Rồng Mekong

Những con rồng sông Mekong

Winfried Scharlau

Phan Ba dịch

Những con rồng sông Mekong - Winfried Scharlau
Những con rồng sông Mekong – Winfried Scharlau

Original Titel: “Vier Drachen am Mekong – Asien im Umbruch”

Bản quyền tiếng Việt © Phan Ba.

Lời nói đầu

Đông Nam Á đã thay đổi rất nhiều trong hai mươi năm vừa qua. Tôi đã trải qua những sự kiện quan trọng, bi thảm, khi còn là thông tín viên truyền hình cho [đài truyền hình nhà nước Đức] ARD.

Quyển sách này là hồi tưởng cá nhân, đồng thời cũng là phóng sự và phản ánh lịch sử. Chiến tranh và cách mạng chiếm một phần lớn trong đây. Việt Nam đã chiến đấu giành được độc lập trong một cuộc chiến tranh ba mươi năm chống Pháp và Mỹ. Hàng triệu người đã bị giết chết trong lúc đó. Các thiệt hại về vật chất vẫn còn đè nặng lên đất nước này cho tới ngày nay. Lào đã bị lôi kéo vào cuộc xung đột bởi con Đường mòn Hồ Chí Minh. Campuchia đã gây sốc giới công khai bằng một trong những cuộc cách mạng tàn bạo nhất của lịch sử loài người mà ý nghĩa của nó hầu như không thể hiểu được. Chỉ độc nhất Thái Lan là giữ được hòa bình, biết cách làm giảm thiểu những cuộc đảo chính và nổi loạn trong nội bộ qua chính sách khôn khéo và biến chúng thành việc tốt.

Hồi tưởng cá nhân có một góc nhìn riêng, cái vẫn được giữ xuyên suốt qua câu chuyện. Nó sẽ làm cho người ta hiểu được rằng tại sao tôi không thể ngưng suy nghĩ về sự việc đã diễn ra ở mặt ngoài, đánh giá các tài liệu có thể có được, nghiên cứu diễn giải của các tác giả khác, làm việc như một sử gia, người cố gắng tạo ra một bức ảnh tìm tới một cái nhìn toàn cảnh, vượt qua những trải nghiệm cá nhân.

Góc nhìn luôn thay đổi có nhiệm vụ giúp người đọc hiểu rõ được độ phức tạp của các sự kiện. Tôi muốn viết cho người đọc, không chỉ cho các chuyên gia hàn lâm. Tôi muốn cung cấp thông tin, càng dễ hiểu càng tốt.

Trong các câu lạc bộ báo chí Đông Nam Á, người ta biết câu chuyện của một người tới thăm Hongkong, người đã không muốn rời chiếc ống kính viễn vọng trên đồi Lạc Mã Châu ở Tân Giới mà với nó người ta có thể nhìn qua tấm màn tre vào Trung Quốc cộng sản. Hàng người đứng chờ ở phía sau ông càng lúc càng dài ra và càng sốt ruột. Sau nửa giờ, một người cảnh sát can thiệp và hỏi con người gây ra lộn xộn đang nhìn chăm chú qua biên giới đó: “Tại sao ông không nhường ống nhòm cho người khác?”

“Tôi viết một quyển sách về Trung Quốc”, người được hỏi đáp trả.

“Trong trường hợp này”, viên cảnh sát thừa nhận, “thì ông cần phải mở rộng sự quan sát của mình thêm một chút, để đừng giống như các tác giả khác, đã viết về Trung Quốc mà hoàn toàn không cần nhìn thấy hiện thực.”

Khi các marines đầu tiên, lính cổ da Mỹ, đổ bộ xuống Đà Nẵng năm 1965, cuộc Chiến tranh Việt Nam đạt tới một giá trị tin tức yêu cầu các giới truyền thông Đức phải hoạt động  mạnh hơn nữa. Đài ARD muốn được cung cấp thông tin từ một thông tín viên đóng ở tại chỗ, ở Sài Gòn. Các phóng sự từ studio New Delhi đã không còn đủ nữa. Trong tháng Hai 1967, tôi sang Nam Việt Nam. Một thế giới mới, xa lạ đã bắt giữ lấy tôi và kể từ lúc đó không còn buông thả tôi ra nữa.

Chiến tranh đã đóng một vai trò quan trọng trong lần gặp gỡ đầu tiên với châu Á. Nó đã mang tôi, thật ra cũng như tất cả các phóng viên chiến tranh khác, vào trong những tình huống cực độ và đồng thời cũng mang lại cho tôi một trải nghiệm khác thường: trước hết là trải nghiệm có thể làm việc trong một cuộc chiến mà không bị cản trở và không có kiểm duyệt. Chỉ sau này tôi, cũng giống như tất cả những người đã tham dự, mới nhận thức được tầm quan trọng này. Cuộc chiến đã bắn thủng lỗ chỗ những mặt tiền và những bức tường bảo vệ của các xã hội châu Á, và đứng trước sự chết chóc và tàn phá đó, chúng đã bộc lộ những đặc tính cũng như cấu trúc nội bộ của chúng rõ ràng hơn là lúc bình thường. Tôi dần dần mới lờ mờ hiểu được phẩm giá mang dấu ấn của lịch sử đó, và những hình thức sống đặc biệt ngay giữa trong cái đẹp nhiệt đới của Đông Nam Á, cái thật khó mà nắm bắt được qua từ ngữ. Mãi bây giờ, hai mươi năm sau đó, tôi mới dám mô tả nó, ngần ngại và rụt rè.

Trong huyền thoại của nhiều dân tộc, rồng đóng một vai trò quan trọng. Châu Âu đầu thời Trung cổ đã tưởng tượng nó có nhiều đầu và phun ra lửa. Phải cần tới một người anh hùng để chiến thắng nó trong một cuộc đấu trực diện. Các dân tộc châu Á gắn kết hình ảnh con rồng với những tính chất tốt đẹp. Nó tượng trưng cho sự phồn thực và nước. Tác động của nó mang tính thiện và mang lại hạnh phúc.

Mang sang chính trị, Trung Quốc đã cảm nhận mình như con rồng lớn, bảo vệ và canh giữ những quốc gia nhỏ hơn ở ngoại biên của nó. Người ta gọi các quốc gia láng giềng của Trung Quốc ở Đông Nam Á là những con rồng nhỏ. Họ tồn tại dưới cái bóng của Trung Quốc hay chống lại sự thống trị của hoàng cung Bắc Kinh qua nhiều thế kỷ và qua đó đã phát triển sự nhận dạng quốc gia.

Quyển sách này bàn về bốn con rồng nhỏ ở sông Mekong: về Việt Nam và Lào, về Campuchia và Thái Lan, tất cả đều nằm cạnh dòng nước lớn mang lại cuộc sống, bắt nguồn ở Tây Tạng và chảy xuyên qua tỉnh Vân Nam về hướng Nam.

Khái niệm Đông Dương được người Pháp sử dụng chỉ bao gồm thuộc địa riêng của họ: Việt Nam, Lào và Campuchia. Cách xếp nhóm theo lịch sử từ thời thuộc địa này hẳn sẽ mất đi tầm quan trọng trong tương lai và sẽ được mở rộng ra thành một cách sắp xếp theo địa lý nhiều hơn, cái bao gồm cả Thái Lan. Tựa đề muốn được hiểu theo ý nghĩa này.

Hamburg, Xuân 1989

Winfried Scharlau

Việt Nam: Hiện thực của cuộc chiến

Siêu thị Sài Gòn

Mary McCarthy

Thuộc trong số nhiều người Mỹ nổi tiếng muốn tận mắt nhìn thấy cuộc chiến ở Việt Nam, để viết về nó và phê phán công khai, là nữ nhà văn Mary McCarthy.  “Khi sang Việt Nam trong tháng Hai 1967”, bà thừa nhận trong “Report from Vietnam” được xuất bản vài tháng sau đó của bà, “tôi đã đi tìm những tài liệu có thể làm tổn hại đến lợi ích của Mỹ”. Có nhìn đến đâu bà cũng chỉ nhìn thấy sự xác nhận cho những gì mà bà đã biết. Nhưng không phải tất cả các nhận thức đó đã đứng vững được trước một xét nghiệm lại về sau này.

Tôi đã gặp bà McCarthy thoáng qua trên Hội Chợ Sách Frankfurt, nơi bà giới thiệu quyển sách bán chạy “The Group” của bà. Tình cờ, tôi cũng ngồi trong cùng chiếc máy bay từ Paris đến Sài Gòn – không phải ở phía trước như nhà văn nữ nổi tiếng, mà là tít ở phía sau trong “hạng ghế gỗ”. Sau những lần đỗ lại ở Athen, Teheran, Karachi và Bombay, thời đó vẫn còn là thông thường trên những tuyến bay dài, hành khách ăn sáng tại Cảng Hàng Không Bangkok. Trong một cái lán thấp, thức ăn được dọn ra trên một cái bàn dài có lá cờ của hãng hàng không ở trên đó. Bà McCarthy ngồi cạnh tôi. Bà trông có vẻ thiếu ngủ, nhưng người ta có thể nhận ra được sự căng thẳng chờ đợi trạm kế đến của bà, Sài Gòn.

Ở ngoài, cạnh những đường băng có hàng chục chiếc máy bay ném bom chiến đấu phản lực. Một vài chiếc khởi hành với tiếng ồn điếc tai. Máy bay trực thăng bay lơ lững tới. Mùi xăng máy bay nồng nặc trong không khí. Đó là chiến tranh rồi, chúng tôi đã  nghĩ như vậy, một màn dạo đầu lúc ăn sáng. Trong khi đó thì chúng tôi còn cách Việt Nam hàng ngàn kilômét.

Người ta nghĩ là ít ra thì họ cũng cố ngụy trang công việc làm của họ trước du khách, người nữ tác giả nghiêm khắc, hoàn toàn không có trang sức, nhận xét, người theo kiểu cách của giới trí thức Paris đã lấy sự từ bỏ styling làm phong cách cho mình. Cả hai chúng tôi đều hoàn toàn không biết gì về hiện thực của cuộc chiến, cho tới mức đã không nhận ra huy hiệu trên những chiếc máy bay chiến đấu đó, những cái chứng tỏ kho vũ khí hoàn toàn lỗi thời này là sở hữu của Không Quân Thái Lan. Phi vụ sang Việt Nam không hề được bay từ Cảng Hàng Không Don Muang. Các căn cứ của Hoa Kỳ ở trong nước không bị hàng không dân sự quấy rầy.

Sau này, tôi có thể đọc lại cuộc thảo luận tình cờ của chúng tôi trong “Vietnam Report” của McCarthy. Rõ ràng là tôi đã không thể giải thích tường tận được về Không Quân Thái Lan cho bà. Nhiều lắm thì tôi chỉ có thể nhận ra được loại máy bay chở chúng tôi tới Bangkok là một “Boeing 707”. Bà McCarthy tin rằng bà đã ở trong một chiếc “Caravelle”. Chỉ trong cái nghề lâu đời nhất của thế giới, Tướng Dwight D. Eisenhower đã từng có lần chế giễu, thì dân nghiệp dư mới được phép cho mình là một cái gì đó tốt hơn giới chuyên nghiệp. Trong giới quân đội, những người mới bắt đầu và các nhà chiến lược nghiệp dư có một hình ảnh hết sức buồn cười, một trải nghiệm không chừa ra bất cứ người phóng viên chiến tranh nào vào lúc ban đầu cả.

Chuẩn bị nhiệm vụ cho tôi là một tác giả khác: Graham Greene mà quyển sách “Người Mỹ trầm lặng” của ông vẫn còn thuộc trong số những gì viết tốt nhất về cuộc chiến ở Đông Dương. “Tôi không muốn can thiệp vào”, Green để cho nhân vật chính, nhà báo người Anh Fowler, nói. “Đồng nghiệp của tôi tự gọi họ là thông tín viên. Tôi thích cái tên gọi phóng viên hơn. Tôi viết những gì tôi nhìn thấy. Tôi không can thiệp vào, ngay cả một ý kiến cũng là một sự can thiệp. Chúa Trời bảo vệ chúng ta trước những người vô tội và những người tốt.”

Ở Sài Gòn, tôi đã đặt một phòng trong khách sạn “Continental Palace”, phòng mà 1952/53 Greene cũng đã sống ở trong đó vào thời của cuộc chiến tranh chống Pháp. Ngôi nhà được sơn trắng xóa từ thời chuyển tiếp thế kỷ có một nét quyến rũ xưa cũ mà người khách từ châu Âu bị thu hút một cách tự phát và mãi mãi. Cũng vì vậy mà sống ở “Continental” trước hết là phóng viên từ châu Âu, và tất nhiên là các old China hands, các tay kỳ cựu ở châu Á, những người tiếp tục nối tiếp phong cách sống thời thuộc địa.

Đại đa số các phóng viên trẻ tuổi từ Mỹ, trước hết là những đội truyền hình của ba kênh lớn CBS, NBC và ABC, sống trong khách sạn cao tầng “Caravelle” hiện đại, được điều hòa nhiệt độ toàn bộ và vì vậy mà quá lạnh, và mãi vào cuối những năm năm mươi mới được xây lên. Hai khách sạn, “Continental” và “Caravelle” nằm cạnh con đường mua sắm nhiều bóng mát, con đường đã từng là Rue Catinat thanh lịch và bây giờ có tên là Tự Do. Người ta không cần tới một trăm bước chân, để từ khách sạn này qua nhà hát tới khách sạn kia; thế nhưng ở đây có một đường ranh giới vô hình chạy ngang qua, chia cắt hai thế giới.

Vào buổi chiều, khi mặt trời đang lặn pha một sắc màu xanh nhạt hay tím vào ánh sáng đang yếu dần đi, hàng hiên của “Continental” trở thành một trong những cái chợ tin tức quan trọng nhất của thành phố. Khách sạn này cao bốn tầng, có những lối vào rộng rãi và hành lang có trần cao, để không khí có thể tuần hoàn được. Máy điều hòa nhiệt độ kêu lạch cạch trong những gian phòng rộng mênh mông với những cái ghế mây hay bàn ghế bọc chất dẽo, để cho nước ngưng tụ của nó nhỏ giọt xuống đường phố và làm đầy bầu không khí bằng một âm thanh nền thật to. Ở tầng trệt, phía hướng ra đường phố, khách sạn có một hàng hiên rộng mà ở đó người khách có thể nhìn thấy hoạt động trên đường phố, và đồng thời cũng để cho khách bộ hành quan sát mình.

Aussi bien qu’en France [Cũng tốt như ở Pháp]”, ông chủ người Pháp nói. Philippe Franchini có gốc Corse-Việt, có tài trong kinh doanh cũng như mỹ thuật. Ông biết những lời ám chỉ văn học về cái “etablissement” của ông trong các tác phẩm của Greene, André Malraux và cả trong những vở kịch của Noël Coward, người trên hàng hiên này đã phác thảo vở “Mad dogs and Englishmen” của ông. Ai kết bạn với giới này, người đó nhìn Sài Gòn bao quanh mình với đôi mắt phê phán, không phải là không có một chút nuối tiếc. Một làn sóng dollar đã cuốn trôi đi một phần lớn bầu không khí thuộc địa Pháp. Sài Gòn thay đổi hết sức nhanh chóng trong cơn say của một nền kinh tế phát đạt nhờ chiến tranh.

Một thiểu số nhỏ trên hàng hiên là các đại tá tóc vàng hớt kiểu bàn chải từ các ban tham mưu của Mỹ, những người mà Mary McCarthy đặc biệt khinh thường, ít khi trong quân phục, thường hơn là trong những chiếc quần ngắn Bermuda kẻ ô, trong môi trường này trông giống như quần áo gánh xiếc. Chen chúc ở cạnh bậc thềm vào hàng hiên, nơi những người bồi bàn kỳ cựu phục vụ citron pressé soda hay bia “33” bản địa, là những đứa bé ăn xin, những cô gái trẻ lả lơi, thường là con lai, và những người bán sách rong đang giữ cân bằng chồng sách trên tay họ và bị những người bồi bàn to tiếng và dứt khoát đuổi xuống đường khi cố gắng bắt chuyện với người mua ở cạnh bàn. Ngược lại, những đứa bé đánh giày thì lại được khoan dung cho, đánh bóng giày trên vỉa hè trong khi khách hàng của chúng chân không giày uống xì xụp sundowner của họ.

“Mỹ, Mỹ”, ngày nay thì trẻ con Việt Nam gọi tất cả “người da trắng” là như vậy. Đối với đại đa số người Việt, chủng tộc mới là cái quyết định, không phải quốc tịch. Thang điểm giá trị trong người dân có mười bậc. “Số một” là lời khen tốt nhất. Trước bậc thềm của hàng hiên người ta luôn nghe được tiếng gọi to: “You, Merican, namba ten.”

Thời đó, người ta đã mô tả Sài Gòn như là một siêu thị khổng lồ. Đổi tiền ở khắp nơi, đô la “xanh” của Mỹ được đổi lấy tiền đồng theo giá chợ đen, cái để cho những con búp bê trong vô số các quán rượu nhảy múa. Ở Nam Việt Nam chưa từng bao giờ có nhiều tiền và ngoại tệ hơn như trong những năm người Mỹ tham chiến. Qua trộm cắp, buôn lậu, tham nhũng và biển thủ, hàng triệu và vào lúc cuối hẳn là hàng tỷ đã rò rỉ vào một xã hội có kẻ thắng lớn và người bị thiệt thòi, một xã hội phân chia lợi nhuận hết sức không đồng đều, nhưng gián tiếp thì hầu như tất cả, ít nhất là trong các thành phố lớn, đều có phần. Một con số lớn người dân, lớn tới mức đáng ngạc nhiên, đã có thể chuyển từ xe đạp sang xe gắn máy. Con số lớn của những chiếc xe gắn máy Nhật tỏa khói mù mịt đã làm thay đổi hình ảnh của thành phố nhiều hơn tất cả các hệ quả khác của chiến tranh.

Những ngôi nhà đồ sộ màu đất son thời thuộc địa mà bộ máy nhà nước đóng ở trong đó được bảo đảm bằng nhiều hàng rào dây kẽm gai, gây trở ngại cho giao thông, vì người đi bộ vì vậy mà bị trục xuất xuống lòng đường, nơi những chiếc Honda đang đòi chiếm chỗ. Dây kẽm gai, chướng ngại vật và những tấm lưới thép trước cửa sổ minh chứng cho mối đe dọa hiện diện ở khắp mọi nơi của những người ném bom và kẻ ám sát. Sự thịnh vượng nhân tạo, một dòng giao thông mà thành phố có nguy cơ chết ngạt vì nó, và dây kẽm gai ở khắp mọi nơi, đã mang lại cho Sài Gòn của thời đó một hình ảnh mới, xấu xí. Trong “Antimémoires”, André Malraux nhớ lại “sự buồn tẻ của Nam Kỳ”, về những cái nón cối, giờ uống rượu absinth xanh trên hàng hiên “Continental”, “khi buổi chiều tối ngắn ngủi hạ xuống những cây phượng vĩ, xuống những chiếc xe mui trần đang chạy ngang qua trên Rue Catinat trong tiếng ồn từ những cái chuông của chúng”. Sài Gòn của những năm ba mươi đã suy tàn, chìm vào trong làn nước của một trận ngập lụt dollar, cái không chỉ làm thay đổi hình ảnh bên ngoài, cái cũng đã làm thay đổi cả tinh thần của thành phố,

Quán rượu, tiệm mát xa và nhà chứa đã có từ thời Pháp. Nhưng vào thời đó thì chúng còn ở trong bí mật, được che đậy và giữ kín trước con mắt của một xã hội có vẻ như là đoan trang. Cuộc sống hai mặt về đạo đức như vậy bây giờ không còn cần thiết nữa. Thói xấu hiển lộ một cách trần trụi và thành thật. Quy mô và phong cách đã thay đổi. Các cô gái đứng đường cho thấy rõ rằng có tiền thật sự là có thể mua được tất cả. Đạo đức chưa từng bao giờ khác đi, nhưng phong cách thưởng thức thì có khác. Lối sống Pháp buộc người ta phải kín đáo. Người Mỹ thì ngược lại khiến cho người ta, trước hết là các nhà quan sát người Việt, có cảm giác là họ thô tục, bất lịch sự và đáng ghét.

Nhưng họ giàu có, và họ có nhiều quyền lực. Họ tự tin nhìn xuống những người Pháp còn ở lại Nam Việt Nam. Nhóm người Pháp, vẫn còn khẳng định được vị trí của họ trong khách sạn, nhà hàng và các công ty dịch vụ, được nhẫn nại khoan dung như một cách để phong phú hóa môi trường thành thị. Cả việc làm giàu về mặt ẩm thực cũng được đa số người Mỹ đánh giá cao. Người Mỹ chỉ không muốn biết tới các trải nghiệm về chính trị và quân sự mà Pháp đã có ở Việt Nam. Các vấn đề của quá khứ, những người bảo vệ mới của Nam Việt Nam tin là như vậy, hết thảy đều xuất phát từ thuộc địa hóa, đàn áp và bóc lột bởi Paris. Ngược lại, nước Mỹ chiến đấu không tư lợi, vì lợi ích của người Nam Việt Nam. Nước Pháp phải thất bại. Kinh nghiệm của họ không dạy được điều gì. Họ chỉ xác nhận nhận thức đã rõ, rằng thời thuộc địa đã qua đi và không bao giờ quay trở lại nữa.

Người Pháp đáp trả sự không ưa thích đó từ sâu thẳm trong thâm tâm. Họ cảm nhận Sài Gòn như là một siêu thị có những con “siêu khỉ” đang tụ tập ở trong đó. Họ không  muốn rời bỏ niềm tin, rằng họ hiểu người Việt tốt hơn nhiều khi so với những người Mỹ hoàn toàn không hiểu biết gì. Họ xem Nam Việt Nam là sở hữu của họ, là người tình của họ, người đã bỏ đi theo một gã nhà giàu xấu xí. Một ngày nào đó, đất nước này sẽ quay trở lại ở bên cạnh nước Pháp.

Có một lời khẳng định đã suy đồi thành định kiến, rằng Sài Gòn thời đó duy nhất là một nhà chứa khổng lồ, sống ở đó là những kẻ hưởng lợi từ chiến tranh, dân buôn lậu, ma cô và gái điếm. Phim Mỹ về Việt Nam như “Full Metal Jacket” của Stanley Kubricks đã hạ thấp hiện thực xã hội của Nam Việt Nam xuống tới những tình trạng như vậy, cái cũng đủ để cho cả những nhà phê phán người Pháp đưa ra một phê phán chung cho cả đất nước này từ đó.

Thật sự thì Nam Việt Nam đã khiến cho người ta ngạc nhiên nhiều hơn, qua sự tồn tại bên cạnh nhau của chiến tranh và hòa bình, của sự biến dạng và trạng thái bỉnh thường không hề bị ảnh hưởng tới, của dâm tục và thơ mộng, cái còn cho phép một phần lớn con người khẳng định được tính chất riêng biệt và phẩm giá của họ trong một xã hội mang dấu ấn của chiến tranh, bạo lực và xáo trộn. Đặc biệt là ở tỉnh và làng quê, con người vẫn giữ vững truyền thống của họ, những cái đã chống chọi lại được với ảnh hưởng của nền văn minh Pháp và bây giờ cũng sống sót qua được chiến dịch của người Mỹ nhằm để chiếm lấy các “trái tim và đầu óc”.

Sài Gòn, thủ đô to lớn, tăng trưởng lên hơn hai triệu dân cư trong miền Nam, là một trường hợp đặc biệt mà trong đó xã hội đã thay đổi và tan rã nhiều hơn là trong phần còn lại của đất nước. Trong khi đó, thời 1967, thì con người ở đây vẫn còn được chiến tranh thật sự, và những tàn phá do một cỗ máy chiến tranh hiện đại gây ra, dung tha cho hoàn toàn.

Tuy vậy, vào mỗi tối, ngay cả từ hàng hiên của “Continental”, người ta vẫn có thể nhìn thấy flair, những “cây Giáng Sinh” như người ta nói trong Đệ nhị Thế chiến, treo dưới những cây dù lơ lửng trên bầu trời, để chúng chiếu sáng trong vài phút một chiến trường đã kéo vào cho tới tận ngoại ô của Sài Gòn. “Cây Giáng Sinh” trên bầu trời mang lại cho những người mới đến một ấn tượng đầu tiên, rằng chiến tranh và hòa bình nằm gần nhau cho tới đâu ở đây.

Một âm mưu chống khán giả

Giấy phép ra chiến trường có ở “Military Assistance Command Vietnam”, viết tắt là MACV (và đọc là “Macvi”). Cơ quan thông tin của MACV đóng trong khách sạn “Rex” trước đây, nằm cạnh đại lộ Lê Lợi rộng lớn, cách các ngôi nhà trọ cho những đoàn lữ hành của giới báo chí, “Continental” và “Caravelle”, không đầy 200 mét. Dây kẽm gai giới hạn lối vào ở bên hông. Một người canh gác kiểm tra giấy tờ cá nhân. Qua những bức tường bằng gỗ, gian sảnh lớn ở tầng trệt được chia ra thành những phòng làm việc nhỏ, được liên kết với nhau bằng những hành lang dài, chật hẹp. Người khách thật sự là phải len lỏi qua đó, vì đứng khắp nơi trên hành lang là những bình nước uống thật to mà không có chúng thì nhân viên rõ ràng là không thể chịu đựng được bầu không khí bị làm lạnh quá mức này. Ly giấy mỏng, có màu trắng nằm đó sẵn sàng để ai cũng có thể uống nước theo nhu cầu.

Thư viện Abraham Lincoln và rạp REX, Sài Gòn 1965
Thư viện Abraham Lincoln và rạp REX, Sài Gòn 1965

Ngồi trong các ô chật hẹp là những người đại diện cho JUSPAO, “Joint United Public Affairs Office”, và các sĩ quan báo chí của bốn binh chủng: lục quân, cổ da, không quân và hải quân. Công việc ghi chép do phụ nữ người Việt nói tiếng Anh tiến hành, tất cả đều trong chiếc áo dài, y phục dài bằng lụa với quần dài và rộng và một chiếc áo váy được xẻ ra, dài quá gối. Ngồi ở phía sau các cái bàn giấy có bảng tên là những sĩ quan cường tráng trong quân phục được hồ cứng, thường là trung tá, có sẵn trong túi bên cạnh cây bút bi là một cái cây que chỉ bằng kim loại có thể kéo dài ra được, để có thể giải thích tất cả các vấn đề qua những bài thuyết trình ngắn, cạnh những tấm bản đồ và biểu đồ.

Để được công nhận, người ta chỉ cần một văn thư của tòa soạn từ quê hương, một giấy giới thiệu của sứ quán và một vài tấm ảnh để làm thẻ. Trước khi tấm thẻ báo chí bọc nhựa nhỏ được trao ra, người ta còn phải ký tên trên một văn kiện, miễn cho Hoa Kỳ tất cả các phí tổn sau này, kể cả việc mang trở về nhà trong quan tài.

Tấm thẻ báo chí cho cuộc chiến mang lại cho người sở hữu nó địa vị của một đại úy, người có quyền sử dụng các phương tiện vận tải của quân đội, đi khắp nước, xa cho tới nơi nào mà máy bay và trực thăng bay tới đó. Người này nhận nơi ăn ngủ của mình ở tại đơn vị tương ứng, nơi đón tiếp khách nhà báo bằng phòng PR riêng của họ, và trong lúc đó thông thường bao giờ cũng hào phóng và sẵn sàng giúp đỡ. Sẽ thuận lợi hơn, nếu như người ta thông báo trước những lần tới thăm các đơn vị qua phòng báo chí của các quân chủng trong JUSPAO. Nhưng nếu ai thích đi mà không báo trước, cứ để ngẫu nhiên đưa đẩy, đi nhanh tới nơi chiến sự đang là tít trên báo, thì cũng được tiếp đón và cung cấp cho tất cả những thứ cần thiết.

Không một người tháp tùng, không một người giám sát nào can thiệp vào trong công việc của các nhà báo. Báo chí được tự do, và được mời hãy tạo cho mình một hình ảnh riêng. Quân đội chỉ không muốn đảm nhận những rủi ro cho thân thể và tính mạng. Mặc dù vậy, tất cả các nhà báo bị thương tất nhiên đều được trực thăng cứu cấp bay chở ra khỏi chiến trường và được chăm sóc trong các bệnh viện quân đội. Không ít người – tôi thuộc trong số đó – mang trong thâm tâm một sự biết ơn to lớn vì việc này cho tới ngày hôm nay.

Tất nhiên là trước khi nhà báo có thể đi vào chiến tranh ở ngoài kia trên đồng ruộng và trong rừng rậm thì họ phải chịu đựng một nổ lực public relation hết sức lớn từ những cơ quan thông tin kết hợp của các cơ quan dân sự và quân sự của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Cùng với tấm thẻ báo chí, con người mới đến còn nhận được một press kit, hàng chồng tài liệu giải thích ý nghĩa của việc Hoa Kỳ tham chiến tại Nam Việt Nam và không để cho bất cứ một sự nghi ngờ nào trỗi dậy về việc quyền lực dẫn đầu Phương Tây sẽ vượt qua được thách thức này. “Hỏi: Tại sao Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ chiến đấu ở Việt Nam?”, theo như một talking paper của tháng Hai 1967: “Trả lời: Trong những điểm chính: Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam vì a) nền hòa bình và an ninh Đông Nam Á có tầm quan trọng sống còn cho lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ; b) Hoa Kỳ có nghĩa vụ bảo vệ Nam Việt Nam trước một cuộc xâm lược từ bên ngoài.”

Khác với những cuộc chiến trước đây, hoạt động tham chiến ở Việt Nam không thổi dậy một cơn say quốc gia mà tuyên truyền chỉ cần hỗ trợ cho nó. Trong Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến, cả trong Chiến tranh Triều Tiên, đối thủ có thể xác định được một cách rõ ràng, việc làm của quốc gia dường như là đúng đắn, quốc gia đứng sau lưng quân đội và chính phủ, để giúp cho tự do, công lý và cái thiện có thể chiến thắng. Tình trạng khẩn cấp được Quốc Hội xác nhận cho phép kiểm duyệt và giới hạn tự do thông tin vì lợi ích của an ninh quốc gia,

Trong Chiến tranh Việt Nam thì ngược lại, một “tam hiệp” từ nhân dân, chính phủ và quân đội, được lý thuyết gia về chiến tranh người Đức Carl von Clausewitz khuyến cáo, đã không hình thành. Người dân không được tham gia vào trong các quyết định dẫn tới cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á. Một chiến dịch PR không tiền khoáng hậu của chính phủ có nhiệm vụ thuyết phục nhân dân và giới công khai Mỹ tin tưởng vào sự cần thiết và tính đúng đắn của cuộc chiến.

Hàng ngày vào lúc năm giờ chiều có một cuộc họp báo diễn ra trong gian sảnh nhà hát của khách sạn “Rex”. Một phát ngôn viên của Đại sứ quán Hoa Kỳ thông tin về các vấn đề chính trị xã hội; giới quân đội phân phát “news release” của họ, thông cáo của Bộ Tham mưu tổng kết và xác định số lượng chiến dịch của ngày hôm trước. Một phát ngôn viên quân đội giải thích thông cáo đó và trả lời các câu hỏi của giới nhà báo.

Làm đạo diễn ở hậu trường là một PR manager lực lưỡng, hút thuốc liên tục. Barry Zorthian. Trên gương mặt sắc nét của mình, ông phải cố gắng lắm mới che dấu được cảm nhận của ông về chất lượng của màn trình diễn đang được tiến hành. Ông chứng tỏ mình có nhiều sự thông hiểu tới mức đáng ngạc nhiên cho các nhà báo hay hỏi khiêu khích. Làm cho ông chán ngán trước hết là những sự cố có thể tránh được do chính nhân viên của ông gây ra, nhưng đặc biệt là từ đại diện của các quân chủng. Ông chỉ bước lên sân khấu trong trường hợp khẩn cấp: khi các phát ngôn viên vướng vào bẫy của các nhà báo đang hỏi. Zorthian thích “mát xa cá nhân” trong phòng làm việc ốp gỗ của ông hơn, hay cả một bữa ăn trưa trong căn hộ tư của ông. Ông đã thực hiện nhiệm vụ khó khăn của mình với nhiều tính thuyết phục và tài khéo léo cho tới mức Time/Life sau này đã mời ông về làm việc trong ban giám đốc.

Zorthian không có ảnh hưởng gì nhiều tới chính sách thông tin của quân đội. Tướng William C. Westmoreland, viên tổng chỉ huy Mỹ ở Nam Việt Nam, và bộ tham mưu của ông phớt lờ mọi lời khuyên và phê phán. Họ giảm các thông tin quân sự xuống tới mức nó phá hủy ý nghĩa và chỉ để lại những mảnh, những phần không còn liên quan gì tới hiện thực nữa. “Các lực lượng của Sư đoàn 25 (Nam Việt Nam)”, như một thông báo đặc trưng, “và của Trung đoàn 11 Không kỵ Mỹ vào trưa ngày hôm qua đã giết chết 142 Việt Cộng cách Sài Gòn 15 dặm về phía Tây Nam.” Một thông tin như vậy đặt ra nhiều câu hỏi hơn là nó trả lời. Ai là 142 Việt Cộng đó? Có thu được vũ khí cùng con số đó hay không, điều có thể khiến cho người ta chắc chắn là không có người dân thường nào bị giết chết và rồi bị ghi nhận là lính tử trận? Tổn thất của chính mình là bao nhiêu? Ai đã khởi động cuộc giao tranh?

Vụ thảm sát Mỹ Lai, vụ việc mà trong đó một trung đội do thiếu úy William Calley chỉ huy đã bắn chết mấy trăm người dân thường tay không, phần lớn là phụ nữ và trẻ con, xuất hiện trong thông cáo của ngày đó qua diễn đạt như sau: “… giết chết 128 địch quân gần thành phố Quảng Ngãi”. Những vụ ném lầm, ném bom nhầm vào lực lượng của chính mình hay vào dân thường, được gói ghém vào trong uyển ngữ: “Ném ngẫu nhiên chất nổ”.

Trong “Người Mỹ trầm lặng”, Graham Greene đã mô tả lại một cuộc họp báo của tổng chỉ huy Pháp mà trong đó sự thật về tổn thất của của chính họ được giấu giếm một cách hết sức vụng về và vì vậy mà hết sức buồn cười. Các đối thoại đó là trích dẫn thật sự, chúng được trích dẫn lại từ ghi chép của một briefing. Hiện thực vượt quá sự tưởng tượng.

Không muốn và không có khả năng mô tả diễn tiến của các chiến dịch quân sự một cách phù hợp và có nghĩa lý, đó dường như là đặc tính của tất cả các quân đội mà không cần phải nhìn tới một quốc gia nào. Ở người Mỹ tại Sài Gòn thì sự đánh lạc hướng thông tin này hết sức tai hại, vì tụ tập lại trong “Rex” là một giới báo chí nhanh chóng nghi ngờ tất cả những người có chức vụ, đặc biệt là các tướng lĩnh; và là một giới báo chí mà đã tìm được phương tiện và đường lối để thu thập thêm dữ liệu, nhiều hơn là giới quân đội muốn công bố.

Một người hầu như lúc nào cũng tham dự cuộc họp năm giờ và “nướng” các phát ngôn viên qua những câu hỏi có chủ ý là Joe Fried, một phóng viên nhỏ người, trông có vẻ buồn rầu, đại diện cho New York Daily News. Joe Fried lôi các mâu thuẫn ra ánh sáng, làm lộ rõ các giả mạo và khiến cho các phát ngôn viên phải nói lắp qua một sự kiên trì gây bực mình và kiệt quệ. Ngày nào ông cũng chứng minh tính không thể tin cậy được của các thông cáo. Nhưng tất nhiên là cả ông cũng không thành công trong việc bổ sung thêm hiện thực vào cho các thông tin chính thức.

Trụ sở Bộ Chỉ Huy Quân Viện, Sài Gòn 1969
Trụ sở Bộ Chỉ Huy Quân Viện, Sài Gòn 1969

Chỉ sau vài ngày, kẻ mới đến Sài Gòn đã biết màn tuyên truyền nào được trình diễn ở “Rex” cho mình. Đại sứ quán Mỹ lan tỏa sự lạc quan đi khắp nơi. “Gánh nặng lịch sử của người da trắng” được tuyên bố thành “gánh nặng của thế giới tự do”. Và thật sự là các lực lượng của họ, người Nam Việt Nam, người Mỹ, Nam Triều Tiên, người Úc, New Zealand, Philippines và Thái, những người tham chiến với lực lượng nhiều ít khác nhau, cũng thật sự được gọi là “Free World Forces”.

“Tất cả các dữ liệu số lượng có được cho thấy rằng chúng ta thắng cuộc chiến này”, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert S. McNamara đã tuyên bố như vậy ngay từ năm 1962. Qua leo thang, qua tăng lực lượng quân đội lên tới hơn 400.000 người và qua cuộc chiến tranh bỏ bom chống miền Bắc, chính quyền Johnson nhìn thấy thời điểm đó đã tới, thời điểm mà Việt Cộng lui vào rừng rậm, đơn giản là ngừng chiến đấu mà không chính thức thừa nhận chiến bại. “Cỗ máy tuyên truyền Lầu Năm Góc”, cái mà thượng nghĩ sĩ Fulbright sau này mổ xẻ, cung cấp hàng ngày cho giới truyền thông những thông tin mà toàn bộ chúng chỉ để cho người ta đi tới một kết luận: rằng cuộc chiến diễn ra thuận lợi và không hề có nghi ngờ nào về việc ánh sáng đã bắt đầu xuất hiện ở cuối đường hầm.

Ngay từ 1962, từ cuối thời của nhà độc tài Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm, nhà báo Mỹ được phép hoạt động chính thức ở Sài Gòn đã lột trần sự lạc quan chính thức này ra như là một ảo tưởng. Neil Sheehan, David Halberstam, Peter Arnett và François Sully, để chỉ kể ra bốn tên tuổi, nhờ vào các điều tra ngoài chiến trường mà đã có ấn tượng chắc chắn rằng cuộc chiến của Mỹ không hứa hẹn sẽ thành công, rằng các tướng lĩnh đánh lừa giới công khai khi họ đặt chiến thắng vào trong tầm nhìn. Thế hệ đầu tiên của các nhà báo phê phán còn không hề hoài nghi ý nghĩa, sự cần thiết và tính hợp pháp của cuộc chiến. Nhưng họ không tin tưởng vào phương pháp, chiến lược và đặc biệt là chính sách thông tin hướng tới chiến thắng.

Các tướng lĩnh và đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn bộc lộ một sự cay đắng về việc nhà báo đặt sự kiện lên cao hơn danh dự của quốc gia. Khi Peter Arnett, phóng viên của Associated Press, đặt ra một câu hỏi mang tính phê phán cho đô đốc Felt, câu trả lời mang tính đặc trưng của ông là. “Get on the team” – “Hãy bước sang phía chúng tôi!”

Sau bốn tuần ở Sài Gòn, tôi gởi về cho [Đài Truyền hình và Phát thanh Bắc Đức] NDR một bài tường thuật về chính sách thông tin của đại sứ quán Mỹ, một bài tường thuật mà về sau này trông rất ôn hòa: Công tác báo chí có những yêu cầu vượt quá sức lực của sự hiểu biết thông thường. Nó không khéo léo, không chuyên nghiệp, lừa dối, với một từ: không đáng tin. Ngày nào đại sứ quán cũng thành công trong cố gắng nhấn mạnh ấn tượng không có lợi này.

Douglas Pike, một chuyên gia CIA về phân tích các tài liệu tịch thu được, người đã làm việc sáu năm trong bộ máy thông tin Sài Gòn trước khi ông trở về với nghề nghiệp hàn lâm năm 1966 và công bố một nghiên cứu cơ bản về Việt Cộng và tổ chức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, đã viết một câu mang tính hủy diệt ở trong đó: “Việt Nam là một ác mộng giống như trong mô tả của Kafka đối với mỗi một người muốn biết sự kiện thật. Nhiều điều được giữ bí mật. Nằm ở phía sau các thống kê được công bố là lĩnh vực của ‘các thông tin được mã hóa’, cái mà thống chế Foch đã từng gọi là ‘sương mù của chiến tranh’.”

Ngay từ giai đoạn cuối của nền độc tài Diệm, khi còn có chưa tới một tá thông tín viên Mỹ trú đóng dài hạn ở Sài Gòn, các thông tấn xã AP và UPI, nhưng trước hết là New York TimesNewsweek đã thổ lộ sự hoài nghi, rằng liệu diễn tiến của cuộc chiến có bào chữa được cho sự lạc quan này không. Viên tổng thống tự tin và kiêu ngạo Diệm đã gây khó khăn và cản trở những người phê phán xa lạ đầu tiên này, còn trục xuất cả François Sully, cộng tác viên của Newsweek, ra khỏi nước nữa, nhưng vẫn không thể làm mất tác động của giới báo chí đối lập lên dư luận.

Năm 1967, năm năm sau đó, đã có hơn hai trăm thông tín viên nước ngoài hoạt động chính thức ở Sài Gòn, đa số đều tự tìm kiếm dữ liệu, tạo cho mình một hình ảnh riêng về tình hình ở ngoài kia và bổ sung hay phủ nhận đường lối thông tin chính thức. Các PR manager của đại sứ quán và của quân đội đã không thể ngăn chận các phân tích phê phán và cảnh báo của giới báo chí. Vì cuộc chiến không được tuyên bố nên không có công cụ pháp luật để giới hạn tự do báo chí và áp dụng kiểm duyệt. Thời gian này, trong số các nhà báo có không ít người hoài nghi không chỉ các phương pháp. Họ lên án cuộc chiến từ những lý do về pháp lý và đạo đức và tìm các dữ kiện để, như Mary McCarthy đã nói, “gây hại cho lợi ích của Mỹ”.

Diệm bị lật đổ. Những người nối tiếp ông, các tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ kình địch với nhau, không có uy quyền để có thể thu hẹp được không gian hoạt động của báo chí. Điều tồi tệ nhất mà một nhà báo đối lập ở Việt Nam có thể trải qua là bị từ chối thị thực tái nhập cảnh.

Chỉ một vài thông tín viên là đã nhận được sự chú ý này của chính phủ Nam Việt Nam. Năm 1970, tôi đã đứng một thời gian trên danh sách đen, vì tôi đã nhắc lại trong một bài báo, rằng tính đáng tin cậy quốc gia của tướng Thiệu bị giới hạn do ông đã nhận được bằng sĩ quan của mình từ thế lực thực dân Pháp, trong khi Hồ Chí Minh trong cuộc chiến đấu chống Pháp đã lớn lên trở thành biểu tượng của kháng chiến. Lúc tái nhập cảnh trong tháng Mười năm 1970, vì chuyện đó mà tôi đã bị một nhân viên xuất nhập cảnh giam lại trong một phòng cách ly ở sân bay Tân Sơn Nhứt, cho tới khi chiếc máy bay mà tôi bay từ Bangkok tới đó khởi hành quay trở về. Sau một giờ, tôi bị áp tải ra máy bay và bị trục xuất. Qua can thiệp trong yên lặng của đại sứ quán Đức ở Sài Gòn và của Bộ Ngoại giao, biện pháp trừng phạt này chẳng bao lâu sau đó đã bị bãi bỏ.

Cả các cơ quan Mỹ, bất cứ lúc nào có thể, cũng đứng ra bảo vệ các nhà báo bị giới quân sự Nam Việt Nam đe dọa trục xuất hay không cho nhập cảnh. Nhiều lý tưởng đã không được quan tâm tới hay bị làm tổn thương trong cuộc chiến tranh Việt Nam bẩn thỉu. Tự do thông tin và báo chí hầu như không bị động chạm tới. Một giới báo chí làm tròn chức năng của nó, tức là cung cấp thông tin về các sự kiện cho công chúng một cách tốt nhất theo khả năng và lương tâm, kiểm tra và bổ sung các thông tin chính thức, đã có ảnh hưởng lớn tới diễn tiến và kết quả của cuộc chiến tranh này. Vì từ 1960 cho tới 1975 người ta đã có thể quan sát thấy bài học truyền thông chính trị có một không hai này mà hậu quả của nó vẫn còn tác động cho tới ngày hôm nay, nên vai trò của giới báo chí ở Việt Nam xứng đáng có được một sự quan tâm về cơ bản. Trong bài học này, các nhà báo chắc chắn không chỉ đóng một vai trò anh hùng, miễn cho họ được một sự tự phê phán. Họ đã phạm những lỗi lầm của họ, những cái đã lộ rõ ra trong trận tấn công vào dịp Tết [Mậu Thân].

Ra chiến trường

Trong khu quân sự của cảng hàng không Tân Sơn Nhứt ở Sài Gòn có một sảnh đi đặc biệt dành cho những chuyến bay tới các chỗ đóng quân của quân đội. Từ đây, trực thăng bay tới Củ Chi, vào trong “Tam Giác Sắt” nằm ở phía Tây Bắc của Sài Gòn, nơi các đơn vị Việt Cộng đã đào hầm hố đúng theo nghĩa đen và luôn tấn công các tiền đồn Mỹ từ những nơi ẩn náu bí mật. Máy bay vận tải C-123 hai động cơ phục vụ cho các tuyến vào vùng đồng bằng sông Cửu Long, tới Mỹ Tho và Cần Thơ. Những chiếc “Hercules” C-130 bốn động cơ được sử dụng cho tuyến ra phía Bắc. Huế và Đà Nẵng nằm cách đó khoảng một ngàn kilômét.

Sân bay Tân Sơn Nhứt với tòa nhà MACV
Sân bay Tân Sơn Nhứt với tòa nhà MACV

Người sở hữu tấm thẻ báo chí được phép sử dụng dịch vụ chuyên chở của không quân trên thực tế là không có giới hạn. Tuy vậy, chỉ hành lý xách tay cho tới cỡ của một cái túi du lịch to là được chấp nhận. Các phóng viên được đối xử như người của quân đội. Việc thâm nhập vào trong bộ máy quân đội dễ thành công nhất khi nhà báo tìm mua ở chợ đen một bộ quân phục nhiệt đới màu xanh và ăn mặc như những người lính, với tên thêu trên áo khoác, xếp vào hàng của những người đang đứng chờ. Không một ai bị ép buộc phải mặc quân phục. Nhưng sự nhận dạng ở vẻ ngoài với quân đội tạo thuận tiện cho việc tiếp xúc và rút ngắn khoảng cách ở giữa những người lính phải tuân theo mệnh lệnh và các nhà báo tình nguyện ra chiến trường.

Cả trong quân phục, tôi chưa từng bao giờ có cảm giác mình là một người lính. Chiếc máy đánh chữ du lịch ở trên tay khiến cho bất cứ ai cũng biết rõ, rằng viết và mô tả là nhiệm vụ, không phải hoạt động và chiến đấu, chắc chắn là không với vũ khí. Tuy vậy, có không ít phóng viên chiến trường mang theo mình một khẩu súng ngắn, để có thể tự vệ trong trường hợp khẩn cấp. Từ những lý do về nguyên tắc mà tôi cùng với đa số các nhà báo đều không mang vũ khí, chỉ là người quan sát, người tường thuật cho tới cuối cùng và còn không chiến đấu để tự bảo vệ nữa.

Các hàng ghế ngồi, được đan lại bằng dây đay trong các máy bay vận tải quân sự, được đặt dọc chứ không phải ngang theo hướng bay, trong các chiếc “Hercules” là bốn hàng ghế dài, hai hàng có lưng tựa vào vách ngoài, hai ở giữa thân máy bay. Chỉ có một vài cái cửa sổ tròn mang ánh sáng vào bên trong. Tiếng ồn của các động cơ to nhức nhối cho tới mức các hành khách chỉ có thể ra dấu hiệu cho nhau. Họ bị bỏ đó một mình, giảm thiểu xuống chỉ còn tự bản thân mình. Họ có cảm giác thân phận bị trao cho một định mệnh ở trên cao, suy ngẫm về điều đó ở đây, trong chiếc máy bay, trở thành một việc bắt buộc.

Khi người ta viết về chiến tranh, theo một đoạn trong “Người Mỹ trầm lặng” của Green, “thì lòng tự trọng yêu cầu thỉnh thoảng phải chia sẻ rủi ro với những người lính”. Nhà báo có một vé khứ hồi. Điều đó khiến cho họ khác với những người lính, ganh tỵ với những kẻ tới thăm vì sự tự do này và biểu lộ một ác cảm xuất hiện hoàn toàn tự phát từ đó và thỉnh thoảng rất dữ dội. Tất nhiên, người khách không thể bỏ đi hay rút lui trong lúc còn giao tranh mà chỉ sau đó. Khi ông ấy rơi vào trong một chiến dịch thì thật sự là ông chia sẻ rủi ro đó. Ông ấy có lẽ phải chịu đựng sự căng thẳng, các hậu quả tâm lý còn nhiều hơn là những người lính ở bên cạnh ông. Vì người phóng viên chỉ quan sát, ông ta không hành động, không thể dẫn bớt áp lực ở bên trong ra ngoài qua những loạt đạn. Phóng viên chiến tranh phải biết mình tham gia vào việc gì. Cả những người không đi tìm trận chiến cũng phải tính trước với việc ngẫu nhiên rơi vào làn đạn. Chỉ ở ngoài này mới có thể trải qua được hiện thực của chiến tranh. Họp báo trong “Rex” nhiều lắm là chỉ mang lại một cảm giác.

Trong những năm sau đó, nhờ sự giúp đỡ của Không quân Mỹ mà tôi đã làm quen với các tỉnh quan trọng nhất về mặt chiến lược của Nam Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 cho tới đồng bằng sông Cửu Long. Trong những chiếc máy bay vận tải tối tăm, ồn ào, người hành khách không thể nhìn ra ngoài được. Những người lính Mỹ vững thần kinh còn có thể ngủ được cả ở đây nữa. Những người còn lại nghiên cứu diện mạo của người đối diện, chìm vào trong một tâm trạng mà ở trong đó mơ ước về một cuộc sống yên bình trộn lẫn với nỗi sợ bay trong tiềm thức.

Khi tới được các phi trường lớn Phú Bài, Đà Nẵng ở phía Bắc và Mỹ Tho ở phía Nam, người ta được chở đi tiếp tới các đơn vị chiến đấu bằng trực thăng. Trong chuyến bay đầu tiên bằng máy bay trực thăng vào vùng rừng rậm cạnh biên giới Campuchia, tôi đã ghi lại vào lúc đó: “Hai bên của con đường thẳng tắp, con đường mà chúng tôi bay theo nó trên độ cao khoảng 400 mét về hướng Bắc, đã bị làm rụng lá và “nhìn thấu được” bằng hóa chất. Các xạ thủ ở cạnh cửa mở phản ứng lại với mỗi một chuyển động trên mặt đất màu xám chết khô đó của rừng rậm bằng một loạt đạn. Chúng tôi bay qua một ‘free kill area’ mà trong đó tất cả những gì chuyển động đều bị bắn hạ. Cột khói màu trắng bay lên từ ở chân trời, đánh dấu những điểm bắn của pháo binh. Những cái trảng hiếm thấy đều đầy thẹo bằng hố bom. Mặt trời phản chiếu trên mặt nước dơ bẩn màu xám.”

Các phong cảnh khác, trước hết là ở đồng bằng sông Cửu Long, có vẻ như còn nguyên vẹn. Người nông dân làm việc trên những cánh đồng lúa gợn sóng trong màu xanh dịu dàng, Những con trâu kềnh càng giật mạnh chạy tán loạn khi máy bay trực thăng bay ngang qua chúng ở độ cao thấp. Nhìn từ trên cao xuống, người ta có được những trải nghiệm đầy ấn tượng với trật tự hình học của những con kênh đào thẳng tắp, chạy dài cho tới tận chân trời, tưới nước cho vùng đất được chia ra thành những mảnh ruộng hình chữ nhật chính xác và hết sức nhỏ. Gần những căn nhà gỗ hầu như đều đứng cạnh sông, người ta nhận ra được những giếng nước tròn mà bây giờ trong chiến tranh dễ nhìn lầm thành hố bom.

Sĩ quan báo chí của các đơn vị Mỹ, những người tiếp đón các phóng viên được máy bay chở tới, hầu hết đều là những người chủ nhà rộng rãi và sẵn sàng giúp đỡ. Máy bay trực thăng được điều sang hướng khác, để mang phóng viên tới tận nơi của các chiến dịch quân sự. Đại đội ngoài chiến trường bất thình lình thấy mình được tăng cường bởi một nhóm phóng viên truyền hình, quay chiến dịch từ ở phía sau. Các đơn vị chia sẻ hàng tiếp tế của họ một cách hoàn toàn tất nhiên với những người khách ngẫu nhiên tới. Trong rừng rậm cạnh biên giới Campuchia, chiếc máy bay trực thăng mang tới một thùng nước tắm và một thùng hàng khổng lồ với ice cream. Cả giới báo chí cũng hưởng lợi từ việc người ta tiến hành cuộc chiến này với chi tiêu vật chất rất lớn.

Không một ai, những người dám ra chiến trường, có thể hoàn toàn tránh được rủi ro và nguy hiểm. Một loạt nhà báo đã trả giá bằng tính mạng của mình cho sự liều lĩnh bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết. Những người khác đã cư xử với khả năng phán đoán và sự cẩn thận, và tuy vậy cũng đã chết khi đang hành nghề của mình. Thuộc trong số họ là Bernard Fall, một giáo sư từ Pháp nhưng giảng dạy ở Mỹ, người đã nổi tiếng trên thế giới vì những quyển sách xuất sắc của mình về Việt Nam.

Vài ngày sau khi tới Sài Gòn, tôi gặp Bernard Fall trong văn phòng của nhà ngoại giao người Mỹ Bill Steerman. Sử gia và là nhà chính trị học Fall, lúc đó 41 tuổi, thường xuyên sang Việt Nam để điều tra nghiên cứu. Ông không muốn viết về Đông Dương mà không tận mắt nhìn thấy hiện thực của cuộc chiến. Fall không hề che đậy sự mâu thuẫn trong xúc cảm của ông, cũng không che đậy sự căng thẳng tâm lý trong giây phút nguy hiểm. Trong những tình huống đó, ông thừa nhận, luôn có một câu hỏi thúc giục ông: “Mình làm cái quái gì ở đây thế này?”

Fall gây ấn tượng vì sẵn sàng chia sẻ một cách vô tư kiến thức đồ sộ của ômg và trải nghiệm của ông với đồng nghiệp. Ông dành nhiều giờ để giải thích tình hình ở Sài Gòn cho tôi, một kẻ mới tới từ nước Đức. Fall thành công một cách gương mẫu trong việc gắn kết cách làm việc hàn lâm với làm báo. Tính chất sẵn sàng giúp đỡ của ông, hoàn toàn xa lạ với tự phụ và kiêu căng, đã gây ấn tượng sâu đậm cho tôi. Fall đã tạo ra thước đo qua các điều tra nghiên cứu của ông ở ngoài chiến trường và qua các tác phẩm văn học của ông.

Vài ngày sau lần chúng tôi gặp nhau, Fall bay ra Đà Nẵng để nghiên cứu về chiến lược và chiến thuật của lính thủy quân lục chiến. Với một cái máy thâu âm trên tay mà ông dùng để ghi lại các quan sát của mình, ông đã tháp tùng một đội tuần tra ở phía Bắc của Đà Nẵng, tiến hành một chiến dịch search and destroy.

Bernard Fall biết rõ vùng này. Ông đã viết một quyển sách tạo nên tiếng tăm của mình về các chiến dịch quân sự của người Pháp ở “Con đường không vui” giữa Đà Nẵng và Huế, Bây giờ, ông đi cùng với lính marine để nghiên cứu về các khác biệt trong chiến thuật, để kiểm nghiệm lại luận điểm của ông, luận điểm mà đã làm cho ông gần như tuyệt vọng, rằng người Mỹ không có khả năng và không muốn học hỏi kinh nghiệm của người Pháp.

Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, Fall quan sát lính marine khai hỏa bắn vào những người Việt mà ông, từ khoảng cách 1100 mét, không thể nhận ra đó là Việt Cộng được. Ông nói vào máy thâu âm những lời sáu: “Tôi đã quan sát qua ống dòm của trung đội trưởng. Tôi nhìn thấy những người chạy trốn xuống thuyền và vẫy lá cờ của chính phủ (Nam) Việt Nam, với ba vạch đỏ và nền vàng. Tôi sẽ tìm hiểu thêm sau này.” Tiếp theo đó là một khoảng thời gian im lặng trên băng. Rồi tới câu nói cuối cùng: “Bóng bắt đầu dài ra. Chúng tôi đã tới phòng tuyến của chúng tôi sau trận chiến. Ngửi thấy không tốt, có vẻ đáng nghi … có thể bị phục …” Chấm dứt ghi âm. Vào ngày 21 tháng Hai năm 1967, ông đã bị giết chết trong một ổ phục kích, một cái bẫy mìn mà người Mỹ gọi là boody trap.

Đoạn văn từ bài phóng sự cuối cùng của Bernard Fall được vợ ông Dorothy kèm vào quyển sách xuất bản sau khi ông qua đời, “Last Reflections on a War”. Nó được tặng cho trung sĩ Thủy quân Lục chiến Byron G. Highland, “nhà nhiếp ảnh chiến trường, người bạn trong cái chết”.

Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967
Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967

Tổng cộng có hơn 40 nhà báo bị giết chết từ 1965 cho tới 1975 ở Campuchia, Lào và Việt Nam. Một con số cũng không ít hơn được phỏng đoán là chết, vì họ được cho là mất tích, rơi vào tay của một đơn vị quân đội thủ tiêu ngay tức khắc mà không quan tâm tới danh tính của nạn nhân. Số phận này đe dọa nhiều nhất là ở Campuchia, nơi Khmer Đỏ giết chết các đại diện báo chí rơi vào tay họ ngay lập tức.

Rủi ro xuất phát từ việc lãnh thổ của các quân đội đang chiến đấu chống lại nhau không được đánh dấu bởi một đường ranh giới rõ ràng. Một chiến tuyến chỉ có ở nơi các lực lượng đương đầu nhau và bắn nhau. Không có vùng an toàn trong một cuộc chiến tranh du kích. Địch thủ vô hình và có mặt ở mọi lúc, mọi nơi và không có ở bất kỳ nơi nào hết.

Ai thuê một chiếc ô tô ở Phnom Penh hay Sài Gòn và rồi đi ra vùng quê xung quanh, người đó phải chịu một rủi ro là đi qua vùng bị Khmer Đỏ hay Việt Cộng kiểm soát.  An toàn cá nhân của các nhà báo tự đi điều tra chủ yếu phụ thuộc vào tài khéo léo và tính đáng tin cậy của người lái xe bản địa tháp tùng và stringer. Mỗi lần dừng lại, họ hỏi thăm người dân và quân nhân, quân đội của mình đứng ở đâu và vị trí của những người cộng sản được phỏng đoán ở đâu. Từ một số lớn các ý kiến, cuối cùng họ đưa ra một quyết định; tiếp tục chạy thêm một đoạn nữa trên đường này hay quay lại. Khả năng trao đổi ở ven đường để tìm kiếm xem ranh giới vô hình đi ngang qua đâu, cái mà người ta không muốn vượt qua, làm cho người cộng tác viên địa phương trở nên không thể thay thế được, và trao cho người này một vai trò gắn kết ông với các nhà báo người nước ngoài, cả về cá nhân lẫn về tình cảm. Dith Pran, stringer trong phim “The Killing Fields”, là một ví dụ tốt cho tình thương và tình bạn đã lớn lên trong tình huống sống còn giữa một thông tín viên ngoại quốc và cộng tác viên địa phương.

Cả các stringer của [Đài truyền hình nhà nước Đức] ARD ở Phnom Penh, David Ma Chen và Savonn Chea, cũng đã dẫn dắt các đội quay phim của chúng tôi qua cuộc chiến với sự thận trọng và tinh thần trách nhiệm cao độ. Cả hai đã ở lại trong nước năm 1975 khi Khmer Đỏ chiến thắng, vì lúc đó họ đã không thể tưởng tượng được một cuộc sống di cư. Năm 1980, họ đã gửi một bức thư từ trại tỵ nạn cạnh biên giới Thái Lan – Campuchia, cái bắt đầu với dòng chữ: “Dear boss, we are still alive” – “Sếp thân mến, chúng tôi vẫn còn sống”. Năm 1981, tôi đã quay một phim cho [chương trình truyền hình] “Weltspiegel” về lần tái ngộ với David và Savonn, một phim mà không thể nào che dấu được nỗi xúc động tràn ngập trong chúng tôi. [Đài phát thanh và truyền hình Bắc Đức] NDR và Quốc hội [tiểu bang] Hamburg sau đó đã giúp đỡ, hoàn toàn không quan liêu và vượt qua tất cả các quy định và lề lối riêng, để đón hai gia đình Khmer với con cái của họ từ những trại tỵ nạn cạnh biên giới. Sau một khóa học ở Hamburg, cả hai gia đình được phân sang Singapore, nơi đội ngũ cũ lại tụ họp đủ mặt, đội ngũ mà đã từng cùng nhau chia sẻ các rủi ro của công việc tường thuật từ Campuchia.

Ung Kim Seng là stringer của chúng tôi ở Sài Gòn, người mà hỗn hợp ngôn ngữ từ tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng bồi đã làm cho sự thông hiểu trở nên buồn cười nhưng tuy vậy rất chính xác. “You go giáp giáp”, chúng tôi yêu cầu khi thấy cần thiết phải có một cuộc trao đổi với người Việt ở ven đường, để ước lượng tính an toàn cho cuộc hành trình tiếp theo. “Hai”, “người con trai thứ hai”, như ông được tất cả mọi người gọi, luôn tìm được giọng nói thích hợp để lấy thông tin từ những người nông dân hay binh lính. Khi không nhận thấy mối nguy hiểm nào, ông trở về với câu nói ngắn gọn: “No sweat, no tears” – “Không mồ hôi, không nước mắt”. Trong trường hợp nguy cấp, ông gọi to ngắn gọn theo kiểu quân đội: “Beaucoup VC” – “Nhiều Việt Cộng”.

Với một bản năng chắc chắn, ông đã dẫn dắt tất cả các đội ngũ của ARD qua những bãi mìn của cuộc chiến này. Cả ông cũng không muốn bỏ chạy năm 1975. Ngày nay ông sống ở Sài Gòn, già yếu và bệnh tật. Tôi thường tới thăm ông ở đó. Ông biết, rằng ông có thể tin cậy hoàn toàn vào những người bạn từ ARD của mình, như chúng tôi đã tin cậy ông trong chiến tranh. Sau nhiều vấn đề tạm thời với các cơ quan nhà nước cộng sản, ông lại báo cáo một cách khiêm tốn và lạc quan: “No sweat, no tears.”

Phần thưởng của sự sợ hãi

Tôi hoàn toàn không muốn qua mô tả những tình huống khẩn cấp trong nghề nghiệp để gợi lên một tính anh hùng, cái để cho thời gian ở Sài Gòn lóng lánh trong một ánh sáng tôn vinh. Các émotions fortes, những cảm xúc mạnh mà đã thúc đẩy giới trẻ đang trên đường tìm phiêu lưu và nhận thức đi vào trong cuộc chiến, xa lạ đối với tôi. Những trải nghiệm thời niên thiếu của tôi trong giai đoạn cuối của Đệ nhị Thế chiến đã làm cho tôi miễn nhiễm sự lãng mạn hóa chiến tranh.

Thời xưa, tôi đã hoài nghi và không hiểu khi đọc được những đoạn văn đó trong quyển tiểu thuyết “Người Mỹ trầm lặng” của Graham Greene, diễn tả một sự say mê nhất định, một sự hồi hộp đầy thích thú, những cái mà cuộc chiến đã tác động lên nhân vật Fowler. “Nơi không có nguy hiểm thì sẽ không có can đảm” ở một nơi và “cả tình yêu cũng có thể là sản phẩm của một cuộc chiến tích cực”. Nỗi sợ sự buồn tẻ đã khiến cho Greene chơi trò “Roulette Nga” với khẩu súng lục trong thời niên thiếu và tìm sự phiêu lưu mạo hiểm ở những nơi đang có khủng hoảng của chính trường thế giới về sau này. Ông đã nói về “cảm giác một nguồn gây cảm hứng vui vẻ”, cái “mang lại một liều nguy hiểm cho người khách tham quan có một tấm vé khứ hồi”.

Trực thăng UH-1D ở Việt Nam, 1966
Trực thăng UH-1D ở Việt Nam, 1966

Người ta cũng tường thuật về Ernest Hemingway, người đã trải qua mặt trận Ý trong Đệ nhất Thế chiến như là một người lính Mỹ và trải qua cuộc Nội chiến Tây Ban Nha như là phóng viên, rằng tình huống cùng cực của chiến tranh đã mang ông tới một trạng thái cao độ, cool và bình thản như các anh hùng trong truyện tiểu thuyết mà ông đã tạo ra theo chính hình ảnh của mình.

Tôi chưa từng có thể cảm nhận được sự nguy hiểm như là một điều để thưởng thức. Trong khoảnh khắc của nguy hiểm cao độ, bị bắn trên đồng trống hay trong chiếc trực thăng lúc di tản khỏi Sài Gòn trong tháng Tư 1975, khi tên lửa đất đối không của Việt Cộng đã đứng sẵn sàng, có thể bắn hạ các chiếc trực thăng từ trên bầu trời, tôi chỉ cảm nhận được một xúc cảm mạnh, hầu như không thể chịu đựng được: sợ hãi, sợ hãi không kiểm soát được, tới cùng với sự kinh hoàng và giận dữ, rằng không ai bắt buộc tôi phải có mặt ở đây, rằng không một nhận thức nào, không một câu chuyện nào có thể lý giải được cho một thương tích hay cái chết. Ai không sợ hãi trong các tình huống như vậy, theo tôi, thì thiếu sự tưởng tượng, người đó không biết điều gì đang diễn ra trước mình. Trong khoảnh khắc của mối nguy hiểm chết người, các cơ chế điều khiển của lý trí mất đi sức mạnh của chúng. Sự sợ hãi trần trụi, thuần túy, chiếm lĩnh cơ thể.

Mãi trong thời gian của nhiều năm, từ những trải nghiệm như vậy tôi mới nhận ra được các đặc tính của một đơn vị chiến đấu tốt, từng trải: cả trong sự hỗn loạn của những viên đạn pháo đang rơi xuống vẫn giữ vững được tinh thần, vẫn bảo tồn được sự lạnh lùng để không hành động một cách phi lý mà có kế hoạch. Lý trí không phải là yếu tố quyết định, mà là sức mạnh nội tâm, để làm giảm bớt và vượt qua sự hoảng loạn. Chỉ riêng lý trí thì không có khả năng chiến thắng được nỗi sợ hãi gây tê liệt đó.

Như đã nói, không ai bắt buộc tôi phải tới Việt Nam và tường thuật về cuộc chiến. Nghề nghiệp mà tôi tin là mình có khả năng làm được bây giờ yêu cầu tôi rời bỏ những nơi trú ngụ an toàn ở Sài Gòn, để tận mắt làm quen với diễn tiến ở mặt trận. Chỉ ở đó, nơi các quân đội bắn nhau, nơi cỗ máy của cái chết phá hủy hàng loạt làng mạc và phong cảnh, và cũng gây nhiều chết chóc trong người dân thường, thì mới quan sát được cái hiện thực mà phóng viên được gởi tới đây để tường thuật về nó. Trên hàng hiên của khách sạn “Continental”, người ta ít nhận ra được điều gì về cuộc chiến, về sự tàn phá, về các hậu quả đáng sợ cho người dân thường. Hình thức truyền thông truyền hình, kể cả những tường thuật của nhân chứng, cũng không giúp được gì, vì đó là thông tin đã qua trung gian. Chỉ ở ngoài kia tại các đơn vị thì mới có thể quay được những cảnh chiến sự.

Rủi ro của mỗi một cuộc tham quan đều có thể được giảm thiểu và giới hạn. Nhưng diễn tiến thì không thể tính toán trước được, và những “cọ xát”, như Clausewitz gọi những điều không lường trước được và những sự việc ngẫu nhiên của chiến tranh như vậy, có thể tạo nên những tình huống mà phóng viên phải chia sẻ rủi ro cao nhất với đơn vị đang chiến đấu.

Ở Việt Nam có những đội “lính đánh thuê”, giới quay phim liều lĩnh người Đài Loan, Hàn Quốc hay Nam Việt Nam, chuyên về action và bán các hình ảnh của họ cho các “network” Mỹ. Nhưng thông thường thì một đội quay phim ra chiến trường cùng với thông tín viên. Người quay phim không buộc phải chịu nhiều rủi ro hơn là người trưởng nhóm cho rằng có thể  chấp nhận được. Tuy vậy, nhiều đội đã tự nguyện tiếp tục dấn bước, xa hơn là người ta dự định. Các đồng nghiệp quay phim thuộc [đài truyền hình nhà nước] ARD của tôi, trước nhất là Henning Huge đầy nhiệt tình và cẩn trọng, đã xem rủi ro nhẹ hơn là nhiệm vụ quay những cảnh hiện thực và dữ dội của một cuộc chiến bẩn thỉu.

Những trải nghiệm tại các đơn vị nhanh chóng bù trừ cho sự việc, rằng phóng viên không phải là chuyên gia về quân sự, và tuy không nhận được một khóa đào tạo cho thành viên của một bộ tham mưu nhưng vẫn tự tin đi tới một nhận định riêng về diễn tiến và triển vọng của cuộc chiến. Nhìn cho kỹ thì các chiến dịch search and destroy được tiến hành ngày càng rộng lớn hơn, các chiến dịch mà với chúng viên tổng tư lệnh Mỹ, tướng Westmoreland có vẻ cứng nhắc và hết sức giản dị, cố gây tổn thất cho Việt Cộng, chỉ là những thất bại được tô điểm trở thành những thành công trong thống kê của các tuyên bố hàng ngày.

Vào cuối tháng Hai năm 1967, chiến dịch cho tới lúc đó là lớn nhất, “Junction City”, để cho cho 35000 người lính Mỹ và Nam Việt Nam hành quân vào cái được gọi là Chiến khu C ở phía Bắc của Sài Gòn, nằm cạnh biên giới Campuchia, để tiêu diệt các đơn vị Việt Cộng đóng ở đó. Trước đó, các phi đoàn B-52 đã ném bom rải thảm vùng này ba ngày liền. Lần đầu tiên kể từ cuộc Chiến tranh Triều Tiên có nhiều lực lượng lớn nhảy dù xuống phía sau lưng của địch thủ được phỏng đoán, để chận đường chạy trốn sang lãnh thổ Campuchia.

Mặc dù vậy vẫn không có một trận đánh theo lối kinh điển. 35.000 người lính săn lùng một địch thủ không thể tìm thấy. Trong lều chỉ huy của Lữ đoàn 196, chứa tôi như là người khách, các sĩ quan đứng bất lực trước tấm bản đồ lớn. Viên chỉ huy, Đại tá Murroy, đã cho một ngàn người tỏa ra lùng sục trong rừng rậm. Trong diễn tiến của ngày hôm đó, địch thủ đứng ra chiến đấu chống lại có thể đếm được trên đầu ngón của một bàn tay. Lính Mỹ phát hiện rất nhiều công sự và hệ thống đường hầm. Đạn dược và gạo đã bị bỏ lại. Rõ ràng là Việt Cộng đã kịp thời, có lẽ là trước cả đợt tấn công của B-52, dời vào nơi an toàn. Trên thực tế, mỗi một mũi tên trên tấm bản đồ trong căn lều chỉ huy đều đánh dấu một cú đánh vào chốn hư không. Các con số thành công được công bố ở Sài Gòn về địch thủ bị giết chết đứng trong một sự thiếu cân đối lố bịch với hiện thực.

Lính Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 173 nhảy dù trong Chiến dịch Junction City, 1967
Lính Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 173 nhảy dù trong Chiến dịch Junction City, 1967

Ai ở lại với các đơn vị chiến đấu một thời gian, người đó sẽ nhanh chóng nhận ra rằng thống kê bị làm giả mạo và bị thao túng như thế nào. Quân đội Mỹ thật không có khả năng phân biệt được giữa quân lính và người dân thường. Khi khám xét một ngôi làng, thường chỉ gồm vài ngôi nhà gỗ lợp rơm, một cái ao nước và một đống rơm, thì đa số những người trông có vẻ như thường dân đều có thể là du kích quân ngụy trang. Phụ nữ tham gia tích cực vào cuộc chiến, và cả trẻ em cũng không hiếm khi khai hỏa những loại vũ khí giết người để chống lại những kẻ xâm nhập xa lạ.

Thật là dễ dàng và rất hiệu quả cho lập luận, khi lên án lối cư xử tàn bạo của những người lính Mỹ đối với người dân thường Việt Nam. Giới truyền hình công khai của thế giới đã phản ứng một cách kinh hoàng với một action story mà một trung đội trưởng trẻ tuổi đã cho thấy trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, người phóng hỏa đốt các ngôi nhà bằng rơm của một ngôi làng. Trong lúc đó, các đơn vị Mỹ có vẻ như phi nhân đạo và tàn phá hoàn toàn có chủ ý một cộng đồng nông dân dường như là hòa bình và vô hại.

Đối với một người lính nghĩa vụ trẻ tuổi từ Mỹ, người tìm đủ mọi cách để lành lặn vượt qua 365 ngày được đếm một cách chính xác của mình, số ngày mà anh ta phải ở Việt Nam, thì tình huống đó hiện ra trong một ánh sáng hoàn toàn khác. Mỗi một người nông dân mặc quần áo màu đen truyền thống có thể là một người cầm súng chiến đấu, lừa những người lính và tấn công trong một trận phục kích. Phụ nữ và trẻ em cũng mang lại cùng một mối nguy hiểm. Những người cộng sản chiến đấu bí mật sống trong dân thường. Vũ khí của họ đã được dấu đi. Mỗi một ngôi làng Việt Nam trong thực tế là một môi trường nguy hiểm, thù địch, kỳ lạ mà những người lính Mỹ đi tuần tra không có khả năng hiểu thấu được.

Một con hào sâu chia cắt thường dân Việt với quân đội Mỹ, những người mà chỉ huy của họ ra lệnh cho họ phải bảo vệ đất nước này và người dân của nó trước chủ nghĩa cộng sản. Không có phương tiện trao đổi thông tin nào có thể bắc qua con hào đó. Câm lặng, căng thẳng, nội tâm như bị đóng băng, những người lính Mỹ thi hành các mệnh lệnh của họ. Không có người thông dịch, họ không thể giải thích các hành động của họ, và không thể chờ đợi một sự thông hiểu lẫn cộng tác từ những người nông dân. Độc đoán, ra lệnh bằng tiếng Mỹ, họ xua những người dân thường đi trước họ như xua bò. Những người lính Mỹ tin rằng họ đã tìm thấy được sự xác nhận cho tất cả những định kiến mà tiểu thuyết và phim truyện truyền bá từ trước đến nay về người châu Á: xảo quyệt, giả dối, mánh khóe và tàn bạo của một xã hội mà họ không thể đọc và giải mã được các tình cảm và cảm xúc thật sự của nó.

Thật sự là những đội tuần tra của Mỹ thường hay bị phục kích bắn từ những ngôi làng trông có vẻ bình dị và hiền hòa. Khi đồng đội bị cướp đi mạng sống trong một cuộc phục kích thì rồi một bầu không khí hết sức hung hãn bao trùm lên cả đội lính, những người không còn tin vào bất cứ một người dân thường nào nữa và tìm cách trả thù cho cái chết của người bạn. Từ sự giận dữ và lòng lo lắng cho sự an toàn của chính bản thân mình, người ta nổ súng bắn vào bất cứ người nào đang đi lại trên đồng ruộng. Chủng tộc cuối cùng là đặc điểm duy nhất đánh dấu địch thủ. Không có khả năng định hướng trong một đất nước xa lạ mà người ta không hiểu được văn hóa và ngôn ngữ của nó, điều này đã làm cạn kiệt goodwill [ý định tốt] ngây thơ và tình sẵn sàng giúp đỡ của những người lính Mỹ trẻ tuổi. Qua đó, họ đã xác nhận một định kiến thứ hai mà người Việt vốn kiêu ngạo về văn hóa đã có về bản chất của những con người da trắng xâm chiếm này. Trong mắt họ, người Mỹ thô kệch, vụng về, xấu xí và ngu đần.

Cả hai định kiến xác nhận tính bất khả hòa hợp của hai nền văn minh không hiểu và không thể diễn giải nhau. Nông dân Nam Việt Nam, những người đã bảo vệ quyền tự trị làng mạc của họ qua nhiều thế kỷ, để cho những người xâm chiếm da trắng cảm nhận được ác cảm của họ đối với tất cả những gì xa lạ. Khinh thường những con người xa lạ, ác cảm, vâng, căm ghét người Mỹ, điều này cũng mang tính phân biệt chủng tộc không kém gì tính cao ngạo xuất phát từ lòng lo lắng cho sự an toàn cá nhân và từ nhận thức về ưu thế kỹ thuật.

Thời đó chỉ có một ít chuyên gia là có thể hiểu được tình trạng của các mối quan hệ xã hội trong những ngôi làng Việt. Ý kiến của họ không hề được các bộ tham mưu ở Sài Gòn tiếp nhận. Cả các nhà báo cũng không thể tự giải phóng mình ra khỏi các định kiến đó.

Vào năm 1967, thật sự là người nông dân Việt Nam đã giúp đỡ Việt Cộng mà hầu như không cần phải có sự ép buộc, vì các trưởng làng, có bản năng chắc chắn, tin chắc rằng những người cộng sản sẽ thắng cuộc chiến. “Giới nông dân linh động nhất thế giới”, như một nhà quan sát thông minh đã gọi họ như vậy, cố gắng đoán trước được đường hướng của sự phát triển chính trị và chuẩn bị sẵn sàng trước, để đứng cho đúng bên vào lúc kết cuộc. Người dân nhà nông hành động thực tế. Bản năng sinh tồn hết sức mạnh của họ chỉ biết đến một vài nguyên tắc. Tất nhiên, họ thích nhất là được các diễn tiến của thời gian để yên cho và không ép buộc họ phải ủng hộ một bên. Cảm giác về một mối nguy hiểm đang đe dọa là nguyên cớ thúc đẩy họ cộng tác với Việt Cộng. Vì sự sẵn sàng giúp đỡ đã có nên người cộng sản chỉ cần một tổ chức tinh hoa nhỏ là đủ để kiềm chế họ. Đại đa số người dân nhà nông của Nam Việt Nam chịu đựng và che dấu cuộc đấu tranh vũ trang, nhưng chỉ một thiểu số rất nhỏ là tham gia tích cực vào trong đó.

Một tâm trạng về cơ bản như vậy giải thích tại sao các chiến dịch tìm kiếm của đạo quân viễn chinh Mỹ, được một hỏa lực hỗ trợ lớn đi kèm theo, là phản tác dụng. Cỗ máy, máy bay ném bom B-52, đại bác, bom napalm và xe bọc thép chở bộ binh hạng nặng, hoàn toàn không thích hợp để chiến đấu chống một đạo quân hoạt động bí mật được người dân thường che dấu. Người Mỹ dựa càng nhiều vào cỗ máy chiến tranh, vào các khả năng kỹ thuật của họ, giải quyết bất cứ một vấn đề nào và đánh thắng bất cứ một địch thủ nào, dù có là trong rừng rậm của Việt Nam đi chăng nữa, thì họ lại càng ít có cơ hội để chiếm được “trái tim và đầu óc” của người dân Nam Việt Nam. Vì chiến lược do tướng Westmoreland lựa chọn buộc người dân thường phải chịu đựng những thiệt hại nặng nề nhất.

Bức ảnh em gái trẻ với lửa napalm đang cháy rực trên làn da trần trụi đang chạy trốn về hướng ống kính đã trở thành một hình tượng cho cuộc chiến tranh này. Chỉ những ai quan sát hiện thực ở ngoài chiến trường thì mới có được một sự tưởng tượng về quy mô của sự đau khổ và tàn phá mà người dân thường của đất nước này phải chịu đựng.

Xác chết của những người đàn ông được thống kê ghi nhận là Việt Cộng. Con số phụ nữ và trẻ em bị giết chết, hẳn là còn lớn hơn nữa, bị ỉm đi. Phần đáng sợ nhất của cuộc chiến hoàn toàn không xuất hiện trong các thông cáo hàng ngày của giới quân đội ở Sài Gòn. Mô tả nó, để cho giới công chúng thế giới nhận thức được, đó là một nhiệm vụ của báo chí, một nhiệm vụ mà họ đã thực hiện hoàn toàn không đầy đủ. Đặc biệt giới truyền thông Mỹ sau này đã bị lên án rất đúng, rằng họ đã tường thuật hết sức thiên vị chủng tộc, trước hết là về vai trò và số phận của quân đội của họ, hết sức ít ỏi về các nạn nhân của người miền Nam Việt Nam hay về những hậu quả cho người dân thường,

Nói chung, chỉ khi có quân đội của quốc gia họ tham gia thì cuộc chiến này mới có một giá trị tường thuật cao đối với các giới truyền thông Mỹ. Cũng không thể chờ đợi một định giá tin tức nào khác từ một giới báo chí phải tự khẳng định mình trên thị trường.

Có chưa tới một tá thông tín viên Mỹ hoạt động chính thức ở Sài Gòn trước lần đổ bộ đầu tiên của bộ binh Mỹ trong tháng Ba 1965 ở bãi cát trắng Đà Nẵng, nơi 80 năm trước đó những người lính Pháp đầu tiên cũng bước lên đất liền để thiết lập thuộc địa ở Đông Dương. Cùng với con số lính Mỹ, con số các đại diện truyền thông cũng tăng lên ở Nam Việt Nam. Trong thời gian của trận tấn công vào dịp Tết [Mậu Thân] là hàng trăm người, những người phần lớn là làm thỏa mãn sự quan tâm của một giới công chúng ở quê hương bằng các tường thuật về boys của họ. Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam năm 1973, đại diện báo chí Mỹ teo trở lại thành một nhóm nhỏ bao gồm khoảng 30 người.

Sau cái được gọi là Hòa bình Paris năm 1973, giảm sút sự quan tâm tới tin tức từ Đông Dương cũng đã có tác động trực tiếp tới công việc của chúng tôi. Kể từ đó, giá trị của cuộc chiến đã giảm bớt. Thêm vào đấy, vụ Watergate cũng đã hướng tầm nhìn tới sự đau khổ liên tục của các dân tộc Đông Dương sang nơi khác.

Thế nào đi chăng nữa thì đó không phải là lỗi của các sĩ quan báo chí Mỹ, khi nạn nhân là người dân thường được ghi nhận một cách không đầy đủ. Họ không cản trở công việc tường thuật, ngay cả khi người ta liên tục nhắc nhở các phóng viên, rằng nạn nhân do vũ khí Mỹ gây ra trong số thường dân là không cố ý. Họ là hiệu ứng phụ của một chiến lược đã tự mình đưa ra nhiều giới hạn to lớn, nhằm chỉ đánh trúng những người chiến đấu nhưng khoan dung cho người dân thường.

Thật sự là không thể hoài nghi ý định tốt của quân đội Mỹ được. “Tính tự động của cỗ máy chiến tranh đã được khởi động”, tôi đã ghi chú như vậy vào thời đó, “dường như đã đưa ra tốc độ cho các nhà chiến lược. Cuộc chiến lâm vào trong một vòng xoáy, nơi tự nó đã nuôi sống lấy nó.”

(Còn tiếp)