan truyền các hình ảnh từ Campuchia.

“Monseigneur” tiếp đón ông theo nghi thức thông thường. Rượu sâm banh có sẵn, và Sihanouk đã ca ngợi các công thức làm bánh mới và một quyển sách dạy nấu ăn của ông trước khi trao đổi chính thức.

Rồi tiếp theo đó là phần chính. Russell đặt chiếc máy thu âm ra và để cho người hoàng tử phân tích tình hình ở Campuchia. Người Khmer Đỏ nhất định sẽ chiến thắng, Sihanouk lập lại luận đề cũ của ông. Kết cuộc của cuộc chiến dần dần đã có thể nhìn thấy được; sau chiến thắng ông sẽ chỉ là người đứng đầu nhà nước trên danh nghĩa. Khmer Đỏ, những người chiến thắng Lon Nol, sẽ có quyền lực thật sự trong tay.

Không một lời phê phán nào thoát ra khỏi môi của ông. Rõ ràng là Sihanouk không muốn đứng cản đường các lãnh tụ “vô diện mạo” của kháng chiến, những người mà hầu hết giới công chúng thế giới đều không biết tới. Họ có “nhổ ông ra như một cái hột anh đào” đi nữa thì lịch sử vẫn đi theo con đường của nó. Phần còn lại là sự im lặng, dường như là vậy.

Russell Spurr tắt chiếc máy ghi âm. Nói chuyện phiếm và thêm một ly sâm banh nữa sẽ chấm dứt chuyến đến thăm, ông nghĩ như vậy. Thế nhưng Sihanouk bất thình lình ngồi xuống xô-pha bên cạnh ông. Ông ấy nắm lấy tay ông và rõ ràng là hết sức hồi hộp: “Bây giờ thì tôi nói sự thật cho ông nghe.”

Cho tới thời điểm đó, phóng viên châu Á tương đối giàu kinh nghiệm Russell Spurr thuật lại sau này, ông không có ý kiến dứt khoát về các phiến quân cộng sản trong rừng rậm Campuchia. Cũng như nhiều đồng nghiệp thuộc chủ nghĩa tự do, ông cho họ là những lãnh tụ nông dân đã tiếp nhận lấy các câu khẩu hiệu của Mao Trạch Đông. Thời đó, không ai nghĩ tới killing fields và tin vào việc này.

Sihanouk nói với tính gay gắt và khinh thường trong giọng nói. Cuốn phim về chuyến đi thăm “vùng giải phóng” làm sai lệch hiện thực. Những người đàn ông ôm choàng lấy ông – khác với những ai đó tin là như vậy – không phải là những nhà cải cách nông nghiệp vô hại. Hoàn toàn ngược lại, đó là một đám loạn luân của những người Mác-xít cuồng tín, những người muốn đảo lộn tất cả. Không có tình huynh đệ giữa ông và những con sói đói đó. Các lãnh tụ Khmer Đỏ đã tranh cãi với ông, cho tới chừng nào mà ông vẫn còn ở trong nước. Chuyến đi đã gây sốc cho ông. “Những kẻ đứng đầu Khmer Đỏ lả những con quái vật. Những đứa trẻ con nguy hiểm, không biết gì và không học gì. Một vài đứa đã đi ra nước ngoài, nhưng vẫn mù quáng.” Với đôi mắt đẫm lệ, ông mô tả tương lai: “Đất nước đáng thương của tôi, Campuchia vô tội, xưa cũ, … phải chịu đựng đau khổ đẫm máu.”

“Ngài sẽ làm gì?” Russell Spurr hỏi. “Làm nhiệm vụ của tôi”, Sihanouk trả lời. “Tôi hy vọng là anh sẽ không lợi dụng lòng tin của tôi. Tình thế của Sihanouk khó khăn hơn là khó xử rất nhiều.” Người hoàng tử nhún vai. Đó là một “cử chỉ cay độc của sự tuyệt vọng”.

Russell Spurr trở về Hongkong và thố lộ thế tiến thoái lưỡng nan của ông cho con người Waliser cứng cỏi Derek Davies, tổng biên tập của tờ Far Eastern Economic Review, người mà tài năng và tính khí đã dẫn ông từ ngoại giao sang nghề báo. Davies quyết định không ngần ngừ một giây, tôn trọng mong muốn được giữa kín bí mật của Sihanouk. Review chỉ in phần công khai của cuộc phỏng vấn. Sự thật về Khmer Đỏ được giữ kín trước công chúng.

Những gì mà ông cho là “nhiệm vụ” của ông đã khiến cho Sihanouk ở lại bên cạnh Khmer Đỏ cho tới kết cuộc đẫm máu và nhận lấy trách nhiệm nặng nề cho số phận của vô số người Khmer đã đi theo tấm gương của ông và đặt hy vọng vào một khởi đầu mới ở Phnom Penh. Ngay trước chiến thắng của phe Đỏ, trong tháng Tư 1975, Sihanouk để cho lan truyền công khai, rằng sự thống trị của người cộng sản sẽ không hằn dấu trả thù và hành quyết. Chỉ “bảy hay tám” kẻ phản bội chủ chốt là phải dự tính sẽ bị thủ tiêu. Tất cả những người khác, những người cộng tác với chính quyền Lon Nol, sẽ được ân xá.

Nhiều người Khmer đã tin vào lời nói của Sihanouk, đã không chạy trốn mặc dù có khả năng. Những người khác từ nước ngoài đã trở về quê hương ngay sau chiến thắng, để tham gia xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn và công bằng hơn. Họ đều đã trả giá cho lòng tin vào vị Vua-Thượng đế của họ bằng mạng sống, hầu như không có trường hợp ngoại lệ.

“Chỉ có hai người mà ngày nay phải chịu trách nhiệm cho tấn bi kịch ở Campuchia: Ông Nixon và tiến sĩ Kissinger”, Sihanouk đã cố gắng lẩn tránh trách nhiệm như  vậy. “Lon Nol không là gì nếu như không có hai người này, và Khmer Đỏ không là gì cả nếu như không có Lon Nol.”

Lịch sử không thể chấp nhận lời biện minh này. Chính Sihanouk phải chịu một phần trách nhiệm đáng kể, không phải cho cuộc chiến mà đất nước bị lôi vào trong đó, nhưng cho lần nắm lấy quyền lực của Khmer Đỏ, cho việc đánh lừa giới công chúng thế giới, cho sự khốn cùng vô tận và cho cái chết của nhiều người Khmer đã tin vào “Deve-Ral” của họ và đi theo ông ta.

Những cái bóng trong rừng sâu

Một thời kỳ mới ập vào Phnom Penh với sức mạnh của thiên nhiên, khi Sihanouk bị lật đổ trong tháng Ba năm 1970 và Mỹ bắt đầu vũ trang cho chính quyền Lon Nol và gửi họ vào cuộc chiến chống Việt Cộng. Chỉ hai năm sau, dân số thủ đô đã tăng gấp ba qua dòng người tỵ nạn. Đến cùng với con số đông đó là khốn khổ và thiếu thốn. Ngoại ô thành phố tăng trưởng mất kiểm soát. Số đông sống trong những khu nhà ổ chuột.

Trên thị trường chợ đen, đồng dollar được mua bán với giá cao gấp ba lần so với ở Ngân hàng Quốc gia. Giá trị của đồng “Riel” giảm vô đáy. Tiền tệ trên thực tế của “Cộng hòa Khmer” là đồng Dollar. Có thể có mọi thứ với nó: hàng xa xỉ, ma túy, tình dục, uy tín, quyền lực, miễn đi lính, hộ chiếu cho nước ngoài. Người bệnh không có dollar thì bị khước từ không được điều trị và không có thuốc. Tham nhũng ăn sâu vào trong nền tảng của một nền văn minh đã đánh mất lực kháng cự của nó. Một mùi thối rữa lơ lửng trên thành phố, thành phố mà tuy vậy vẫn cố giữ vẻ ngoài bình thường.

Phnom Penh ngày 17 tháng 4 năm 1975
Phnom Penh ngày 17 tháng 4 năm 1975

Ai phớt lờ những người ăn xin và những đứa trẻ con ăn mặc rách rưới rình rập người nước ngoài trước cửa ra vào của vài khách sạn hiện đại, ai để cho cuộc sống trên đường phố diễu qua trong chiếc ghế dễ chịu của cyclopousse, chiếc xe xích lô, người đó vẫn còn trải nghiệm được một nét quyến rũ đặc biệt, nhưng đã được trộn lẫn một ít đau buồn, vì dấu hiệu của sự suy tàn đã được viết lên trên tường.

Từ mùa hè 1973, tôi cùng với đội quay phim từ văn phòng Hongkong thường xuyên sang Phnom Penh để tường thuật về cuộc chiến và về quá trình tan rã xã hội đang phi nước đại. Có thể quan sát diễn tiến cuộc chiến dễ dàng với một chuyến đi trong ngày. Người ta không thể đi xe hơn 20 ki-lô-mét trên những con đường tỏa ra như hình ngôi sao từ thủ đô mà không vượt qua biên giới vô hình của “Cộng hòa Khmer”. Không thể không có, cũng như ở Việt Nam, là phiên dịch người địa phương và stringer, như người ta gọi như vậy trong biệt ngữ của giới báo chí: đồng nghiệp người Campuchia, những người biết cách nhận ra chiến tuyến đang tới gần từ quang cảnh giao thông đường phố. Những người lính với gia đình của họ ngồi xổm ở lề đường xe chạy và nấu cơm. Xoong nồi, chiếu, một vài chiếc quần áo rách rưới và vũ khí, súng tiểu liên M-16 và lựu đạn, là sở hữu gia đình. Lính trẻ em đóng một vai trò quan trọng ở cả hai bên, ở quân đội Lon Nol và ở Khmer Đỏ. Trẻ em với nón sắt luôn luôn bảo đảm cho nhà nhiếp ảnh có một tấm hình mà với nó, các hãng thông tấn có thể tồn tại được trong cuộc cạnh tranh tin giật gân hàng ngày.

Vào buổi trưa, các phóng viên trở về Phnom Penh để gửi story của họ đi qua đường telex, rửa ảnh và mang túi phim cho truyền hình ra phi trường Pochentong. Đông Nam Á đi trước châu Âu về thời gian từ 6 tới 7 tiếng. Bao nhiêu đó là đủ để gửi phim bằng đường hàng không về quê hương, nơi phim ảnh từ nước ngoài được trình chiếu muộn 24 giờ. Phim ảnh ngay trong ngày chỉ có thể có mãi về sau này nhờ vào máy điện tử và vệ tinh.

Cuốn phim “Killing Fields” đã cố gắng tái tạo bầu không khí lúc chiều tối ở hồ bơi của khách sạn “Royal”, nơi mà các phóng viên ngồi lại với nhau, tâm sự về những nỗi khiếp sợ vào lúc ban ngày và trấn an các cảm xúc của họ bằng rượu whisky. Trong số đó có nhiều nhà nhiếp ảnh tự do, ngày qua ngày tiến vào những xó xỉnh nguy hiểm nhất để chụp vài tấm hình action mà các hãng thông tấn chắc chắn sẽ chấp nhận. Nhóm người này đã chuyển sang ma túy từ lâu. Vẻ ngoài lôi thôi lếch thếch, xem xét thế giới bằng  đôi mắt mờ đục kỳ lạ, họ nhanh chóng nổi bật ở hồ bơi của “Royal”. Trước khi đi ra “mặt trận”, họ làm mát đầu họ bằng những tấm khăn ướt, như đã được mô tả lại hết sức chính xác trong “Killing Fields”. Họ liều mạng sống của họ mỗi ngày. Nhưng trong sự phụ thuộc vào ma túy thì cuộc sống này đối với họ thế nào đi chăng nữa cũng không còn có nhiều giá trị.

Trong “Royal” và “Monorom”, cách nhau chưa đầy 500 mét, những khách sạn mà trước đây khách du lịch Angkor sống ở trong đó, người ta không còn kiểm tra về ban đêm nữa, xem có ai không trở về từ chuyến đi ra mặt trận. Bất cứ ai ở Phnom Penh cũng biết nguy cơ đó, lạc vào giữa hai chiến tuyến và chấm dứt trong hỏa lực của cả hai bên. Cũng lớn như vậy là mối nguy chạy vượt qua biên giới vô hình vì ngẫu nhiên hay bất cẩn, và bị quân đội cộng sản bắt làm tù binh.

Chỉ trong ba năm từ 1970 tới 1973 là đã có  nhiều nhà báo chết hay biến mất không dấu vết ở Campuchia hơn là ở Nam Việt Nam, nơi cuộc chiến đã kéo dài hơn mười năm, và có rất nhiều phóng viên đi lại ở đó hơn là ở Phnom Penh. Hàng chục phóng viên được xem là “mất tích”. Không còn có hy vọng nữa. Con số ngày càng tăng này để cho những gì mà người ta phỏng đoán vào lúc ban đầu trở thành điều chắc chắn: Khmer Đỏ hành quyết bất cứ ai rơi vào tay họ. Không có tù nhân. Các nạn nhân biến mất cứ giống như vào trong một cái họng đen ngòm.

Lính của Trung đoàn Kỵ binh Bọc thép 11 Mỹ vào thị trấn Snuol, Campuchia, 4 tháng 5 năm 1970
Lính của Trung đoàn Kỵ binh Bọc thép 11 Mỹ vào thị trấn Snuol, Campuchia, 4 tháng 5 năm 1970

Thật là hết sức ngạc nhiên, khi sự tàn bạo của Khmer Đỏ không kích thích giới báo chí ở Phnom Penh quan tâm nhiều hơn tới “những cái bóng trong rừng sâu”, để phát hiện ra những gì thúc đẩy các phiến quân nông dân này, những gì làm cho họ khác với Việt Cộng, tại sao họ lại thủ tiêu không thương xót như vậy, cả người của báo chí hoàn toàn không mang theo vũ khí trên người.

Thay vì vậy, sự quan tâm của các phóng viên lại hướng tới quân đội của Lon Nol mà trong đó tham nhũng đã có quy mô gây tai tiếng. Các đơn vị quân đội được chỉ huy không tốt này thỉnh thoảng lại bộc phát tính tàn bạo tiềm ẩn từ cổ xưa, cái làm cho công chúng ở Phương Tây, ít hiểu biết về các hoàn cảnh thực tế, bị sốc nặng. Lính Khmer trẻ, còn gần như là trẻ con, đeo những cái đầu đã bị cắt đứt của địch thủ ở trên tóc; hay họ mổ lấy gan của nạn nhân ra, rồi cùng nhau ăn để dẫn dắt sức mạnh của người chết vào trong thân thể của họ. Với những hình ảnh như vậy, các free lance có thể  tự khẳng định mình trên thị trường. Nhưng những hình ảnh như vậy chỉ nói được rất ít về tình trạng chung của quân đội Khmer.

Trong Campuchia của Lon Nol có những tội phạm thật tồi tệ và bất công thái quá. Đạn dược từ Mỹ được buôn lậu sang cho đối thủ để đổi lấy dollar. Cả một nửa quân đội chỉ bao gồm là lính trên giấy, chỉ tồn tại trên những danh sách cấp lương chứ không tồn tại trong hiện thực. Với số tiền lương dư này, giới tướng lĩnh trang trải cho cuộc sống trong xa xỉ của họ.

Trong bệnh viện, người bị thương và bệnh nhân nằm trên sàn bê tông trần. Khi chính phủ liên bang [Đức] cung cấp vài tấm chăn để làm giảm bớt sự thiếu thốn thì chúng được phân chia trang trọng dưới sự hiện diện của các đại diện ngoại giao từ Bonn. Ngay ngày hôm sau, phần lớn bệnh nhân lại nằm trên nền cứng. Nhân viên bệnh viện bán những tấm chăn đó. Ai không thể trả tiền thì phải giao nộp lại phần hàng từ thiện này.

Cũng có những trường hợp ngoại lệ ở đây: sĩ quan, những người thực hiện nhiệm vụ của họ, và bác sĩ, những người điều trị và mổ xẻ mà không nhìn vẻ ngoài của người bệnh; và đa số quân nhân của Lon Nol cũng đã chiến đấu dũng cảm. Không chờ đợi gì nhiều từ các chỉ huy quân đội; nhưng những người lính, có vợ con ở bên cạnh họ, bước ra chiến trường mà không hề sợ hãi. Khác với người Việt dựa hoàn toàn trên lý trí, người Khmer chiến đấu với trái tim, xuất phát từ cảm xúc, đi theo bản năng – tốt cũng như xấu –, điều giúp để giải thích sự can đảm và tính tàn bạo.

Sự quyến rũ của xã hội đau sốt, sợ hãi vì dự đoán trước những điều xấu, đã khiến cho các nhà quan sát Phương Tây nghẹt thở, nhưng cũng đã ngăn cản ánh mắt nhìn sang phía bên kia, nơi mà những nhà cách mạng Khmer đã bắt đầu hành động, ngay từ trước khi lần chiến thắng đặt xuống nền tảng cho một cuộc cách mạng sẽ làm cho thế giới kinh ngạc.

Các nhà quan sát Phương Tây biết ít hay hoàn toàn không biết gì về tư tưởng và kế hoạch của Khmer Đỏ. Người ta biết những cái tên Khieu Samphan, Hou Yuon và Hu Nim, những người đã từng cùng hoạt động trong Đảng “Sangkum” của Sihanouk nhưng rồi đã lẩn vào trong bí mật. Nhiều người dân Phnom Penh nhìn họ như là những phiến quân lãng mạn, và người ta không thể không kính nể họ. Dường như không ai cảm thấy bất an về sự thật, rằng phong cách chiến đấu của người Khmer Đỏ không phù hợp với hình ảnh của họ. Có nhiều lý do, tại sao giới công chúng quốc tế lại bất ngờ trước cuộc cách mạng cực đoan của người Khmer Đỏ, cuộc cách mạng mà đã bắt đầu ngay từ ngày họ chiến thắng, ngày 17 tháng Tư 1975.

Cũng như hầu hết các phóng viên với các nguyên tắc tự do chủ nghĩa, tôi đánh giá việc nước Mỹ tham chiến ở Đông Dương với nhiều e ngại lớn. Tôi không muốn tin rằng Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ có thượng quyền để hy sinh Campuchia, nhằm chiến thắng Hà Nội về mặt quân sự.

Không có con đường nào dẫn đi vòng qua lời thừa nhận, rằng yếu tố quyết định để cho người ta chỉ nhận thấy được phía cộng sản một cách không đầy đủ chính là vì đã tạo một khoảng cách phê phán với đường lối chính trị của Mỹ. Cuối cùng thì mỗi một phê phán người Khmer Đỏ có thể được diễn giải như là lời bào chữa cho hoạt động của nước Mỹ. Sihanouk đứng trong liên minh với cách mạng. Không có một con đường thứ ba. Một hiện tại thất bại đã làm sai lệch cái nhìn vào tương lai. Một tính thơ ngây đáng kinh ngạc đã rút ngắn suy nghĩ. Vì vậy mà phần lớn các nhà quan sát đều hy vọng rằng người Khmer cuối cùng sẽ thích ứng theo truyền thống của đất nước, không có sự can thiệp từ bên ngoài. Và hoàn cảnh sẽ không thể tồi tệ hơn là trong cuộc nội chiến đẫm máu bây giờ. Có những lời giải thích cho sự lầm lẫn của chúng ta, nhưng không có lời bào chữa.

Một người lính bị thương nặng đang được mang đến trực thăng cấp cứu ở Kompong Cham, tháng 9 năm 1973
Một người lính bị thương nặng đang được mang đến trực thăng cấp cứu ở Kompong Cham, tháng 9 năm 1973

Một thầy giáo tiểu học trẻ tuổi có tên là Ith Sarin đã thu thập những thông tin quan trọng nhất về Khmer Đỏ, người vào giữa tháng Tư 1972 đã rời Phnom Penh để cùng với một người bạn tham gia lực lượng phiến quân cộng sản. Thất vọng và kinh hãi về những gì nhìn thấy và nghe được, Sarin quay trở về thủ đô trong tháng Giêng 1973. Ông công bố một quyển sách mỏng với tựa đề “Sronoh Pralung Khmer” – “Thương hại tâm hồn Khmer”, cái mà thời đó không được giới báo chí quốc tế nhận ra và ngày nay có thể được cho là mô tả tốt nhất về Khmer Đỏ và chính sách của họ trước khi chiến thắng.

Sarin là người đầu tiên nhận ra được việc giữ bí mật và ngụy trang tới mức cực đoan mà Đảng Cộng sản Campuchia tuân theo, và là người giới thiệu khái niệm Angka – “Tổ Chức” – khái niệm mà Đảng đã thật sự ẩn nấp ở phía sau đó. Thời đó, Sarin đã nhận ra rằng Khmer Đỏ không hề chiến đấu cho Sihanouk, mà theo đuổi những mục tiêu riêng, đối nghịch. Ông nghe một chính ủy nói: “Trong lúc này, ‘Tổ Chức’ không cho phép Sihanouk trở về Campuchia. Nếu như Sihanouk trở về thì nhân dân sẽ đứng sau ông, còn lưng của chúng ta thì không được che chở.” Sarin mô tả “Chính sách cực tả” khiến cho ông liên tưởng tới các mô hình Trung Quốc. Ông khẳng định, rằng Khmer Đỏ nghi ngờ và có ác cảm với tất cả các đồng chí đã từng sống ở Hà Nội và được đào tạo ở đó.

Vào ngày kỷ niệm bốn năm lần hạ bệ Sihanouk, vào ngày 18 tháng Ba 1974, các đơn vị của Khmer Đỏ tấn công đánh chiếm thành phố trước đây của các nhà vua, Oudong, nằm cách Phnom Penh 35 ki-lô-mét về phía bắc. Các vị vua Khmer đã ngự trị ở Oudong sau khi Angkor bị phá hủy, trước khi họ tiếp tục dời về Phnom Penh vào đầu thế kỷ 19. Một ngọn đồi ở gần Oudong, cao khoảng 200 mét, nhô lên cao khỏi vùng đất bằng phẳng. Ngôi chùa thờ Phật trên ngọn cho tới ngày nay vẫn còn nhắc tới một thời quá khứ tốt đẹp hơn.

Trong tháng Ba 1974, thành phố lịch sử Oudong đã trải qua một số phận mà khi nhìn lại thì đã báo trước cuộc di tản chết người của Phnom Penh. Một nhà báo người Úc, Donald Kirk, đã ghi lại các sự kiện ở Oudong vào lúc đó: “Đây là một cố gắng có ý thức và có thể nhận thấy rõ của Khmer Đỏ”, Kirk phán xét như vậy, “không chỉ tấn công chiếm lấy một tiền đồn của quân đội Lon Nol mà đồng thời cũng phá hủy những dấu vết cuối cùng của một nền văn minh bị họ cho là suy đồi và không quan trọng. Vì vậy, sau khi chiếm được thành phố, Khmer Đỏ đã dẫn dân cư chừng 20.000 người vào cánh rừng ở gần đó, và đã thủ tiêu tất cả thầy giáo và nhân viên nhà nước tại đó. Rồi thành phố bị phá hủy một cách có hệ thống. Nhà bị đốt cháy hay bị giật sập.”

Phân tích của Kirk, cái mang tựa đề rất tiêu biểu “Nhà cách mạng hay kẻ khủng bố?”, đã không tìm thấy được nhà xuất bản nào vào năm 1974. Mãi nhiều năm sau đó, nó mới được công cuộc viết sử khai thác. Công chúng Phương Tây không ghi nhận gì nhiều về vụ thảm sát ở Oudong. Cả trong các tài liệu của tôi cũng không có lời nào nhắc tới.

Tuy hầu như không được nhận ra ở Phương Tây, nhưng lần hủy diệt Oudong đã có một tác động thấy rõ tới tinh thần chiến đấu của quân đội Lon Nol, lực lượng mà sau những trận đánh ác liệt đã chiếm lại được thành phố trong tháng Sáu 1974. Quân lính Lon Nol đã tận mắt nhìn thấy những đau khổ nào mà Khmer Đỏ đã gây ra cho người dân thường. Lúc đó, Cộng hòa Khmer đã nằm ở trong tình cảnh hoàn toàn tuyệt vọng. Nhưng các trải nghiệm của Oudong  đã dựng dậy thêm một lần nữa tinh thần chiến đấu của quân đội và củng cố cho lòng quyết tâm, tiến hành cuộc chiến cho tới kết cuộc cay đắng.

Người dân Phnom Penh, những người bây giờ biết được Lon Nol đã dẫn họ vào trong sự hỗn loạn nào của chiến tranh và tham nhũng, cả lần này cũng nhờ vào việc cố tình không cảm nhận hết sự việc mà phát hiện ra ánh sáng ở cuối đường hầm. Hiện thực của Angka, tổ chức đầy bí mật của Khmer Đỏ và các mục tiêu cách mạng của họ, bị đẩy lùi ra khỏi nhận thức. Hoàng tử Sihanouk sống ở Bắc Kinh, người trên thực tế là không có quyền lực và thậm chí là còn không có cả thông tin về tình hình ở Campuchia, xuất hiện như là một niềm hy vọng mới cho những người ủng hộ Lon Nol đã bị thất vọng. Có Sihanouk đứng đầu, người dân tạo can đảm cho nhau như vậy, thì cuộc cách mạng của tương lai sẽ vẫn ở trong khuôn khổ của truyền thống Khmer. Sẽ phải có một con đường quay trở lại, như thế nào đó, nhiều người tin là như  vậy.

Họ vẽ ra tương lai như là một sự tiếp nối tốt hơn của tình trạng trước tháng Ba 1970: Chủ nghĩa Sihanouk với kỷ luật và đức hạnh cộng sản. Chính Sihanouk đã giúp sức cho ảo tưởng này và qua đó đã lừa dối hầu hết mọi người: Khmer, những người vứt bỏ ý nghĩ chạy trốn và ở lại trong nước, và cả những nhà quan sát nước ngoài, đã tiếp nhận sự lạc quan trống rỗng của giới tinh hoa Phnom Penh mà hầu như không hề phê phán gì. Người Khmer, lý lẽ trấn an là như vậy, không thích tiến hành chiến tranh với người Khmer. Truyền thống chung sẽ tạo khả năng cho sự hòa giải, ngay sau khi các con người xa lạ, người Bắc Việt Nam và cả người Mỹ nữa, rời khỏi xung đột này.

Ở Nam Việt Nam, nhiều người lo ngại như vậy, sẽ có một cuộc thanh toán đẫm máu sau chiến thắng của người cộng sản, một cuộc thảm sát chính quyền Thiệu. Vì vậy mà hàng chục ngàn người Nam Việt Nam đã kịp thời chạy trốn. Ở Campuchia, các nhà quan sát và những người bị ảnh hưởng chờ đợi một giải pháp ôn hòa. Tình cảm quốc gia sẽ dẫn hai bên tiến gần lại với nhau. Một nước Campuchia ốm đau, suy yếu gần chết, chỉ có thể cho phép mình có một đường lối: đường lối của thống nhất và hòa giải. Nhiều trăm ngàn người đã trả giá bằng mạng sống cho sai lầm này.

Các lãnh tụ của Khmer Đỏ

Trong lịch sử, hiếm khi mà phe chiến thắng của một cuộc nội chiến lại được người dân của bên thua chào mừng với nhiều hy vọng như vậy, như trong lúc Khmer Đỏ tiến vào thủ đô ngày 17 tháng Tư 1975.

Lon Nol, bị liệt nửa người vì tai biến mạch máu não, nhưng vẫn còn theo đuổi những giấc mơ về tầm vóc to lớn của Angkor, vào ngày 1 tháng Tư đã được chính nhân viên của ông, nhưng cũng được cả đại sứ các nước láng giềng không cộng sản Thái Lan, Maleysia và Singapore, thúc giục đi lưu vong. Với phần thưởng một triệu dollar, Hoa Kỳ đã tạo thuận tiện cho bước đi đã quá hạn này.

Tình hình quân sự của quân đội cộng hòa là tuyệt vọng. Từ đầu năm, Khmer Đỏ đã cắt đứt con đưởng tiếp viện từ Sài Gòn qua sông Mekong. Kể từ lúc đó, lương thực và đạn dược chỉ được chở với lượng giới hạn qua đường hàng không. Quân đội chiến đấu với những dự trữ cuối cùng của họ. Hai triệu rưỡi người dân thường trong thủ đô lâm vào tình trạng cực kỳ thiếu thốn. Phnom Penh trải qua nạn đói. Đã có thể nhìn thấy được kết cuộc của cuộc chiến.

Phnom Penh ngày 17 tháng 4 năm 1975
Phnom Penh ngày 17 tháng 4 năm 1975

Vào đầu tháng Tư, Khmer Đỏ đã chiến đấu tiến cho tới rìa thành phố và cho tới vòng phòng thủ bên ngoài của cảng hàng không. Đường băng bị bắn phá liên tục bởi pháo binh và hỏa tiển. Ngày càng có nhiều máy bay bay đến từ Thái Lan và Sài Gòn bị hư hại trong lúc dỡ hàng. Cho tới cuối cùng, những viên phi công vững thần kinh vẫn còn cho dỡ hàng dưới lửa đạn và mặc dầu bị bắn phá vẫn kéo chiếc máy bay lên cao ở cuối đường băng. Những hành động anh hùng như vậy mang ý nghĩa tượng trưng. Họ không còn có thể nới lỏng được vòng vây đang bóp nghẹt Phnom Penh của Khmer Đỏ.

Vào ngày 10 tháng Tư, người Mỹ di tản nhân sự đại sứ quán của họ. Người sếp của cơ quan đại diện, John Gunther Dean gốc Đức, hoàn thành nhiệm vụ của ông qua lần lấy lá cờ xuống, lá cờ mà ông kẹp nó trong cánh tay lúc bước lên trực thăng bay qua Thái Lan. Cùng với ông, có khoảng 250 người khác được di tản: nhà ngoại giao của các nước bạn, nhà báo và một loạt người Khmer đại diện cho chính quyền cũ mà được cho là đặc biệt bị nguy hiểm.

Sirik Matak, người cùng với Lon Nol lật đổ hoàng tử, không muốn nhận lời mời di tản của đại sứ quán Mỹ. Trả lời đại sứ Dean, ông viết tự hào và đầy phẫn nộ: “Rất đáng tiếc là tôi không thể nhận lời mời chạy trốn một cách hèn hạ như vậy được. Không có khoảnh khắc nào mà tôi nghĩ rằng ngài và đặc biệt là đất nước to lớn của ngài lại bỏ mặc một dân tộc đã lựa chọn sự tự do. Ngài đã khước từ bảo vệ chúng tôi, chúng tôi không thể làm gì để chống lại việc đó… Nếu tôi phải chết trong đất nước mà tôi yêu nó, thì điều đó sẽ đến. Vì tất cả chúng ta đều phải chết một lần. Tôi chỉ phạm phải một sai lầm là tin vào ngài và vào người Mỹ.”

Sirik Matak bị Khmer Đỏ hành quyết sau khi Phom Penh thất thủ. Sau khi bước xuống bục chính trường một cách đáng hổ thẹn, nơi mà ông chỉ cùng tác động để lật đổ người anh em họ nhưng không mang lại một thành tích tốt đẹp nào, lần kết cuộc của ông đầy xúc cảm, uy nghi. Lời phê phán người Mỹ của ông bộc lộ sự ảo tưởng mà nền cộng hòa đã dựa trên đó, nhưng cũng cả sự thiếu hiểu biết nguy hiểm về lợi ích và ưu tiên trong chính sách đối ngoại của các cường quốc. Lời khước từ chạy trốn, niềm mong muốn gắn bó với đất nước ông ngay cả trong cái chết, đã mang lại cho ông một chỗ đứng đầy danh dự trong lịch sử.

Quân đội đã bị tiêu hao nhiều của nền cộng hòa đúng là bị dồn tới chân tường. Họ đã chiến đấu cho tới viên đạn cuối cùng. Ở Việt Nam, một quân đội được trang bị tốt của Thiệu đã thua cuộc chiến mà hầu như không có chiến đấu, vì họ, tỉnh táo và tính toán theo lý trí, không thể nhìn thấy ý nghĩa nào cho sự hy sinh và đau khổ nữa. Phnom Penh cách Sài Gòn chưa đầy 300 ki-lô-mét. Nhưng chạy ở giữa đó là một biên giới văn hóa giúp giải thích cho sự khác biệt một cách cơ bản của cách ứng xử. Quân đội Lon Nol đã chiến đấu cho tới cùng cuộc chiến đã trở nên tuyệt vọng của họ. Chỉ khi các viên tướng đã chạy trốn và không còn có tiếp tế nữa thì những người lính mới quẳng vũ khí của họ đi, cởi bỏ quân phục của họ ra, mặc áo thun đi xăng-đan nhựa cùng với gia đình họ lẫn vào trong biển người tỵ nạn.

Vào buổi sáng của ngày 17 tháng Tư 1975, năm năm sau khi lật đổ Sihanouk, một sự im lặng căng thẳng bao trùm lên thủ đô. Đường phố trống vắng. Người dân ở trong nhà của họ, chờ Khmer Đỏ tiến vào.

Lúc đó, cùng với đội ngũ của studio Hongkong, tôi đang đóng tại Sài Gòn. Để quan sát và cho quay phim tiến triển trong cả hai thành phố, ban biên tập của [chương trình truyền hình] “Weltspiegel” ở Hamburg đã tranh thủ được Christoph Maria Fröhder, một phóng viên quay truyền hình hoạt động tự do có quê ở bang Hessen, người đã vượt qua được thử thách tại nhiều nhiệm vụ khó khăn. Với một trong những chuyến bay cuối cùng loại Caravelle của Air Cambodge, Fröhder đã đáp xuống đó.

Trong khách sạn “Royal”, ông gặp một tá thông tín viên nước ngoài đã không đi di tản, vì họ quyết định sẽ tường thuật về lần tiến quân vào của những người chiến thắng. Thuộc vào trong đó là Al Rokoff, một nhiếp ảnh gia người Mỹ, và Sidney Schanberg của New York Times, hai lão thành Campuchia mà những trải nghiệm của họ đã được cuốn phim “Killing Fields” đẩy vào trung tâm. Christoph Maria Fröhder đã quay những hình ảnh truyền hình duy nhất của buổi sáng ngày 17 tháng Tư. Cuộn phim sau này được mang lén ra ngoài dưới lớp băng của một bệnh nhân đã cung cấp thông tin cho giới khán giả truyền hình ở khắp nơi trên thế giới về một của những sự kiện khác thường nhất trong lịch sử thế giới.

Vào khoảng bảy giờ sáng, sau khi mặt trời mọc, nhiều người đàn ông trẻ tuổi cầm súng trong quần áo màu đen, vừa phất những lá cờ kỳ lạ có vẽ nhiều chữ thập nhiều màu ở trên đó vừa chạy trên những chiếc xe Jeep cũ qua đại lộ Monivong rộng lớn, trục đường quan trọng nhất trong khu khách sạn và mua bán của Phnom Penh. Những người lính đó trông có vẻ hòa bình và vui vẻ. Họ đúng là mời mọc hãy mừng một lễ hội của sự hòa giải, bước về phía họ, hoan hô họ, ôm họ, tạo một lần đón tiếp mừng chiến thắng cho họ.

Fröhder đã có thể quay những cảnh này một cách chi tiết. Ngày nay, người ta biết rằng những người lính chạy trên xe trong tư thế của người chiến thắng đó không phải là một đơn vị nào của Khmer Đỏ, mà là một nhóm người vũ trang có thiện cảm từ Đại học Kỹ thuật, đã dùng khoảnh khắc đó để hưởng một cảnh ngoạn mục to lớn. Các sinh viên có thiện cảm đã cho phép người dân Phnom Penh có được một ảo tưởng cuối cùng: rằng Khmer Đỏ thật sự lả sẽ nắm lấy bàn tay chìa ra, và cuộc chiến chấm dứt với một lễ hội của sự hòa giải. Chỉ trong thời gian của một giờ đồng hồ, ảo tưởng cuối cùng này cũng đã vỡ tan.

Vào buổi trưa, những người Khmer Đỏ thật sự mới tiến vào trong thành phố, tất nhiên là đi bộ, không một tiếng động trên những đế giày bằng cao su, không hành quân thành từng đoàn như lúc diễu binh, mà đi hàng một với súng chúc xuống. Gương mặt họ nghiêm trang, lạnh lùng, họ không biểu lộ xúc cảm, dường như là những người máy, khiến cho người dân Phnom Penh sợ hãi ngay tại cái nhìn đầu tiên. Trong số đó có lính trẻ em, nhiều thiếu niên, những người đã không còn biết nụ cười nữa và tỏa ra một vẻ nghiêm nghị, được bản năng cảm nhận như là một mối đe dọa.

Hiệu lệnh được đưa ra một cách điềm tỉnh và dứt khoát. Hiếm khi một người lính cất tiếng nói; và cùng với sự tự nhiên ôn hòa đó, những người lính nông dân màu đen bắn đạn của họ vào thân thể của những con người đang sợ sệt và bất lực đứng trước họ. Angka, “Tổ Chức”, đã tiếp nhận lấy quyền lực tuyệt đối. Phải thi hành mệnh lệnh của họ ngay lập tức. Ngần ngừ sẽ bị phạt bằng cái chết ngay tại chỗ.

Ngay vào buổi trưa, mệnh lệnh đã được đưa ra cho tất cả và mỗi một người, khỏe mạnh hay ốm đau, có thể di chuyển hay là không, phải gói một hành lý cầm tay và chuẩn bị sẵn sàng để rời thủ đô. Christoph Maria Fröhder đã có thể quay phim một vài người lính giơ súng lên để đe dọa những kẻ hôi của. Các thông tín viên nước ngoài không thể quan sát được cuộc di tản lớn của thường dân Phnom Penh. Nhiều nhóm vũ trang của Khmer Đỏ đã giữ họ lại trong ngôi vườn của khách sạn “Royal”. Họ là những tù nhân nhanh chóng hiểu rằng quyền lực thống trị mới không khoan dung cho việc cãi lại.

Phnom Penh rơi vào tay Khmer Đỏ, 19 tháng 4 năm 1975
Phnom Penh rơi vào tay Khmer Đỏ, 19 tháng 4 năm 1975

Quyển sách này không  đủ để mô tả lại cuộc hành trình đầy bi kịch, khiến cho người ta liên tưởng tới lần tận thế, của hai triệu rưỡi người. Ngay cả bệnh viện cũng bị di tản. Những người vừa mới được mổ xong được đẩy đi trên giường của họ. Người bệnh và người sắp chết phải xếp hàng và đi theo đoàn người, cho tới khi họ kiệt lực nằm lại, được mang để ở cạnh lề đường và trút hơi thở cuối cùng ở đó. Con cái cõng cha mẹ ốm đau của họ. Một dòng dường như vô tận của sự khốn cùng con người chảy ra những con đường lớn dẫn ra ngoài ngoại ô, và cho tới khi trời sụp tối thì chỉ đi xa được ba ki-lômét.

Chạy giữa dòng chảy của sự khốn cùng, đau khổ và tuyệt vọng đó là những gia đình tư sản đã trở nên giàu có qua tham nhũng trên những chiếc xe cá nhân chất đầy đồ của họ, với vài ngàn dollar tiền mặt trong túi như là sự bảo đảm, nhắm mắt trước cảnh đau khổ bao bọc quanh họ.

Pin Yathai, một người hưởng lợi từ những năm của Lon Nol, đã cùng với toàn gia đình chạy trong ba chiếc ô tô giữa đoàn người dường như vô tận đó. Với những lời nói này, ông đã diễn tả lại quang cảnh đó về sau này: “Chúng tôi càng cách xa thủ đô thì càng có thể nhận thấy rằng những người bệnh, người bị thương, người yếu và người già càng kiệt quệ nhiều hơn. Với nét mặt trống rỗng, họ dõi theo đoàn người đang bước qua, và dường như đã thờ ơ đầu hàng số phận của họ. Chúng tôi nhìn thấy người chết ở ven đường mỗi lúc một nhiều hơn, cho tới khi cảnh tượng đó không còn có thể gây sốc cho chúng tôi được nữa. Được bao bọc bởi lớp bảo vệ của các chiếc xe chúng tôi, chúng tôi hiếm khi tiếp xúc với các đại gia đình khác… Người ta phải là một tên ích kỷ và chỉ lo cho gia đình riêng của mình, khi người ta muốn sống còn.”

Sự hiển nhiên mà Pin Yathai diễn đạt tính ích kỷ gia đình với nó, tạo sự khác biệt rõ ràng với lối ứng xử châu Âu. Bác ái và đoàn kết với mọi người có cội rễ của nó trong hình ảnh con người của Ki-tô giáo, cái mà nền văn minh của châu Á không chấp nhận mặc cho thời kỳ thuộc địa.

Phải cần tới ba ngày, cho tới khi đoàn người đi về phía nam đó tới được thị trấn ngoại ô Takhmau, cách trung tâm chưa đầy mười ki-lô-mét. Nhiên liệu phần lớn các chiếc xe đủ cho tới đây. Khi hết xăng, xe phải để lại ở ven đường. Sau một vài ngày, những sự khác biệt của xã hội đã bị san phẳng. Cuộc cách mạng đã đến với tất cả mọi người như nhau, vật thể trong một thí nghiệm xã hội, cái mà loài người chưa từng bao giờ trải qua trong cùng một tính cực đoan như vậy.

Ai bị nhận ra hay bị tố cáo là thầy giáo, nhân viên nhà nước hay quân nhân của chính quyền cũ, đều nhanh chóng “biến mất”. Cuộc hành quyết được tiến hành có kế hoạch, nhưng hiếm khi diễn ra trước mắt những người vô can. Để tiết kiệm đạn, Khmer Đỏ thường đập chết nạn nhân của họ bằng cuốc. Hơn một triệu người Khmer, người ta ước lượng ngày nay, đã chết trong vòng ba năm tám tháng, thời gian thống trị của Khmer Đỏ. “Một vài trăm ngàn” (ước lượng và diễn đạt thật sự là mang tính cay độc) đã bị cố tình giết chết. Quốc gia Khmer đã mất đi giới tinh hoa, những người có học thức, công nhân lành nghề của họ, nếu như những người này đã không bỏ trốn.

Phần lớn hơn là nạn nhân gián tiếp của cuộc cách mạng này, qua hoàn cảnh sống bất nhân. Đa số người dân thành phố đã không thể chịu đựng nỗi cuộc sống ở mức tồn tại thấp nhất, nơi mà mỗi một gia đình phải tự xây nhà ở và tự sản xuất lấy lương thực. Bệnh sốt rét, thiếu dinh dưỡng, bệnh lỵ, do nước không được sạch gây ra, đã lấy đi mạng sống của người thành phố.

Khmer Đỏ cho nổ tung tòa nhà của Ngân hàng Quốc gia trong Phnom Penh. Xã hội mới sống không có tiền, không có bưu điện, không có trường học. Các thành phố không còn người. Con người bị chia về nông thôn, nơi họ xây kênh đào, khai hoang rừng nguyên thủy và làm ruộng với những phương tiện đơn giản nhất, không có phân bón hóa học và với dụng cụ thủ công tự chế.

Chùa chiền và tu viện bị đóng cửa, các nhà sư bị ép buộc phải cởi bỏ áo cà sa và xếp vào hàng ngũ của người dân lao động. Chỉ những người đã kết hôn là được sống với nhau, và cũng không phải lúc nào cũng vậy. Các quan hệ trước và ngoài hôn nhân bị trừng phạt nặng nề, hầu như lúc nào cũng là với cái chết. Bắt đầu từ 1977, gia đình còn phải giao ra dụng cụ nấu ăn. Người ta ăn trong các gian phòng tập thể. Hộ gia đình cá nhân không còn tồn tại nữa. Cuộc cách mạng tạo bình đẳng cho tới hệ quả cuối cùng. Thậm chí truyền thống Khmer Phật giáo cũng bị đập tan. Nhạc dân tộc và nhảy múa bị cấm. Mục tiêu của cuộc cách mạng là một xã hội Khmer nông dân, khắc khổ, tự cung tự cấp, bình đẳng và thuần chủng, cái sẽ xây dựng một Campuchia mới. Tất cả các dân tộc thiểu số, người Chàm, Việt và cả người Hoa, đều bị đàn áp một cách có hệ thống.

Nhà quan sát Phương Tây gọi hoàn cảnh đó là một “Chủ nghĩa Xã hội thời đồ Đá”. Thật sự thì xã hội mới chỉ bao gồm những con người ốm đau, rác rưới, gầy giơ xương, bị phù ở chân vì đói, với những con mắt quá to, hằn dấu của sự thiếu thốn và sợ sệt, một tập thể của những hình dạng khốn cùng không có ý chí và không có khả năng hoạt động, đã từ bỏ mọi hy vọng và ghen tị với người chết. Vương quốc của Khmer Đỏ là địa ngục trên trần thế, nhiều bạo lực, đáng ghê tởm, tàn bạo, giết người và ghê gớm cho tới mức khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ không đủ để mô tả hiện thực này.

(Còn tiếp)

Advertisements