Rồng Mekong

Những con rồng sông Mekong

Winfried Scharlau

Phan Ba dịch

Những con rồng sông Mekong - Winfried Scharlau
Những con rồng sông Mekong – Winfried Scharlau

Original Titel: “Vier Drachen am Mekong – Asien im Umbruch”

Bản quyền tiếng Việt © Phan Ba.

Lời nói đầu

Đông Nam Á đã thay đổi rất nhiều trong hai mươi năm vừa qua. Tôi đã trải qua những sự kiện quan trọng, bi thảm, khi còn là thông tín viên truyền hình cho [đài truyền hình nhà nước Đức] ARD.

Quyển sách này là hồi tưởng cá nhân, đồng thời cũng là phóng sự và phản ánh lịch sử. Chiến tranh và cách mạng chiếm một phần lớn trong đây. Việt Nam đã chiến đấu giành được độc lập trong một cuộc chiến tranh ba mươi năm chống Pháp và Mỹ. Hàng triệu người đã bị giết chết trong lúc đó. Các thiệt hại về vật chất vẫn còn đè nặng lên đất nước này cho tới ngày nay. Lào đã bị lôi kéo vào cuộc xung đột bởi con Đường mòn Hồ Chí Minh. Campuchia đã gây sốc giới công khai bằng một trong những cuộc cách mạng tàn bạo nhất của lịch sử loài người mà ý nghĩa của nó hầu như không thể hiểu được. Chỉ độc nhất Thái Lan là giữ được hòa bình, biết cách làm giảm thiểu những cuộc đảo chính và nổi loạn trong nội bộ qua chính sách khôn khéo và biến chúng thành việc tốt.

Hồi tưởng cá nhân có một góc nhìn riêng, cái vẫn được giữ xuyên suốt qua câu chuyện. Nó sẽ làm cho người ta hiểu được rằng tại sao tôi không thể ngưng suy nghĩ về sự việc đã diễn ra ở mặt ngoài, đánh giá các tài liệu có thể có được, nghiên cứu diễn giải của các tác giả khác, làm việc như một sử gia, người cố gắng tạo ra một bức ảnh tìm tới một cái nhìn toàn cảnh, vượt qua những trải nghiệm cá nhân.

Góc nhìn luôn thay đổi có nhiệm vụ giúp người đọc hiểu rõ được độ phức tạp của các sự kiện. Tôi muốn viết cho người đọc, không chỉ cho các chuyên gia hàn lâm. Tôi muốn cung cấp thông tin, càng dễ hiểu càng tốt.

Trong các câu lạc bộ báo chí Đông Nam Á, người ta biết câu chuyện của một người tới thăm Hongkong, người đã không muốn rời chiếc ống kính viễn vọng trên đồi Lạc Mã Châu ở Tân Giới mà với nó người ta có thể nhìn qua tấm màn tre vào Trung Quốc cộng sản. Hàng người đứng chờ ở phía sau ông càng lúc càng dài ra và càng sốt ruột. Sau nửa giờ, một người cảnh sát can thiệp và hỏi con người gây ra lộn xộn đang nhìn chăm chú qua biên giới đó: “Tại sao ông không nhường ống nhòm cho người khác?”

“Tôi viết một quyển sách về Trung Quốc”, người được hỏi đáp trả.

“Trong trường hợp này”, viên cảnh sát thừa nhận, “thì ông cần phải mở rộng sự quan sát của mình thêm một chút, để đừng giống như các tác giả khác, đã viết về Trung Quốc mà hoàn toàn không cần nhìn thấy hiện thực.”

Khi các marines đầu tiên, lính cổ da Mỹ, đổ bộ xuống Đà Nẵng năm 1965, cuộc Chiến tranh Việt Nam đạt tới một giá trị tin tức yêu cầu các giới truyền thông Đức phải hoạt động  mạnh hơn nữa. Đài ARD muốn được cung cấp thông tin từ một thông tín viên đóng ở tại chỗ, ở Sài Gòn. Các phóng sự từ studio New Delhi đã không còn đủ nữa. Trong tháng Hai 1967, tôi sang Nam Việt Nam. Một thế giới mới, xa lạ đã bắt giữ lấy tôi và kể từ lúc đó không còn buông thả tôi ra nữa.

Chiến tranh đã đóng một vai trò quan trọng trong lần gặp gỡ đầu tiên với châu Á. Nó đã mang tôi, thật ra cũng như tất cả các phóng viên chiến tranh khác, vào trong những tình huống cực độ và đồng thời cũng mang lại cho tôi một trải nghiệm khác thường: trước hết là trải nghiệm có thể làm việc trong một cuộc chiến mà không bị cản trở và không có kiểm duyệt. Chỉ sau này tôi, cũng giống như tất cả những người đã tham dự, mới nhận thức được tầm quan trọng này. Cuộc chiến đã bắn thủng lỗ chỗ những mặt tiền và những bức tường bảo vệ của các xã hội châu Á, và đứng trước sự chết chóc và tàn phá đó, chúng đã bộc lộ những đặc tính cũng như cấu trúc nội bộ của chúng rõ ràng hơn là lúc bình thường. Tôi dần dần mới lờ mờ hiểu được phẩm giá mang dấu ấn của lịch sử đó, và những hình thức sống đặc biệt ngay giữa trong cái đẹp nhiệt đới của Đông Nam Á, cái thật khó mà nắm bắt được qua từ ngữ. Mãi bây giờ, hai mươi năm sau đó, tôi mới dám mô tả nó, ngần ngại và rụt rè.

Trong huyền thoại của nhiều dân tộc, rồng đóng một vai trò quan trọng. Châu Âu đầu thời Trung cổ đã tưởng tượng nó có nhiều đầu và phun ra lửa. Phải cần tới một người anh hùng để chiến thắng nó trong một cuộc đấu trực diện. Các dân tộc châu Á gắn kết hình ảnh con rồng với những tính chất tốt đẹp. Nó tượng trưng cho sự phồn thực và nước. Tác động của nó mang tính thiện và mang lại hạnh phúc.

Mang sang chính trị, Trung Quốc đã cảm nhận mình như con rồng lớn, bảo vệ và canh giữ những quốc gia nhỏ hơn ở ngoại biên của nó. Người ta gọi các quốc gia láng giềng của Trung Quốc ở Đông Nam Á là những con rồng nhỏ. Họ tồn tại dưới cái bóng của Trung Quốc hay chống lại sự thống trị của hoàng cung Bắc Kinh qua nhiều thế kỷ và qua đó đã phát triển sự nhận dạng quốc gia.

Quyển sách này bàn về bốn con rồng nhỏ ở sông Mekong: về Việt Nam và Lào, về Campuchia và Thái Lan, tất cả đều nằm cạnh dòng nước lớn mang lại cuộc sống, bắt nguồn ở Tây Tạng và chảy xuyên qua tỉnh Vân Nam về hướng Nam.

Khái niệm Đông Dương được người Pháp sử dụng chỉ bao gồm thuộc địa riêng của họ: Việt Nam, Lào và Campuchia. Cách xếp nhóm theo lịch sử từ thời thuộc địa này hẳn sẽ mất đi tầm quan trọng trong tương lai và sẽ được mở rộng ra thành một cách sắp xếp theo địa lý nhiều hơn, cái bao gồm cả Thái Lan. Tựa đề muốn được hiểu theo ý nghĩa này.

Hamburg, Xuân 1989

Winfried Scharlau

Việt Nam: Hiện thực của cuộc chiến

Siêu thị Sài Gòn

Mary McCarthy

Thuộc trong số nhiều người Mỹ nổi tiếng muốn tận mắt nhìn thấy cuộc chiến ở Việt Nam, để viết về nó và phê phán công khai, là nữ nhà văn Mary McCarthy.  “Khi sang Việt Nam trong tháng Hai 1967”, bà thừa nhận trong “Report from Vietnam” được xuất bản vài tháng sau đó của bà, “tôi đã đi tìm những tài liệu có thể làm tổn hại đến lợi ích của Mỹ”. Có nhìn đến đâu bà cũng chỉ nhìn thấy sự xác nhận cho những gì mà bà đã biết. Nhưng không phải tất cả các nhận thức đó đã đứng vững được trước một xét nghiệm lại về sau này.

Tôi đã gặp bà McCarthy thoáng qua trên Hội Chợ Sách Frankfurt, nơi bà giới thiệu quyển sách bán chạy “The Group” của bà. Tình cờ, tôi cũng ngồi trong cùng chiếc máy bay từ Paris đến Sài Gòn – không phải ở phía trước như nhà văn nữ nổi tiếng, mà là tít ở phía sau trong “hạng ghế gỗ”. Sau những lần đỗ lại ở Athen, Teheran, Karachi và Bombay, thời đó vẫn còn là thông thường trên những tuyến bay dài, hành khách ăn sáng tại Cảng Hàng Không Bangkok. Trong một cái lán thấp, thức ăn được dọn ra trên một cái bàn dài có lá cờ của hãng hàng không ở trên đó. Bà McCarthy ngồi cạnh tôi. Bà trông có vẻ thiếu ngủ, nhưng người ta có thể nhận ra được sự căng thẳng chờ đợi trạm kế đến của bà, Sài Gòn.

Ở ngoài, cạnh những đường băng có hàng chục chiếc máy bay ném bom chiến đấu phản lực. Một vài chiếc khởi hành với tiếng ồn điếc tai. Máy bay trực thăng bay lơ lững tới. Mùi xăng máy bay nồng nặc trong không khí. Đó là chiến tranh rồi, chúng tôi đã  nghĩ như vậy, một màn dạo đầu lúc ăn sáng. Trong khi đó thì chúng tôi còn cách Việt Nam hàng ngàn kilômét.

Người ta nghĩ là ít ra thì họ cũng cố ngụy trang công việc làm của họ trước du khách, người nữ tác giả nghiêm khắc, hoàn toàn không có trang sức, nhận xét, người theo kiểu cách của giới trí thức Paris đã lấy sự từ bỏ styling làm phong cách cho mình. Cả hai chúng tôi đều hoàn toàn không biết gì về hiện thực của cuộc chiến, cho tới mức đã không nhận ra huy hiệu trên những chiếc máy bay chiến đấu đó, những cái chứng tỏ kho vũ khí hoàn toàn lỗi thời này là sở hữu của Không Quân Thái Lan. Phi vụ sang Việt Nam không hề được bay từ Cảng Hàng Không Don Muang. Các căn cứ của Hoa Kỳ ở trong nước không bị hàng không dân sự quấy rầy.

Sau này, tôi có thể đọc lại cuộc thảo luận tình cờ của chúng tôi trong “Vietnam Report” của McCarthy. Rõ ràng là tôi đã không thể giải thích tường tận được về Không Quân Thái Lan cho bà. Nhiều lắm thì tôi chỉ có thể nhận ra được loại máy bay chở chúng tôi tới Bangkok là một “Boeing 707”. Bà McCarthy tin rằng bà đã ở trong một chiếc “Caravelle”. Chỉ trong cái nghề lâu đời nhất của thế giới, Tướng Dwight D. Eisenhower đã từng có lần chế giễu, thì dân nghiệp dư mới được phép cho mình là một cái gì đó tốt hơn giới chuyên nghiệp. Trong giới quân đội, những người mới bắt đầu và các nhà chiến lược nghiệp dư có một hình ảnh hết sức buồn cười, một trải nghiệm không chừa ra bất cứ người phóng viên chiến tranh nào vào lúc ban đầu cả.

Chuẩn bị nhiệm vụ cho tôi là một tác giả khác: Graham Greene mà quyển sách “Người Mỹ trầm lặng” của ông vẫn còn thuộc trong số những gì viết tốt nhất về cuộc chiến ở Đông Dương. “Tôi không muốn can thiệp vào”, Green để cho nhân vật chính, nhà báo người Anh Fowler, nói. “Đồng nghiệp của tôi tự gọi họ là thông tín viên. Tôi thích cái tên gọi phóng viên hơn. Tôi viết những gì tôi nhìn thấy. Tôi không can thiệp vào, ngay cả một ý kiến cũng là một sự can thiệp. Chúa Trời bảo vệ chúng ta trước những người vô tội và những người tốt.”

Ở Sài Gòn, tôi đã đặt một phòng trong khách sạn “Continental Palace”, phòng mà 1952/53 Greene cũng đã sống ở trong đó vào thời của cuộc chiến tranh chống Pháp. Ngôi nhà được sơn trắng xóa từ thời chuyển tiếp thế kỷ có một nét quyến rũ xưa cũ mà người khách từ châu Âu bị thu hút một cách tự phát và mãi mãi. Cũng vì vậy mà sống ở “Continental” trước hết là phóng viên từ châu Âu, và tất nhiên là các old China hands, các tay kỳ cựu ở châu Á, những người tiếp tục nối tiếp phong cách sống thời thuộc địa.

Đại đa số các phóng viên trẻ tuổi từ Mỹ, trước hết là những đội truyền hình của ba kênh lớn CBS, NBC và ABC, sống trong khách sạn cao tầng “Caravelle” hiện đại, được điều hòa nhiệt độ toàn bộ và vì vậy mà quá lạnh, và mãi vào cuối những năm năm mươi mới được xây lên. Hai khách sạn, “Continental” và “Caravelle” nằm cạnh con đường mua sắm nhiều bóng mát, con đường đã từng là Rue Catinat thanh lịch và bây giờ có tên là Tự Do. Người ta không cần tới một trăm bước chân, để từ khách sạn này qua nhà hát tới khách sạn kia; thế nhưng ở đây có một đường ranh giới vô hình chạy ngang qua, chia cắt hai thế giới.

Vào buổi chiều, khi mặt trời đang lặn pha một sắc màu xanh nhạt hay tím vào ánh sáng đang yếu dần đi, hàng hiên của “Continental” trở thành một trong những cái chợ tin tức quan trọng nhất của thành phố. Khách sạn này cao bốn tầng, có những lối vào rộng rãi và hành lang có trần cao, để không khí có thể tuần hoàn được. Máy điều hòa nhiệt độ kêu lạch cạch trong những gian phòng rộng mênh mông với những cái ghế mây hay bàn ghế bọc chất dẽo, để cho nước ngưng tụ của nó nhỏ giọt xuống đường phố và làm đầy bầu không khí bằng một âm thanh nền thật to. Ở tầng trệt, phía hướng ra đường phố, khách sạn có một hàng hiên rộng mà ở đó người khách có thể nhìn thấy hoạt động trên đường phố, và đồng thời cũng để cho khách bộ hành quan sát mình.

Aussi bien qu’en France [Cũng tốt như ở Pháp]”, ông chủ người Pháp nói. Philippe Franchini có gốc Corse-Việt, có tài trong kinh doanh cũng như mỹ thuật. Ông biết những lời ám chỉ văn học về cái “etablissement” của ông trong các tác phẩm của Greene, André Malraux và cả trong những vở kịch của Noël Coward, người trên hàng hiên này đã phác thảo vở “Mad dogs and Englishmen” của ông. Ai kết bạn với giới này, người đó nhìn Sài Gòn bao quanh mình với đôi mắt phê phán, không phải là không có một chút nuối tiếc. Một làn sóng dollar đã cuốn trôi đi một phần lớn bầu không khí thuộc địa Pháp. Sài Gòn thay đổi hết sức nhanh chóng trong cơn say của một nền kinh tế phát đạt nhờ chiến tranh.

Một thiểu số nhỏ trên hàng hiên là các đại tá tóc vàng hớt kiểu bàn chải từ các ban tham mưu của Mỹ, những người mà Mary McCarthy đặc biệt khinh thường, ít khi trong quân phục, thường hơn là trong những chiếc quần ngắn Bermuda kẻ ô, trong môi trường này trông giống như quần áo gánh xiếc. Chen chúc ở cạnh bậc thềm vào hàng hiên, nơi những người bồi bàn kỳ cựu phục vụ citron pressé soda hay bia “33” bản địa, là những đứa bé ăn xin, những cô gái trẻ lả lơi, thường là con lai, và những người bán sách rong đang giữ cân bằng chồng sách trên tay họ và bị những người bồi bàn to tiếng và dứt khoát đuổi xuống đường khi cố gắng bắt chuyện với người mua ở cạnh bàn. Ngược lại, những đứa bé đánh giày thì lại được khoan dung cho, đánh bóng giày trên vỉa hè trong khi khách hàng của chúng chân không giày uống xì xụp sundowner của họ.

“Mỹ, Mỹ”, ngày nay thì trẻ con Việt Nam gọi tất cả “người da trắng” là như vậy. Đối với đại đa số người Việt, chủng tộc mới là cái quyết định, không phải quốc tịch. Thang điểm giá trị trong người dân có mười bậc. “Số một” là lời khen tốt nhất. Trước bậc thềm của hàng hiên người ta luôn nghe được tiếng gọi to: “You, Merican, namba ten.”

Thời đó, người ta đã mô tả Sài Gòn như là một siêu thị khổng lồ. Đổi tiền ở khắp nơi, đô la “xanh” của Mỹ được đổi lấy tiền đồng theo giá chợ đen, cái để cho những con búp bê trong vô số các quán rượu nhảy múa. Ở Nam Việt Nam chưa từng bao giờ có nhiều tiền và ngoại tệ hơn như trong những năm người Mỹ tham chiến. Qua trộm cắp, buôn lậu, tham nhũng và biển thủ, hàng triệu và vào lúc cuối hẳn là hàng tỷ đã rò rỉ vào một xã hội có kẻ thắng lớn và người bị thiệt thòi, một xã hội phân chia lợi nhuận hết sức không đồng đều, nhưng gián tiếp thì hầu như tất cả, ít nhất là trong các thành phố lớn, đều có phần. Một con số lớn người dân, lớn tới mức đáng ngạc nhiên, đã có thể chuyển từ xe đạp sang xe gắn máy. Con số lớn của những chiếc xe gắn máy Nhật tỏa khói mù mịt đã làm thay đổi hình ảnh của thành phố nhiều hơn tất cả các hệ quả khác của chiến tranh.

Những ngôi nhà đồ sộ màu đất son thời thuộc địa mà bộ máy nhà nước đóng ở trong đó được bảo đảm bằng nhiều hàng rào dây kẽm gai, gây trở ngại cho giao thông, vì người đi bộ vì vậy mà bị trục xuất xuống lòng đường, nơi những chiếc Honda đang đòi chiếm chỗ. Dây kẽm gai, chướng ngại vật và những tấm lưới thép trước cửa sổ minh chứng cho mối đe dọa hiện diện ở khắp mọi nơi của những người ném bom và kẻ ám sát. Sự thịnh vượng nhân tạo, một dòng giao thông mà thành phố có nguy cơ chết ngạt vì nó, và dây kẽm gai ở khắp mọi nơi, đã mang lại cho Sài Gòn của thời đó một hình ảnh mới, xấu xí. Trong “Antimémoires”, André Malraux nhớ lại “sự buồn tẻ của Nam Kỳ”, về những cái nón cối, giờ uống rượu absinth xanh trên hàng hiên “Continental”, “khi buổi chiều tối ngắn ngủi hạ xuống những cây phượng vĩ, xuống những chiếc xe mui trần đang chạy ngang qua trên Rue Catinat trong tiếng ồn từ những cái chuông của chúng”. Sài Gòn của những năm ba mươi đã suy tàn, chìm vào trong làn nước của một trận ngập lụt dollar, cái không chỉ làm thay đổi hình ảnh bên ngoài, cái cũng đã làm thay đổi cả tinh thần của thành phố,

Quán rượu, tiệm mát xa và nhà chứa đã có từ thời Pháp. Nhưng vào thời đó thì chúng còn ở trong bí mật, được che đậy và giữ kín trước con mắt của một xã hội có vẻ như là đoan trang. Cuộc sống hai mặt về đạo đức như vậy bây giờ không còn cần thiết nữa. Thói xấu hiển lộ một cách trần trụi và thành thật. Quy mô và phong cách đã thay đổi. Các cô gái đứng đường cho thấy rõ rằng có tiền thật sự là có thể mua được tất cả. Đạo đức chưa từng bao giờ khác đi, nhưng phong cách thưởng thức thì có khác. Lối sống Pháp buộc người ta phải kín đáo. Người Mỹ thì ngược lại khiến cho người ta, trước hết là các nhà quan sát người Việt, có cảm giác là họ thô tục, bất lịch sự và đáng ghét.

Nhưng họ giàu có, và họ có nhiều quyền lực. Họ tự tin nhìn xuống những người Pháp còn ở lại Nam Việt Nam. Nhóm người Pháp, vẫn còn khẳng định được vị trí của họ trong khách sạn, nhà hàng và các công ty dịch vụ, được nhẫn nại khoan dung như một cách để phong phú hóa môi trường thành thị. Cả việc làm giàu về mặt ẩm thực cũng được đa số người Mỹ đánh giá cao. Người Mỹ chỉ không muốn biết tới các trải nghiệm về chính trị và quân sự mà Pháp đã có ở Việt Nam. Các vấn đề của quá khứ, những người bảo vệ mới của Nam Việt Nam tin là như vậy, hết thảy đều xuất phát từ thuộc địa hóa, đàn áp và bóc lột bởi Paris. Ngược lại, nước Mỹ chiến đấu không tư lợi, vì lợi ích của người Nam Việt Nam. Nước Pháp phải thất bại. Kinh nghiệm của họ không dạy được điều gì. Họ chỉ xác nhận nhận thức đã rõ, rằng thời thuộc địa đã qua đi và không bao giờ quay trở lại nữa.

Người Pháp đáp trả sự không ưa thích đó từ sâu thẳm trong thâm tâm. Họ cảm nhận Sài Gòn như là một siêu thị có những con “siêu khỉ” đang tụ tập ở trong đó. Họ không  muốn rời bỏ niềm tin, rằng họ hiểu người Việt tốt hơn nhiều khi so với những người Mỹ hoàn toàn không hiểu biết gì. Họ xem Nam Việt Nam là sở hữu của họ, là người tình của họ, người đã bỏ đi theo một gã nhà giàu xấu xí. Một ngày nào đó, đất nước này sẽ quay trở lại ở bên cạnh nước Pháp.

Có một lời khẳng định đã suy đồi thành định kiến, rằng Sài Gòn thời đó duy nhất là một nhà chứa khổng lồ, sống ở đó là những kẻ hưởng lợi từ chiến tranh, dân buôn lậu, ma cô và gái điếm. Phim Mỹ về Việt Nam như “Full Metal Jacket” của Stanley Kubricks đã hạ thấp hiện thực xã hội của Nam Việt Nam xuống tới những tình trạng như vậy, cái cũng đủ để cho cả những nhà phê phán người Pháp đưa ra một phê phán chung cho cả đất nước này từ đó.

Thật sự thì Nam Việt Nam đã khiến cho người ta ngạc nhiên nhiều hơn, qua sự tồn tại bên cạnh nhau của chiến tranh và hòa bình, của sự biến dạng và trạng thái bỉnh thường không hề bị ảnh hưởng tới, của dâm tục và thơ mộng, cái còn cho phép một phần lớn con người khẳng định được tính chất riêng biệt và phẩm giá của họ trong một xã hội mang dấu ấn của chiến tranh, bạo lực và xáo trộn. Đặc biệt là ở tỉnh và làng quê, con người vẫn giữ vững truyền thống của họ, những cái đã chống chọi lại được với ảnh hưởng của nền văn minh Pháp và bây giờ cũng sống sót qua được chiến dịch của người Mỹ nhằm để chiếm lấy các “trái tim và đầu óc”.

Sài Gòn, thủ đô to lớn, tăng trưởng lên hơn hai triệu dân cư trong miền Nam, là một trường hợp đặc biệt mà trong đó xã hội đã thay đổi và tan rã nhiều hơn là trong phần còn lại của đất nước. Trong khi đó, thời 1967, thì con người ở đây vẫn còn được chiến tranh thật sự, và những tàn phá do một cỗ máy chiến tranh hiện đại gây ra, dung tha cho hoàn toàn.

Tuy vậy, vào mỗi tối, ngay cả từ hàng hiên của “Continental”, người ta vẫn có thể nhìn thấy flair, những “cây Giáng Sinh” như người ta nói trong Đệ nhị Thế chiến, treo dưới những cây dù lơ lửng trên bầu trời, để chúng chiếu sáng trong vài phút một chiến trường đã kéo vào cho tới tận ngoại ô của Sài Gòn. “Cây Giáng Sinh” trên bầu trời mang lại cho những người mới đến một ấn tượng đầu tiên, rằng chiến tranh và hòa bình nằm gần nhau cho tới đâu ở đây.

Một âm mưu chống khán giả

Giấy phép ra chiến trường có ở “Military Assistance Command Vietnam”, viết tắt là MACV (và đọc là “Macvi”). Cơ quan thông tin của MACV đóng trong khách sạn “Rex” trước đây, nằm cạnh đại lộ Lê Lợi rộng lớn, cách các ngôi nhà trọ cho những đoàn lữ hành của giới báo chí, “Continental” và “Caravelle”, không đầy 200 mét. Dây kẽm gai giới hạn lối vào ở bên hông. Một người canh gác kiểm tra giấy tờ cá nhân. Qua những bức tường bằng gỗ, gian sảnh lớn ở tầng trệt được chia ra thành những phòng làm việc nhỏ, được liên kết với nhau bằng những hành lang dài, chật hẹp. Người khách thật sự là phải len lỏi qua đó, vì đứng khắp nơi trên hành lang là những bình nước uống thật to mà không có chúng thì nhân viên rõ ràng là không thể chịu đựng được bầu không khí bị làm lạnh quá mức này. Ly giấy mỏng, có màu trắng nằm đó sẵn sàng để ai cũng có thể uống nước theo nhu cầu.

Thư viện Abraham Lincoln và rạp REX, Sài Gòn 1965
Thư viện Abraham Lincoln và rạp REX, Sài Gòn 1965

Ngồi trong các ô chật hẹp là những người đại diện cho JUSPAO, “Joint United Public Affairs Office”, và các sĩ quan báo chí của bốn binh chủng: lục quân, cổ da, không quân và hải quân. Công việc ghi chép do phụ nữ người Việt nói tiếng Anh tiến hành, tất cả đều trong chiếc áo dài, y phục dài bằng lụa với quần dài và rộng và một chiếc áo váy được xẻ ra, dài quá gối. Ngồi ở phía sau các cái bàn giấy có bảng tên là những sĩ quan cường tráng trong quân phục được hồ cứng, thường là trung tá, có sẵn trong túi bên cạnh cây bút bi là một cái cây que chỉ bằng kim loại có thể kéo dài ra được, để có thể giải thích tất cả các vấn đề qua những bài thuyết trình ngắn, cạnh những tấm bản đồ và biểu đồ.

Để được công nhận, người ta chỉ cần một văn thư của tòa soạn từ quê hương, một giấy giới thiệu của sứ quán và một vài tấm ảnh để làm thẻ. Trước khi tấm thẻ báo chí bọc nhựa nhỏ được trao ra, người ta còn phải ký tên trên một văn kiện, miễn cho Hoa Kỳ tất cả các phí tổn sau này, kể cả việc mang trở về nhà trong quan tài.

Tấm thẻ báo chí cho cuộc chiến mang lại cho người sở hữu nó địa vị của một đại úy, người có quyền sử dụng các phương tiện vận tải của quân đội, đi khắp nước, xa cho tới nơi nào mà máy bay và trực thăng bay tới đó. Người này nhận nơi ăn ngủ của mình ở tại đơn vị tương ứng, nơi đón tiếp khách nhà báo bằng phòng PR riêng của họ, và trong lúc đó thông thường bao giờ cũng hào phóng và sẵn sàng giúp đỡ. Sẽ thuận lợi hơn, nếu như người ta thông báo trước những lần tới thăm các đơn vị qua phòng báo chí của các quân chủng trong JUSPAO. Nhưng nếu ai thích đi mà không báo trước, cứ để ngẫu nhiên đưa đẩy, đi nhanh tới nơi chiến sự đang là tít trên báo, thì cũng được tiếp đón và cung cấp cho tất cả những thứ cần thiết.

Không một người tháp tùng, không một người giám sát nào can thiệp vào trong công việc của các nhà báo. Báo chí được tự do, và được mời hãy tạo cho mình một hình ảnh riêng. Quân đội chỉ không muốn đảm nhận những rủi ro cho thân thể và tính mạng. Mặc dù vậy, tất cả các nhà báo bị thương tất nhiên đều được trực thăng cứu cấp bay chở ra khỏi chiến trường và được chăm sóc trong các bệnh viện quân đội. Không ít người – tôi thuộc trong số đó – mang trong thâm tâm một sự biết ơn to lớn vì việc này cho tới ngày hôm nay.

Tất nhiên là trước khi nhà báo có thể đi vào chiến tranh ở ngoài kia trên đồng ruộng và trong rừng rậm thì họ phải chịu đựng một nổ lực public relation hết sức lớn từ những cơ quan thông tin kết hợp của các cơ quan dân sự và quân sự của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Cùng với tấm thẻ báo chí, con người mới đến còn nhận được một press kit, hàng chồng tài liệu giải thích ý nghĩa của việc Hoa Kỳ tham chiến tại Nam Việt Nam và không để cho bất cứ một sự nghi ngờ nào trỗi dậy về việc quyền lực dẫn đầu Phương Tây sẽ vượt qua được thách thức này. “Hỏi: Tại sao Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ chiến đấu ở Việt Nam?”, theo như một talking paper của tháng Hai 1967: “Trả lời: Trong những điểm chính: Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam vì a) nền hòa bình và an ninh Đông Nam Á có tầm quan trọng sống còn cho lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ; b) Hoa Kỳ có nghĩa vụ bảo vệ Nam Việt Nam trước một cuộc xâm lược từ bên ngoài.”

Khác với những cuộc chiến trước đây, hoạt động tham chiến ở Việt Nam không thổi dậy một cơn say quốc gia mà tuyên truyền chỉ cần hỗ trợ cho nó. Trong Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến, cả trong Chiến tranh Triều Tiên, đối thủ có thể xác định được một cách rõ ràng, việc làm của quốc gia dường như là đúng đắn, quốc gia đứng sau lưng quân đội và chính phủ, để giúp cho tự do, công lý và cái thiện có thể chiến thắng. Tình trạng khẩn cấp được Quốc Hội xác nhận cho phép kiểm duyệt và giới hạn tự do thông tin vì lợi ích của an ninh quốc gia,

Trong Chiến tranh Việt Nam thì ngược lại, một “tam hiệp” từ nhân dân, chính phủ và quân đội, được lý thuyết gia về chiến tranh người Đức Carl von Clausewitz khuyến cáo, đã không hình thành. Người dân không được tham gia vào trong các quyết định dẫn tới cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á. Một chiến dịch PR không tiền khoáng hậu của chính phủ có nhiệm vụ thuyết phục nhân dân và giới công khai Mỹ tin tưởng vào sự cần thiết và tính đúng đắn của cuộc chiến.

Hàng ngày vào lúc năm giờ chiều có một cuộc họp báo diễn ra trong gian sảnh nhà hát của khách sạn “Rex”. Một phát ngôn viên của Đại sứ quán Hoa Kỳ thông tin về các vấn đề chính trị xã hội; giới quân đội phân phát “news release” của họ, thông cáo của Bộ Tham mưu tổng kết và xác định số lượng chiến dịch của ngày hôm trước. Một phát ngôn viên quân đội giải thích thông cáo đó và trả lời các câu hỏi của giới nhà báo.

Làm đạo diễn ở hậu trường là một PR manager lực lưỡng, hút thuốc liên tục. Barry Zorthian. Trên gương mặt sắc nét của mình, ông phải cố gắng lắm mới che dấu được cảm nhận của ông về chất lượng của màn trình diễn đang được tiến hành. Ông chứng tỏ mình có nhiều sự thông hiểu tới mức đáng ngạc nhiên cho các nhà báo hay hỏi khiêu khích. Làm cho ông chán ngán trước hết là những sự cố có thể tránh được do chính nhân viên của ông gây ra, nhưng đặc biệt là từ đại diện của các quân chủng. Ông chỉ bước lên sân khấu trong trường hợp khẩn cấp: khi các phát ngôn viên vướng vào bẫy của các nhà báo đang hỏi. Zorthian thích “mát xa cá nhân” trong phòng làm việc ốp gỗ của ông hơn, hay cả một bữa ăn trưa trong căn hộ tư của ông. Ông đã thực hiện nhiệm vụ khó khăn của mình với nhiều tính thuyết phục và tài khéo léo cho tới mức Time/Life sau này đã mời ông về làm việc trong ban giám đốc.

Zorthian không có ảnh hưởng gì nhiều tới chính sách thông tin của quân đội. Tướng William C. Westmoreland, viên tổng chỉ huy Mỹ ở Nam Việt Nam, và bộ tham mưu của ông phớt lờ mọi lời khuyên và phê phán. Họ giảm các thông tin quân sự xuống tới mức nó phá hủy ý nghĩa và chỉ để lại những mảnh, những phần không còn liên quan gì tới hiện thực nữa. “Các lực lượng của Sư đoàn 25 (Nam Việt Nam)”, như một thông báo đặc trưng, “và của Trung đoàn 11 Không kỵ Mỹ vào trưa ngày hôm qua đã giết chết 142 Việt Cộng cách Sài Gòn 15 dặm về phía Tây Nam.” Một thông tin như vậy đặt ra nhiều câu hỏi hơn là nó trả lời. Ai là 142 Việt Cộng đó? Có thu được vũ khí cùng con số đó hay không, điều có thể khiến cho người ta chắc chắn là không có người dân thường nào bị giết chết và rồi bị ghi nhận là lính tử trận? Tổn thất của chính mình là bao nhiêu? Ai đã khởi động cuộc giao tranh?

Vụ thảm sát Mỹ Lai, vụ việc mà trong đó một trung đội do thiếu úy William Calley chỉ huy đã bắn chết mấy trăm người dân thường tay không, phần lớn là phụ nữ và trẻ con, xuất hiện trong thông cáo của ngày đó qua diễn đạt như sau: “… giết chết 128 địch quân gần thành phố Quảng Ngãi”. Những vụ ném lầm, ném bom nhầm vào lực lượng của chính mình hay vào dân thường, được gói ghém vào trong uyển ngữ: “Ném ngẫu nhiên chất nổ”.

Trong “Người Mỹ trầm lặng”, Graham Greene đã mô tả lại một cuộc họp báo của tổng chỉ huy Pháp mà trong đó sự thật về tổn thất của của chính họ được giấu giếm một cách hết sức vụng về và vì vậy mà hết sức buồn cười. Các đối thoại đó là trích dẫn thật sự, chúng được trích dẫn lại từ ghi chép của một briefing. Hiện thực vượt quá sự tưởng tượng.

Không muốn và không có khả năng mô tả diễn tiến của các chiến dịch quân sự một cách phù hợp và có nghĩa lý, đó dường như là đặc tính của tất cả các quân đội mà không cần phải nhìn tới một quốc gia nào. Ở người Mỹ tại Sài Gòn thì sự đánh lạc hướng thông tin này hết sức tai hại, vì tụ tập lại trong “Rex” là một giới báo chí nhanh chóng nghi ngờ tất cả những người có chức vụ, đặc biệt là các tướng lĩnh; và là một giới báo chí mà đã tìm được phương tiện và đường lối để thu thập thêm dữ liệu, nhiều hơn là giới quân đội muốn công bố.

Một người hầu như lúc nào cũng tham dự cuộc họp năm giờ và “nướng” các phát ngôn viên qua những câu hỏi có chủ ý là Joe Fried, một phóng viên nhỏ người, trông có vẻ buồn rầu, đại diện cho New York Daily News. Joe Fried lôi các mâu thuẫn ra ánh sáng, làm lộ rõ các giả mạo và khiến cho các phát ngôn viên phải nói lắp qua một sự kiên trì gây bực mình và kiệt quệ. Ngày nào ông cũng chứng minh tính không thể tin cậy được của các thông cáo. Nhưng tất nhiên là cả ông cũng không thành công trong việc bổ sung thêm hiện thực vào cho các thông tin chính thức.

Trụ sở Bộ Chỉ Huy Quân Viện, Sài Gòn 1969
Trụ sở Bộ Chỉ Huy Quân Viện, Sài Gòn 1969

Chỉ sau vài ngày, kẻ mới đến Sài Gòn đã biết màn tuyên truyền nào được trình diễn ở “Rex” cho mình. Đại sứ quán Mỹ lan tỏa sự lạc quan đi khắp nơi. “Gánh nặng lịch sử của người da trắng” được tuyên bố thành “gánh nặng của thế giới tự do”. Và thật sự là các lực lượng của họ, người Nam Việt Nam, người Mỹ, Nam Triều Tiên, người Úc, New Zealand, Philippines và Thái, những người tham chiến với lực lượng nhiều ít khác nhau, cũng thật sự được gọi là “Free World Forces”.

“Tất cả các dữ liệu số lượng có được cho thấy rằng chúng ta thắng cuộc chiến này”, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert S. McNamara đã tuyên bố như vậy ngay từ năm 1962. Qua leo thang, qua tăng lực lượng quân đội lên tới hơn 400.000 người và qua cuộc chiến tranh bỏ bom chống miền Bắc, chính quyền Johnson nhìn thấy thời điểm đó đã tới, thời điểm mà Việt Cộng lui vào rừng rậm, đơn giản là ngừng chiến đấu mà không chính thức thừa nhận chiến bại. “Cỗ máy tuyên truyền Lầu Năm Góc”, cái mà thượng nghĩ sĩ Fulbright sau này mổ xẻ, cung cấp hàng ngày cho giới truyền thông những thông tin mà toàn bộ chúng chỉ để cho người ta đi tới một kết luận: rằng cuộc chiến diễn ra thuận lợi và không hề có nghi ngờ nào về việc ánh sáng đã bắt đầu xuất hiện ở cuối đường hầm.

Ngay từ 1962, từ cuối thời của nhà độc tài Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm, nhà báo Mỹ được phép hoạt động chính thức ở Sài Gòn đã lột trần sự lạc quan chính thức này ra như là một ảo tưởng. Neil Sheehan, David Halberstam, Peter Arnett và François Sully, để chỉ kể ra bốn tên tuổi, nhờ vào các điều tra ngoài chiến trường mà đã có ấn tượng chắc chắn rằng cuộc chiến của Mỹ không hứa hẹn sẽ thành công, rằng các tướng lĩnh đánh lừa giới công khai khi họ đặt chiến thắng vào trong tầm nhìn. Thế hệ đầu tiên của các nhà báo phê phán còn không hề hoài nghi ý nghĩa, sự cần thiết và tính hợp pháp của cuộc chiến. Nhưng họ không tin tưởng vào phương pháp, chiến lược và đặc biệt là chính sách thông tin hướng tới chiến thắng.

Các tướng lĩnh và đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn bộc lộ một sự cay đắng về việc nhà báo đặt sự kiện lên cao hơn danh dự của quốc gia. Khi Peter Arnett, phóng viên của Associated Press, đặt ra một câu hỏi mang tính phê phán cho đô đốc Felt, câu trả lời mang tính đặc trưng của ông là. “Get on the team” – “Hãy bước sang phía chúng tôi!”

Sau bốn tuần ở Sài Gòn, tôi gởi về cho [Đài Truyền hình và Phát thanh Bắc Đức] NDR một bài tường thuật về chính sách thông tin của đại sứ quán Mỹ, một bài tường thuật mà về sau này trông rất ôn hòa: Công tác báo chí có những yêu cầu vượt quá sức lực của sự hiểu biết thông thường. Nó không khéo léo, không chuyên nghiệp, lừa dối, với một từ: không đáng tin. Ngày nào đại sứ quán cũng thành công trong cố gắng nhấn mạnh ấn tượng không có lợi này.

Douglas Pike, một chuyên gia CIA về phân tích các tài liệu tịch thu được, người đã làm việc sáu năm trong bộ máy thông tin Sài Gòn trước khi ông trở về với nghề nghiệp hàn lâm năm 1966 và công bố một nghiên cứu cơ bản về Việt Cộng và tổ chức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, đã viết một câu mang tính hủy diệt ở trong đó: “Việt Nam là một ác mộng giống như trong mô tả của Kafka đối với mỗi một người muốn biết sự kiện thật. Nhiều điều được giữ bí mật. Nằm ở phía sau các thống kê được công bố là lĩnh vực của ‘các thông tin được mã hóa’, cái mà thống chế Foch đã từng gọi là ‘sương mù của chiến tranh’.”

Ngay từ giai đoạn cuối của nền độc tài Diệm, khi còn có chưa tới một tá thông tín viên Mỹ trú đóng dài hạn ở Sài Gòn, các thông tấn xã AP và UPI, nhưng trước hết là New York TimesNewsweek đã thổ lộ sự hoài nghi, rằng liệu diễn tiến của cuộc chiến có bào chữa được cho sự lạc quan này không. Viên tổng thống tự tin và kiêu ngạo Diệm đã gây khó khăn và cản trở những người phê phán xa lạ đầu tiên này, còn trục xuất cả François Sully, cộng tác viên của Newsweek, ra khỏi nước nữa, nhưng vẫn không thể làm mất tác động của giới báo chí đối lập lên dư luận.

Năm 1967, năm năm sau đó, đã có hơn hai trăm thông tín viên nước ngoài hoạt động chính thức ở Sài Gòn, đa số đều tự tìm kiếm dữ liệu, tạo cho mình một hình ảnh riêng về tình hình ở ngoài kia và bổ sung hay phủ nhận đường lối thông tin chính thức. Các PR manager của đại sứ quán và của quân đội đã không thể ngăn chận các phân tích phê phán và cảnh báo của giới báo chí. Vì cuộc chiến không được tuyên bố nên không có công cụ pháp luật để giới hạn tự do báo chí và áp dụng kiểm duyệt. Thời gian này, trong số các nhà báo có không ít người hoài nghi không chỉ các phương pháp. Họ lên án cuộc chiến từ những lý do về pháp lý và đạo đức và tìm các dữ kiện để, như Mary McCarthy đã nói, “gây hại cho lợi ích của Mỹ”.

Diệm bị lật đổ. Những người nối tiếp ông, các tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ kình địch với nhau, không có uy quyền để có thể thu hẹp được không gian hoạt động của báo chí. Điều tồi tệ nhất mà một nhà báo đối lập ở Việt Nam có thể trải qua là bị từ chối thị thực tái nhập cảnh.

Chỉ một vài thông tín viên là đã nhận được sự chú ý này của chính phủ Nam Việt Nam. Năm 1970, tôi đã đứng một thời gian trên danh sách đen, vì tôi đã nhắc lại trong một bài báo, rằng tính đáng tin cậy quốc gia của tướng Thiệu bị giới hạn do ông đã nhận được bằng sĩ quan của mình từ thế lực thực dân Pháp, trong khi Hồ Chí Minh trong cuộc chiến đấu chống Pháp đã lớn lên trở thành biểu tượng của kháng chiến. Lúc tái nhập cảnh trong tháng Mười năm 1970, vì chuyện đó mà tôi đã bị một nhân viên xuất nhập cảnh giam lại trong một phòng cách ly ở sân bay Tân Sơn Nhứt, cho tới khi chiếc máy bay mà tôi bay từ Bangkok tới đó khởi hành quay trở về. Sau một giờ, tôi bị áp tải ra máy bay và bị trục xuất. Qua can thiệp trong yên lặng của đại sứ quán Đức ở Sài Gòn và của Bộ Ngoại giao, biện pháp trừng phạt này chẳng bao lâu sau đó đã bị bãi bỏ.

Cả các cơ quan Mỹ, bất cứ lúc nào có thể, cũng đứng ra bảo vệ các nhà báo bị giới quân sự Nam Việt Nam đe dọa trục xuất hay không cho nhập cảnh. Nhiều lý tưởng đã không được quan tâm tới hay bị làm tổn thương trong cuộc chiến tranh Việt Nam bẩn thỉu. Tự do thông tin và báo chí hầu như không bị động chạm tới. Một giới báo chí làm tròn chức năng của nó, tức là cung cấp thông tin về các sự kiện cho công chúng một cách tốt nhất theo khả năng và lương tâm, kiểm tra và bổ sung các thông tin chính thức, đã có ảnh hưởng lớn tới diễn tiến và kết quả của cuộc chiến tranh này. Vì từ 1960 cho tới 1975 người ta đã có thể quan sát thấy bài học truyền thông chính trị có một không hai này mà hậu quả của nó vẫn còn tác động cho tới ngày hôm nay, nên vai trò của giới báo chí ở Việt Nam xứng đáng có được một sự quan tâm về cơ bản. Trong bài học này, các nhà báo chắc chắn không chỉ đóng một vai trò anh hùng, miễn cho họ được một sự tự phê phán. Họ đã phạm những lỗi lầm của họ, những cái đã lộ rõ ra trong trận tấn công vào dịp Tết [Mậu Thân].

Ra chiến trường

Trong khu quân sự của cảng hàng không Tân Sơn Nhứt ở Sài Gòn có một sảnh đi đặc biệt dành cho những chuyến bay tới các chỗ đóng quân của quân đội. Từ đây, trực thăng bay tới Củ Chi, vào trong “Tam Giác Sắt” nằm ở phía Tây Bắc của Sài Gòn, nơi các đơn vị Việt Cộng đã đào hầm hố đúng theo nghĩa đen và luôn tấn công các tiền đồn Mỹ từ những nơi ẩn náu bí mật. Máy bay vận tải C-123 hai động cơ phục vụ cho các tuyến vào vùng đồng bằng sông Cửu Long, tới Mỹ Tho và Cần Thơ. Những chiếc “Hercules” C-130 bốn động cơ được sử dụng cho tuyến ra phía Bắc. Huế và Đà Nẵng nằm cách đó khoảng một ngàn kilômét.

Sân bay Tân Sơn Nhứt với tòa nhà MACV
Sân bay Tân Sơn Nhứt với tòa nhà MACV

Người sở hữu tấm thẻ báo chí được phép sử dụng dịch vụ chuyên chở của không quân trên thực tế là không có giới hạn. Tuy vậy, chỉ hành lý xách tay cho tới cỡ của một cái túi du lịch to là được chấp nhận. Các phóng viên được đối xử như người của quân đội. Việc thâm nhập vào trong bộ máy quân đội dễ thành công nhất khi nhà báo tìm mua ở chợ đen một bộ quân phục nhiệt đới màu xanh và ăn mặc như những người lính, với tên thêu trên áo khoác, xếp vào hàng của những người đang đứng chờ. Không một ai bị ép buộc phải mặc quân phục. Nhưng sự nhận dạng ở vẻ ngoài với quân đội tạo thuận tiện cho việc tiếp xúc và rút ngắn khoảng cách ở giữa những người lính phải tuân theo mệnh lệnh và các nhà báo tình nguyện ra chiến trường.

Cả trong quân phục, tôi chưa từng bao giờ có cảm giác mình là một người lính. Chiếc máy đánh chữ du lịch ở trên tay khiến cho bất cứ ai cũng biết rõ, rằng viết và mô tả là nhiệm vụ, không phải hoạt động và chiến đấu, chắc chắn là không với vũ khí. Tuy vậy, có không ít phóng viên chiến trường mang theo mình một khẩu súng ngắn, để có thể tự vệ trong trường hợp khẩn cấp. Từ những lý do về nguyên tắc mà tôi cùng với đa số các nhà báo đều không mang vũ khí, chỉ là người quan sát, người tường thuật cho tới cuối cùng và còn không chiến đấu để tự bảo vệ nữa.

Các hàng ghế ngồi, được đan lại bằng dây đay trong các máy bay vận tải quân sự, được đặt dọc chứ không phải ngang theo hướng bay, trong các chiếc “Hercules” là bốn hàng ghế dài, hai hàng có lưng tựa vào vách ngoài, hai ở giữa thân máy bay. Chỉ có một vài cái cửa sổ tròn mang ánh sáng vào bên trong. Tiếng ồn của các động cơ to nhức nhối cho tới mức các hành khách chỉ có thể ra dấu hiệu cho nhau. Họ bị bỏ đó một mình, giảm thiểu xuống chỉ còn tự bản thân mình. Họ có cảm giác thân phận bị trao cho một định mệnh ở trên cao, suy ngẫm về điều đó ở đây, trong chiếc máy bay, trở thành một việc bắt buộc.

Khi người ta viết về chiến tranh, theo một đoạn trong “Người Mỹ trầm lặng” của Green, “thì lòng tự trọng yêu cầu thỉnh thoảng phải chia sẻ rủi ro với những người lính”. Nhà báo có một vé khứ hồi. Điều đó khiến cho họ khác với những người lính, ganh tỵ với những kẻ tới thăm vì sự tự do này và biểu lộ một ác cảm xuất hiện hoàn toàn tự phát từ đó và thỉnh thoảng rất dữ dội. Tất nhiên, người khách không thể bỏ đi hay rút lui trong lúc còn giao tranh mà chỉ sau đó. Khi ông ấy rơi vào trong một chiến dịch thì thật sự là ông chia sẻ rủi ro đó. Ông ấy có lẽ phải chịu đựng sự căng thẳng, các hậu quả tâm lý còn nhiều hơn là những người lính ở bên cạnh ông. Vì người phóng viên chỉ quan sát, ông ta không hành động, không thể dẫn bớt áp lực ở bên trong ra ngoài qua những loạt đạn. Phóng viên chiến tranh phải biết mình tham gia vào việc gì. Cả những người không đi tìm trận chiến cũng phải tính trước với việc ngẫu nhiên rơi vào làn đạn. Chỉ ở ngoài này mới có thể trải qua được hiện thực của chiến tranh. Họp báo trong “Rex” nhiều lắm là chỉ mang lại một cảm giác.

Trong những năm sau đó, nhờ sự giúp đỡ của Không quân Mỹ mà tôi đã làm quen với các tỉnh quan trọng nhất về mặt chiến lược của Nam Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 cho tới đồng bằng sông Cửu Long. Trong những chiếc máy bay vận tải tối tăm, ồn ào, người hành khách không thể nhìn ra ngoài được. Những người lính Mỹ vững thần kinh còn có thể ngủ được cả ở đây nữa. Những người còn lại nghiên cứu diện mạo của người đối diện, chìm vào trong một tâm trạng mà ở trong đó mơ ước về một cuộc sống yên bình trộn lẫn với nỗi sợ bay trong tiềm thức.

Khi tới được các phi trường lớn Phú Bài, Đà Nẵng ở phía Bắc và Mỹ Tho ở phía Nam, người ta được chở đi tiếp tới các đơn vị chiến đấu bằng trực thăng. Trong chuyến bay đầu tiên bằng máy bay trực thăng vào vùng rừng rậm cạnh biên giới Campuchia, tôi đã ghi lại vào lúc đó: “Hai bên của con đường thẳng tắp, con đường mà chúng tôi bay theo nó trên độ cao khoảng 400 mét về hướng Bắc, đã bị làm rụng lá và “nhìn thấu được” bằng hóa chất. Các xạ thủ ở cạnh cửa mở phản ứng lại với mỗi một chuyển động trên mặt đất màu xám chết khô đó của rừng rậm bằng một loạt đạn. Chúng tôi bay qua một ‘free kill area’ mà trong đó tất cả những gì chuyển động đều bị bắn hạ. Cột khói màu trắng bay lên từ ở chân trời, đánh dấu những điểm bắn của pháo binh. Những cái trảng hiếm thấy đều đầy thẹo bằng hố bom. Mặt trời phản chiếu trên mặt nước dơ bẩn màu xám.”

Các phong cảnh khác, trước hết là ở đồng bằng sông Cửu Long, có vẻ như còn nguyên vẹn. Người nông dân làm việc trên những cánh đồng lúa gợn sóng trong màu xanh dịu dàng, Những con trâu kềnh càng giật mạnh chạy tán loạn khi máy bay trực thăng bay ngang qua chúng ở độ cao thấp. Nhìn từ trên cao xuống, người ta có được những trải nghiệm đầy ấn tượng với trật tự hình học của những con kênh đào thẳng tắp, chạy dài cho tới tận chân trời, tưới nước cho vùng đất được chia ra thành những mảnh ruộng hình chữ nhật chính xác và hết sức nhỏ. Gần những căn nhà gỗ hầu như đều đứng cạnh sông, người ta nhận ra được những giếng nước tròn mà bây giờ trong chiến tranh dễ nhìn lầm thành hố bom.

Sĩ quan báo chí của các đơn vị Mỹ, những người tiếp đón các phóng viên được máy bay chở tới, hầu hết đều là những người chủ nhà rộng rãi và sẵn sàng giúp đỡ. Máy bay trực thăng được điều sang hướng khác, để mang phóng viên tới tận nơi của các chiến dịch quân sự. Đại đội ngoài chiến trường bất thình lình thấy mình được tăng cường bởi một nhóm phóng viên truyền hình, quay chiến dịch từ ở phía sau. Các đơn vị chia sẻ hàng tiếp tế của họ một cách hoàn toàn tất nhiên với những người khách ngẫu nhiên tới. Trong rừng rậm cạnh biên giới Campuchia, chiếc máy bay trực thăng mang tới một thùng nước tắm và một thùng hàng khổng lồ với ice cream. Cả giới báo chí cũng hưởng lợi từ việc người ta tiến hành cuộc chiến này với chi tiêu vật chất rất lớn.

Không một ai, những người dám ra chiến trường, có thể hoàn toàn tránh được rủi ro và nguy hiểm. Một loạt nhà báo đã trả giá bằng tính mạng của mình cho sự liều lĩnh bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết. Những người khác đã cư xử với khả năng phán đoán và sự cẩn thận, và tuy vậy cũng đã chết khi đang hành nghề của mình. Thuộc trong số họ là Bernard Fall, một giáo sư từ Pháp nhưng giảng dạy ở Mỹ, người đã nổi tiếng trên thế giới vì những quyển sách xuất sắc của mình về Việt Nam.

Vài ngày sau khi tới Sài Gòn, tôi gặp Bernard Fall trong văn phòng của nhà ngoại giao người Mỹ Bill Steerman. Sử gia và là nhà chính trị học Fall, lúc đó 41 tuổi, thường xuyên sang Việt Nam để điều tra nghiên cứu. Ông không muốn viết về Đông Dương mà không tận mắt nhìn thấy hiện thực của cuộc chiến. Fall không hề che đậy sự mâu thuẫn trong xúc cảm của ông, cũng không che đậy sự căng thẳng tâm lý trong giây phút nguy hiểm. Trong những tình huống đó, ông thừa nhận, luôn có một câu hỏi thúc giục ông: “Mình làm cái quái gì ở đây thế này?”

Fall gây ấn tượng vì sẵn sàng chia sẻ một cách vô tư kiến thức đồ sộ của ômg và trải nghiệm của ông với đồng nghiệp. Ông dành nhiều giờ để giải thích tình hình ở Sài Gòn cho tôi, một kẻ mới tới từ nước Đức. Fall thành công một cách gương mẫu trong việc gắn kết cách làm việc hàn lâm với làm báo. Tính chất sẵn sàng giúp đỡ của ông, hoàn toàn xa lạ với tự phụ và kiêu căng, đã gây ấn tượng sâu đậm cho tôi. Fall đã tạo ra thước đo qua các điều tra nghiên cứu của ông ở ngoài chiến trường và qua các tác phẩm văn học của ông.

Vài ngày sau lần chúng tôi gặp nhau, Fall bay ra Đà Nẵng để nghiên cứu về chiến lược và chiến thuật của lính thủy quân lục chiến. Với một cái máy thâu âm trên tay mà ông dùng để ghi lại các quan sát của mình, ông đã tháp tùng một đội tuần tra ở phía Bắc của Đà Nẵng, tiến hành một chiến dịch search and destroy.

Bernard Fall biết rõ vùng này. Ông đã viết một quyển sách tạo nên tiếng tăm của mình về các chiến dịch quân sự của người Pháp ở “Con đường không vui” giữa Đà Nẵng và Huế, Bây giờ, ông đi cùng với lính marine để nghiên cứu về các khác biệt trong chiến thuật, để kiểm nghiệm lại luận điểm của ông, luận điểm mà đã làm cho ông gần như tuyệt vọng, rằng người Mỹ không có khả năng và không muốn học hỏi kinh nghiệm của người Pháp.

Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, Fall quan sát lính marine khai hỏa bắn vào những người Việt mà ông, từ khoảng cách 1100 mét, không thể nhận ra đó là Việt Cộng được. Ông nói vào máy thâu âm những lời sáu: “Tôi đã quan sát qua ống dòm của trung đội trưởng. Tôi nhìn thấy những người chạy trốn xuống thuyền và vẫy lá cờ của chính phủ (Nam) Việt Nam, với ba vạch đỏ và nền vàng. Tôi sẽ tìm hiểu thêm sau này.” Tiếp theo đó là một khoảng thời gian im lặng trên băng. Rồi tới câu nói cuối cùng: “Bóng bắt đầu dài ra. Chúng tôi đã tới phòng tuyến của chúng tôi sau trận chiến. Ngửi thấy không tốt, có vẻ đáng nghi … có thể bị phục …” Chấm dứt ghi âm. Vào ngày 21 tháng Hai năm 1967, ông đã bị giết chết trong một ổ phục kích, một cái bẫy mìn mà người Mỹ gọi là boody trap.

Đoạn văn từ bài phóng sự cuối cùng của Bernard Fall được vợ ông Dorothy kèm vào quyển sách xuất bản sau khi ông qua đời, “Last Reflections on a War”. Nó được tặng cho trung sĩ Thủy quân Lục chiến Byron G. Highland, “nhà nhiếp ảnh chiến trường, người bạn trong cái chết”.

Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967
Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967

Tổng cộng có hơn 40 nhà báo bị giết chết từ 1965 cho tới 1975 ở Campuchia, Lào và Việt Nam. Một con số cũng không ít hơn được phỏng đoán là chết, vì họ được cho là mất tích, rơi vào tay của một đơn vị quân đội thủ tiêu ngay tức khắc mà không quan tâm tới danh tính của nạn nhân. Số phận này đe dọa nhiều nhất là ở Campuchia, nơi Khmer Đỏ giết chết các đại diện báo chí rơi vào tay họ ngay lập tức.

Rủi ro xuất phát từ việc lãnh thổ của các quân đội đang chiến đấu chống lại nhau không được đánh dấu bởi một đường ranh giới rõ ràng. Một chiến tuyến chỉ có ở nơi các lực lượng đương đầu nhau và bắn nhau. Không có vùng an toàn trong một cuộc chiến tranh du kích. Địch thủ vô hình và có mặt ở mọi lúc, mọi nơi và không có ở bất kỳ nơi nào hết.

Ai thuê một chiếc ô tô ở Phnom Penh hay Sài Gòn và rồi đi ra vùng quê xung quanh, người đó phải chịu một rủi ro là đi qua vùng bị Khmer Đỏ hay Việt Cộng kiểm soát.  An toàn cá nhân của các nhà báo tự đi điều tra chủ yếu phụ thuộc vào tài khéo léo và tính đáng tin cậy của người lái xe bản địa tháp tùng và stringer. Mỗi lần dừng lại, họ hỏi thăm người dân và quân nhân, quân đội của mình đứng ở đâu và vị trí của những người cộng sản được phỏng đoán ở đâu. Từ một số lớn các ý kiến, cuối cùng họ đưa ra một quyết định; tiếp tục chạy thêm một đoạn nữa trên đường này hay quay lại. Khả năng trao đổi ở ven đường để tìm kiếm xem ranh giới vô hình đi ngang qua đâu, cái mà người ta không muốn vượt qua, làm cho người cộng tác viên địa phương trở nên không thể thay thế được, và trao cho người này một vai trò gắn kết ông với các nhà báo người nước ngoài, cả về cá nhân lẫn về tình cảm. Dith Pran, stringer trong phim “The Killing Fields”, là một ví dụ tốt cho tình thương và tình bạn đã lớn lên trong tình huống sống còn giữa một thông tín viên ngoại quốc và cộng tác viên địa phương.

Cả các stringer của [Đài truyền hình nhà nước Đức] ARD ở Phnom Penh, David Ma Chen và Savonn Chea, cũng đã dẫn dắt các đội quay phim của chúng tôi qua cuộc chiến với sự thận trọng và tinh thần trách nhiệm cao độ. Cả hai đã ở lại trong nước năm 1975 khi Khmer Đỏ chiến thắng, vì lúc đó họ đã không thể tưởng tượng được một cuộc sống di cư. Năm 1980, họ đã gửi một bức thư từ trại tỵ nạn cạnh biên giới Thái Lan – Campuchia, cái bắt đầu với dòng chữ: “Dear boss, we are still alive” – “Sếp thân mến, chúng tôi vẫn còn sống”. Năm 1981, tôi đã quay một phim cho [chương trình truyền hình] “Weltspiegel” về lần tái ngộ với David và Savonn, một phim mà không thể nào che dấu được nỗi xúc động tràn ngập trong chúng tôi. [Đài phát thanh và truyền hình Bắc Đức] NDR và Quốc hội [tiểu bang] Hamburg sau đó đã giúp đỡ, hoàn toàn không quan liêu và vượt qua tất cả các quy định và lề lối riêng, để đón hai gia đình Khmer với con cái của họ từ những trại tỵ nạn cạnh biên giới. Sau một khóa học ở Hamburg, cả hai gia đình được phân sang Singapore, nơi đội ngũ cũ lại tụ họp đủ mặt, đội ngũ mà đã từng cùng nhau chia sẻ các rủi ro của công việc tường thuật từ Campuchia.

Ung Kim Seng là stringer của chúng tôi ở Sài Gòn, người mà hỗn hợp ngôn ngữ từ tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng bồi đã làm cho sự thông hiểu trở nên buồn cười nhưng tuy vậy rất chính xác. “You go giáp giáp”, chúng tôi yêu cầu khi thấy cần thiết phải có một cuộc trao đổi với người Việt ở ven đường, để ước lượng tính an toàn cho cuộc hành trình tiếp theo. “Hai”, “người con trai thứ hai”, như ông được tất cả mọi người gọi, luôn tìm được giọng nói thích hợp để lấy thông tin từ những người nông dân hay binh lính. Khi không nhận thấy mối nguy hiểm nào, ông trở về với câu nói ngắn gọn: “No sweat, no tears” – “Không mồ hôi, không nước mắt”. Trong trường hợp nguy cấp, ông gọi to ngắn gọn theo kiểu quân đội: “Beaucoup VC” – “Nhiều Việt Cộng”.

Với một bản năng chắc chắn, ông đã dẫn dắt tất cả các đội ngũ của ARD qua những bãi mìn của cuộc chiến này. Cả ông cũng không muốn bỏ chạy năm 1975. Ngày nay ông sống ở Sài Gòn, già yếu và bệnh tật. Tôi thường tới thăm ông ở đó. Ông biết, rằng ông có thể tin cậy hoàn toàn vào những người bạn từ ARD của mình, như chúng tôi đã tin cậy ông trong chiến tranh. Sau nhiều vấn đề tạm thời với các cơ quan nhà nước cộng sản, ông lại báo cáo một cách khiêm tốn và lạc quan: “No sweat, no tears.”

Phần thưởng của sự sợ hãi

Tôi hoàn toàn không muốn qua mô tả những tình huống khẩn cấp trong nghề nghiệp để gợi lên một tính anh hùng, cái để cho thời gian ở Sài Gòn lóng lánh trong một ánh sáng tôn vinh. Các émotions fortes, những cảm xúc mạnh mà đã thúc đẩy giới trẻ đang trên đường tìm phiêu lưu và nhận thức đi vào trong cuộc chiến, xa lạ đối với tôi. Những trải nghiệm thời niên thiếu của tôi trong giai đoạn cuối của Đệ nhị Thế chiến đã làm cho tôi miễn nhiễm sự lãng mạn hóa chiến tranh.

Thời xưa, tôi đã hoài nghi và không hiểu khi đọc được những đoạn văn đó trong quyển tiểu thuyết “Người Mỹ trầm lặng” của Graham Greene, diễn tả một sự say mê nhất định, một sự hồi hộp đầy thích thú, những cái mà cuộc chiến đã tác động lên nhân vật Fowler. “Nơi không có nguy hiểm thì sẽ không có can đảm” ở một nơi và “cả tình yêu cũng có thể là sản phẩm của một cuộc chiến tích cực”. Nỗi sợ sự buồn tẻ đã khiến cho Greene chơi trò “Roulette Nga” với khẩu súng lục trong thời niên thiếu và tìm sự phiêu lưu mạo hiểm ở những nơi đang có khủng hoảng của chính trường thế giới về sau này. Ông đã nói về “cảm giác một nguồn gây cảm hứng vui vẻ”, cái “mang lại một liều nguy hiểm cho người khách tham quan có một tấm vé khứ hồi”.

Trực thăng UH-1D ở Việt Nam, 1966
Trực thăng UH-1D ở Việt Nam, 1966

Người ta cũng tường thuật về Ernest Hemingway, người đã trải qua mặt trận Ý trong Đệ nhất Thế chiến như là một người lính Mỹ và trải qua cuộc Nội chiến Tây Ban Nha như là phóng viên, rằng tình huống cùng cực của chiến tranh đã mang ông tới một trạng thái cao độ, cool và bình thản như các anh hùng trong truyện tiểu thuyết mà ông đã tạo ra theo chính hình ảnh của mình.

Tôi chưa từng có thể cảm nhận được sự nguy hiểm như là một điều để thưởng thức. Trong khoảnh khắc của nguy hiểm cao độ, bị bắn trên đồng trống hay trong chiếc trực thăng lúc di tản khỏi Sài Gòn trong tháng Tư 1975, khi tên lửa đất đối không của Việt Cộng đã đứng sẵn sàng, có thể bắn hạ các chiếc trực thăng từ trên bầu trời, tôi chỉ cảm nhận được một xúc cảm mạnh, hầu như không thể chịu đựng được: sợ hãi, sợ hãi không kiểm soát được, tới cùng với sự kinh hoàng và giận dữ, rằng không ai bắt buộc tôi phải có mặt ở đây, rằng không một nhận thức nào, không một câu chuyện nào có thể lý giải được cho một thương tích hay cái chết. Ai không sợ hãi trong các tình huống như vậy, theo tôi, thì thiếu sự tưởng tượng, người đó không biết điều gì đang diễn ra trước mình. Trong khoảnh khắc của mối nguy hiểm chết người, các cơ chế điều khiển của lý trí mất đi sức mạnh của chúng. Sự sợ hãi trần trụi, thuần túy, chiếm lĩnh cơ thể.

Mãi trong thời gian của nhiều năm, từ những trải nghiệm như vậy tôi mới nhận ra được các đặc tính của một đơn vị chiến đấu tốt, từng trải: cả trong sự hỗn loạn của những viên đạn pháo đang rơi xuống vẫn giữ vững được tinh thần, vẫn bảo tồn được sự lạnh lùng để không hành động một cách phi lý mà có kế hoạch. Lý trí không phải là yếu tố quyết định, mà là sức mạnh nội tâm, để làm giảm bớt và vượt qua sự hoảng loạn. Chỉ riêng lý trí thì không có khả năng chiến thắng được nỗi sợ hãi gây tê liệt đó.

Như đã nói, không ai bắt buộc tôi phải tới Việt Nam và tường thuật về cuộc chiến. Nghề nghiệp mà tôi tin là mình có khả năng làm được bây giờ yêu cầu tôi rời bỏ những nơi trú ngụ an toàn ở Sài Gòn, để tận mắt làm quen với diễn tiến ở mặt trận. Chỉ ở đó, nơi các quân đội bắn nhau, nơi cỗ máy của cái chết phá hủy hàng loạt làng mạc và phong cảnh, và cũng gây nhiều chết chóc trong người dân thường, thì mới quan sát được cái hiện thực mà phóng viên được gởi tới đây để tường thuật về nó. Trên hàng hiên của khách sạn “Continental”, người ta ít nhận ra được điều gì về cuộc chiến, về sự tàn phá, về các hậu quả đáng sợ cho người dân thường. Hình thức truyền thông truyền hình, kể cả những tường thuật của nhân chứng, cũng không giúp được gì, vì đó là thông tin đã qua trung gian. Chỉ ở ngoài kia tại các đơn vị thì mới có thể quay được những cảnh chiến sự.

Rủi ro của mỗi một cuộc tham quan đều có thể được giảm thiểu và giới hạn. Nhưng diễn tiến thì không thể tính toán trước được, và những “cọ xát”, như Clausewitz gọi những điều không lường trước được và những sự việc ngẫu nhiên của chiến tranh như vậy, có thể tạo nên những tình huống mà phóng viên phải chia sẻ rủi ro cao nhất với đơn vị đang chiến đấu.

Ở Việt Nam có những đội “lính đánh thuê”, giới quay phim liều lĩnh người Đài Loan, Hàn Quốc hay Nam Việt Nam, chuyên về action và bán các hình ảnh của họ cho các “network” Mỹ. Nhưng thông thường thì một đội quay phim ra chiến trường cùng với thông tín viên. Người quay phim không buộc phải chịu nhiều rủi ro hơn là người trưởng nhóm cho rằng có thể  chấp nhận được. Tuy vậy, nhiều đội đã tự nguyện tiếp tục dấn bước, xa hơn là người ta dự định. Các đồng nghiệp quay phim thuộc [đài truyền hình nhà nước] ARD của tôi, trước nhất là Henning Huge đầy nhiệt tình và cẩn trọng, đã xem rủi ro nhẹ hơn là nhiệm vụ quay những cảnh hiện thực và dữ dội của một cuộc chiến bẩn thỉu.

Những trải nghiệm tại các đơn vị nhanh chóng bù trừ cho sự việc, rằng phóng viên không phải là chuyên gia về quân sự, và tuy không nhận được một khóa đào tạo cho thành viên của một bộ tham mưu nhưng vẫn tự tin đi tới một nhận định riêng về diễn tiến và triển vọng của cuộc chiến. Nhìn cho kỹ thì các chiến dịch search and destroy được tiến hành ngày càng rộng lớn hơn, các chiến dịch mà với chúng viên tổng tư lệnh Mỹ, tướng Westmoreland có vẻ cứng nhắc và hết sức giản dị, cố gây tổn thất cho Việt Cộng, chỉ là những thất bại được tô điểm trở thành những thành công trong thống kê của các tuyên bố hàng ngày.

Vào cuối tháng Hai năm 1967, chiến dịch cho tới lúc đó là lớn nhất, “Junction City”, để cho cho 35000 người lính Mỹ và Nam Việt Nam hành quân vào cái được gọi là Chiến khu C ở phía Bắc của Sài Gòn, nằm cạnh biên giới Campuchia, để tiêu diệt các đơn vị Việt Cộng đóng ở đó. Trước đó, các phi đoàn B-52 đã ném bom rải thảm vùng này ba ngày liền. Lần đầu tiên kể từ cuộc Chiến tranh Triều Tiên có nhiều lực lượng lớn nhảy dù xuống phía sau lưng của địch thủ được phỏng đoán, để chận đường chạy trốn sang lãnh thổ Campuchia.

Mặc dù vậy vẫn không có một trận đánh theo lối kinh điển. 35.000 người lính săn lùng một địch thủ không thể tìm thấy. Trong lều chỉ huy của Lữ đoàn 196, chứa tôi như là người khách, các sĩ quan đứng bất lực trước tấm bản đồ lớn. Viên chỉ huy, Đại tá Murroy, đã cho một ngàn người tỏa ra lùng sục trong rừng rậm. Trong diễn tiến của ngày hôm đó, địch thủ đứng ra chiến đấu chống lại có thể đếm được trên đầu ngón của một bàn tay. Lính Mỹ phát hiện rất nhiều công sự và hệ thống đường hầm. Đạn dược và gạo đã bị bỏ lại. Rõ ràng là Việt Cộng đã kịp thời, có lẽ là trước cả đợt tấn công của B-52, dời vào nơi an toàn. Trên thực tế, mỗi một mũi tên trên tấm bản đồ trong căn lều chỉ huy đều đánh dấu một cú đánh vào chốn hư không. Các con số thành công được công bố ở Sài Gòn về địch thủ bị giết chết đứng trong một sự thiếu cân đối lố bịch với hiện thực.

Lính Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 173 nhảy dù trong Chiến dịch Junction City, 1967
Lính Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 173 nhảy dù trong Chiến dịch Junction City, 1967

Ai ở lại với các đơn vị chiến đấu một thời gian, người đó sẽ nhanh chóng nhận ra rằng thống kê bị làm giả mạo và bị thao túng như thế nào. Quân đội Mỹ thật không có khả năng phân biệt được giữa quân lính và người dân thường. Khi khám xét một ngôi làng, thường chỉ gồm vài ngôi nhà gỗ lợp rơm, một cái ao nước và một đống rơm, thì đa số những người trông có vẻ như thường dân đều có thể là du kích quân ngụy trang. Phụ nữ tham gia tích cực vào cuộc chiến, và cả trẻ em cũng không hiếm khi khai hỏa những loại vũ khí giết người để chống lại những kẻ xâm nhập xa lạ.

Thật là dễ dàng và rất hiệu quả cho lập luận, khi lên án lối cư xử tàn bạo của những người lính Mỹ đối với người dân thường Việt Nam. Giới truyền hình công khai của thế giới đã phản ứng một cách kinh hoàng với một action story mà một trung đội trưởng trẻ tuổi đã cho thấy trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, người phóng hỏa đốt các ngôi nhà bằng rơm của một ngôi làng. Trong lúc đó, các đơn vị Mỹ có vẻ như phi nhân đạo và tàn phá hoàn toàn có chủ ý một cộng đồng nông dân dường như là hòa bình và vô hại.

Đối với một người lính nghĩa vụ trẻ tuổi từ Mỹ, người tìm đủ mọi cách để lành lặn vượt qua 365 ngày được đếm một cách chính xác của mình, số ngày mà anh ta phải ở Việt Nam, thì tình huống đó hiện ra trong một ánh sáng hoàn toàn khác. Mỗi một người nông dân mặc quần áo màu đen truyền thống có thể là một người cầm súng chiến đấu, lừa những người lính và tấn công trong một trận phục kích. Phụ nữ và trẻ em cũng mang lại cùng một mối nguy hiểm. Những người cộng sản chiến đấu bí mật sống trong dân thường. Vũ khí của họ đã được dấu đi. Mỗi một ngôi làng Việt Nam trong thực tế là một môi trường nguy hiểm, thù địch, kỳ lạ mà những người lính Mỹ đi tuần tra không có khả năng hiểu thấu được.

Một con hào sâu chia cắt thường dân Việt với quân đội Mỹ, những người mà chỉ huy của họ ra lệnh cho họ phải bảo vệ đất nước này và người dân của nó trước chủ nghĩa cộng sản. Không có phương tiện trao đổi thông tin nào có thể bắc qua con hào đó. Câm lặng, căng thẳng, nội tâm như bị đóng băng, những người lính Mỹ thi hành các mệnh lệnh của họ. Không có người thông dịch, họ không thể giải thích các hành động của họ, và không thể chờ đợi một sự thông hiểu lẫn cộng tác từ những người nông dân. Độc đoán, ra lệnh bằng tiếng Mỹ, họ xua những người dân thường đi trước họ như xua bò. Những người lính Mỹ tin rằng họ đã tìm thấy được sự xác nhận cho tất cả những định kiến mà tiểu thuyết và phim truyện truyền bá từ trước đến nay về người châu Á: xảo quyệt, giả dối, mánh khóe và tàn bạo của một xã hội mà họ không thể đọc và giải mã được các tình cảm và cảm xúc thật sự của nó.

Thật sự là những đội tuần tra của Mỹ thường hay bị phục kích bắn từ những ngôi làng trông có vẻ bình dị và hiền hòa. Khi đồng đội bị cướp đi mạng sống trong một cuộc phục kích thì rồi một bầu không khí hết sức hung hãn bao trùm lên cả đội lính, những người không còn tin vào bất cứ một người dân thường nào nữa và tìm cách trả thù cho cái chết của người bạn. Từ sự giận dữ và lòng lo lắng cho sự an toàn của chính bản thân mình, người ta nổ súng bắn vào bất cứ người nào đang đi lại trên đồng ruộng. Chủng tộc cuối cùng là đặc điểm duy nhất đánh dấu địch thủ. Không có khả năng định hướng trong một đất nước xa lạ mà người ta không hiểu được văn hóa và ngôn ngữ của nó, điều này đã làm cạn kiệt goodwill [ý định tốt] ngây thơ và tình sẵn sàng giúp đỡ của những người lính Mỹ trẻ tuổi. Qua đó, họ đã xác nhận một định kiến thứ hai mà người Việt vốn kiêu ngạo về văn hóa đã có về bản chất của những con người da trắng xâm chiếm này. Trong mắt họ, người Mỹ thô kệch, vụng về, xấu xí và ngu đần.

Cả hai định kiến xác nhận tính bất khả hòa hợp của hai nền văn minh không hiểu và không thể diễn giải nhau. Nông dân Nam Việt Nam, những người đã bảo vệ quyền tự trị làng mạc của họ qua nhiều thế kỷ, để cho những người xâm chiếm da trắng cảm nhận được ác cảm của họ đối với tất cả những gì xa lạ. Khinh thường những con người xa lạ, ác cảm, vâng, căm ghét người Mỹ, điều này cũng mang tính phân biệt chủng tộc không kém gì tính cao ngạo xuất phát từ lòng lo lắng cho sự an toàn cá nhân và từ nhận thức về ưu thế kỹ thuật.

Thời đó chỉ có một ít chuyên gia là có thể hiểu được tình trạng của các mối quan hệ xã hội trong những ngôi làng Việt. Ý kiến của họ không hề được các bộ tham mưu ở Sài Gòn tiếp nhận. Cả các nhà báo cũng không thể tự giải phóng mình ra khỏi các định kiến đó.

Vào năm 1967, thật sự là người nông dân Việt Nam đã giúp đỡ Việt Cộng mà hầu như không cần phải có sự ép buộc, vì các trưởng làng, có bản năng chắc chắn, tin chắc rằng những người cộng sản sẽ thắng cuộc chiến. “Giới nông dân linh động nhất thế giới”, như một nhà quan sát thông minh đã gọi họ như vậy, cố gắng đoán trước được đường hướng của sự phát triển chính trị và chuẩn bị sẵn sàng trước, để đứng cho đúng bên vào lúc kết cuộc. Người dân nhà nông hành động thực tế. Bản năng sinh tồn hết sức mạnh của họ chỉ biết đến một vài nguyên tắc. Tất nhiên, họ thích nhất là được các diễn tiến của thời gian để yên cho và không ép buộc họ phải ủng hộ một bên. Cảm giác về một mối nguy hiểm đang đe dọa là nguyên cớ thúc đẩy họ cộng tác với Việt Cộng. Vì sự sẵn sàng giúp đỡ đã có nên người cộng sản chỉ cần một tổ chức tinh hoa nhỏ là đủ để kiềm chế họ. Đại đa số người dân nhà nông của Nam Việt Nam chịu đựng và che dấu cuộc đấu tranh vũ trang, nhưng chỉ một thiểu số rất nhỏ là tham gia tích cực vào trong đó.

Một tâm trạng về cơ bản như vậy giải thích tại sao các chiến dịch tìm kiếm của đạo quân viễn chinh Mỹ, được một hỏa lực hỗ trợ lớn đi kèm theo, là phản tác dụng. Cỗ máy, máy bay ném bom B-52, đại bác, bom napalm và xe bọc thép chở bộ binh hạng nặng, hoàn toàn không thích hợp để chiến đấu chống một đạo quân hoạt động bí mật được người dân thường che dấu. Người Mỹ dựa càng nhiều vào cỗ máy chiến tranh, vào các khả năng kỹ thuật của họ, giải quyết bất cứ một vấn đề nào và đánh thắng bất cứ một địch thủ nào, dù có là trong rừng rậm của Việt Nam đi chăng nữa, thì họ lại càng ít có cơ hội để chiếm được “trái tim và đầu óc” của người dân Nam Việt Nam. Vì chiến lược do tướng Westmoreland lựa chọn buộc người dân thường phải chịu đựng những thiệt hại nặng nề nhất.

Bức ảnh em gái trẻ với lửa napalm đang cháy rực trên làn da trần trụi đang chạy trốn về hướng ống kính đã trở thành một hình tượng cho cuộc chiến tranh này. Chỉ những ai quan sát hiện thực ở ngoài chiến trường thì mới có được một sự tưởng tượng về quy mô của sự đau khổ và tàn phá mà người dân thường của đất nước này phải chịu đựng.

Xác chết của những người đàn ông được thống kê ghi nhận là Việt Cộng. Con số phụ nữ và trẻ em bị giết chết, hẳn là còn lớn hơn nữa, bị ỉm đi. Phần đáng sợ nhất của cuộc chiến hoàn toàn không xuất hiện trong các thông cáo hàng ngày của giới quân đội ở Sài Gòn. Mô tả nó, để cho giới công chúng thế giới nhận thức được, đó là một nhiệm vụ của báo chí, một nhiệm vụ mà họ đã thực hiện hoàn toàn không đầy đủ. Đặc biệt giới truyền thông Mỹ sau này đã bị lên án rất đúng, rằng họ đã tường thuật hết sức thiên vị chủng tộc, trước hết là về vai trò và số phận của quân đội của họ, hết sức ít ỏi về các nạn nhân của người miền Nam Việt Nam hay về những hậu quả cho người dân thường,

Nói chung, chỉ khi có quân đội của quốc gia họ tham gia thì cuộc chiến này mới có một giá trị tường thuật cao đối với các giới truyền thông Mỹ. Cũng không thể chờ đợi một định giá tin tức nào khác từ một giới báo chí phải tự khẳng định mình trên thị trường.

Có chưa tới một tá thông tín viên Mỹ hoạt động chính thức ở Sài Gòn trước lần đổ bộ đầu tiên của bộ binh Mỹ trong tháng Ba 1965 ở bãi cát trắng Đà Nẵng, nơi 80 năm trước đó những người lính Pháp đầu tiên cũng bước lên đất liền để thiết lập thuộc địa ở Đông Dương. Cùng với con số lính Mỹ, con số các đại diện truyền thông cũng tăng lên ở Nam Việt Nam. Trong thời gian của trận tấn công vào dịp Tết [Mậu Thân] là hàng trăm người, những người phần lớn là làm thỏa mãn sự quan tâm của một giới công chúng ở quê hương bằng các tường thuật về boys của họ. Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam năm 1973, đại diện báo chí Mỹ teo trở lại thành một nhóm nhỏ bao gồm khoảng 30 người.

Sau cái được gọi là Hòa bình Paris năm 1973, giảm sút sự quan tâm tới tin tức từ Đông Dương cũng đã có tác động trực tiếp tới công việc của chúng tôi. Kể từ đó, giá trị của cuộc chiến đã giảm bớt. Thêm vào đấy, vụ Watergate cũng đã hướng tầm nhìn tới sự đau khổ liên tục của các dân tộc Đông Dương sang nơi khác.

Thế nào đi chăng nữa thì đó không phải là lỗi của các sĩ quan báo chí Mỹ, khi nạn nhân là người dân thường được ghi nhận một cách không đầy đủ. Họ không cản trở công việc tường thuật, ngay cả khi người ta liên tục nhắc nhở các phóng viên, rằng nạn nhân do vũ khí Mỹ gây ra trong số thường dân là không cố ý. Họ là hiệu ứng phụ của một chiến lược đã tự mình đưa ra nhiều giới hạn to lớn, nhằm chỉ đánh trúng những người chiến đấu nhưng khoan dung cho người dân thường.

Thật sự là không thể hoài nghi ý định tốt của quân đội Mỹ được. “Tính tự động của cỗ máy chiến tranh đã được khởi động”, tôi đã ghi chú như vậy vào thời đó, “dường như đã đưa ra tốc độ cho các nhà chiến lược. Cuộc chiến lâm vào trong một vòng xoáy, nơi tự nó đã nuôi sống lấy nó.”

Body count: Trò trình diễn xác chết khủng khiếp

Sau mỗi một “chạm trán với địch thủ”, theo cách diễn đạt của quân đội, khu đất đó được lùng sục, để xác định con số địch thủ bị giết chết. Khác với trong Đệ nhị Thế chiến, khi giới công khai Mỹ có một hình ảnh rõ ràng và tương đối xấu về địch thủ người Đức và Nhật, Việt Cộng không bị tuyên truyền làm biến dạng. Họ không tạo nên một sự căm thù thật sự. Họ “vô danh”, xa lạ và khó hiểu.

Sau trận đánh Đồi 875, Dak To.
Sau trận đánh Đồi 875, Dak To.

Máy tính Mỹ tính toán với những con số. Hàng tháng, theo thống kê của các bộ tham mưu ở Sài Gòn, có một con số chính xác Việt Cộng bị giết chết. Khi người ta có thể đánh giá sức mạnh của quân đội địch thủ bằng số lượng, thì nhờ vào việc body count, đếm xác chết, mà diễn tiến của cuộc chiến cũng có thể được xác định bằng số lượng. Việt Cộng vô danh tự giới thiệu mình qua hai con số: con số của những người sống, cái giảm xuống từ tháng này qua tháng khác; con số của những người đã hy sinh, cái liên tục tăng lên. Cái ngày đó không thể nào mà còn xa xôi nữa, những nhà làm xiếc với các con số ở Lầu Năm Góc tin là như thế, cái ngày mà địch thủ sẽ bị tiêu diệt. Cỗ máy chiến tranh hùng mạnh của Mỹ rồi sẽ đạt tới mục tiêu của nó.

Để xác định con số Việt Cộng chết, các chỉ huy thường để cho tập trung xác chết lại. Qua đó, người ta đưa ra cho các đội quay phim một hình ảnh gây nhiều ấn tượng về thành công thật sự của một chiến dịch.

Nhiều cảnh kinh tởm đã được quay trong lúc đó. Lính Mỹ với điếu thuốc lá trên môi đứng cạnh các xác chết như những người đi săn thú, còn không muốn từ bỏ việc giơ một chân đặt lên ngực của địch thủ đã bị giết chết nữa. Xe tăng dùng dây kéo lê xác chết theo sau.

Những nhà nhiếp ảnh và quay phim đã thâu lại các hành động xúc phạm xác chết quá lố đó và đưa ra giới công khai. Nhưng cả việc body count đơn giản, trình diễn để chứng minh cho thành công về quân sự, cũng mang lại một hình ảnh đáng sợ, ghê tởm, kinh khiếp.

Lính Việt Cộng bôi đen mặt lúc tấn công vào ban đêm Tất cả đều mặc loại vải màu đen của những người nông dân. Nhiều người chân trần nằm đó. Người ta đã tìm thấy họ như vậy, hay là người ta đã tháo giày của họ ra. Giày thông thường là những đôi xăng đan Hồ Chí Minh được làm từ lốp xe ô tô. Chiến binh mang giày được cho là “chính quy”, không phải là những người làm lính trong thời gian rảnh rỗi.

Không phải sự què cụt do những loại vũ khí giết người gây ra kích động trí tưởng tượng của người xem, mà là nét mặt của những con người thường là rất trẻ này. Với những loại vũ khí hạng nhẹ, họ đã xung phong chống lại cỗ máy phun lửa của nước Mỹ cường quốc thế giới. Họ cũng được cả những người lính Mỹ công nhận là hết sức cam đảm và coi thường cái chết, những người mà đã dùng những cái tên gọi mang tính phân biệt chủng tộc gook hay dink để gọi họ, nhưng mặc dù vậy vẫn không phủ nhận lòng tôn trọng tinh thần chiến đấu đó.

Điều gì thúc đẩy lực lượng quân đội này can đảm tấn công tới như vậy, bò qua những hàng rào dây kẽm gai trong đêm tối, băng qua những bãi mìn và lao thân mình chống lại cỗ máy của cái chết? Để tìm ra được nó, người ta phải lục soát quần áo của các xác chết. Sổ ghi chép, thư từ, những vật kỷ niệm cá nhân để cho người ta suy đoán tâm trạng của một quân đội mà tính anh hùng của họ dường như là vô nhân đạo. Dù nhiệm vụ có khủng khiếp cho tới đâu, nó phải được hoàn thành, nếu như người ta muốn có được những lời giải thích cho điều, rằng Việt Cộng, như sau này trong trận An Lộc 1972, đã tự nguyện xích mình vào vũ khí để không thể chạy trốn được, và rằng rất nhiều người quấn đầy bông băng và với những vết thương nặng đã chiến đấu cho tới giây phút cuối cùng, khinh thường cái chết theo đúng nghĩa đen của nó.

Ngay từ thời đó, qua những tài liệu thu được, các bộ tham mưu Mỹ ở Sài Gòn đã biết rõ sức mạnh về tâm lý và tính chịu đựng cao của đối thủ cộng sản. Những người lính, xuất phát từ miền Bắc, ở hàng năm trời trong rừng, không có phép và không có thời gian nghỉ dưỡng. Tin tức từ quê nhà hiếm khi tới được với họ. Chia cắt với gia đình là việc mà tất cả họ đều phải chịu đựng nhiều nhất.

Họ cũng biết rằng họ sẽ bị giới lãnh đạo quân sự của họ hy sinh một cách vô lương tâm, nếu như những người này cho rằng việc đó là cần thiết. Người chiến thắng Điện Biên Phủ, Tướng Võ Nguyên Giáp, đã nổi tiếng là hy sinh trung đoàn giống như đại đội và cũng chấp nhận cả tổn thất 50 phần trăm. “Trên Trái Đất này mỗi phút có hàng trăm ngàn người chết”, ông đã khinh thường nói với nữ nhà báo người Ý Oriana Fallaci như vậy. “Sống và chết không có nghĩa lý gì.”

Lâm vào tình trạng đáng sợ nhất là những người bị thương nặng. Các bệnh viện dã chiến, bị quân đội Sài Gòn và Mỹ phát hiện, để cho phỏng đoán rằng người ta đã tiến hành những ca mổ với phương tiện rất đơn giản và thường không có thuốc gây mê, rằng những người bị thương nặng hầu như không có cơ hội để sống sót. Những người đã hy sinh được chôn lấp. Mồ chôn không được làm dấu hiệu.

Douglas Pike, chuyên gia CIA về khai thác các tư liệu lấy được từ Việt Cộng, đã phác họa một hình ảnh từ những quyển nhật ký và thư từ, bộc lộ một “sự pha trộn của linh mục, công an và bài xã luận”. Đấu tranh là khái niệm được Đảng sử dụng cho nhiệm vụ đặt ra. Từ “đấu tranh”, theo Pike, không mang lại một tưởng tượng đầy đủ cho tính bao quát của ý tưởng nằm ở trong đó.  Đấu tranh định nghĩa quan điểm, tư tưởng và đạo đức. Đạo đức cao của quân đội này đáng chú ý hơn là sự thấm nhuần về ý thức hệ của họ. “Vì anh ta có đạo đức”, Pike phán xét, “nên người theo Mặt trận Giải phóng vượt trội hơn đối thủ của anh ta, và vì vậy là anh ta cũng thắng thế về chính trị và quân sự.”

Mang vẻ lãng mạn, đa cảm và có đạo đức là tác giả của những quyển nhật ký nhỏ, rõ ràng là được lén lút ghi chép, những quyển nhật ký mà người ta tìm được từ những chiếc áo nông dân màu đen. Qua lý tưởng của họ và tính sẵn sàng hy sinh của họ, lính Việt Cộng có một lực hấp dẫn mạnh lên giới trẻ ở Mỹ, và đặc biệt là lên thế hệ [chống đối] của năm sáu mươi tám ở Tây Âu. Chiến đấu trong rừng rậm Việt Nam, nhiều sinh viên nghĩ như thế, là những người đàn ông trẻ tuổi, những người không chỉ vì quyền được thống nhất và nền độc lập quốc gia của họ, mà còn chống lại tất cả những điều xấu xa nhất của loài người: chống lại quyền bá chủ của một cường quốc thế giới, đàn áp Thế giới thứ Ba, chống lại bất công, tước quyền và tham nhũng bởi chủ nghĩa tư bản Phương Tây.

Tại cái được gọi là body count, giới báo chí ở Nam Việt Nam có cơ hội dữ dội nhất để tìm hiểu phía bên kia. Máy quay của các đội quay phim truyền hình đã cung cấp những hình ảnh ghê rợn, kinh tởm từ những mảnh thịt đầy máu me được xếp thành hàng để người ta tham quan, những hình ảnh cũng thường xuyên được đưa ra thử thách khán giả truyền hình. Việc những người chết và bị thương của phe địch được đưa ra cho xem không phải là một đặc quyền mới của phóng viên chiến tranh, ngay cả khi hiện thực tàn bạo mà các chiếc máy quay phim dùng nó để mang những xác chết đầy máu lên màn hình đã đi rất xa khỏi ranh giới của sự hổ thẹn trong những cuộc chiến tranh trước đây. Mới và thái quá là sự tự do được chụp ảnh và quay phim các nạn nhân của bên ta. Lần đầu tiên trong lịch sử báo chí hiện đại, toàn bộ hiện thực của một cuộc chiến bước vào trong hình ảnh: không bị kiểm duyệt và không bị làm sai lệch.

Từ Đệ nhất Thế Chiến và từ khi truyền thông đại chúng thành hình, các nhà báo chưa từng bao giờ có thể tường thuật về một cuộc chiến mà không bị cản trở. Tổn thất của bên ta là điều không được phép nói đến. Chỉ nạn nhân của phía bên kia là được phép chính xác hóa. Từ ngữ và hình ảnh phải được một người kiểm duyệt quân đội xem xét và cho phép. Giới quân đội cuối cùng quyết định hình ảnh nào từ cuộc chiến được truyền về quê hương. Cho tới thời điểm đó, các chính phủ và bộ tham mưu ở khắp nơi trên thế giới tin rằng một tường thuật không qua gạn lọc sẽ gây hại tới tinh thần chiến đấu của quân đội mình và ý chí kháng cự của quốc gia nói chung. Ngay tới trong Chiến tranh Triều Tiên, 1950 đến 1953, báo chí vẫn còn bị kiểm duyệt.

Một thử thách quan trọng và mang lại nhiều hậu quả cho các quan hệ giữa một giới báo chí tự do, không bị kiểm duyệt, và giới quân đội ở Sài Gòn bắt đầu vào cuối 1967 tại pháo đài Khe Sanh trên núi, cái mà Tướng Westmoreland đã xây mở rộng thành đầu cầu để từ đây tiến quân sang Lào, nhằm ngăn chận Đường mòn Hồ Chí Minh.

Nằm cách vĩ tuyến 17 chừng 30 kilômét về phía Nam cạnh bờ biển là thành phố cảng Đông Hà. Bắt đầu ở đó là liên kết Đông-Tây, con đường 9 nhỏ, nhưng quan trọng về chiến lược, chạy quanh co qua một vùng đồi núi trung du, chỉ có người Thượng, các bộ tộc trên núi, sống rải rác. Ngay trước biên giới Lào, con đường này chạy đến Khe Sanh, nơi mà người dân thường cho rằng không đáng để làm gì nhưng quân đội Pháp thì đã trang bị cho nó một phi trường do có vị trí lộ liễu dễ bị tấn công. Từ Khe Sanh, con đường 9 dẫn sang Lào, qua huyện lỵ Tchepone tới Savannakhet, nơi nó gặp con đường chính dẫn tới Vientiane ở phía Bắc, vẫn còn quan trọng cho tới ngày nay.

Tướng Westmoreland không được Tổng thống Lyndon B. Johnson cho phép mở rộng cuộc chiến sang Campuchia và Lào. Như là một sự đền bù cho các chiến dịch xuyên biên giới trên mặt đất không được ưa chuộng từ những lý do về chính trị, bộ tham mưu ở Sài Gòn muốn xây mở rộng Khe Sanh nằm gần biên giới trở thành một pháo đài, cái có thể khiến cho địch thủ phải lộ diện và chiến đấu trong những đội hình lớn hơn là cho tới nay. Vì Việt Cộng phần lớn đều tránh né các chiến dịch tìm kiếm lớn. Tại một vài “trận đánh” ít ỏi cho tới nay chỉ có cấp tiểu đoàn tham dự, nhưng không có các đơn vị lớn hơn. Cỗ máy chiến tranh của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ chờ một mục tiêu “hợp lý về quân sự và đáng công về chiến lược”, như Westmoreland diễn đạt trong hồi ký của ông. Khe Sanh cần phải là con mồi để dụ lực lượng chính của đối phương vào bẫy.

Giữa 1967, cuộc xây dựng mở rộng ngôi làng trên núi bắt đầu. 2500 lính cổ da và một con số lớn gần bằng như thế của lính tinh nhuệ Nam Việt Nam đào hầm hố ở Khe Sanh. Pháo hạng nặng lăn qua đường 9 vào pháo đài. Đường băng cũ của Pháp được xây mở rộng bằng thép tấm để cho máy bay vận tải có thể hạ cánh, nhằm tiếp tế bằng đường không trong trường hợp khẩn cấp cho quân lính trú đóng.

Bộ tham mưu ở Sài Gòn rõ ràng là chỉ hỏi máy tính và các sĩ quan tiếp tế, nhưng lại bỏ qua không nghiên cứu kinh nghiệm của Pháp ở pháo đài Điện Biên Phủ. Nước Pháp trong tháng Tư 1945 không có đủ phương tiện kỹ thuật để chống lại những người bao vây ở đó. Đạo quân viễn chinh hùng cường của Mỹ, với một lực lượng không quân chưa từng có trong lịch sử chiến tranh cho tới nay, ngược lại sẽ chống cự lại được với bất kỳ một cuộc tấn công nào, những người lập kế hoạch tin là như vậy. Lời nhắc tới Điện Biên Phủ được họ cảm nhận như là một việc gây phiền nhiễu, thật sự cũng là một lời xúc phạm.

Trong tháng Mười Hai 1967, lính marines ở Khe Sanh phát hiện bốn sư đoàn Bắc Việt bắt đầu bao vây pháo đài. Vào ngày 21 tháng Giêng 1968, pháo binh Việt Cộng khai hỏa và sẽ không ngưng năm tháng liền. Vào ngày 5 tháng Hai, xe tăng Bắc Việt kiểu PT-76 của Xô viết tràn ngập tiền đồn Lang Vei. Lần đầu tiên, địch quân đã tung ra xe tăng ở Nam Việt Nam.

Mặc cho rủi ro cao và khả năng vận tải có hạn, không quân Mỹ đã chở giới báo chí quốc tế từ căn cứ Phú Bài nằm ở phía Nam của Huế tới Khe Sanh. Đường 9 đã bị chận. Pháo đài được tiếp tế mọi thứ cần thiết bằng đường hàng không. Đường băng bị nã pháo liên tục. Phần lớn những chiếc máy bay vận tải để cho những kiện hàng trượt ra ngoài cửa sau ở độ cao thấp để có thể tăng tốc ngay lập tức và bay trở về Phú Bài. Những chiếc khác chỉ dừng lại trên đường băng vài phút với động cơ vẫn hoạt động, để hành khách bước ra ngoài và nhận những người bị thương nằm trên cáng, cả những xác chết được bọc trong túi nhựa của các marines đã hy sinh. Mây thấp trong tháng Giêng. Trời mưa nhiều. Nhiệt độ giảm xuống dưới 10 độ. Khe Sanh bị liên tục bắn phá nặng nề, bị đột kích và dồn ép bởi những chiến dịch tấn công chống lại vòng ngoài bằng hàng rào dây kẽm gai kiên cố và những bãi mìn, là một nơi không khác gì địa ngục mà cả dân chuyên nghiệp cũng làm quen với nỗi sợ hãi ở đó.

Sự cộng tác của các sĩ quan báo chí cũng vượt qua được thử thách cả trong trường hợp ngoại lệ về quân sự. Lực lượng quân đội chia sẻ nơi trú ẩn của họ với nhà báo và phóng viên ảnh, những người bây giờ hướng hoàn toàn tới sự gian khổ và hy sinh của phe mình và tường thuật không thương xót về những gì mà họ quan sát thấy và trải qua ở trong pháo đài Khe Sanh đang dùng mọi sức lực để bảo vệ chống lại các sư đoàn Bắc Việt đang tấn công.

Ngày cũng như đêm đều có thể nhìn thấy màn pháo hoa lớn mà không quân Mỹ trình diễn ở trên các vị trí của địch thủ. Chiến dịch “Niagara” đổ chất nổ như một thác nước xuống các sư đoàn Bắc Việt. Mặt đất rung chuyển. Dường như đã đến ngày tận thế, khi các đội hình B-52 từ trên cao thả những tấm thảm bom của chúng xuống cách vị trí của quân ta chưa đầy 200 mét. Thật khó mà dùng từ ngữ để mô tả lại sự hỗn loạn kinh hoàng do những quả bom gây ra, để làm cho người khác có thể hiểu được sự hoảng loạn nội tâm mà ai ở gần đó cũng đều bị mắc phải. Trên một vùng không quá chật hẹp có lẽ là 50 kilômét vuông, không quân Mỹ trong vòng chín tuần đã ném khoảng 75.000 tấn chất nổ. Trước đó, không một nơi nào trên thế giới đã bị bỏ bom với cường độ như bây giờ ở vùng ngoại vi của Khe Sanh.

Máy ảnh không chụp được những người tấn công trước các hàng dây kẽm gai. Qua ống dòm, đôi lúc có nhận ra được những xác chết nằm giữa hai trận tuyến và chỉ được mang đi vào lúc đêm. Action mà các phóng viên ở Khe Sanh trải qua hướng về bên trong, về những người Mỹ trấn thủ. Những người lính cổ da cũng nằm dưới làn đạn pháo như người Bắc Việt đang vây hãm. Những cảnh chiến trường mà máy ảnh chụp được thể hiện tính anh hùng, nhưng cũng cả nỗi sợ hãi và sự tuyệt vọng của một lực lượng đang chống lại số phận, chống lại nguy cơ bị các sư đoàn của Võ Nguyên Giáp tràn ngập như lực lượng quân đội ở Điện Biên Phủ.

Trong lòng chảo Khe Sanh, nhiếp ảnh gia và những người quay phim đã ghi lại được một vài hình ảnh gây xúc động nhiều nhất và đáng sợ nhất của quân đội Mỹ. Bốn người lính trẻ tuổi, lấm bùn và kiệt sức, mang dưới làn đạn bắn phá một đồng đội bị thương nặng đến nơi an toàn, chiếc đầu trần của người này lắc lư tự do trong nhịp của những người đang chạy. Họ há miệng ra, những người lính đang chạy dưới sự căng thẳng đó. Họ hét to, phản ứng chống lại sự sợ hãi của mình. Ánh mắt phản ánh sự kinh hoàng trong khoảng khắc.

Một marine bị thương nặng nằm trên mặt đất lầy lội, mặt và tóc đầy bùn, quần bị cắt đứt cho tới gối, để có thể băng bó cho đôi chân; với bàn tay của cánh tay trái dang ra xa, anh tìm chỗ dựa ở một cái cọc gỗ ngắn: có thể là khoảnh khắc cuối cùng, trước khi nhận thức biến mất và màn đêm ập tới.

Khe Sanh
Khe Sanh

Trước đây, những hình ảnh tư liệu như vậy chưa từng bao giờ được cho phép và được công bố trong lúc còn chiến tranh. Trong Đệ nhất Thế chiến, sở hữu một cái máy chụp ảnh là một việc phạm pháp sẽ bị xử bắn. Những hình ảnh chiến trường được các nhiếp ảnh gia quân đội chụp vào thời đó đều bị giám sát chặt chẽ và đều thể hiện chủ yếu chiến thắng, tính anh hùng, những gương mặt sáng ngời lạc quan hay là những “toàn cảnh” mà người xem có thể cảm nhận được trận chiến nhưng không có tiểu tiết và che dấu sự kinh hoàng. Khi có thể nhận ra được nạn nhân, thì đó là của đối phương. Không được phép nói về sự khốn khổ và tổn thất của quân đội mình. Điều gì là bản chất của chiến tranh, của bầu không khí một trận chiến đấu sống còn?

Cho tới lức đó, giới báo chí chưa từng bao giờ được phép đi tìm những câu trả lời thật sự, gần với hiện thực cho câu hỏi này. Kiểm duyệt đã loại ra tất cả các thông tin có thể để cho người ta nhìn thấy được cảnh chém giết, mồ hôi và máu. Hết thảy những bài tường thuật đều trừu tượng, vô trùng, giống như những lời diễn tả mang tính khoa học phổ thông về các ca mổ, đã chừa ra cho người đọc hoàn cảnh đầy máu mà người ta đã tiến hành mổ trong lúc đó.

Tiến rất gần tới hiện thực của chiến tranh là các tác giả tiểu thuyết, những người như Ernst Jünger, Arnold Zweig, Erich-Maria Remarque, Theodor Plivier hay Ernest Hemingway và Norman Mailer đã dùng sức mạnh của diễn đạt văn học để mô tả lại sự sợ hãi, sự tàn bạo và khốn khó của những người lính đang chiến đấu. Nhưng những quyển tiểu thuyết như vậy chỉ được xuất bản nhiều năm sau sự kiện. Chúng chứa đựng một sự thật theo một ý nghĩa cao hơn. Các mô tả được lấy ra từ hiện thực, nhưng đã được nâng lên cao qua sáng tạo nghệ thuật và giao phó cho sự tưởng tượng của người đọc. Mặc dù vậy, giới tướng lĩnh trong  tất cả các nước đã đúng khi phàn nàn về tác động của văn học chiến tranh lên ý chí kháng cự của quốc gia, Nếu như các dân tộc châu Âu đã có thể trải qua, trông thấy được hiện thực của các trận đánh trong Đệ nhất Thế chiến, nếu như họ chỉ có được một hình dung, rằng những cái tên Ypern hay Verdun thật sự có ý nghĩa gì, thì sự tàn sát hàng triệu con người trẻ tuổi đã tìm thấy được một kết thúc, hậu phương đã có thể ngăn chận được những vụ tàn sát tiếp theo sau đó.

Tương tự như vậy là những điều kiện trong Đệ nhị Thế chiến. Nếu như người dân Mỹ biết được con số máy bay của mình bị bắn rơi trong cuộc chiến tranh bỏ bom chống nước Đức thì chiến dịch đó đã bị ngưng lại, vì giới công khai sẽ không thể chịu đựng được cái giá phải trả gắn liền với việc đó. Cả các tổn thất của Hoa Kỳ trong chiến dịch Ardenes cuối 1944, cái mà ở Mỹ người ta gọi là “the battle of the bulge”, hẳn cũng sẽ làm chấn động đất nước và có thể sẽ gây nguy hiểm tới quyết tâm của họ. Sự thật về diễn tiến của cuộc chiến vì vậy đã bị đè nén xuống, ít nhất thì cũng đã bị thao túng.

Trong chiến tranh, thủ tướng Anh Winston Churchill tuyên bố, sự thật quý giá cho tới mức “nó lúc nào cũng phải được canh giữ bằng một đội vệ sĩ của dối trá”. Chỉ ở Việt Nam là giới báo chí được tự do mô tả sự thật của cuộc chiến. Cộng thêm vào số thông tín viên báo chí và nhiếp ảnh gia, lần đầu tiên với một tác động gần như là cơ bản, là các đội quay phim truyền hình, những người với những cuốn phim màu của họ đã quay những cảnh action, những sự căng thẳng và hoảng loạn, cơn mưa bom đạn của cỗ máy chiến tranh, nhưng cũng cả số phận của con người, sự đau đớn và cái chết của các boys của họ, và đã gửi những hình ảnh đó về các ban biên tập ở quê nhà mà không cần phải qua kiểm duyệt, những ban biên tập mà rồi sẽ cho chiếu các phóng sự về chiến tranh đó cho người xem vào buổi tối, lúc sáng sớm, không hiếm khi vào giờ ăn.

Khe Sanh, nơi lực lượng Mỹ và Nam Việt có nguy cơ bị tiêu diệt hay bị tràn ngập, đã mang lại cho công chúng thế giới những tư liệu hình ảnh hết sức bi kịch và đáng sợ, không chừa ra điều gì cho khán giả ở trong rạp chiếu bóng tại quê nhà. Tất nhiên, để thể hiện toàn bộ hiện thực của tình cảnh một lực lượng đang chiến đấu và chịu đựng gian khổ thì những hình ảnh chiến đấu từ Khe Sanh là không hoàn hảo và không hoàn toàn. Mặc dù vậy, chiến tranh chưa từng bao giờ được mô tả thật hơn là ở đây. Nhiều hình ảnh và đoạn phim truyền hình khiến cho người ta nhớ tới phim Hollywood. Nhưng chúng không phải phim chiếu ở rạp, được quay trước những hậu cảnh tốn kém, mà là hình ảnh của một hiện thực nguy hiểm, đáng sợ. Và khác với việc sản xuất phim, ở Khe Sanh người ta cần phải có lòng dũng cảm và thần kinh thép, để ở lại đó với chiếc máy quay, khi những viên đạn pháo và đạn súng cối rơi xuống pháo đài.

Neil Davids, một người Úc ít nói từ Tasmania, thời đó làm việc cho thông tấn xã Visnews, thuộc vào trong số các phóng viên ảnh dũng cảm mà nhờ họ giới công khai mới có được một số hình ảnh chiến tranh gây ấn tượng nhiều nhất. Ông là đội một người, chỉ chịu trách nhiệm cho bản thân, bình tĩnh, có thần kinh như thép và có nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh, như chỉ một cựu chiến binh của nhiều trận chiến mới có thể là. Ông đã vượt qua được rất nhiều hiểm nguy. Cuối cùng, trong tháng Tư 1975, Neil Davis là người duy nhất với một cái máy quay phim đã đứng trước dinh tổng thống ở Sài Gòn, khi xe tăng Bắc Việt đè bẹp cánh cổng sắt to lớn và những người lính đi kèm xung phong vào cửa chính, để treo lá cờ Việt Cộng lên ở tầng một trên bức tường ở mặt tiền.

Mười năm sau đó, tại một cuộc “đảo chính sân khấu” trong tháng Chín 1985 ở Bangkok, Neil Davids đã bị bắn chết; từ bàn tay của một người lính Thái ngờ nghệch hốt hoảng, đã hoảng loạn lên khi nhìn thấy cái máy quay phim. Điều này không có nghĩa là hạ thấp thành tích của những người khác, đặc biệt là đội ngũ quay phim của chính mình, khi người ta nhấn mạnh tới một Neil Davis lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ, tin dị đoan, mang tính tự phê phán cao và khiêm tốn như là một người đã đi qua những rủi ro cao nhất nhiều năm trời, để quay cuộc chiến gần hiện thực và nhiều sự thật như có thể.

Bóng ma Điện Biên Phủ

Tình hình đe dọa lực lượng ở Khe Sanh. Mặc cho chiến dịch “Niagara” ở trên không, những cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt không giảm xuống. Những nhà báo sống và cùng chịu đựng gian khổ với quân lính trong pháo đài ở trên núi này chẳng bao lâu sau đó cảm nhận được sự hoài nghi trong thâm tâm và những nỗi lo lắng của giới chỉ huy quân sự, những người cũng nhận thức được sức mạnh của họ, nhưng không hiểu rõ các ý đồ của đối phương.

Nếu như các vị tướng Mỹ cảm nhận sự so sánh với pháo đài Điện Biên Phủ của người Pháp như là một điều gây khó chịu thì giới báo chí, những người có thể tiếp cận được với tài liệu lịch sử ở Sài Gòn, lại nghiên cứu các quyển sách quân sự kinh điển phân tích về trận đánh quyết định ở Điện Biện Phủ trước đó đúng 14 năm. Những quyển sách của Jules Roy và Bernard Fall gây cảm hứng cho cuộc thảo luận của các nhà báo, những người phát hiện ngày càng nhiều sự tương đồng giữa Điện Biên Phủ và Khe Sanh.

Không quân Hoa Kỳ tạo một tấm màn chắn bằng mảnh bom và chất nổ chỉ cách vòng ngoài của Khe Sanh khoảng 200 feet. Khe Sanh, tháng Ba 1968
Không quân Hoa Kỳ tạo một tấm màn chắn bằng mảnh bom và chất nổ chỉ cách vòng ngoài của Khe Sanh khoảng 200 feet. Khe Sanh, tháng Ba 1968

Ở đây cũng như ở kia, địa thế có nhiều đồi núi, nằm nơi xa vắng, bất lợi cho xe tăng và thiết bị vận tải đường bộ. Thời đó cũng như ngày nay, người Bắc Việt phản ứng, không chủ động. Các nhà chiến lược người Pháp và người Mỹ, mặc dù không lâm vào tình trạng khó khăn nhưng đã quyết định xây dựng và củng cố một tiền đồn mà giá trị quân sự của nó hết sức đáng khả nghi. Ở Điện Biên Phủ, những quyển sách của Roy và Fall chứng minh cho điều đó, các tiên đoán tự tin của giới chỉ huy quân đội Pháp đã sụp đổ chỉ vài giờ sau khi đối phương bắt đầu xung phong tấn công. Viên chỉ huy pháo binh đã hứa sẽ làm câm lặng bất cứ lần bắn phá nào của người Việt trong thời hạn ngắn nhất. Đại tá Piroth đã tự kết liễu cuộc đời của mình ngay trong đêm mà các loạt đạn đại bác rơi xuống pháo đài.

Đội ngũ sĩ quan của nhiều quân đội chắc chỉ còn bao gồm một nhóm nhỏ, nếu như tất cả các chỉ huy đều cảm thấy phải đền bù lại cho sai lầm của họ bằng cái chết, nhằm giữ được danh dự. Quân đội Mỹ chưa bao giờ tiếp nhận khái niệm danh dự của châu Âu. Ở Khe Sanh, các marines trong câu chuyện đùa tàn nhẫn đã hỏi về sự khác nhau giữa lực lượng Thủy quân Lục chiến và các hướng đạo sinh. Hướng đạo sinh, theo câu trả lời do Michael Herr, phóng viên của tờ Esquire và sau này là nhà văn, “có lãnh đạo là người trưởng thành”.

Ở Điện Biên Phủ, cái nhìn lại lịch sử cho thấy rõ điều này, Việt Minh đã đưa ra những mục tiêu và chiến lược vượt quá sức tưởng tượng và ý thức trách nhiệm của giới quân đội Phương Tây. Đối với những người xung quanh Hồ Chí Minh, để xung phong chiếm một pháo đài ít có tầm quan trọng về quân sự nhưng đã trở thành một biểu tượng chính trị thì không có một cái giá phải trả bằng máu nào là quá cao. Chỉ lợi ích chính trị, cú sốc tâm lý lên công chúng của thế giới Phương Tây là quan trọng, các tổn thất, những nạn nhân trong một cuộc tàn sát kinh hoàng thì không.

Ở Khe Sanh, tổn thất của những người tấn công sẽ lớn hơn ở Điện Biên Phủ rất nhiều. Nhưng các nhà báo nghi ngờ rằng Tướng Võ Nguyên Giáp, người chiến thắng huyền thoại của thời đó, bây giờ cũng được giao cho nhiệm vụ giành lấy chiến thắng bằng mọi giá, để tạo ra ở khắp nơi trên thế giới cùng một phản ứng đã khiến cho nước Pháp phải chấm dứt cuộc chiến, mặc dù việc tổn thất 5000 người lính không làm thay đổi tình hình chiến lược tổng thể một cách cơ bản.

Điện Biên Phủ là một từ ngữ kích thích, cái mà giới nhà báo đưa vào những bài tường thuật của họ hầu như hàng ngày. Các “chương trình truyền hình bi kịch thống thiết” bất thình lình gây lo sợ. Khán giả khắp nơi trên thế giới cảm thấy thương xót cho những người Mỹ phòng thủ đang bị vây hãm kịch liệt. Tất nhiên là cả ở Khe Sanh, sự quan tâm của truyền thông hướng tới những người da trắng trước hết, những người lính Mỹ. Phần nửa thứ nhì của lực lượng đang chịu đựng và hy sinh, lính Biệt Động Quân của quân đội Nam Việt Nam, những người lâm vào tình trạng không còn có sự chọn lựa nào khác ngoài dũng cảm chống cự giống như các đồng minh, hầu như không được nhắc tới trong các tường thuật của các tập đoàn truyền thông lớn của Mỹ. Khe Sanh là tấn bi kịch của lính cổ da. Người Việt trong đó có thể bỏ qua được.

Được trang bị với áo chống đạn và nón sắt, các nhà báo và phóng viên ảnh bám sát lính marines đang chiến đấu. Nước Mỹ nhìn quân đội đang ở trong trận chiến đúng theo nghĩa đen hoàn toàn của nó; và khán giả ở quê hương nhanh chóng nhận ra rằng phản chiếu trong những hình ảnh đó là hiện thực đầy máu. “Những cái như tuổi trẻ”, Michael Herr mô tả những người lính trẻ, “không ở lâu trên gương mặt của họ. Đó là những con mắt: vì chúng lúc nào căng thẳng quá mức hay kiệt sức hay đơn giản là trống không, nên chúng không bao giờ có liên quan tới phần còn lại của gương mặt, và điều đó mang lại cho tất cả họ vẻ ngoài của sự kiệt sức cùng cực hay còn là bề ngoài của sự điên rồ nữa.”

Khi áp lực của những người tấn công không giảm bớt, và khi tình hình còn thêm căng thẳng bởi trận tấn công Tết [Mậu Thân] vào các thành phố đã bắt đầu trong ngày cuối cùng của tháng Giêng năm 1968, thì vang lên trong các tường thuật của giới phóng viên không chỉ là sự hoài nghi và nỗi lo lắng về sức mạnh của đối phương, mà cũng là lời phê phán thẳng thừng giới lãnh đạo quân đội của chính mình, những người phải chịu các tổn thất cao hơn là giới nhà báo cho rằng cần thiết. Nhưng cả những người cầm cờ chỉ huy trong bộ phận xuất bản của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến cũng hỏi về cuối, rằng tại sao những người lính không củng cố hầm hố và công sự của họ cho kiên cố hơn? Tại sao lại không kịp thời ra lệnh cho họ đào hầm sâu hơn? Lính marines, một lực lượng tấn công phản ứng di động, hoàn toàn không được chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh chiến hào. Tấn công là phương châm của họ, không phải phòng thủ. Tính tự kiêu của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến lại còn làm tăng một cách đáng kể các tổn thất của lực lượng chiến đấu ở Khe Sanh.

Bộ Tổng Tư lệnh ở Sài Gòn và cả những người đứng đầu ở Lầu Năm Góc cũng cảm nhận được áp lực từ ý kiến công chúng, giới hết sức nhạy cảm với những nghi ngờ, lo ngại và hoài nghi trong tường thuật của các thông tín viên. Bóng ma Điện Biên Phủ lảng vảng khắp nơi. Giới công khai ở Mỹ không chỉ trải nghiệm được hỏa lực của cỗ máy chiến tranh và tính anh dũng của quân đội, mà cả các nạn nhân, nỗi sợ hãi của những người lính quân dịch trẻ tuổi, bị thương hay tử trận trong lòng chảo Khe Sanh. Bây giờ, Việt Nam thống trị các tít báo và tinh thần ở quê hương.

Nghi ngờ về tính thích hợp của chiến lược Mỹ đã được bộc lộ ngay từ năm 1962 trong các cơ quan ngôn luận của bờ biển Đông tự do. Bây giờ, ở Khe Sanh, dường như chúng đã tìm thấy được sự một sự xác nhận mang đầy tính bi kịch qua truyền hình.

Con ma Điện Biên Phủ không làm cho ai hoảng sợ nhiều hơn là Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johson đang bị trách nhiệm của mình đè nặng. Ông đã yêu cầu các viên tướng lãnh của ông, những người mà công việc làm ở nghị trường đã dạy cho ông là không nên tin tưởng họ, trao cho ông một lời bảo đảm bằng văn bản, rằng pháo đài Khe Sanh có thể được giữ vững và rằng ông sẽ không phải chịu đựng cú sốc của một chiến bại gây náo động tại ngôi làng Khe Sanh trên núi. Sự cảm thông ngày càng tăng của giới công khai Mỹ với diễn tiến của các chiến dịch ở Việt Nam đã mang người tổng thống nhạy cảm vào một tình trạng phụ thuộc về tâm lý vào các tường thuật và tạo ý kiến của giới truyền thông. Một bức ảnh đặc trưng chụp Johnson trong một chiếc áo choàng trong nhà, đang cùng với các cố vấn thân cận nhất suy nghĩ về các tin tức phim ảnh mới nhất từ Việt Nam. Lời phán xét của giới báo chí đối với ông cũng quan trọng giống như các phân tích tình hình và tiên đoán của giới quân đội.

Tiếp tế cho Khe Sanh
Tiếp tế cho Khe Sanh

Qua tính lạc quan và diễn giải tốt đẹp, các thông báo chính thức của Bộ Tư lệnh ở Sài Gòn cố gắng tác động chống lại những tin tức báo động của giới truyền thông. Sự căng thẳng nội tâm, hoài nghi và lo ngại, những điều mà Tướng Westmoreland phải chịu đựng qua những đợt tấn công kéo dài của các sư đoàn Bắc Việt, những điều đó thì ông cố gắng che dấu chúng trước giới công khai. Thật sự là từ khi Khe Sanh bắt đầu bị bao vây thì Westmoreland đã không dám rời trung tâm chỉ huy nữa. Cho tới khi chiến dịch chấm dứt, như sau này ông thố lộ trong hồi ký của mình, ông đã qua đêm trên một cái giường dã chiến trong  trung tâm.

Viên tổng tư lệnh và các cộng sự thân cận nhất của ông đã đánh giá tình hình nghiêm trọng đến mức như vậy vào thời điểm đó, điều này chỉ được bộc lộ trong các hồi ký. Ông đã suy nghĩ, theo như Westmoreland tường thuật, đến việc sử dụng “vũ khí nguyên tử chiến thuật nhỏ”, để dạy cho Hà Nội biết sợ. Do lo ngại giới báo chí phát hiện ra và cũng lo ngại việc giữa bí mật không được toàn vẹn, Hội đồng An ninh Quốc gia ở Washington đã cấm viên tổng tư lệnh không được thực hiện thậm chí là một nghiên cứu.

Westmoreland chứng tỏ thêm một lần nữa, rằng ông không có khả năng hiểu thấu được vai trò và tác động của giới truyền thông không bị kiểm duyệt trong Chiến tranh Việt Nam, khi ông kết thúc các cân nhắc của ông về việc sử dụng vũ khí nguyên tử chiến thuật với một lời thú nhận ngang ngạnh trong hồi ký: “Lúc đó tôi đã tin và ngày nay còn tin nhiều hơn thế nữa, rằng không xem xét tới sự lựa chọn này là một sai lầm. Lẽ ra nó đã có thể đưa cuộc chiến tới một kết thúc nhanh chóng.”

Chỉ một phỏng đoán về các cân nhắc chiến lược nguyên tử của viên tổng tư lệnh ở Việt Nam thôi là cũng sẽ làm cho giới công khai Mỹ bị kích động cao độ và tạo ra những phản ứng không thể đoán trước được. Johnson và Hội đồng An ninh Quốc gia cảm nhận được rất tốt tâm trạng của giới công khai, đã được truyền thông làm cho rất nhạy cảm và trong trường hợp Khe Sanh thì còn bị làm cho lo sợ nữa.

Chính khách và quân đội ngày càng mất khả năng tự quyết định lấy vẻ ngoài của cuộc chiến ở Việt Nam. Một giới báo chí không bị kiểm duyệt, tự thu thập lấy và diễn giải thông tin riêng, và qua đó là lấy đi một phần lớn tác động của bộ máy tuyên truyền của Lầu Năm Góc, cổ vũ giới công khai nghi ngờ những thông báo của các tướng lãnh. Một chiến thắng nhanh chóng, các đại diện báo chí hàng đầu đã tường thuật từ năm 1962 ở Sài Gòn, là sẽ không có. Qua Khe Sanh, giới công khai Mỹ bây giờ mới nhận thức được, rằng quân đội đã rơi vào một cái bẫy trong rừng rậm châu Á, rằng họ không chỉ đánh mà mặc dù có ưu thế về kỹ thuật nhưng vẫn phải chịu đựng nhiều tổn thất nặng nề, và còn không thể loại bỏ khả năng phải chấp nhận chiến bại cục bộ nữa.

Nước Mỹ không có chuẩn bị trước cho các tổn thất trong quy mô này. Các lý do và mục tiêu của lần tham chiến là khó hiểu đối với đa số; chúng không tạo ra một sự cảm thông thật sự và cũng hoàn toàn không tạo ra một sự sôi nổi. Ở Triều Tiên là đã thiếu sự nhiệt tình rồi. Thật sự là đối với người dân của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ thì Nam Việt Nam không đáng giá tới sinh mạng của một người lính duy nhất. Rằng cần phải ngăn chận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở Nam Việt Nam, để giữ cho Đông Nam Á tránh được trận ngập lụt đỏ hay vàng, điều này thì các nhà địa chính trị và những bài xã luận có thể thuyết phục. Đối với khán giả truyền hình ở Mỹ, thuyết Domino là một cái gì đó trừu tượng, chuyển tải lại rất ít ý nghĩa và sự cần thiết của cuộc chiến. Giới truyền thông phục vụ cho cảm giác và tâm trạng của khán giả với những hình ảnh từ chiến tuyến đầu. Bầu không khí đã bắt đầu đảo ngược. Chính khách và quân đội rơi vào áp lực của dư luận.

Chưa đầy một tuần sau khi Khe Sanh bị bao vây, chiến dịch Tết [Mậu Thân] đánh vào các thành phố ở xa hơn đó về phía Nam bắt đầu. Báo chí và quân đội vướng vào trong một xung đột nghiêm trọng. Sự kiện truyền thông ở Nam Việt Nam tiến đến gần đỉnh điểm. Bởi vì lịch sử quân sự chỉ là hậu cảnh, còn vai trò và tác động của báo chí ở trước đó mới đóng vai trò chủ đạo trong các suy nghĩ của chúng ta, nên kết cuộc của trận Khe Sanh được mô tả lại ở đây trong vài dòng ít ỏi. Pháo binh Bắc Việt bắn phá 67 ngày trời, lực lượng mà người ta đã không thể loại trừ được nó tuy là đã tiến hành chiến dịch “Niagara”. Đặc biệt về đêm, các đơn vị Bắc Việt luôn tiến hành những cuộc tấn công mới, đẫm máu, vào vòng ngoài của pháo đài, những cuộc tấn công mà người ta phải hết sức cực nhọc mới đánh bật lại được và khiến cho những người Mỹ phòng thủ phải hết sức kính nể tin thần và sức chiến đấu của Việt Cộng. Cuối cùng, Khe Sanh đã đứng vững trước áp lực đó.

Trong tháng Tư 1968, các trận đánh bất thình lình lắng xuống. Các sư đoàn Bắc Việt rút lui vào trong rừng rậm. Họ còn bỏ ngõ đường 9 nữa, con đường mà qua đó Tướng Abrams, người vào thời gian đó đã thay Westmoreland nhận chức vụ tổng tư lệnh, đã cho các đơn vị hành quân theo hướng bờ biển về Đông Hà, vào vùng an toàn.

Tổn thất Bắc Việt được ước lượng khoảng mười ngàn người chết. Con số lính cổ da tử trận được đưa ra trong các sử sách Mỹ là tròn 500. Con số tổn thất của Nam Việt Nam ở Khe Sanh không được nhắc tới.

Cho tới ngày nay, ý nghĩa và tầm quan trọng của trận đánh vẫn còn bị tranh cãi. Có hợp lý về mặt quân sự hay không, khi củng cố Khe Sanh trở thành một pháo đài và chấp nhận việc bị địch thủ ghìm chặt lại ở một địa thế bất lợi và đánh mất ưu thế di động? Các marines có đánh giá quá thấp lực lượng của đối phương hay không? Giáp có muốn chiếm Khe Sanh và đạt tới một Điện Biên Phủ thứ nhì hay không? Hay là các nhà báo chỉ “tung hô” trận đánh lên cao để gây ấn tượng trong công chúng qua action và bi kịch tính nhằm tăng số lượng phát hành và tỷ lệ người xem?

Nhà chiến lược Bắc Việt Võ Nguyên Giáp ngay trong năm 1968 đó đã nói trong một cuộc phỏng vấn với Oriana Fallaci: “Ồ không, Khe Sanh không phải và không thể là một Điện Biên Phủ thứ hai. Nó không có tầm quan trọng như thế đâu. Hay nó chỉ quan trọng vì người Mỹ cho nó là quan trọng, vì thanh danh của họ bị đe dọa. Nghịch lý Mỹ bình thường! Cho tới chừng nào mà họ bảo vệ Khe Sanh để bảo toàn thanh danh của họ thì họ quả quyết rằng nó là quan trọng. Khi họ bỏ Khe Sanh, họ nói rằng nó chưa bao giờ có một tầm quan trọng… Khe Sanh là một chiến thắng của chúng tôi.”

Tướng Westmoreland trong hồi ký của ông cũng tuyên bố chiến thắng về cho mình. Khe Sanh, ông tin như vậy, đã “làm hạ uy tín của thiên tài quân sự Giáp”. Giáp đã thất bại trong việc lập lại Điện Biên Phủ.

Ngày nay, đa số các nhà phân tích Mỹ cho rằng việc củng cố Khe Sanh thành một pháo đài là một sai lầm. Người ta đã tạo cho Giáp có khả năng cầm chân nhiều lực lượng lớn của quân đội Mỹ trong vùng núi khó đi lại ở miền Trung, trong khi lực lượng chính của Việt Cộng bắt đầu một cuộc tổng tấn công vào các thành phố ở miền Nam cùng thời gian đó. Tức là Khe Sanh chỉ là một việc làm đánh lạc hướng, một mưu kế chiến tranh của Hà Nội, để tạo tiền đề tốt nhất có thể cho cuộc tổng tấn công Tết [Mậu Thân]? Cho một mưu kế thì 10.000 người tử trận là một cái giá hết sức cao.

Mười tám năm sau, người phụ trách Bảo tàng Quân đội ở Hà Nội, đại tá Nguyen Van Cam, người đã tham gia chiến dịch đó như là một đại úy, đã thố lộ các ý định thật sự của giới lãnh đạo Bắc Việt cho tôi. “‘Quân đội Giải phóng’ có những mục đích nào khi tấn công pháo đài Khe Sanh và chấm dứt trậnh đánh bất phân thắng bại trong tháng Tư 1968?”, câu hỏi được đưa ra trước đó trên văn bản của tôi là như vậy.

Đứng trước một tấm bản đồ lớn, thể hiện các nhánh phụ của con đường mòn Hồ Chí Minh (mà tuyên truyền Bắc Việt đã chối cãi sự tồn tại của nó cho tới khi chiến thắng năm 1975), đại tá Nguyen Van Cam giải thích trước ống kính của chúng tôi: “Người ta phải dụ hổ ra khỏi rừng. Hổ chỉ mạnh khi nó ở trong rừng. Các marines quen đánh trận ở đồng bằng hay cạnh bờ biển. Chúng tôi đã dụ họ đến đây, trên một địa thế xa lạ, bất lợi. Trong khi nước Mỹ lo ngại chúng tôi chiếm được Khe Sanh thì chúng tôi bắt đầu cuộc tổng tấn công vào các thành phố trong miền Nam. Người Mỹ đã bị chúng tôi đánh lừa, vì họ không thể đoán được các ý định của chúng tôi. Cuối cùng thì Khe Sanh cũng là một cuộc tổng diễn tập. Lần đầu tiên chúng tôi đã hoạt động với nhiều sư đoàn. Nhiều đơn vị đã không có kinh nghiệm cho việc này. Chúng tôi đã lần lượt thay thế các sư đoàn, để học tập cách thức chiến đấu này. Khe Sanh là một điểm thu hút cho người Mỹ và đồng thời cũng là một nơi diễn tập cho quân đội của chúng tôi.”

“Ướt nước mắt thì người ta sẽ nhìn không rõ được”

Nữ phóng viên Catherine Leroy đang chuẩn bị nhảy dù cùng với Lữ đoàn Dù 173 trong chiến dịch Junction City.

Đầu 1968, Việt Nam là tin tức thống trị tất cả, “the biggest story in the world”. Công chúng ở Hoa Kỳ, nhưng cũng cả trong các quốc gia Tây Âu, chia rẽ ra thành những người chống và ủng hộ nước Mỹ tham chiến. Cùng với mối quan tâm, nhu cầu cần có thông tin và ý kiến về diễn tiến của các sự việc cũng tăng lên. “Hàng đoàn đa sinh ngữ của những cái được gọi là phóng viên chiến trường”, như nhà văn thriller John Le Carré đã chế nhạo, đổ xô tới Sài Gòn để tự trình diễn mình như là những người anh hùng trước một giới khán giả đang kinh ngạc.

Phóng viên của các thế hệ già hơn, đã có mặt trong Đệ nhị Thế chiến và cả ở Triều Tiên, khinh thường và kinh hoàng nhìn xuống đám đông nhà báo đó. Đối với Joseph Alsop, Marguerite, Kenneth Crawford, để chỉ kể một vài người Mỹ kỳ cựu, quân đội Hoa Kỳ xứng đáng được  công chúng và báo chí hỗ trợ. Và cả đối với các thông tín viên từ Cộng hòa Liên bang [Đức], đối với Hans Walter Berg, Christian Roll, Eckehard Budewig, Thilo Bode và Klaus Mehnert, thì việc Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tiến hành một cuộc chiến tranh cần thiết về mặt chính trị là một điều đứng ngoài mọi sự nghi ngờ. Trong giới đó, không ai có ảo tưởng về đối thủ cộng sản. Một chiến thắng của những người cộng sản, Douglas Pike đã viết ngay từ năm 1967, sẽ đồng nghĩa với việc “đưa hàng ngàn người Việt, trong số đó là nhiều bạn bè cá nhân, tới cái chết, tù đày hay lưu vong vĩnh viễn. Đối với tôi, nỗi thống khổ của dân tộc Việt Nam không phải là một khái niệm trừu tượng; và tôi không khoan dung cho những người nhìn Việt Nam như vậy.”

Phóng viên của thế hệ trẻ hơn, mà tôi cũng thuộc vào trong đó, những người trải nghiệm qua Đệ nhị Thế chiến và lần bắt đầu cuộc xung đột Đông-Tây ít dữ dội hơn nhiều, và quan sát vai trò dẫn đầu của nước Mỹ với đôi mắt tương đối khách quan, thì ngược lại đặt ra những câu hỏi về tính chính đáng và ý nghĩa của cuộc chiến tranh bẩn thỉu trong rừng rậm. Một cái nhìn tới kinh nghiệm chiến tranh của nước Pháp và nghiên cứu về nguồn gốc của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam đã để cho chúng tôi hoài nghi, rằng Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ có thượng quyền dùng vũ lực để giữ vững sự chia cắt đất nước Việt Nam, được thỏa thuận năm 1954 tại Genève, chỉ vì sự thống nhất sẽ đưa nước Việt Nam vào dưới sự thống trị của cộng sản. Chúng tôi tự hỏi, liệu các phương tiện đó có thích hợp hay không, để giữ vững nhà nước Sài Gòn, liệu cỗ máy chiến tranh đó, gây ra nhiều nạn nhân như vậy trong thường dân, có được phép sử dụng mà không cần phải đắn đo hay không. Đừng dùng súng hỏa mai để giết bướm, một câu châm ngôn châu Á khuyên nhủ.

Nhưng trước hết là chúng tôi nghi ngờ những thông tin chính thức. Chúng tôi có cảm giác bị các phát ngôn viên của sứ quán và quân đội đánh lạc hướng. Cỗ máy tuyên truyền của Lầu Năm Góc đúng là thúc giục tự thu thập lấy thông tin, kiểm nghiệm lại phiên bản chính thức, ưu tiên cho “sự thật” mà không cần lưu tâm tới uy tín của thế lực dẫn đầu Phương Tây. Chúng tôi điều tra và phán xét, đúng theo nhiệm vụ của báo chí trong một xã hội tự do. Rằng một sự độc lập và tự do như vậy chưa từng có trong một tình huống khủng hoảng quốc gia, trong một cuộc chiến, điều đó thì các phóng viên ở Việt Nam hầu như không nhận thức được. Chúng tôi cho rằng thiếu vắng kiểm duyệt là một điều tự nhiên. Chúng tôi còn chẳng biểu lộ sự kính trọng cần có đối với các cơ quan của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ nữa.

Có không ít người trong số “đoàn đa sinh ngữ phóng viên chiến trường” đã dùng sự tự do gần như là vô giới hạn ở Nam Việt Nam để anh hùng hóa Việt Cộng, hình sự hóa giới lãnh đạo chiến tranh Mỹ và tạo tính đáng tin cho luận điểm của cộng sản về tội diệt chủng ở Việt Nam của Mỹ. Nhà nước Sài Gòn xuất hiện trong hình ảnh đó như là một con quái vật phát xít mà trong đó chỉ có tra tấn và giết người mà thôi.

Ngay cả những tường thuật tôn vinh đối thủ và nói xấu quan điểm của bên ta cũng được khoan dung. Các cơ quan Nam Việt Nam cố gắng đặt ra giới hạn cho những người chống đối công khai họ trong giới xuất bản, trục xuất họ hay ngăn cản không cho tái nhập cảnh. Đại sứ quán Mỹ thường xuyên phải ép buộc chính phủ Nam Việt Nam, ít nhất là để cho giới báo chí nước ngoài có được tự do ngôn luận và tự do thông tin, khoan dung cho cả những người phê phán và các nhà hoạt động, những người như Mary McCarthy đã chẳng buồn giấu giếm rằng mục tiêu của bà là gây hại cho lợi ích của nước Mỹ.

Sự khoan dung này đã tồn tại cho tới khi cuộc chiến chấm dứt trong tháng Tư 1975. Nó đã mang lại cho Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ sự phẫn nộ từ khắp nơi trên thế giới về việc sử dụng napalm, chất độc màu da cam để làm rụng lá và về những vụ thảm sát người dân thường như ở Mỹ Lai. Chính phủ ở Washington bị đặt lên chiếc ghế của bị cáo.

Việc tôn vinh Việt Cộng và tố cáo quân đội Mỹ như là một băng nhóm tội phạm đã không thể tìm thấy được sự đồng ý của tôi. Tuy nước Mỹ đã theo đuổi các lợi ích toàn cầu riêng của mình ở Việt Nam, nhưng Hoa Kỳ đồng thời cũng cố gắng bảo vệ lý tưởng của một trật tự xã hội tự do, những cái mà họ nhìn thấy chúng bị đe dọa bởi một cuộc xâm lược của cộng sản. Thế giới quan của họ có thể là ngây thơ, ngạo mạn, còn có thể được gọi là giống như truyền đạo, nhưng đối với tôi thì nó không phải là tội phạm và xấu xa về mặt đạo đức.

Một nhóm thứ ba của các phóng viên, hút cần sa và ma túy, tìm thấy một nét hấp dẫn về mặt thẩm mỹ của bạo lực, trải nghiệm cuộc chiến hoàn toàn không bị cắn rứt lương tâm và chống đối trong nội tâm. Nhiếp ảnh gia người Anh còn rất trẻ Tim Page thuộc vào trong số đó, người mà những lần bị thương trong thời gian nhiều năm đã làm cho anh trở thành một người tàn phế. Cùng với Sean Flynn, người con trai liều lĩnh của diễn viên Errol Flynn, Page đã liều mạng thực hiện những nhiệm vụ nguy hiểm nhất, nhằm trải nghiệm hiện thực của một cuộc chiến mà trước đó anh chỉ nhìn thấy trong rạp chiếu bóng hay trên truyền hình. Nhạc rock từ những chiếc máy bán dẫn, cái mà họ cũng mở thật to tại chiến tuyến ngoài cùng, và ma túy đã đẩy nhóm người trẻ tuổi này vào trong một trạng thái say sưa, mà những cảnh tượng bạo lực chiến tranh còn có khả năng làm tăng nó lên thêm nữa. Trong tình trạng thiếu phản xạ sợ hãi và bảo vệ, Page, Flynn và Dana Stone, cả anh cũng là một “người Di gan Hemingway”, đã “bắn” những tấm ảnh chiến tranh xuất sắc, được in trong các báo ảnh và tạp chí ảnh nổi tiếng ở Âu Mỹ.

Ai tỉnh táo đối phó với hiện thực của chiến tranh mà không cần sa hay ma túy, người đó đôi lúc có thể cảm nhận được sự hỗ thẹn. Ai không bị chiến tranh làm cho chai lỳ đi, người đó cảm nhận được một sự ngượng ngùng nhất định, khi ống kính được hướng tới những người đã tử trận hay bị thương ngay trong sự vội vã hấp tấp của trận đánh, tới những người lính trẻ tuổi cứu nguy cho đồng đội trong sự sợ hãi và căng thẳng, trong khi các nhà báo tháp tùng không phụ giúp vì họ quay phim hay chụp ảnh sự việc đầy bi kịch đó. Tôi cũng chỉ tháp tùng các đội ngũ quay phim của tôi với một cảm giác bị đè nặng trong thâm tâm, khi chúng tôi vội vã tới nơi bị hỏa tiển bắn phá, nơi những người dân thường chảy máu đầm đìa đang chờ để được chở vào bệnh viện và những người chết mắt mở trừng trừng đang nằm trong sự dơ bẩn của đường phố. Trẻ con bất lực chạy lạc khóc lóc qua cảnh tượng đó. Lửa cháy ở phía sau, vì vụ nổ thường lật đổ những bếp dầu trong các căn nhà dân và qua đó đã gây ra một đám cháy lớn.

Đã không cứu nạn, không giúp đỡ và không an ủi trong những tình huống giống như dưới địa ngục như vậy mà lại còn quay phim, việc đó đã khiến cho con người nhạy cảm trong số các nhà báo phải đau khổ thật nhiều trong thâm tâm, những nỗi đau đớn mà thỉnh thoảng đã tăng niềm tự hoài nghi lên trở thành sự tự căm ghét.

Larry Burrows, nhiếp ảnh gia của Life, người trong một câu chuyện bằng ảnh với tựa đề “Yankee Papa 13” đã ghi nhận lại lần cố gắng cứu thoát một phi công Mỹ bị bắn rơi đầy bi kịch và không thành công, tin là trong lúc đó đã cảm nhận được ác cảm, vâng, các cảm giác hung hãn của những người trong cuộc, trải nghiệm người chụp ảnh như là một kẻ hôi của người chết. “Tôi bị giằng xé giữa vai trò của tôi là một nhiếp ảnh gia và các cảm giác con người bình thường của tôi”, Burrows sau này đã thừa nhận như vậy. “Không dễ dàng chụp ảnh một người phi công đang chết trong tay của người bạn, và rồi sau đó quan sát lần suy sụp tâm thần của người bạn này… Tôi có lợi dụng sự đau khổ của người khác không? Thỉnh thoảng người ta có cảm giác như mình là một thằng khốn nạn.”

Đặc biệt tàn bạo trong việc chụp lấy hiện thực là truyền hình, cái đưa ống kính và micrô ra cho những người bị thương và những người sắp chết, và cũng giữ lại cả diện bạo của cái chết, có sự ghê rợn bao quanh. Các đội ngũ ở Sài Gòn cung cấp các action stories càng nhiều thì yêu cầu của các ban biên tập lại càng cao hơn. Lúc đầu thì người sống và người chết là đã đủ, nhưng chẳng bao lâu sau đó thì phải là những người sắp chết.

“Ướt nước mắt thì người ta sẽ nhìn không rõ được”, nhiếp ảnh gia người Anh Philipp Jones Griffith đã có lần nhận xét như vậy, người quay sang thường dân Việt Nam đang phải chịu đựng đau khổ và đã minh chứng cho cảnh khốn cùng của họ trong những tấm ảnh đầy ấn tượng. “Đó là công việc của chúng ta, ghi lại sự việc cho lịch sử. Người ta không được phép để cho cảm xúc lôi kéo mình vào diễn tiến. Người ta phải làm tròn nhiệm vụ, nếu cần thiết thì với một tâm hồn bằng thép. Người ta chỉ được phép ngã quỵ sau đó, trong phòng tối.”

Trong giới báo chí ở Việt Nam, nhạy cảm đối với nạn nhân và một cảm giác cho phẩm giá của thời điểm là một trường hợp ngoại lệ nhiều hơn là việc thông thường. “Chiến tranh lúc nào cũng hào nhoáng”, Tim Page đã nói. “Với vũ khí trong tay, người ta có cảm giác mình to lớn hơn.” Trong tim của các phóng viên chiến tranh chuyên nghiệp vẫn còn sống động một ít sự lãng mạn của Ernest Hemingway, một nữ phê bình của tờ New York Times tin là có thể nhận ra được: “Sự thật tồi tệ nhất là việc cuộc chiến hoàn toàn không phải là địa ngục cho các thông tín viên. Nó là một niềm vui lớn.”

 Không ai, người trải qua cuộc Chiến tranh Việt Nam có ý thức, muốn tranh cãi, rằng “câu chuyện tin tức lớn nhất thế giới” đã mang lại một sự quyến rũ nhất định cho các nhà báo, những người cung cấp nó hàng ngày. Vì tất cả những câu chuyện đó đều được in ra và được phát đi, vì sự quan tâm của công chúng thế giới có thời gian tập trung vào Việt Nam cho tới mức tất cả các sự kiện khác đều bị xếp lại phía sau, nên các phóng viên ở Sài Gòn đã hưởng được quá nhiều sự chú ý và chiếu cố, điều đã tạo nên tiếng tăm cho họ. Không một nhà báo nào sẽ chối cãi rằng đó là phần thưởng được ham muốn nhất mà nghề nghiệp này có thể trao tặng cho. Việt Nam là một thử thách và thử nghiệm cho báo chí mà mối nguy hiểm gắn liền với nó dường như vì vậy mà đã nhỏ đi.

Tuy vậy, ghi nhận, ghi chép và mô tả với cặp mắt lạnh lùng, khô khan thường là một áp lực gần như không thể chịu đựng nỗi đối với tôi. Sự tự hoài nghi hành hạ bản thân của Larry Burrow cũng đi theo tôi trong thời gian đó. Người ta có thể và có được phép đứng nhìn mà không tham gia vào hay không? Không phải là thích hợp nhiều hơn hay sao, khi biểu lộ tình liên đới nhân đạo, đặt chiếc máy quay phim xuống và tham gia cứu giúp thay vì quay phim và lui vào vai trò nhân chứng, vai trò của người biên niên sử?

Nhà văn người Đức chết sớm Nicolas Born trong quyển tiểu thuyết cuối cùng của ông “Die Fälschung” [“Giả mạo”] đã mô tả sự xung đột nội tâm của một phóng viên chiến tranh, người có nguy cơ chết ngạt trong sự khốn cùng của xung đột Libanon. Born đã quan sát các phóng viên chuyên nghiệp trong lúc làm việc và có cảm giác ghê tởm, khinh bỉ vô cùng.

Laschen, người anh hùng của ông, đã mắc bệnh vì “sự đứng ngoài và vô trách nhiệm của phóng viên”. Ông đau khổ vì sự lạnh lùng trong ánh mắt nhìn sự khốn cùng của những nhà chuyên nghiệp đó. Họ cung cấp “một sự kinh hoàng vì tiền, một sự kinh hoàng mà người ta có nhu cầu không biết chán”. Ông gọi họ là bọn vô lại, các “phóng viên sự thật”, những người bao giờ cũng muốn đứng gần tới mức đụng chạm vào da thịt, biến tất cả và mỗi một điều trở thành một sự tương tích tốt đẹp chung, mang khắp thế giới vào trong một chương trình tiêu khiển thế giới… Anh chỉ muốn chấm dứt một trạng thái, trạng thái của sự giả mạo cũng như trạng thái của sự phẫn nộ phê phán và phẫn nộ đạo đức, chấm dứt trạng thái đó mà không phải hoàn toàn rơi vào trong sự thờ ơ, đó mới là một kỳ công.”

Nicolas Born tức Laschen đã thất bại ở kỳ công đó. Bài phóng sự mới, kiểu khác, không chỉ ghi nhận sự kiện, không giả mạo mà lột trần, gây ấn tượng cho người đọc, can thiệp vào, vượt qua khoảng cách, loan báo sự thật tàn bạo, đáng sợ. Quyển thiểu thuyết chỉ phát triển một lý thuyết cho việc đó. Không có thực hiện, vì không có và không thể có một phóng sự như vậy.

Hiện thực nặng nề, dai dẳng không để cho điều gì làm đảo ngược lại, cả lý tưởng lẫn thương hại cũng không. Cái được cho là sự cay độc của các “phóng viên sự thật” đã tự chứng tỏ mình là tính khiêm tốn, là nhận thức được sự không toàn vẹn của năng lực và khả năng của chính mình. Tác giả Nicolas Born đã phác thảo một lý tưởng không đạt tới được. Ông đã không thừa nhận thất bại trước độc giả của ông.

Tết Mậu Thân

Tết ở Việt Nam đánh dấu lần bắt đầu của năm mới theo âm lịch Trung Hoa. Lễ này là cao điểm của cuộc sống: lễ hội và lễ gia đình, cái được ăn mừng ít nhất là ba ngày liền. Năm 1968, Tết là vào ngày 1 tháng Hai. Bắc và Nam Việt Nam tuyên bố ngưng bắn, để chào mừng năm con khỉ cho xứng đáng.

Từ nhiều ngày qua, tiếng ồn của pháo được đốt suốt ngày đêm vang khắp đường phố Sài Gòn. “Trước đây thì một vài lần biểu diễn đốt pháo là đã đủ”, tôi đã tường thuật như vậy vào đêm trước đó qua telex về Đài Phát thanh Bắc Đức ở Hamburg, “để xua đuổi ma quỷ đi. Rồi các thương gia người Hoa biến việc đốt pháo thành một biểu tượng đẳng cấp, để lan truyền tin tức về sự giàu có của họ đi với tiếng ồn kéo dài, hết sức khó chịu. Nếu như cuộc đốt pháo kéo dài mười ngày là một chỉ dấu thì Nam Việt Nam phải là một đất nước giàu có. Ngày nay thì tất cả tâm linh đều đã bị xua đuổi đi, tốt cũng như xấu.”

Chợ Lớn, Tết Mậu Thân 1968
Chợ Lớn, Tết Mậu Thân 1968

Trong cùng ngày đó, ngày 31 tháng Giêng 1968, tin tức về tới Sài Gòn, rằng Việt Cộng với một lực lượng lớn đã bắt đầu tấn công ở các tỉnh ở miền Trung, vào các thành phố Pleiku, Nha Trang, Kontum và Đà Nẵng. Mặc dù vậy, thủ đô của miền Nam không để cho ngày lễ bị phá hỏng. Sài Gòn chưa bao giờ trải qua chiến tranh. Thành phố cứ tiếp tục ăn mừng, không nhận ra những dấu hiệu ở trên tường.

Thời đó, cái náo nhiệt của Tết ở Sài Gòn đã khiến cho tôi nhớ tới một đoạn văn của Søren Kierkegaard. Trong đó, triết gia người Đan Mạch này đã mô tả một anh hề, người thông báo với khán giả là đang có hỏa hoạn ở trong rạp. Khán giả vỗ tay. Họ cho lần xuất hiện của anh là một trò đùa.

Một người bạn là tùy viên quân sự, thiếu tá Weste, đánh thức tôi trong khách sạn “Continental” vào lúc năm giờ của sáng hôm sau đó. Liệu tôi có muốn tháp tùng ông trên một chuyến đi thanh tra qua thành phố hay không, ông hỏi. Có thể nghe được tiếng ồn chiến sự ở ngoài kia.

Khoảng cách từ khách sạn cho tới nhà thờ công giáo là chưa tới 500 mét. Một điểm kiểm soát của quân cảnh dừng xe của chúng tôi lại. Chúng tôi cố trình ra thẻ căn cước để thoát kiểm soát và tiếp tục đi. Người ta đã dùng vũ khí để ép buộc chúng tôi phải ngừng lại. Đại sứ quán Mỹ trên đại lộ Thống Nhứt, đại lộ mà chúng tôi vừa tới được khi ở cạnh nhà thờ, bị Việt Cộng bao vây, người lính trẻ nói thật nhanh và nhiều. Một cái nhìn về hướng sứ quán giải thích cho sự căng thẳng nội tâm của người quân cảnh. Chiến tranh thật sự đã về tới Sài Gòn vào cái ngày 1 tháng Hai này. Đại lộ Thống Nhứt là một chiến trường. Tiếng súng rít qua màn đêm. Nhưng qua cái nhìn đầu tiên thì không thể nhận ra được ý nghĩa của trận đánh này.

Chúng tôi quay xe lại, chạy vòng qua khu vực đang có chiến sự ở tòa đại sứ và đi về hướng phi trường Tân Sơn Nhứt. Việt Cộng đã tấn công vào nhiều ngôi nhà ở nhiều nơi trong thành phố. Đại sứ quán Philippine trên đường tới phi trường bị hư hại nặng. Cửa mở tung. Nhiều xác chết nằm trước lối vào.

Ở mặt sau của dinh tổng thống, Việt Cộng đã gặp một chiếc Jeep của quân cảnh Mỹ ngay từ lúc đang tiến tới. Nhóm Việt Cộng khai hỏa và giết chết hết bốn người cảnh sát. Sau đó, những người tấn công chạy trốn vào một khách sạn đang còn được xây mà họ cố thủ ở trong đó. Cuộc tấn công vào trụ sở chính phủ bị thất bại từ sớm.

Phi trường bị tấn công đồng thời từ nhiều hướng. Ở cổng chính, gần một bệnh viện dã chiến và tổng hành dinh của quân đội Nam Việt, đạn bay qua đầu những người lính Mỹ và Sài Gòn đã tìm chỗ nấp dưới đường mương hay sau những phần tường còn lại. Người bị thương được cứu ra. Tiếng “đit đit đit” của súng cá nhân vang rền trong không khí. Người ta càng tới gần nơi xảy ra, kinh nghiệm trong chiến tranh đã dạy như vậy, thì lại càng ít biết được điều gì đang thật sự xảy ra.

Tôi chưa bao giờ hết ngạc nhiên là làm sao mà người ta có thể đi lại trong cái lộn xộn đầy nguy hiểm đó, giống như chỉ quan sát một cuộc tập trận. Phải có nhiều may mắn, khi luôn ở ngoài rìa và tránh làn đạn mà không biết các vị trí bắn. Hẳn là đã có một định mệnh tốt dẫn dắt chúng tôi vào buổi sáng ngày hôm đó. Với một ấn tượng đầu tiên về quy mô của cuộc tấn công, về con số lớn đáng sợ của các nạn nhân đã chết trên mặt đường, chúng tôi lại trở về tới đại sứ quán Mỹ vào lúc tám giờ, nơi trận đánh cuối cùng vừa bắt đầu.

Với chiếc “ô tô gangster” kinh điển của phim hình sự Mỹ, thành viên một đơn vị đặc biệt Việt Cộng, lính “đặc công”, được người Mỹ gọi là sapper, đã chạy tới trước cổng chính của tòa đại sứ quán Hoa kỳ vào lúc 2 giờ 47 sáng. Trước khi hai người lính marines đứng canh gác nhận định được tình hình trong cái tranh sáng tranh tối, họ đã bị bắn gục bởi nhiều loạt đạt súng máy. Với một khẩu bazooka, một loại vũ khí chống tăng, những người tấn công bắn thủng một lỗ to hàng mét trên bức tường bảo vệ màu trắng mà họ đã chui qua đó để thâm nhập vào ngôi vườn của đại sứ quán và tấn công vào cửa chính.

Không đầy một giờ sau đó, quân đội Mỹ bắt đầu phản ứng. Người ta bắn từ đủ các hướng vào trong ngôi vườn của đại sứ quán, nơi có những chậu trồng hoa khổng lồ tạo những chỗ nấp tuyệt vời cho Việt Cộng. Thêm vào đó, bức tường bảo vệ ở ngoài chắn mất tầm nhìn của người Mỹ. Họ chỉ có thể dựa trên hỏa lực mà ước đoán có bao nhiêu Việt Cộng đang chiếm giữ khu đất. Cả việc định vị trí cũng gây nhiều vấn đề lớn. Những người Mỹ tiếp ứng không thể xác định được, rằng Việt Cộng đã xâm nhập vào ngôi nhà chính hay chưa, và nếu như điều này đã xảy ra thì họ đã vào được tới tầng mấy trong số sáu tầng lầu.

Cuối cùng, một chiếc Jeep húc vào cái cửa sắt của bức tường ngoài. Trực thăng chiến đấu bắn từ trên cao xuống khu vườn của sứ quán. Từ khoảng cách độ chừng 250 mét, giới nhà báo chúng tôi, bây giờ khoảng hai mươi người, quan sát màn cuối cùng của tấn bi kịch. Trực thăng của sư đoàn 101 Airborne đáp xuống nóc nhà đại sứ quán. Lực lượng tiếp viện được chở bằng máy bay tới tiến hành đợt tấn công cuối cùng từ ở bên trong ra, từ bên trong ngôi nhà chính của sứ quán. Vào lúc 9 giờ 08, trận đánh chấm dứt. Vũ khí câm lặng. Vào lúc 9 giờ 20, tướng Westmoreland thanh tra tại chỗ. Có nhà báo tháp tùng, viên tổng tư lệnh bước vào khu vườn phía trước, đầy những xác chết và ở nhiều nơi đã bị máu của những người chết nhuộm đỏ.

Cửa chính vào Đại sứ quán Hoa Kỳ, ngày 31 tháng 1 năm 1968. Ảnh: Vietnam Center and Archive

Đầu tiên, xác chết của hai marines Mỹ được mang đi, những người đã hy sinh ngay từ những phút đầu tiên của cuộc tấn công. Sau đó, cả lính Việt Cộng, hay những gì còn lại từ họ, cũng được chở đi. Người ta phát hiện 19 người chết của phe tấn công trong khu đất. Không một Việt Cộng nào có thể xông vào được tòa nhà chính. Cái cửa gỗ đồ sộ đã chịu đựng được đạn bắn. Việt Cộng không đoán được lực lượng của những người bảo vệ cố thủ trong nhà. Giá như họ biết rằng chỉ có hai marines nữa đang bảo vệ tòa nhà thì hẳn cuộc tấn công của họ đã thành công nhiều hơn nữa. Chỉ một Việt Cộng có thể thâm nhập vào một nhà phụ, nơi anh ta là người cuối cùng của nhóm bị một cựu chiến binh Mỹ dũng cảm, một đại tá có tên là George Jacobsen, bắn chết bằng súng ngắn.

Nhóm nhà báo hầu như chỉ gồm người Mỹ. Một bàn tay vô hình đã điều thông tín viên của các truyền thông Mỹ quan trọng nhất tới đây, của các hãng thông tấn, của ba đài truyền hình, Time, NewsweekNew York Times. Người tùy viên quân sự Đức và tôi chỉ tình cờ tham dự.

Đứng cách xa các nhà báo, trên bãi cỏ nhuộm đỏ máu bên cạnh những bồn hoa gây trở ngại, tướng Westmoreland bàn bạc với người sếp của ban thông tin, Barry Zorthian. Đường lối được quyết định, nội dung chính của thông tin cần phải đưa ra cho giới báo chí.

Mặc dù vậy, cuộc họp báo đột xuất mà viên tổng tư lệnh tiến hành vào buổi sáng ngày hôm đó trong khu vườn của đại sứ quán đã bị nổ sớm trong nòng, để dùng ngôn ngữ của quân đội. Westmoreland và Zorthian đã không nhận ra được giá trị biểu tượng của đại sứ quán Mỹ. Họ phớt lờ nỗi chấn động nội tâm của các nhà báo, những người đã gặp phải chiến tranh thật sự ở cách khách sạn của họ 1000 mét. Một trận tấn công đã biến thủ đô, cho tới nay hầu như không bị quấy phá, trở thành chiến trường. Westmorelan dường như không có khả năng để nhận ra các yếu tố tâm lý của tình hình mới.

Người cộng sản, Westmoreland giải thích, người bị các nhà báo bao vây và trong lúc đó trông cứng nhắc như bộ quân phục nhiệt đới màu xanh được hồ cứng của ông, đã xảo trá lợi dụng dịp Tết để đánh lạc hướng chiến trường chính ở Khe Sanh qua một chiến dịch tự sát tấn công vào Sài Gòn. Nhưng thủ đoạn đánh lừa này đã không thành công. Kế hoạch của Việt Cộng đã thất bại. Tình hình quân sự về cơ bản là nằm trong vòng kiểm soát.

Các nhà báo nghĩ rằng mình đang nghe một người ảo tưởng nói về một cuộc chiến tranh nào đó khác với cuộc chiến đã đẩy Sài Gòn vào sự hỗn loạn đầy máu me này. Báo chí và quân đội đã lan truyền hai phiên bản hoàn toàn khác nhau của trận tấn công dịp Tết. Trong đó, quan điểm của bộ tổng chỉ huy hầu như không được giới công chúng Mỹ, và cả giới công chúng thế giới, quan tâm tới. Phiên bản đầy kịch tính của truyền thông, gợi nên một chiến bại, đã thắng thế. Giới quân đội và chính phủ của Lyndon B. Johnson đã bị chế ngự bởi tác động tâm lý của tường thuật mà truyền thông bây giờ đang bắt đầu.

Hẳn là mãi cho tới khi đặt bút viết hồi ký của mình, tướng Westmoreland mới đoán đúng được vẻ mặt của các nhà báo đang sửng sốt nhìn ông: “Gương  mặt của họ phản ánh sự hãi hùng và kinh ngạc, giống như tận thế đã bắt đầu.” Giá như ông nhận ra được điều này vào thời đó trong toàn bộ tầm quan trọng của nó thì giới quân đội chắc đã ít bất lực hơn trong lúc phải chịu đựng tác động sốc tâm lý đang bắt đầu vào thời điểm đó.

Trận đánh truyền thông

Tướng Westmoreland tại tòa Đại sứ Hoa Kỳ,1968

Lời bảo đảm của Westmoreland, tình hình ở Sài Gòn nằm trong tầm kiểm soát, chứng tỏ rằng viên tổng tư lệnh đã xa rời hiện thực và thiếu thông tin cho tới đâu. Hai giờ sau khi giải vây cho đại sứ quán, trung tướng Frederick C. Weyand, chỉ huy quân đội Hoa Kỳ của vùng Sài Gòn, đã vội vã họp báo trong trung tâm báo chí của JUSPAO mà trong đó lần phân tích tình hình của Westmoreland bị lột trần ra là những lời cầu nguyện mong chóng tai qua nạn khỏi.

Tướng Weyand thanh lịch và diễn đạt chính xác, người chẳng hề cố gắng che dấu sự kiêu ngạo trí thức của mình, gọi cuộc tấn công vào Khe Sanh ở phương Bắc là một hoạt động đánh lạc hướng của Bắc Việt Nam, để bảo đảm cho hướng tấn công chính vào các trung tâm dân cư ở phương Nam hiện đang được tiến hành. Sau khi các chiến dịch tìm và diệt đã đẩy lùi Việt Cộng vào rừng và qua đó cô lập họ với người dân thường, bây giờ địch thủ tìm cách trở về các thành phố và những vùng đông dân cư qua một chiến dịch có quy mô lớn. Trong đó, Sài Gòn là mục tiêu chính. Tướng Weyand không đưa ra bất cứ một lời tuyên bố nào mà có thể được suy đoán rằng đó chính là bằng chứng cho việc ngay bây giờ tình hình đã nằm trong vòng kiểm soát rồi, chưa tới mười hai giờ đồng hồ sau khi cuộc tấn công bắt đầu.

Một sự ngẫu nhiên gây khó xử đã đóng một vai trò gây nhiều hậu quả vào buổi sáng ngày hôm đó. Nhà in quân đội vừa hoàn thành bản báo cáo của viên tổng tư lệnh tại Sài Gòn cho năm 1967 đã qua, cái bây giờ được trao cho các nhà báo. Nổi bật trên tấm bìa xanh của tập giấy dầy 70 trang là tựa đề: “1967: Một năm của tiến bộ”. Vào cuối thời kỳ báo cáo, các tác giả tuyên bố như thế trong lời tóm tắt mở đầu, “lực lượng quân sự của địch thủ nằm ở mức thấp nhất kể từ những năm 1965 và 1966. Ba mươi phần trăm lực lượng chiến đấu của họ không còn có khả năng tác chiến nữa.”

Nhưng sự thật là Việt Cộng, như sau này được xác định chính xác, đã dùng một tổng lực lượng là 4000 người để tấn công chỉ riêng vào khu vực Sài Gòn và khu phố người Hoa Chợ Lớn kế cận. Mười một tiểu đoàn đã thâm vào khu trung tâm, trong các vùng chính ở giữa cảng, đại sứ quán Mỹ và phi trường Tân Sơn Nhứt.

Khoảng 13 giờ, khi tôi cùng với một vài đồng nghiệp từ trong trung tâm báo chí bước ra ngoài đường phố trống vắng để trở về khách sạn “Continental” cách đó 200 mét, nhằm gửi thêm một tường thuật qua telex về Hamburg, chúng tôi đã rơi vào làn đạn của các tay súng bắn tỉa. Kẹp trong tay tập giấy “Năm của tiến bộ”, chúng tôi lao từ nơi ẩn nấp này sang nơi ẩn nấp khác, cho tới khi đến được hàng hiên và cửa phụ của khách sạn chúng tôi. Bảng tổng kết thành công của quân đội được phân phát ra vào cái ngày này đã đốt nóng tâm trạng của các phóng viên lên cho tới sự hung hãn bằng ngôn từ. Giới lãnh đạo quân đội đã đánh mất uy tín cuối cùng của họ.

Trận tấn công dịp Tết dường như cuối cùng đã cung cấp cho các phóng viên bằng chứng, rằng giới quân đội đã diễn giải sai hiện thực và đánh giá quá thấp quyết tâm của đối phương. Họ đắc thắng mô tả trận đánh Sài Gòn. Qua đường dây telex và radio, giới nhà báo chuyển tải các tường thuật trải nghiệm của họ, những cái đã đẩy người tiêu thụ ở quê nhà vào một cái gì đó tương tự như bầu không khí của lò mổ, cũng khá tương ứng với hiện thực. “Người dân ẩn nấp trong nhà họ”, tôi tường thuật vào ngày 1 tháng Hai về Hamburg, “họ bất lực, sợ hãi và lo lắng vì không biết tình trạng khẩn cấp kéo dài cho tới chừng nào. Ngay cả việc nhìn thấy người bị thương và những xác chết không toàn thây, được chở hàng giờ trên sàn xe tải với tiếng còi hụ qua đường phố, cũng đã đánh mất cái rùng mình ghê sợ từ lâu rồi.”

Sức mạnh gợi ý của những bài phóng sự và hình ảnh khiến cho giới quân sự ngạc nhiên, nhưng cũng cho chính giới báo chí nữa. Ngay trong những giờ đầu tiên của trận tấn công vào dịp Tết, mối quan tâm của công chúng thu hẹp lại vào một câu hỏi, cái hoàn toàn không có tầm quan trọng nào về mặt quân sự cả: Các đơn vị Việt Cộng trong đêm đó chỉ thâm nhập vào khu vườn của đại sứ quán qua bức tường ở ngoài, hay họ còn chiếm cứ được tòa nhà chính nữa? Tòa đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn bất thình lình có một lực biểu tượng thật to lớn. Trong con mắt của công chúng Mỹ, nó là trụ sở của quyền lực chính trị và quân sự ở Sài Gòn. Lá cờ sao và sọc bay phấp phới ở đây. Lần xung phong tấn công vào tòa đại sứ đã lột trần sự lạc quan có mục đích của quân đội. Nếu như Việt Cộng có thể tấn công bất ngờ và chiếm đóng được trụ sở chính của quyền lực Mỹ ở Nam Việt Nam thì họ cũng có thể tiêu diệt được phần còn lại của chính phủ Nam Việt Nam.

Peter Arnett, một phóng viên gân guốc của Associated Press, người đã có mặt ở Việt Nam từ thời Diệm và thuộc vào trong số các nhà báo lão thành nhiều kinh nghiệm và được tặng nhiều giải thưởng của giới nhà báo, đã báo cáo qua điện thoại về tòa soạn của ông ở New York vào lúc sáng sớm rằng “một số lính Việt Cộng còn chưa rõ là bao nhiêu đã xâm nhập vào tòa đại sứ quán Mỹ”.

Tin đầu tiên của AP chính là tít của ngày hôm đó. Peter Arnett, cũng như các nhà quan sát báo chí khác chỉ có thể nhìn thấy bức tường trắng từ bên ngoài và phỏng đoán được những gì đang xảy ra ở bên trong khu đất hay còn cả ở bên trong tòa nhà chính nữa, đã đưa ra một “worst case scenario”, kịch bản tồi tệ nhất, và đã báo về New York một sự phỏng đoán như vậy.

Tin của AP đã đánh trúng tâm lý của công chúng. Trụ sở của quyền lực Mỹ đã bị chiếm. Một tin chi tiết, sau này được chứng tỏ là sai, có tác động tới tâm trạng cơ bản của khán già, những người dựa vào xúc cảm, không suy nghĩ thêm và không cân nhắc, và không chờ sự xác nhận từ quân đội, đã tự quyết định rằng Việt Cộng đã thực hiện thành công một cuộc tấn công và mang lại cho thế lực dẫn đầu phương Tây một chiến bại có hại tới uy tín.

Việt Cộng có thâm nhập được vào trong tòa nhà chính hay không? Các phóng viên ở Sài Gòn, đang tường thuật về trận đánh ở trường đua, về những chiến máy bay cường kích bây giờ bay những phi vụ tấn công các tòa nhà chính trong trung tâm thành phố mà Việt Cộng cố thủ ở trong đó, không hiểu được câu hỏi vặn này của các ban biên tập ở quê nhà, những người không muốn rời khỏi các diễn tiến tại tòa đại sứ quán Mỹ và liên tục yêu cầu tài liệu mới để có thể tái tạo lại các diễn tiến trong khu đất của đại sứ quán chính xác từng chi tiết một. Quyết định tâm trạng cơ bản của công chúng Phương Tây không phải là các tường thuật đầy đủ đầu tiên, những bài tổng kết tạm thời và các bản phân tích tình hình, mà là chi tiết mang nhiều tính biểu tượng.

Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, 1968
Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, 1968

Tác động của tường thuật về Tết [Mậu Thân] dựa trên một vài câu chuyện về biểu tượng. Phần còn lại của các phóng sự và phân tích quy mô đã không tới gần được tâm trạng của bạn đọc và người xem truyền hình. Ngay cả khi người ta có nhiều sự kiện và thông tin hơn về diễn tiến chung của đợt tấn công, chúng cũng không còn có thể sửa đổi được các phản ứng bản năng đầu tiên của công chúng. Và chính giới báo chí cũng hết sức ngần ngừ trong việc bổ sung và giới hạn các tường thuật gây sốc đầu tiên, vì điều này sẽ gần giống như là sự thú nhận, rằng các bản tin ban đầu của các phóng viên là quá hấp tấp và có thể là đã quá cường điệu.

Chỉ sau một vài ngày thì đã rõ rằng Việt Cộng sẽ không đạt được mục tiêu của họ. Hiệu lệnh vào lúc bắt đầu đợt tấn công đã nêu ra mục đích này: “Bẻ gãy ý chí đế quốc của Mỹ”, tiêu diệt chính phủ bù nhìn ở Sài Gòn và “làm chấn động thế giới”. Hồ Chí Minh đã đưa ra một bài thơ kèm theo mệnh lệnh tấn công vào ngày 30 tháng Giêng 1968: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua.”

Bộ tổng chỉ huy Mỹ sau này đã cực lực bác bỏ lời cáo buộc, đã bị bất ngờ vì đợt tấn công này và đã chịu một “thảm họa trinh sát”, chỉ có thể so sánh được với Pearl Harbor 1941 và trận Ardennen năm 1944.

Thật sự thì bộ tham mưu ở Sài Gòn đã có một mô tả chính xác các ý định và mục tiêu của đối thủ nhiều tuần trước khi đợt tấn công bắt đầu. Ban báo chí của Barry Zorthian đã công bố văn kiện chứa nhiều lực nổ này, tịch thu được ngay từ tháng Mười một, vào ngày 5 tháng Giêng 1968. Ở trong đó có viết là: “Tiến hành những cuộc tấn công lớn về quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng địa phương để đánh chiếm các thành phố. Quân đội cần phải tràn ngập đồng bằng. Phải tiến lên và giải phóng thủ đô. Nắm lấy quyền lực và cố gắng lôi kéo các lữ đoàn và trung đoàn lần lượt về phía ta.”

Giới báo chí lúc đó đã ít chú ý tới văn kiện này. Cả trong các ghi chép của tôi cũng không có manh mối nào cho thấy tôi đã đọc bản báo cáo đó và đã nhận ra được tầm quan trọng của nó.

Các sĩ quan tình báo Mỹ, như Westmoreland tường thuật lại trong hồi ký của ông, đã không muốn tin vào văn bản tịch thu được: nó mâu thuẫn với lôgíc quân sự của họ. Vì thi hành một mệnh lệnh như vậy, trong từ ngữ của Westmoreland, sẽ “mang lại tổn thất thảm hại và chiến bại chắc chắn”.

Người Mỹ biết và hiểu đối thủ của họ ít cho tới mức họ cũng nghĩ sai về các mệnh lệnh tấn công đã được viết ra trên giấy và rơi vào tay họ đúng lúc, và không thể nhận ra một dấu hiệu nào cho thấy rằng Đảng ở Hà Nội đang có mưu đồ gì. Tết [Mậu Thân] không phải là “thảm họa tình báo”. Tết là một ví dụ gây kinh ngạc cho việc người ta không có khả năng hiểu được một nền văn minh xa lạ với những giá trị và thước đo khác. Vì Westmoreland và bộ tham mưu của ông cho rằng một cuộc tấn công trực diện là không hợp lý và là tự sát nên họ cũng tin rằng giới lãnh đạo ở Hà Nội cũng vẽ lên một bức tranh tình hình giống y như vậy. Nhưng ở Hà Nội thì giá cả được tính toán khác với ở Washington. Và cuối cùng, Tết cũng là một cú sốc văn hóa mà đã mang lại cho cuộc chiến ở Việt Nam bước ngoặc quyết định.

Chẳng bao lâu sau, người ta đã có thể nhận ra rằng Hồ Chí Minh đã gửi quân đội của ông vào cái máy xay thịt, vào hỏa lực không thương xót của cỗ máy chiến tranh Mỹ, cái mà bây giờ đã có thể phát huy hiệu lực vô song của nó, khi đối thủ đã xuất hiện. Cả một thế hệ chiến binh cách mạng, những người đã mang lại dấu ấn miền Nam riêng biệt cho Mặt trận Giải phóng đã bị nướng mất trong đợt tấn công vào dịp Tết. Việt Cộng, nhà cách mạng chính cống từ miền Nam, đã hoàn thành nhiệm vụ chết người cuối cùng của mình trong đợt tấn công Tết. 30.000 tới 50.000 lính, được ước lượng sau đó, đã chết ở bên phía cộng sản.

Các lỗ hổng sau đợt tấn công Tết đã được lấp đầy bằng các đơn vị chính quy từ Bắc Việt. Việt Cộng đã tự mình trở thành nạn nhân theo mệnh lệnh từ Hà Nội. Cơ hội của một sự phát triển chính trị độc lập ở Nam Việt Nam qua đó đã bị thủ tiêu.

Tết cũng đã dọn đường cho lần tái thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo và kiểm soát của Đảng Cộng sản ở Bắc Việt Nam.

Tàn phá để giải phóng

Ở Sài Gòn, những người tấn công không đạt được mục tiêu nào của họ. Họ không chiếm được cả tòa đại sứ quán Mỹ lẫn dinh tổng thống, cả đài phát thanh lẫn phi trường. Tuy vậy, thất vọng lớn nhất cho Đảng ở Hà Nội phải là việc người dân thường ở Nam Việt Nam đã không sẵn sàng nổi dậy, khởi nghĩa, cái đóng một vai trò trung tâm trong ý thức hệ của những người cộng sản Việt Nam. Người dân giữ khoảng cách như nhau với Việt Cộng cũng như với người Mỹ. Trong tháng Hai 1968, không thể nói tới một phản ứng dây chuyền đã được hy vọng mà đợt tấn công này có nhiệm vụ phải khởi động.

Chợ Lớn 1968, đoạn cuối đường Đồng Khánh
Chợ Lớn 1968, đoạn cuối đường Đồng Khánh

Sự việc cơ bản không thể nào chối cãi này của đợt tấn công dịp Tết đã không tìm được chỗ đứng đầy đủ trong các tường trình bao quát và chi tiết từ chiến trường. Các câu chuyện truyền hình thể hiện tính chiến đấu, tính bi kịch, máu, đổ nát và xác chết. Vào độ ngày 10 tháng Hai, tôi đã gửi một phim tường thuật về cho [chương trình truyền hình] “Weltspiegel”, chiếu người chỉ huy lực lượng cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan trong lúc đang thanh trừng ở Chợ Lớn. Đoạn trích dẫn sau đây từ bài viết kèm theo phim mang lại một hình ảnh cho bầu không khí ở Sài Gòn.

“Vị trí của Việt Cộng được phát hiện trong Quận 8 của Chợ Lớn. Sếp cảnh sát Loan gửi lực lượng của ông vào trận khi đã về chiều. Thiếu tướng Loan, không thích ống kính từ những lý do về an ninh, mới đây đã trở nên nổi tiếng một cách đáng buồn, khi ông tự tay bắn chết ngay trên đường phố một sĩ quan Việt Cộng bị bắt. Lính Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam được chở tới để tăng viện. Việt Cộng bắn từ phần phía trên của con đường. Những người cảnh sát tìm chỗ nấp ngay trong khu vực của họ, trong một của nhiều đồn bót nhỏ ở Chợ Lớn. Cũng từ ở đó, viên cố vấn Mỹ của đơn vị Việt Nam theo dõi diễn tiến của chiến dịch. Trong trường hợp khẩn cấp, ông có thể yêu cầu trực thăng chiến đấu hỗ trợ, để bắn Việt Cộng bằng hỏa tiển từ trên cao xuống. Một chiếc xe hồng thập tự thu nhặt những người bị thương đầu tiên trên đường phố.

Trong một khoảnh khắc ngưng bắn, những người dân cuối cùng của đoạn đường rời khỏi các ngôi nhà đang bị giành giật của họ. Họ đã ở lại đó vì sợ bị hôi của và trộm cắp. Ba Việt Cộng bị bắt. Người ta không tin họ và đối xử với họ hết sức thận trọng. Cũng từ con đường đó, con đường mà những người dân thường vừa mới chạy trốn ra khỏi đó, Việt Cộng đã bắn bằng một loại vũ khí chống tăng, cái được gọi là bazooka, nhưng không trúng chiếc xe tăng  và đã nổ tung trong không khí. Lực nổ đã hất các chiến binh xuống đất. Một vài người cảnh sát bị thương, cả hai người Mỹ cùng quay phim chiến dịch này với chúng tôi cũng bị thương. Chiếc xe hồng thập tự lại đến để chở những người bị thương vào bệnh viện. Đối với họ, trận chiến đã chấm dứt.”

Tính sẵn sàng của quân đội Mỹ, tạo thuận lợi cho việc làm của các nhà báo, đưa cho họ bất kỳ sự giúp đỡ và hỗ trợ nào được mong muốn, cũng vượt qua được thử thách trong khoảnh khắc căng thẳng và nguy hiểm lớn nhất. Khi phi trường Tân Sơn Nhứt bị bắn phá vào ngày đầu tiên, và hoạt động hàng không dân sự bị gián đoạn, các chiếc máy bay quân y chở những người bị thương nặng sang Tokio của Mỹ cũng mang cả những túi phim của các đài truyền hình Mỹ với những hình ảnh vây hãm tòa nhà đại sứ quán Mỹ đi cùng. Từ Tokio, nơi người ta tráng phim, các cảnh quay, không bị cắt xén và cả ban biên tập ở New York cũng không biết được nội dung, được truyền trực tiếp qua vệ tinh vào chương trình Huntlex Brinklex của NBC. 36 giờ sau đó, khán giả truyền hình trải qua được màn mở đầu đầy kịch tính của đợt tấn công vào Sài Gòn. Vào thời đó, với phim màu thông thường, còn chưa thể truyền đi hình ảnh nhanh hơn được. Sài Gòn còn chưa có nơi sao chép lại phim màu. Giả như thời đó đã có kỹ thuật hình điện tử mà ngày nay được dùng ở khắp nơi trên thế giới, thì tác động gây sốc của tường thuật chiến tranh không qua kiểm duyệt chắc chắn sẽ còn lớn hơn nữa.

Sau trận đánh giành giật đại sứ quán, đã chiếm lĩnh tít chính nhiều ngày liền, mối quan tâm của công chúng quay sang cuộc hành hình trên đường phố mà tướng Loan đã thực hiện lúc thanh trừng trong Chợ Lớn gần chùa Ấn Quang.  Lúc đó, không một ai quan tâm tới hậu cảnh của cuộc hành hình. Loan đã xuất hiện như một tên đồ tể, bắn chết tù nhân ngay sau khi những người này được dẫn tới cho ông.

Eddy Adams, nhiếp ảnh gia trầm tư của AP, người chụp cảnh đó, sau này đã không còn hài lòng với thông điệp bề ngoài của bức ảnh nữa. Trong một số đặc biệt của Newsweek, tháng Tư 1985, mười năm sau khi Sài Gòn kết thúc, Adams tường thuật về câu chuyện trước lúc hành quyết: “Tôi vừa mới khám phá ra rằng viên thiếu úy Việt Cộng bị hành quyết trên bức ảnh trước đó đã giết chết một thiếu tá cảnh sát Nam Việt Nam, một trong những người bạn thân thiết nhất của Loan, và thêm vào đó là toàn bộ gia đình với vợ con. Tất cả đều đã lên án Loan vì ông ấy đã bắn chết người tù binh. Nhưng nếu người ta ở trong tình trạng của Loan: khi có chiến tranh và những người của mình bị giết chết, thì làm sao mà người ta biết rằng liệu chính mình cũng có bắn chết một tù binh như vậy hay không?”

Vẻ ngoài gây sốc; nhưng nó chỉ hé lộ một phần của hiện thực phức tạp hơn, mâu thuẫn hơn những gì có thể thấy rõ trong tường thuật rất nhiều. Một phần của bức ảnh tổng thể thu hút toàn bộ sự quan tâm. Tiểu tiết có sức mạnh biểu tượng. Trận tấn công dịp Tết, vâng, toàn bộ cuộc chiến ở Việt Nam, cô đọng lại trong một bức ảnh hay trong một câu nói duy nhất, như Peter Arnett với thành tích cá nhân thứ nhì về mặt báo chí đã chứng minh.

Theo yêu cầu của một vài đại diện truyền thông Mỹ, của giới đứng ở vòng trong, vì nổi tiếng trong giới báo chí mà hưởng được sự chú ý đặc biệt của ban báo chí quân đội, cũng là giới đã được gọi tới trong đêm đại sứ quán bị bao vây, bộ tổng chỉ huy tổ chức trong tuần thứ hai của đợt tổng tấn công dịp Tết một loạt chuyến đi tham quan trong ngày, để mở rộng tầm nhìn của báo chí và thể hiện rõ quy mô thảm họa của Việt Cộng. Ở ngoài kia, hỏa lực được sử dụng tàn nhẫn hơn là trong thủ đô có mật độ dân cư đông đúc. Những người Việt Cộng tấn công đã bị bom và đạn pháo nghiền nát. Nhưng còn đáng sợ hơn nữa là các nạn nhân từ người dân thường và sự tàn phá về vật chất mà cỗ máy chiến tranh đã gây ra.

Bến Tre 1968
Bến Tre 1968

Vào ngày 7 tháng Hai 1968, một chiếc máy bay đặc biệt với một nhóm nhà báo người Mỹ đã khởi hành một chuyến đi trong ngày tới Bến Tre, một tỉnh lỵ trong đồng bằng sông Cửu Long mà từ nhiều năm nay đã có thể đứng vững như thành trì trong một vùng bị đối phương thâm nhập và trong thời gian đó hay bị các đơn vị Việt Cộng bắn phá bằng hỏa tiển. Trong diễn tiến của đợt tấn công Tết, các nhà chiến lược đối phương đã cử một lực lượng đặc biệt mạnh tấn công Bến Tre, để cuối cùng rồi cũng phải chiếm được tiền đồn của chính phủ Thiệu.

Trước áp lực hết sức lớn và mối nguy bị tràn ngập, những người lính Sài Gòn và các cố vấn của họ không còn có sự lựa chọn nào khác ngoài cách yêu cầu pháo binh và không quân yểm trợ, để dùng phương tiện mạnh mà tiêu diệt những người tấn công đã thâm nhập vào thành phố. Những hành động như vậy chắc chắn sẽ gây tàn phá rất lớn, và đồng thời cũng ảnh hưởng tới người dân thường. Với những người Việt Cộng, cả phụ nữ và trẻ em đã chạy trốn vào trong nhà, cũng bị trúng đạn và bị giết chết.

Nhóm nhà báo từ Sài Gòn quan sát vài giờ những chiếc máy bay chiến đấu lơ lửng trên các mái nhà và can thiệp vào trận đánh bằng súng máy hạng nặng. Qua đó, Bến Tre phần lớn chỉ còn là một đống đổ nát. Trong tường thuật của các thông tín viên, hoàn cảnh đó phần lớn cũng được đề cập tới. Thêm vào đó, trong phóng sự của Peter Arnett còn có một câu trích dẫn đã hội tụ tình trạng lại như một cái kính lúp. Peter Arnett đã để cho một thiếu tá người Mỹ không nêu tên nói một câu nói đã trở thành câu châm ngôn và đã lột trần tình trạng khó xử của Mỹ ở Việt Nam giống như một ngọn đèn pha chiếu sáng: “Cần phải phá hủy thành phố để cứu nó.”

Không một phóng viên nào khác từ nhóm tham quan ở Bến Tre đã nghe được và ghi nhận câu nói này. Sau này, giới chỉ huy quân đội đã ra chỉ thị điều tra, để tìm cho ra tác giả của câu nói gây đau đớn, gần như là mang tính lật đổ đó. Peter Arnett hẳn đã đoán trước, rằng trong trường hợp này thì tốt hơn là nên bảo vệ nguồn tin của mình trước những cuộc điều tra của Lầu Năm Góc; hay là ông đã tự viết ra câu đó, và từ những lý do về văn phong – bi kịch mà đã để cho một thiếu tá nặc danh nói. Một phương cách như thế cũng là thông thường và được chấp nhận trong báo chí Mỹ. Peter Arnett vẫn giữ bí mật của mình cho tới ngày hôm nay. Câu chuyện của ông đã có ảnh hưởng tới thái độ của giới công chúng Mỹ về cuộc chiến ở Việt Nam nhiều hơn là nhiều hình ảnh và tường thuật khác.

Cú sốc giúp Hà Nội chiến thắng

Mùa thu 1967, tướng Westmoreland trong một chuyến đi thuyết trình xuyên nước nhà đã vẽ nên một bức tranh tươi đẹp cho tới mức công chúng đã chuẩn bị tinh thần cho một chiến thắng sắp đến. Trong “Báo cáo về tình hình quốc gia”, cái mà tổng thống Lyndon B. Johnson trình bày vài ngày trước Tết, một đợt tấn công của Hà Nội không hề được để cập tới dù chỉ với một từ. Nước Mỹ đã không chuẩn bị trước cho một thất bại về quân sự ở Việt Nam.

Đợt tấn công dịp Tết đã tạo ra một cú sốc mà tường thuật báo chí không bị kiểm duyệt chỉ tăng cường nó lên, nhưng thật ra là không tác động. “Tôi đã nghĩ là chúng ta sẽOK thắng cuộc chiến này”, người dẫn chương trình truyền hình nổi tiếng Walter Cronkite bày tỏ, người đã thay đổi quan điểm cho tới lúc đó của ông qua Tết. Cronkite, người đã sang Sài Gòn ngay trong thời gian của đợt tấn công, để tận mắt nhìn tình hình, vào lúc đó đã từ bỏ hy vọng, rằng cuộc chiến này ở Đông Nam Á có thể thắng được bằng phương tiện quân sự.

Walter Cronkite, leggenda del giornalismo Usa e' morto a 92 anni. Racconto' agli americani i piu' importanti eventi del secolo scorso
Walter Cronkite

Robert Kennedy, người chuẩn bị thách thức Lyndon B. Johnson tại lần bầu cử tổng thống sắp diễn ra trong năm 1968 bằng cách ra ứng cử, đã đưa ra một đánh giá tình hình mà nhiều người Mỹ tự phát thấy nó rất hiển nhiên: “Từ hai mươi năm nay, chúng ta sống trong một ảo tưởng. Lịch sử chiến tranh không hề ghi nhận một sai lầm kéo dài lâu tương tự như vậy. Đã đến lúc phải từ giã một hình ảnh điên rồ và nhận ra hiện thực. Một chiến thắng quân sự không nằm trong tầm nhìn thấy, và trong tương lai cũng sẽ không thể đạt tới nó được.”

Trong khi Việt Cộng bị cỗ máy chiến tranh của Mỹ tiêu diệt ở Nam Việt Nam và chịu một chiến bại mang tầm cỡ chiến lược thì phản ứng hoảng hốt của giới công chúng Mỹ đã giúp cho chế độ Hà Nội có được một chiến thắng về chính trị. Nhưng chỉ với tường thuật đầy xúc cảm, hướng tới một worst case của truyền thông thì không thể giải thích được cú sốc của công chúng. Lý do rất đa dạng, và chúng nằm sâu trong cấu trúc nhận thức của xã hội Mỹ.

Quân đội Mỹ đóng ở Nam Việt Nam đã sáu năm nay. Cho tới lúc đó, con số đã tăng lên tới nửa triệu, trong đó đa số là những người phải đi lính, và chiến thắng được hứa hẹn thì còn lâu mới giành được. Ở Mỹ, cứ hai năm là bầu cử một lần. Hạ viện được bầu mới hoàn toàn, một phần ba thượng nghị sĩ phải bước ra tái ứng cử. Chính trị gia cần những thành công nhanh chóng, để có thể đứng vững trong sự xoay vòng đó. Hệ thống dân chủ Mỹ cho phép người dân có ảnh hưởng rất lớn tới chính trị. Trạng thái tâm lý của người dân đi bầu biến chuyển thành những đa số hay thay đổi. Nền dân chủ Mỹ không cổ vũ cho việc theo đuổi các phương án ngoại giao một cách nhẫn nại và kiên trì. Truyền thông hiện đại, sự thống trị của truyền thông lại còn khuếch đại các chỗ yếu của hệ thống này thêm nữa.

Trong Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến, giới công chúng Mỹ đã vượt qua được lần thử thách lòng kiên nhẫn, vì đối thủ xuất hiện như là cái xấu và tính cách giống như thập tự chinh đã có thể động viên được những dự trữ lớn của xúc cảm. Ở Việt Nam, nước Mỹ chỉ hoạt động với trí óc, không hoạt động với con tim. “Bác Hồ” và những người Việt Cộng sẵn sàng hy sinh không thu hút một sự căm thù thật sự về phía họ, cái mà người ta có thể biến đổi chúng thành sự trung thành với các nguyên tắc và ý chí muốn chiến thắng. Các tổng thống Kennedy và Johnson đã dẫn nước Mỹ vào chiến tranh mà không thông tin một cách trung thực và đầy đủ cho công chúng và cũng chưa từng bao giờ cố gắng mang dân tộc đoàn kết đứng ở sau các lực lượng đang chiến đấu. Quân đội Mỹ, viên tướng thông minh và tự phê phán Frederik Weyand đã viết ngay từ năm 1976, một năm sau cuộc chiến, “trước hết không phải là một công cụ của hành pháp, mà là cánh tay của nhân dân. Vì vậy mà không được phép sử dụng quân đội một cách thiếu thận trọng.”

Tổng kết của các phân tích quân sự mà sử gia về chiến tranh, đại tá Summers, đưa ra, cũng rõ ràng và không thể bị hiểu lầm: “Sai  lầm chiến lược lớn nhất trong Chiến tranh Việt Nam là việc không liên kết với ý chí quốc gia. Qua đó, mà một khả năng bị tổn thương đã thành hình, cái mà địch thủ đã có thể lợi dụng được.”

Cùng với giới quân đội, tổng thống Lyndon B. Johnson đã cố giấu giếm người dân Mỹ, rằng cuộc chiến phải được mở rộng từng bước một và phải nâng tiền đánh cược lên rất cao. Trong một bản ghi nhớ của Hội đồng An ninh Quốc gia trong tháng Tư 1965, việc đánh lạc hướng và thông tin sai công chúng được diễn đạt một cách điển hình. Theo ý muốn của tổng thống, việc tăng lực lượng quân đội lên thêm 18.000 cần phải được diễn tả “dần dần và hoàn toàn phù hợp với đường lối chính sách cho tới nay”. Đó là một bước leo thang mà cần phải được diễn tả không như là một bước leo thang. Nằm trong đường lối thông tin này, một nhà phân tích thông minh đã phán xét, là “bản chất của những gì sai lầm cơ bản trong chính sách và chiến lược Mỹ”.

Nhiệm vụ của báo chí là phát hiện ra âm mưu chống công chúng này và khoan thủng tính lạc quan của Lầu Năm Góc. Nhìn toàn bộ thì giới truyền thông đã làm tròn được vai trò trong hệ thống của nó. Ngược lại, đối với Westmoreland, điều chắc chắn là bắt đầu từ Tết [Mậu Thân], “cung cách ở bên phía các phóng viên Mỹ rõ ràng đã góp phần để cho kẻ địch có thể giành được một chiến thắng về mặt tâm lý ở Hoa Kỳ”. Tất nhiên, trong huyền thoại mới về con dao đâm sau lưng này, rõ ràng là người ta đã phớt lờ, rằng không chỉ các nhà báo mà cả giới chỉ huy quân đội ở Sài Gòn cũng đã bộc lộ một phản ứng hoảng hốt mà chính nó mới mang lại cho trận tấn công dịp Tết bước ngoặc quyết định.

Tuy Westmoreland tuyên bố chiến thắng Việt Cộng, nhưng đồng thời lại để cho sếp của bộ tham mưu liên quân, tướng Earl Wheeler, yêu cầu thêm 206.000 quân lính dựa trên một kịch bản cho tình huống xấu nhất. Yêu cầu của giới quân đội này đã khiến cho tổng thống Johnson bỏ cuộc. Ông ra lệnh xuống thang trong cuộc chiến ở Việt Nam, và đồng thời tuyên bố ý định rời bỏ chứ vụ, không đứng ra ứng cử cho một nhiệm kỳ thứ hai.

Mãi tới bây giờ Hà Nội mới giành được một chiến thắng ở Mỹ. Các tướng lĩnh, chứ không phải các nhà báo, đã khiến cho Johnson phải xét lại các mục tiêu của cuộc chiến và hướng tới việc thương lượng với Bắc Việt Nam. Các tường thuật báo chí về đợt tấn công dịp Tết chỉ hỗ trợ gián tiếp cho lần sửa đổi đường lối này.

Ngay cả khi huyền thoại về con dao đâm sau lưng của giới quân đội quanh Westmoreland không thuyết phục được, người ta cũng vẫn phải thừa nhận rằng giới truyền thông trong thời gian của đợt tấn công dịp Tết đã để cho tính bi kịch của các sự kiện bên ngoài trói buộc quá mạnh. Trên đường săn lùng các hoạt động chiến đấu và hình ảnh biểu tượng nhiều xúc cảm, đa số các phóng viên đã không nhận ra được giá trị thật của các sự kiện và cung cấp những bài tường thuật có thể đưa ra một hình ảnh phù hợp với tình hình quân sự. Tiếp theo sau cú sốc đầu tiên lẽ ra phải là một tường thuật bình tỉnh, mang tính phân tích mà trong đó thất bại của chiến dịch công kích của Việt Cộng và tổn thất đáng sợ của những người tấn công được thể hiện thật rõ.

Mãi sau nhiều tuần, khi cuộc chiến trên đường phố ở Sài Gòn và Huế đã giảm xuống, thì nhận thức mới lờ mờ hiện ra, rằng Việt Cộng đã không đạt được các mục tiêu chiến dịch của họ. Tất nhiên, giới công chúng thế giới chỉ được truyền tải lại một ám chỉ, không nhiều hơn, bị tương đối hóa bởi sự hoài nghi. Lẽ ra đó là thời điểm cho cỗ máy tuyên truyền của Lầu Năm Góc. Nhưng quân đội đã đánh mất mọi tính khả tin. Đa số người dân Mỹ đã tin vào người tổng chỉ huy ở Việt Nam, khi ông ấy đưa ra triển vọng chiến thắng. Bây giờ thì hầu như không còn ai tin vào ông nữa, khi ông trình bày một thành công chiến lược thật sự sau Tết.

Peter Braestrup, người thu thập kinh nghiệm báo chí của mình ở New York TimesWashington Post và sau đó chuyển sang khoa học về truyền thông, đã đưa ra một nghiên cứu tỉ mỉ về đợt tấn công dịp Tết, cái cáo buộc giới báo chí nói chung là đã lâm vào tình trạng hoảng loạn, nhận định và diễn giải sai lầm diễn tiến quân sự của các sự kiện ở Nam Việt Nam. “Big Story” là tựa đề của bản phân tích đã được xuất bản ngay từ năm 1977, cái đã đi tới lời phán xét mang tính hủy diệt sau đây: “Hiếm khi – lúc nhìn lại từ sau này – mà báo chí lại cách xa hiện thực như thời đó.”

Một tác giả khác, Philip Knightley, người nghiên cứu về quan hệ giữa quân đội và báo chí từ cuộc Chiến tranh Krym, thời điểm bắt đầu của tường thuật chiến tranh thật sự, đã thừa nhận rằng “phần lớn các thông tín viên đều nhìn Tết một cách sai lầm”, rằng trước hết là họ đã phớt lờ thảm họa quân sự của Việt Cộng. Mỗi một phóng viên ở Nam Việt Nam, Knightley đã cố gắng giải thích các lý do như vậy, chỉ có một phần thông tin, nhìn bao quát “một lĩnh vực quá nhỏ của nhận thức”. Vì các phóng viên không nhìn được tổng cục diện nên họ quay sang các biểu tượng, cuộc hành quyết của Loan, lần tàn phá Bến Tre, các tấn bi kịch bom napalm và cuối cùng là vụ thảm sát Mỹ Lai. Việt Nam đã làm cho các phóng viên trở nên kiêu căng, nghĩ rằng có thể mô tả tất cả và làm được tất cả. Thật sự thì Việt Nam là một tấn bi kịch phức tạp cho tới mức các nhà báo, cũng như tất cả những người tham gia khác, đã bị nó chế ngự. “Hãy cẩn thận trước quá nhiều biểu tượng”, Knightley khuyên, “chúng là một lối thoát êm ái.”

Thiếu sót của tường trình chiến tranh từ Việt Nam mãi sau này mới được xét ngiệm tỉ mỉ và hiểu thấu với các nguyên do, khi sự kiện đã trở thành lịch sử từ lâu. Một thiếu sót khác đã được các phóng viên nhận ra và than phiền ngay từ những năm chiến tranh. Tự do tường thuật chỉ có ở một bên, ở Nam Việt Nam tại các đơn vị Mỹ và quân đội của Sài Gòn.

Việt Cộng và quân đội Bắc Việt khép kín mình trước ánh mắt của truyền thông quốc tế. Trong thời gian của những năm chiến tranh, chỉ có một ít nhà báo chọn lọc là mới được phép đến thăm Hà Nội và tạo cho mình một hình ảnh riêng của hoàn cảnh.

Chuyến đi thăm Hà Nội

Đi thăm Bắc Việt Nam là mong muốn của hầu như tất cả các phóng viên, những người chỉ biết miền Nam và phải hài lòng với những phỏng đoán và suy đoán về phe cộng sản. Đảng viên trung thành với đường lối, không đưa ra những câu hỏi khó chịu và xác nhận những luận điểm chính của tuyên truyền chiến tranh Bắc Việt, thường được cho phép đi vào nhiều hơn là các nhà quan sát “thường dân”, tuy có thiện cảm cho phe yếu thế về kỹ thuật nhưng lại mở mắt đi khắp nước và so sánh phiên bản chính thức với hiện thực mà họ tiếp cận được.

Hà Nội, 1973
Hà Nội, 1973

Năm 1965, chính quyền đã cho phép đội quay phim truyền hình phương Tây đầu tiên dưới quyền của nhà báo tự do người Anh James Cameron nhập cảnh vào nước. Nhưng công việc quay phim bị chấm dứt mà không có lý do cụ thể, và những người khách được mời bay ra khỏi nước với chuyến bay Aeroflot kế đến. Phim của Cameron biểu lộ nhiều sự thông cảm và thiện cảm cho người dân đang phải chịu đựng cuộc chiến tranh ném bom. Lúc sản xuất, nhóm quay phim Anh quốc cũng biết rằng họ chỉ được cho phép nhập cảnh vì chính phủ hy vọng có lợi riêng cho họ. Cameron và đội quay phim Anh quốc không được mời tới Hà Nội để tường thuật tự do, khách quan, một tường thuật mà có thể làm cho tuyên truyền của Hà Nội lung lay. Lúc đó, ai đi thăm miền Bắc, nhà sử gia báo chí Philip Knightley phán xét, thì phải dự tính trước tới việc là tính đáng tin cậy và khả năng của mình cũng như các nguyên tắc chuyên nghiệp của mình sẽ bị thử thách.

Khi Walter Cronkite, người dẫn nổi tiếng của chương trình tin tức CBS, công khai thay đổi ý kiến của ông về cuộc chiến ở Việt Nam trên đỉnh cao của đợt tấn công dịp Tết và khuyên hãy ngưng tham chiến, tổng thống Lyndon B. Johnson đã cảm nhận điều đó như là một cú đánh mạnh vào chính sách của ông. Hà Nội phản ứng với lần thay đổi đường lối của con người quan trọng, theo chủ nghĩa tự do, có nhiều ảnh hưởng tới ý kiến công chúng đó bằng cách mời ông sang thăm Bắc Việt Nam.

Walter Crokite, đã tham dự Đệ nhị Thế chiến như là phóng viên của UPI, có linh tính của một nhà báo nhiều kinh nghiệm. Chịu nhiều ảnh hưởng của giới bảo thủ, ông chưa từng bao giờ nghi ngờ lòng yêu nước của mình,

Năm 1966, một năm trước đó, ông đã hoài công xin một thị thực cho Bắc Việt Nam. Lời mời bây giờ, sau khi ông khuyên chính phủ Johnson hãy chấm dứt cuộc chiến, đối với Walter Cronkite, một con người điềm tỉnh và không thể mua chuộc được, giống như một phần thưởng từ địch thủ cộng sản. Ông biết rằng có một câu chuyện lớn đang chờ đợi ông. Phản ứng của công chúng trước lần xuất hiện của ông ở Hà Nội có thể sẽ còn lớn hơn sự chú ý đến chuyến đi Sài Gòn của ông. Mặc dù vậy, Crokite đã yêu cầu CBS hãy từ chối lời mời. Ông không nghĩ rằng ông cần phải đi, ông đã đánh điện như vậy từ nơi nghỉ mát trong vùng Caribe.

Một đảng viên, người vẫn trung thành với đường lối và tuy vậy vẫn công bố nhiều thông tin cơ bản về miền Bắc và quân đội của nó, là nhà báo người Úc Wilfred Burchett, người luôn được mở rộng cửa ở Hà Nội, vì ông, như là cái loa và kênh thông tin, đã thỏa mãn các nhu cầu đặc biệt của chính phủ Bắc Việt Nam một cách đáng tin cậy.

Theo lời giới thiệu của Wilfred Burchett, chính phủ ở Hà Nội đã mời cộng sự nổi tiếng của tờ New York Times, Harrison Salisbury, vài năm sau đó. Salisbury với những bài tường thuật từ Bắc Việt Nam đã đưa ra một thước đo mà tất cả những người khách đến thăm từ Phương Tây sau đó đều được so sánh với nó. Vì người phóng viên của tờ New York Times, đã trải qua lần bao vây Leningrad trong Đệ nhị Thế chiến, và đã mô tả sự chịu đựng của người dân Xô viết một cách hết sức cảm động, cũng nhìn Bắc Việt Nam bằng đôi mắt thiện cảm.

Loạt bài của Salibury trên tờ New York Times cáo buộc không quân Mỹ đã bỏ bom không chỉ các mục tiêu quân sự và chiến lược ở Bắc Việt Nam. Ngay cả các con đê, Salisbury bảo đảm như vậy, cũng đã bị bom hạng nặng phá hủy, để làm ngập đồng bằng của miền Bắc. Với chứng nhận của Salisbury, cái bị Lầu Năm Góc tố cáo là tuyên truyền cộng sản, chính phủ của Hà Nội đã củng cố luận đề không chỉ đóng dấu người Mỹ như là những người tấn công mà còn là những kẻ phạm tội. Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, lời quả quyết là như vậy, bỏ bom có kế hoạch và hệ thống các vùng dân cư mật độ cao, để tiêu diệt người dân thường. Cuộc không chiến cũng phá hủy đê đập và qua đó là nền tảng của cuộc sống Bắc Việt Nam. Nước Mỹ mang tội khủng bố và diệt chủng.

Peter Weiss, người cả đời mình đã chịu ảnh hưởng nặng của các trải nghiệm từ thời Phát xít, tác giả người Đức phát xét với con tim, không chỉ với trí óc lạnh lùng, sau một chuyến đi xuyên qua Bắc Việt Nam năm 1968 đã tin rằng, “nước Mỹ muốn diệt chủng…Ý định của Mỹ là diệt chủng, và ý định này vẫn còn đó”, Peter Weiss trình bày trong một cuộc trao đổi với Spiegel mà tôi đã cùng với Georg Wolf tiến hành ở Stockholm trong mùa hè 1968.

Trong mùa xuân năm 1974, chính tôi cũng nhận được một lời mời ra Bắc Việt Nam. Cho tới lúc đó, nhà văn và phóng viên báo chí từ nước Cộng hòa Liên bang [Đức] đã được cho vào, trong số đó có Werner Holzer của tờ Frankfurter Rundschau, nhưng còn chưa có phóng viên truyền hình nào, từ [đài truyền hình] ARD lẫn từ [đài truyền hình] ZDF đều không. Lời mời chuyển tới giám đốc văn phòng ARD ở Hongkong là do một công ty phim Nhật Bản làm trung gian, có mặt chính thức ở Hà Nội với đội quay phim duy nhất từ một nước không cộng sản. Cộng tác với đội ngũ người  Nhật này là điều kiện gắn kết với tờ thị thực. Nhờ sự giúp đỡ của Nihon Denpa News, Tokio, mà tôi, như là phóng viên truyền hình duy nhất của nước Đức, đã có thể đi thăm Bắc Việt Nam trong thời chiến và đi thăm đất nước này cho tới biên giới phía Nam, thời đó ở cạnh sông Thạch Hãn tại thành phố Quảng Trị.

Vào ngày 10 tháng Tư năm 1974, tôi bay từ thủ đô Vientiane của Lào, nơi Bắc Việt Nam có một tòa đại sứ, cũng là nơi đóng thị thực cho tôi, tới Hà Nội. Khi rời chiếc máy bay Aeroflot, có một phái đoàn với bông hoa chào đón tôi. Những trang sau đây là các ghi chép nhật ký mà trong đầu mùa hè 1974 đã được phát sóng đi như là bài đặc biệt trong hầu như tất cả các chương trình radio của ARD.

Historical Vietnam - North Vietnam 1973
Hà Nội, tháng 3 năm 1973

10 tháng Tư 1974

“Là nhà báo mà được tiếp đón với bông hoa, điều đó đánh thức dậy những cảm nhận mâu thuẫn. Chính trị gia được đón tiếp như vậy, chính khách nhà nước luôn luôn được đóng tiếp như vậy, đặc biệt tất nhiên là các quý bà đi cùng, và thỉnh thoảng cả những người đang tranh cử cũng yêu cầu để sẵn những bó hoa thật to, thích nhất là hoa lay ơn, để dàn cảnh tiếp đón ứng cử viên đang tới một cách xứng đáng. Đón tiếp nhà báo với bông hoa khiến cho người ta suy ra rằng còn có ẩn ý ở phía sau.

Ở đây thì không có ai vào gian sảnh chờ mà không có báo trước. Toàn bộ khách tới đây đều có một người nhận, một người tiếp, người chuẩn bị tất cả cho lần lưu lại Hà Nội.

Bông hoa xác nhận một sự việc rõ ràng. Những cử chỉ nồng nhiệt, khiến cho người ta phải suy nghĩ, có liên quan tới tình huống khó khăn mà một nhà báo lâm vào, người chấp nhận một lời mời và tuy vậy vẫn quyết tâm bảo toàn tính độc lập của mình. Lần này thì rủi ro nằm ở cả hai bên. Tôi không muốn hứa hẹn điều gì cho công việc của chúng tôi. Thậm chí cũng không hứa hẹn tính khách quan, cái trong trường hợp tốt nhất là lời nói dối suốt đời của các chính khách. Tôi theo phe phái: phe phái của các sự kiện.

11 tháng Tư

Ấn tượng từ những chuyến đi qua thành phố để cho tôi phỏng đoán được tình cảnh khổ cực thật sự của đất nước này. Trong mười năm vừa qua, Hà Nội đã để cho khách viếng thăm ngạc nhiên bằng các dấu hiệu của sự nghèo khó và không màu sắc.

Trong một của những quyển sách của ông, Bernard Fall, người đã sống ở thủ đô trong thời còn của chính quyền thuộc địa Pháp và luôn nhìn Việt Nam, cả hai Việt Nam, với đôi mắt yêu thương, đã nói về “sự tồi tàn không thể tưởng tượng được” của Hà Nội. Từ hình ảnh thành phố, người ta hầu như phải kết luận rằng người Pháp rút đi hẳn đã mang theo tất cả các cây cọ tô màu và tất cả các dụng cụ để sửa chữa đá lót đường.

Mary McCarthy, thăm Hà Nội năm 1968, trước cuộc chiến tranh ném bom tập trung vào các trung tâm công nghiệp, đã so sánh thành phố với một cái bồn tắm cũ, đã trở nên xám xịt và tồi tàn bởi những chất tẩy rửa quá mạnh.

Thành phố, tôi có cảm giác như vậy, đã còn xuống cấp nhiều hơn nữa và ngày nay giống như một đài kỷ niệm đang bị sự tăng trưởng nhiệt đới của thiên nhiên phủ dần cây cỏ lên. Các tòa nhà từ thời thuộc địa, những biệt thự lớn mà người ta thỉnh thoảng chỉ còn có thể đoán ra được màu nâu nhạt của nó, đã bị thời tiết làm hư hỏng nhiều. Cửa sổ góc và góc nhà đầy rêu. Ẩm ướt đã xuyên qua tường và tạo thành một lớp mốc meo không lan tỏa đi nét óng ánh nào, mà chỉ đánh thức dậy nỗi nhớ nhung tới những thời tốt đẹp hơn.

12 Tháng Tư

Một khu cư dân ở cạnh đường Khâm Thiên, còn gần như là trung tâm Hà Nội, đã bị phá hủy bởi một thảm bom B-52 vào ngày lễ Giáng Sinh thứ hai năm 1972. Theo số liệu chính thức thì lúc đó có 534 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn và 1200 bị hư hại. Các quả bom của lần tấn công vào ban đêm này đã giết chết 283 người và làm bị thương 266 người. Ảnh chụp của khu dân cư bị tàn phá đó ngày nay được treo trong Bảo tàng Lịch sử Cách mạng.

Hôm nay, chúng tôi đã tới thăm Khâm Thiên và đã có thể nhìn qua khu phố đó từ lối đi ở trên cao của một đài tưởng niệm các nạn nhân lần máy bay B-52 tấn công đó. Ảnh chụp trong bảo tàng mang lại ấn tượng của một sự tàn phá làm cho người ta nhớ tới cuộc ném bom các thành phố lớn của Đức trong Đệ nhị Thế chiến. Thật sự thì đó là lần tàn phá một vùng tương đối bị giới hạn, có chiều ngang 200 mét và chiều dài 600 mét. Những đống đổ nát đã được mang đi và các hố bom đã được lấp lại. Trên vùng đất đã được làm phẳng đó là những ngôi nhà tre, những cái chỉ còn để cho người ta phỏng đoán sự tàn phá của năm 1972.

Đối với khách tham quan từ nước Cộng hòa Liên bang Đức, những người còn trải qua các cuộc không kích trên diện rộng trong thế chiến vừa qua, Khâm Thiên đưa ra một bằng chứng rõ ràng rằng ở Việt Nam, Không quân Hoa kỳ không tiến hành những cuộc tấn công khủng bố có hệ thống và có kế hoạch nhằm chống lại người dân thường như trong chiến tranh chống nước Đức và Nhật.

Không phải qua đó mà tác động của thảm bom ném xuống Khâm Thiên cần phải được làm giảm nhẹ đi; tôi hoàn toàn không muốn gợi lên ý nghĩ, rằng sự việc không quá tồi tệ vì xảy ra một lần ném bom nhầm và không có ác ý. Hà Nội trong tháng Mười Hai 1972 đã trải qua một cuộc chiến tranh ném bom đáng sợ mà hiệu ứng tâm lý của nó chỉ có thể hình dung ra được khi người ta có lần ở gần một lần ném bom rải thảm của B-52; ngoại trừ sự tàn phá ở Khâm Thiên và một vài nơi khác, ví dụ như bệnh viện Bạch Mai, các phi công Mỹ đã ném bom rất chủ định, thế nào đi nữa thì thành phố này cũng thoát được số phận của một sự tàn phá rộng lớn.

Điều đáng chú ý đối với tôi là Ủy ban điều tra tội ác chiến tranh Mỹ quan tâm tới thành phố Hà Nội trước hết và chỉ xem cuộc ném bom dữ dội ở phía Nam, gần giới tuyến khu phi quân sự, là thứ hạng. Lý do thật rõ ràng. Nếu như chính phủ cũng ta thán kịch liệt các hư hại như việc ném bom Hà Nội thì họ đã gián tiếp thú nhận, rằng không quân Mỹ đã đạt được hiệu ứng mà họ muốn có. Cân nhắc về quân sự ủng hộ việc đưa các chiến trường phụ của cuộc chiến tranh ném bom vào tâm điểm của chiến dịch công cộng, và càng lại phải như thế khi một vài nơi như Khâm Thiên hay bệnh viện Bạch Mai hứa hẹn có một tác động mạnh hơn tới công chúng thế giới, hơn là sự tàn phá lớn hơn nhiều ở cạnh giới tuyến khu phi quân sự.

Trong tai của những người vì lương tâm mà tham gia chiến dịch chống cuộc chiến tranh ném bom của Mỹ, luận điểm này có thể mang tính xúc phạm. Tôi cũng nhìn thấy mối nguy hiểm trong việc hợp lý hóa về sau cho cuộc chiến tranh ném bom của Mỹ và giải thích hợp lý cho các hậu quả ghê sợ của nó. Mặc dù vậy, cả ở đây trong Hà Nội, ở tại nơi xảy ra sự việc, tôi cũng không muốn bỏ qua việc phơi trần cơ chế tiến hành cuộc chiến tranh tâm lý ở cả hai bên, phản ánh dường như không có sự đồng cảm nội tâm, rằng đất nước nhỏ bé này phải với tới những phương tiện nào, những biện pháp tự vệ nào để cho ý kiến công chúng thế giới trở thành liên minh của họ trong xung đột với siêu cường quốc quân sự Hoa Kỳ. Vì đó không phải là một sự kiện tự nhiên, rằng ngoài các nhà nước xã hội chủ nghĩa thì cả các dân tộc và nhiều chính phủ nước Phương Tây cũng đứng về phía Bắc Việt Nam và đã để cho chính phủ Mỹ cảm nhận được áp lực của lương tâm thế giới.

Giới lãnh đạo Hà Nội đã chú tâm tới cuộc chiến tranh tuyên truyền chống Mỹ một cách xứng đáng với tầm quan trọng của nó, không nương tay cho tình cảm riêng và thỉnh thoảng cũng không nương tay cho sự thật. Việc liệu có ép buộc được Washington giới hạn cuộc chiến tranh ném bom và thậm chí sau đó là ngưng nó hay không phụ thuộc vào thành công của những cố gắng để cho nước Mỹ xuất hiện như là một thế lực tội phạm, tàn bạo, hung hãn trong con mắt của Phương Tây. Sự việc quá quan trọng để mà người ta có thể giao nó cho các nhà đạo đức và người nhân đức.

Tôi không muốn viết những từ ngữ phi thân thiện về những nhà đạo diễn cuộc chiến tranh tâm lý của Hà Nội; nhưng mà về các tác giả thiếu sức mạnh hay thiếu can đảm để mang lại danh dự cho sự thật. Vì từ những lý do lý trí mà đứng về phía chống lại cuộc chiến tranh ném bom của Mỹ trong những năm leo thang thì vẫn còn chưa đủ. Các nhà hoạt động thật sự ở Phương Tây từ những lý do về nguyên tắc đã yêu cầu thừa nhận các động cơ tội phạm của Mỹ và các ý định đen tối của tổng thống Johnson và Nixon, muốn tiêu diệt nhân dân Bắc Việt Nam.

Tôi chưa từng bao giờ thấy các lý lẽ cho sự diệt chủng trong quá khứ là thuyết phục. Các quan sát cho tới nay của tôi ở Bắc Việt Nam đã xác nhận các dè dặt và hoài nghi này.”

Cho tới đây là các trích đoạn từ quyển nhật ký năm 1974. Phản chiếu rõ ở trong đó là trải nghiệm, rằng chính phủ ở Bắc Việt Nam có một độc quyền thông tin mà họ dùng nó một cách cứng rắn. Lĩnh vực quân sự là lĩnh vực cấm đối với tất cả các đại diện truyền thông từ Phương Tây. Trong thành phố Đồng Hới, 30 kilômét về phía Bắc của vĩ tuyến 17, những người tháp tùng chỉ cho tất cả khách tham quan xem ngôi nhà thờ cạnh cảng đã bị bom Mỹ phá hủy ở mà chỉ còn chiếc tháp là đứng vững, vươn lên bầu trời tựa như một biểu tượng bị ám khói đen của lời kết tội.

Không được phép quay phim là kho hậu cần của quân đội nằm cách đó chỉ vài mét. Trong hàng dài dường như vô tận, xe tải với lá cờ của Việt Cộng chạy từ đây tới con đường mòn Hồ Chí Minh nằm xa hơn về phía Tây. Tất cả các nhiếp ảnh gia muốn đánh động công chúng thế giới bằng hình ảnh của ngôi nhà thờ đổ nát đó một cách thành thật thì phải làm cho rõ sự việc này. Nhưng những người Việt tháp tùng chú ý sao cho chỉ ngôi nhà thờ là được chụp ảnh chứ kho đạn thì không. Với ngôi nhà thờ ở Đồng Hới thì thật sự là không thể lên án không quân Mỹ được.

Không một người đối thoại nào ở Hà Nội mà lại cung cấp thông tin có thể gây nghi vấn cho phiên bản chính thức. Những người “đấu tranh cho tự do” ở miền Nam chỉ gồm các nhà cách mạng từ miền Nam Việt Nam, luận điểm đầu tiên là như vậy. Quân đội Bắc Việt Nam hoàn toàn không tham gia vào trong cuộc chiến ở miền Nam. Tướng Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và là người chiến thắng huyền thoại của Điện Biên Phủ, đã còn muốn làm cho Oriana Fallaci tin rằng Bắc Việt Nam “không có liên quan gì tới đợt tấn công dịp Tết Mậu Thân. Mặt trận (MTGPMNVN) đã tiến hành nó.”

Vì Bắc Việt Nam hoàn toàn không mang cuộc chiến vào miền Nam, luận điểm thứ hai là như vậy, nên Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của Nam Việt Nam. Việc nước Mỹ tham chiến vì vậy mà là một cuộc xâm lược với mục đích hủy diệt miền Bắc và tiêu diệt người dân. Cuộc chiến tranh ném bom chống Bắc Việt Nam là bằng chứng cho luận điểm này. Khách tham quan ở Bắc Việt Nam chủ yếu được dẫn tới những nơi mà sự việc dường như là ủng hộ cho phiên bản chính thức.

Trong lúc đó, nạn nhân của họ được giữ kín. Nghĩa trang quân nhân toàn bộ đều xuất phát từ thời của cuộc chiến chống Pháp. Mãi sau chiến thắng năm 1975, người ta mới được phép thiết lập nơi tưởng niệm cho những người đã hy sinh trong cuộc chiến chống Mỹ. Nỗi khổ cực và sự hy sinh của quân đội ở Nam Việt Nam được giữ bí mật trước chính người dân của họ. Trong hình ảnh tình hình mà chính phủ Bắc Việt Nam trình bày cho người dân của họ không có con đường mòn Hồ Chí Minh, không có quân đội Bắc Việt Nam ở miền Nam, không có chiến bại và không có nạn nhân. Hỉnh ảnh chỉ cho thấy tính anh hùng, lòng quyết tâm và tất nhiên là niềm tin chắc chắn, rằng chiến thắng những kẻ tấn công đần độn, xấu xí và dã man từ Mỹ là điều tất yếu.

Mỗi một nhà báo, người tin vào tự do và độc lập của báo chí, hết sức khó khăn khi phải thừa nhận rằng Bắc Việt Nam với sự kiểm duyệt cứng rắn ở bên trong và đóng kín ra bên ngoài, với một hoạt động báo chí có kế hoạch và được chỉ đạo, cái đưa ra cho công chúng thế giới những luận điểm tuyên truyền chứ hầu như không đưa ra sự kiện, đã thành công một cách đáng ngạc nhiên.

Sử gia chiến tranh người Mỹ Harry G. Summer, trong một quyển sách phân tích các lý do của chiến bại, thuật lại cuộc gặp gỡ của một sĩ quan tham mưu Mỹ và một của Bắc Việt Nam sau khi Hiệp định Ngưng bắn Paris được ký kết trong  mùa đông 1973. “Các anh chưa từng bao giờ chiến thắng được chúng tôi”, người Mỹ nói.

“Có thể là như vậy”, viên đại tá từ Hà Nội nói, “nhưng điều đó không quan trọng.”

Thật sự thì Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ thua cuộc chiến về mặt chính trị chứ không phải về mặt quân sự. Chính sách báo chí và thông tin của chính phủ ở Hà Nội đã đóng một vai trò trung tâm ở trong đó. Trong khi cuộc chiến ở miền Nam được giới truyền thông Mỹ và quốc tế mô tả lại trong hiện thực đầy tàn bạo của nó và đi vào nhận thức công chúng thì Bắc Việt Nam chỉ cho phép có lạc quan và niềm tin chắc vào chiến thắng, đưa đường lối thông tin vào phục vụ cho sự việc của quốc gia và đồng thời khéo léo lợi dụng các yếu điểm trong hệ thống chính trị của Mỹ.

Đó không phải là tình cờ, khi đợt tấn công Tết rơi vào trong thời gian ủ bệnh của tranh cử Mỹ. Trong vòng vài ngày, ở Hà Nội người ta cũng nhận ra rằng câu hỏi liệu Việt Cộng trong cuộc tấn công mở đầu có thâm nhập được vào trong tòa đại sứ hay không, có một tầm quan trọng cốt yếu trong con mắt của khán giả Mỹ. Chính phủ in ra các tường thuật trải nghiệm mà rõ ràng là đã được tưởng tượng ra, nhưng là những cái hỗ trợ cho xu hướng ở Mỹ và hé lộ cho thấy một cảm giác chắc chắn tới mức đáng ngạc nhiên về việc có thể lay động ý chí chính trị của giới công chúng Mỹ, muốn tiếp tục cuộc chiến, ra sao.

Từ thời gian Việt Nam, có một câu hỏi được đặt ra, rằng trong một xung đột liệu một bên có được phép cho báo chí tự do hay không, khi bên kia nâng sự kiểm duyệt và thông tin đánh lạc hướng lên thành nguyên tắc, và đưa toàn bộ truyền thông vào phục vụ cho chính phủ. Cuộc chiến ở Việt Nam, chấm dứt với chiến bại của Mỹ, cái, như là đỉnh cao của công tác báo chí nhiều thành công của Hà Nội, được nhiều phần của thế giới ăn mừng như chiến thắng, thắng lợi, hẳn đã không chỉ đặt ra câu hỏi mà cũng đưa ra cả câu trả lời.

Báo chí có phá hỏng chiến thắng hay không?

Trong lúc phân tích phê phán các nguyên nhân cho chiến bại của Mỹ ở Việt Nam, giới truyền thông bị cáo buộc rằng đã xói mòn tinh thần ở “mặt trận quê nhà” và qua đó đã hỗ trợ cho chiến bại đầu tiên mà Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ phải chịu đựng trong lịch sử của nó.

Năm 1981, Robert S. Elegant, một thông tín viên châu Á lâu năm, người cũng nổi tiếng như là một tác giả tiểu thuyết (“Dynasty”), cảm thấy bị thúc giục phải khiêu khích giới cùng nghề, bằng cách cho rằng họ đã có lỗi chính trong thảm họa ở Việt Nam. Elegant thuộc thế hệ nhà báo chịu dấu ấn của Đệ nhị Thế chiến và đối với họ thì đó là điều hiển nhiên, tự đồng nhất mình vô điều kiện với sứ mệnh của Mỹ, với sự việc của “thế giới tự do”.

Nhà báo ảnh huyền thoại Horst Faas trong Chiến tranh Việt Nam

Các old hands, những người am hiểu cũ của hoàn cảnh châu Á, ông viết như vậy trong một bài văn tranh luận, không bao giờ tự cho rằng Nam Việt Nam hưởng được một chế độ đáng để vui mừng. “Nhưng chúng tôi tin rằng sự thống trị của miền Bắc sẽ tồi tệ hơn cho đa số người dân.” Các phóng viên trẻ tuổi hơn, Elegant than phiền như vậy, đã lan truyền những ảo tưởng về Bắc Việt Nam. Vì họ không tin Lầu Năm Góc nên họ cho rằng Hà Nội là nơi chứa đựng sự thật; và họ làm cho thế giới tin rằng cũng là tốt cho Phương Tây, khi chế độ tham nhũng của Sài Gòn sụp đổ, vì sau đó sẽ có một sự phát triển hòa bình, độc lập và dân tộc ở Nam Việt Nam. “Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, kết cuộc của một cuộc chiến không được quyết định trên chiến trường mà là trên những trang báo và còn nhiều hơn nữa là trên màn hình.”

Tướng Westmoreland và nhiều sĩ quan bảo thủ trong Lầu Năm Góc có thể nhìn thấy trong tranh luận của Elegant một lời xác nhận cho “huyền thoại con dao đâm sau lung” được làm mới. Để đừng giúp giới quân đội có được một chiến thắng không xứng đáng về sau này, cái mà họ tin rằng nó đã ở gần tới mức có thể với tới được, hầu như tất cả các nhà báo mà cảm thấy mình có liên quan đến đều bước ra để tương đối hóa hay phản bác các luận điểm của Elegant.

Một lão thành khác trong số các phóng viên chiến tranh, Keyes Beech, thừa nhận rằng báo chí ít ra thì cũng cùng có lỗi tại chiến bại của Mỹ. “Tôi sẽ không tiến xa như Elegant. Nhưng truyền thông đã cùng giúp để thua cuộc chiến.”

Đa số những người tham gia vào trong cuộc thảo luận vào đầu những năm tám mươi đó thì ngược lại đã cực lực phản bác lời phê phán của Elegant. Trong đó, lý luận được đưa ra là báo chí không tạo nên mà chỉ phản ánh tâm trạng của người dân, rằng xu hướng ý kiến của các nhà báo không làm cho khán giả thay đổi cảm nhận. Walter Cronkite, Stanley Karnow thuộc giới báo chí tự do viết như vậy, đứng xa ở phía sau hiện tình tâm trạng của công chúng Mỹ. Khán giả đã từ bỏ chiến thắng từ lâu, trước khi người điểu khiển chương trình này, mà độ đáng tin cậy của ông được khán giả truyền hình đánh giá cao hơn là của tổng thống Mỹ, thay đổi quan điểm của mình. “Cronkite phản ánh các ý kiến nhưng ông không tạo ra chúng.”

Trong tháng Hai 1983, đại học của Nam California ở Los Angeles đã tổ chức một hội nghị chuyên đề để xem xét lại các kinh nghiệm của cuộc Chiến tranh Việt Nam, và tranh luận về các bài học đã được rút ra từ cung cách và tác động của một giới báo chí tự do, không bị kiểm duyệt ở Nam Việt Nam.

Trong đó, khi nhìn lại, Barry Zorthian đã thừa nhận rằng tình hình ở Việt Nam được truyền thông thể hiện đúng hơn là các tổ chức nhà nước, tức là đại sứ quán và quân đội. Tuy vậy, Zorthian vẫn không tha cho các nhà báo lời buộc tội, đã khám xét phía bên này tốt hơn là vị trí của đối thủ cộng sản. “Quá hiếm khi, thật ra là không bao giờ, mà phóng viên lại chuyển tải đúng mức chính sách và các mục tiêu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và của chính phủ ở Hà Nội.”

Thiếu sót và khiếm khuyết của công tác báo chí ở Việt Nam là không thể không nhận ra được. Mặc dù vậy, đánh giá của sử gia báo chí người Anh Philip Knightley đối với tôi dường như là đúng, người nhận định rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam đã được diễn tả tốt hơn và toàn diện hơn là tất cả các cuộc chiến trước đó. Trong lịch sử, chưa từng bao giờ mà những hiện thực ẩn nấp sau các từ ngữ máu, mồ hôi và nước mắt lại được đưa vào hình ảnh một cách không thương xót, bất kể tinh thần chiến đấu của quân đội và các cảm xúc của mặt trận quê nhà như là ở Việt Nam. Những sự khủng khiếp đó đã gây ấn tượng cho công chúng thế giới. Các phóng viên không tạo ra chúng mà chỉ làm cho người ta có thể nhìn thấy chúng.

Bài học từ một nhận thức như vậy chỉ có thể là, Harry G. Summers nhận định như vậy, các cuộc chiến tranh trong tương lai sẽ còn đẫm máu hơn và đáng ghê tởm hơn là cuộc chiến mà thế giới trải qua ở Việt Nam. Thật là phi lý khi tin vào “một cuộc chiến tranh nhân đạo”; và cũng mang tính ảo tưởng không kém khi cho rằng các sự việc của một cuộc chiến như vậy có thể được giữ bí mật trước công chúng. Kiểm duyệt, Đại tá Summers đưa ra cho giới chính trị gia suy nghĩ, không phải là giải pháp cho các vấn đề của tương lai.

“Nước Mỹ”, Tướng Frederik Weyand bổ sung trong một phân tích các kinh nghiệm Việt Nam, “tin vào vật chất, vào pháo binh, bom, hỏa lực thật mạnh, để giữ mạng sống những người lính của nó. Mặt khác, địch thủ bù đắp cho sự thiếu thốn ‘vật chất’ của họ bằng cách gửi con người đi trước thay cho máy móc, và họ đã chịu những tổn thất rất lớn trong lúc đó. Quân đội đã trải qua điều này ở Triều Tiên. Lẽ ra chúng ta cần phải truyền tải lại hiện thực này cho nhân dân Mỹ, trước khi người dân trải qua nó trên màn truyền hình. Quân đội phải đưa ra rõ ràng cái giá của một lần tham chiến, trước khi chúng ta gửi quân lính đi, để người Mỹ có thể cân nhắc cái giá phải trả bằng máu và bằng sự kinh hoàng với mối nguy hiểm sẽ đe dọa nếu như chúng ta không tham dự.”

Nữ phóng viên Catherine Leroy đang chuẩn bị nhảy dù cùng với Lữ đoàn Dù 173 trong chiến dịch Junction City.
Nữ phóng viên Catherine Leroy đang chuẩn bị nhảy dù cùng với Lữ đoàn Dù 173 trong chiến dịch Junction City.

Trong Đệ nhất Thế chiến, không có một bức ảnh duy nhất nào được in trên một tờ báo Đức hay Anh hay Pháp mà cho thấy một nạn nhân của những cuộc chiến, một xác chết. Năm 1915, chính phủ Anh còn cấm họa sĩ vẽ người chết trong các bức tranh về các trận đánh.

Nếu như báo chí thời đó được phép mô tả hiện thực thì các dân tộc Âu châu đã biết được những con số tổn thất gây sốc và đã tạo cho mình được một hình ảnh về những cuộc thảm sát hàng triệu người, và nếu thế cuộc chiến chắc đã chấm dứt sớm hơn. Chính trị gia và tướng lĩnh chắc đã không chịu đựng được áp lực, sự ghê tởm và kinh hoàng của công chúng; họ đã phải cho hòa bình một cơ hội sớm hơn, sớm hơn rất nhiều.

Ý nghĩ giả thiết này dẫn tới việc phải suy nghĩ lại 150 năm vừa qua dưới khía cạnh, rằng liệu lịch sử thế giới có cùng một diễn tiến hay không, khi lúc nào cũng có một giới báo chí tự do có mặt, để làm cho con người nhận thức được các tổn thất về xương máu và mạng sống. Đế quốc thuộc địa  Anh nói chung là có thành hình hay không khi chính trị gia và người dân ở London trải qua được hiện thực đẫm máu của cuộc nổi dậy ở Ấn Độ năm 1854? Nước Mỹ có chịu đựng được cuộc chiến tranh trên biển chống nước Nhật ở Thái Bình Dương hay không khi công chúng Mỹ biết chính xác hơn về trận đánh ở Guadalcanal (1942); thậm chí chỉ nhiều hơn là vị trí địa lý và chiến thắng cuối cùng? Cuộc chiến chống Hitler, những lần công kích Hamburg, Dresden, Tokio có được công chúng trong các nước Đồng Minh chịu đựng được về mặt tâm lý hay không nếu như có một tường thuật thực tế như ở Việt Nam?

“Nếu như truyền hình đã có từ trận đánh Gettysburg thì nước Mỹ đã có hai nhà nước”, nhà báo bảo thủ George F. Will viết trong báo Newsweek. “Cuộc tàn sát đó sẽ khiến miền Bắc để cho miền Nam đi theo con đường riêng của họ. Đó là một câu hỏi còn chưa được trả lời, rằng liệu một nền dân chủ với công nghệ thông tin hiện đại và với sự nhạy cảm hiện đại nói chung là có thể trả cái giá cho việc là một cường quốc hay không.”

Chiến tranh không còn là phương tiện của chính trị nữa, khi truyền thông mô tả nó đúng và thực tế. Việt Nam đã dạy cho các chính trị gia cầm quyền, rằng chỉ có thể chịu đựng qua được những cuộc chiến, khi truyền thông bị thao túng và kiểm duyệt, được đưa vào phục vụ cho chính phủ một cách bất chấp, chỉ còn được phép hỗ trợ cho chính phủ, không còn được phép phê phán.

Cuộc Chiến tranh Falkland mà Liên hiệp Anh đã tiến hành năm 1982 ở Nam Thái Bình Dương chống Argentina là thử thách lớn đầu tiên cho sự tự do của báo chí sau Việt Nam. Qua áp lực thật lớn, chính phủ Anh đã tác động để báo chí đứng vào phục vụ cho sự việc của quốc gia. Thông tín viên nước ngoài không hề được chấp thuận ở bên phía Anh. Chỉ một ít phóng viên Anh từ những cơ quan chọn lọc là được phép cùng đi trên con tàu chỉ huy của hải quân; họ chỉ có thể trải nghiệm các trận đánh từ khoảng cách ở xa, từ tàu thủy dưới sự kiểm soát của quân đội. Các tường thuật của nhà báo bị kiểm duyệt, giới quân đội hoàn toàn tự quyết định cái gì được phép công bố vào lúc nào.

Chỉ một mình BBC là đã cố tranh đấu để hoàn thành nhiệm vụ thông tin của họ đối với xã hội. Họ đã để cho người ta chê trách, rằng họ không chỉ nghi ngờ các thông cáo của Argentina mà cả các khẳng định của chính phủ họ. “Chúng tôi không thể chứng minh được”, có lần một người dẫn chương trình tin tức buổi tối của BCC nói, “rằng chính phủ của chúng tôi nói dối – từ Argentina thì chúng tôi biết được điều đó.”

Một năm sau đó, 1983, chính phủ Mỹ dưới Tổng thống Ronald Reagan cũng chứng tỏ rằng họ đã học được bài học ở Việt Nam. Lần chiếm Grenada đã diễn ra mà không có truyền thông. Phóng viên chỉ được chở bằng máy bay tới khi chiến dịch đã kết thúc thành công.

Ở Cộng hòa Liên bang Đức, nghị sĩ nội vụ trước đây của Berlin Wilhelm Kewenig đã nổi bật với lời phát biểu, rằng sự tự do báo chí phải lui lại ở nơi xảy ra vụ việc. Chỉ riêng việc một vài ngàn kẻ vô chính phủ tụ tập tại ngày kỷ niệm của Ngân hàng Thế giới trong tháng Chín 1988 thì trong mắt của Kewenig là đã đủ để bào chữa cho sự giới hạn tự do thông tin mà không có nó thì một sự tự do thật sự của báo chí không thể có.

Tính nhỏ bé của nguyên cớ để cho người ta mường tượng được, truyền thông sẽ còn sở hữu được không gian tự do nào ở một mối đe dọa từ bên trong hay từ bên ngoài. Không có, lo ngại là như vậy. Một tranh luận công khai về vai trò của truyền thông trong tình cảnh hiểm nghèo (vẫn còn) không có ở đất nước này mặc cho Falkland và Grenada.

Lào: con chuột gầm thét

“Bình tâm trên hết thảy!”

Trong tháng Mười 1970, tôi đã nhân một lệnh tạm thời cấm nhập cảnh vào Nam Việt Nam, mà chính phủ ở Sài Gòn đã ban hành cho tôi vì những nhận xét phê phán Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, để đi thăm Lào. Ngay từ chuyến đi đầu tiên tới Vientiane này, đặc tính của xã hội Lào đã gây ấn tượng cho tôi, một xã hội khác rõ ràng với nước Việt Nam láng giềng trong hệ thống giá trị và hình thức sống của họ. Chuyến bay này là lần dẫn dắt đầu tiên vào trong những hoàn cảnh mới.

Ở Bangkok, chiếc DC6 của “Royal Air Laos” chở hành khách cho chuyến bay 17 giờ về Vientiane. Hãng hàng không hoàng gia không có gì tốt hơn là một chiếc máy bay cánh quạt bốn động cơ, do một hãng hàng không Mỹ loại ra. Ngay người Khmer thời đó là đã tới được với giao thông phản lực. Người Lào thì dường như không vội vàng chuyển đổi. Cái mà người ở Phương Tây gọi là thời gian bị mất đi thì họ xem như là một thắng lợi, một phần thưởng cho sự thư nhàn và yên bình.

Lào đầu những năm 1970
Lào đầu những năm 1970

Lào biết những giá trị cao hơn là chính xác và toàn hảo. Bài học này được chuyển tải cho tôi khi tôi nhìn xuống con đường đắp bằng đá dăm từ chỗ ngồi của tôi trong cabin, nơi tôi đang chờ lần cất cánh bay lên bầu trời mùa mưa đang mang vẻ đe dọa, bị ép giữa những cái giỏ và bó của các hành khách địa phương đi cùng. Viên phi công trưởng đã rời buồng lái thêm một lần nữa và cực nhọc bước qua lối đi giữa những hàng ghế, để kiểm tra các động cơ thêm một lần nữa. Ông cầm trong tay một cái giẻ lớn, đầy dầu mỡ, cái mà ông dùng nó để lau đầy trìu mến phần dưới của lớp vỏ ngoài các động cơ. Sự tin tưởng của tôi vào trong viên phi công được tăng cường rất nhiều qua cảnh tượng đó.

Sự ngờ vực vào “khí cụ bay” này đã biến chuyến bay chữ chi qua những đám mây nguy hiểm thành một trải nghiệm hành hạ tôi. Tôi phải mở lòng ra cho nhận thức, rằng ở Lào thì người ta hầu như nhắm mắt tin vào số phận. Số phận muốn rằng chuyến bay vào lúc hoàng hôn này được tặng thưởng cho một vòng cung lớn trên con sông Mekong rộng, đang tràn qua bờ vì những cơn mưa, trước khi chiếc máy bay đáp nhẹ nhàng và an toàn xuống đường băng của Vientiane.

Ngồi cùng máy bay là Hans Walter Berg, một thông tín viên nhiều kinh nghiệm từ New Delhi. Ông không hề chú ý tới cái giẻ dầu mỡ và tình trạng của chiếc máy bay; ông đã học được cách tin vào số phận từ lâu. Ông không ghi nhận những đám mây to chồng chất lên nhau. Ông bình thản ngủ.

Có lần, một nhà quan sát người Anh chuyên về tình hình ở Lào đã tới thăm một trong những viên tướng chỉ huy của Lào, người đã trang hoàng cho cửa vào phòng làm việc của mình với một câu khẩu hiệu đáng chú ý. Không phải là “Kẻ thù đang nghe lén” hay “Hãy nhận ra địch thủ” được viết ở trên đó, như người ta dự đoán trong một trại lính, mà là: “La tranquillité avant tout” – “Bình tâm trên hết thảy”. Câu khẩu hiệu của viên tướng cung cấp chiếc chìa khóa để thông hiểu một đất nước mà thời đó quảng bá cho mình trên các tấm áp phích to lớn với câu nói: “Fall in love with a small country, let it happen to you.”

  Thời đó, Bangkok, Jakarta và Manila đang thay đổi hình ảnh của chúng với vận tốc hết sức nhanh chóng. Nhà chọc trời đặt dấu ấn lên hình dáng mới. Ngay cả Sài Gòn và Phnom Penh cũng trải qua lần ập vào của thời Hiện đại. Vientian cương quyết giữ chặt lấy cái xưa cũ. Chỉ các bảo tháp của những ngôi chùa, những cái tháp hình trụ mà hài cốt nằm ở trong đó, là vươn lên bầu trời cao hơn các hàng cây. Nhà nằm trong bóng mát của cây cối. Thủ đô này hoàn toàn không có gì phô trương, không có gì là khoác lác và tự phụ. Ở đây vẫn còn có sự kín đáo, tính riêng tư, khiêm tốn, ít nhất là ở mặt tiền bên ngoài.

Hầu như trong bất cứ một mô tà nào về đất nước này cũng xuất hiện từ “ngủ quên”. Người ta có ý muốn nói tới cái nề nếp kín đáo của một xã hội châu Á, cái mà cả trong thủ đô cũng vẫn bảo toàn cái tính khoan thai của nó, “tranquillité” của nó. Dường như là người dân không biết tới sự hoạt động sôi nổi, niềm say mê, bộc phát tâm hồn. Cái “không sao cả”, cái mà ở Thái Lan cũng là một điều khôn ngoan cho cuộc sống, có tên là “bau pinh yanh” trong tiếng Lào. Sự thờ ơ và bình thản được chứa dựng ở trong đó để cho “ngày mai” nghe giống như “Cẩn thận!”, như một người chế nhạo nói. Người ta tin là ở đây đã gặp một dân tộc mà đã tiếp nhận những lời giảng dạy của Đức Phật vào trong cuộc sống thực tế nghiêm túc hơn các xã hội còn lại của châu Á. Khi đời là bể khổ thì nổi dậy chống lại nó không có lợi. Khi tất cả là vô thường thì cái tạm thời và nhất thời là vừa đủ để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hàng ngày. “Ngủ trên chiếu thì không rơi từ trên cao xuống” là một câu nói khôn ngoan có ý nghĩa sâu sắc của Lào. Tính bình thản của xã hội này bắt nguồn từ niềm tin tôn giáo, rằng chỉ cái nghiệp là quan trọng, tổng kết của cuộc sống và những công quả tích tụ được ở trong đó, chứ không phải sở hữu, đẳng bậc và thanh danh. “Khoảnh khắc quan trọng nhất trong cuộc sống là cái chết”, người Lào suy diễn lời giảng dạy của Đức Phật là như vậy. Thế giới quan này có ảnh hưởng tới hiện thực từ sự tồn tại cá nhân cho tới chính trị.

Nơi cư ngụ của nhà vua là Luang Prabang nằm ở phía Bắc của Vientiane, một thành phố nhỏ trong vùng núi non, trông giống như một trung tâm Phật giáo vì có nhiều chùa. Chính phủ thuộc địa Pháp không muốn định cư ở Luang Prabang hẻo lánh. Họ thích Vientiane nằm ở đồng bằng, ngay cạnh sông Mekong hơn và đã làm cho nó trở thành thủ đô hành chánh của Lào.

Tất cả những gì khiến cho người ta nhớ tới một thành phố thật sự đều xuất phát từ thời Pháp: ba hay bốn con đường trải nhựa, được kéo tương đối thẳng qua hình ảnh thành phố, một vài ngôi nhà văn phòng, quán cà phê, nhà hàng khiêm tốn, được các ông chủ người Pháp giữ ở đẳng cấp đáng ghi nhận, thêm vào đó là một vài quán rượu và nhà chứa có tiếng tăm đặc biệt không hay trong số những người biết châu Á. Ở Lào trước 1975, trước chiến thắng của người cộng sản, cần sa và thuốc phiện được bán ở chợ công khai và hợp pháp. Ở đây còn có những tiệm hút thuốc phiện mà trong đó người ta có thể hút một tẩu thuốc, nằm trên những thứ đồ đạc sờn cũ, dơ dáy, trong một môi trường đưa người khách vào thế giới ảo của những cuốn phim cải lương về châu Á. Ngay tới thủ tướng của nước này, nhà quý tộc Souvanna Phouma, cũng không hề che dấu việc ông tự cho phép mình hút vài ba tẩu thuốc phiện trong ngày và cho rằng sự thưởng thức này là không độc hại và có thể dung thứ cho được.

Phần lớn hơn rất nhiều của Vientiane không được lát đá. Đường cát với những cái ổ gà thật sâu dẫn vào khu biệt thự, nơi giới tinh hoa của đất nước này, có tường và bờ giậu che chắn ánh mắt người xa lạ, sống một cuộc sống tiện nghi, hoàn toàn không xa xỉ. Ai đến Vientiane mà không có lời giới thiệu, không tìm được người đầu mối liên lạc, người mở lối vào xã hội, người đó sẽ có ấn tượng đang ở trong một ngôi làng lạc hậu, bị xây che mất tầm nhìn, ở rìa của thảo nguyên mà trong đó cuộc sống hầu như đã đứng lại. Hình thức được coi trọng ở Vientiane. Người xa lạ chỉ được chào mừng khi họ được dẫn nhập vào đúng theo nghi thức và khi họ chú ý tới truyền thống, kính trọng các tập quán và tôn trọng những điều không được nói tới.

Thật khó có thể hiểu thấu được, rằng nước Lào ít dân cư với 91.000 dặm vuông, phần lớn là đồi núi, đóng kín, không có đường ra biển và từ nhiều thế kỷ là đối tượng và thường là nạn nhân của chính sách các láng giềng hùng mạnh, của người Việt và người Thái, rằng đất nước nghèo nàn, lạc hậu, thật sự là vô hại này vào đầu những năm sáu mươi lại đứng trong tiêu điểm của chính trị thế giới. Sự trung lập hóa được ban hành trong Hiệp định Genève năm 1954 không ngăn được nước Lào rơi vào trong lực hút của Chiến tranh Việt Nam đang leo thang.

Sự trung lập đã trở thành ảo tưởng, từ khi giới lãnh đạo Đảng ở Hà Nội tin rằng lần bầu cử thống nhất đất nước được thỏa thuận trong Hiệp định Genève sẽ không diễn ra. Năm 1959, Hồ Chí Minh và những người cùng đấu tranh với ông từ bỏ niềm hy vọng, có thể “giải phóng” miền Nam Việt Nam bằng các phương pháp hòa bình. Họ quyết định đấu tranh vũ trang, việc đã lôi Lào vào trong cuộc chiến, vì việc tiếp tế cho quân đội cách mạng ở miền Nam chỉ có thể được bảo đảm bằng cách lạm dụng tính trung lập của Lào.

Đứng ở vĩ tuyến 17, đánh dấu ranh giới giữa Bắc và Nam Việt Nam ở sông Bến Hải, là các lực lượng mạnh của Sài Gòn, ngăn chận không cho quân lính Bắc Việt thâm nhập vào dưới số đông và lén mang qua vũ khí với đạn dược. Để đi vòng qua rào cản này, để nói chung là che dấu việc tham gia vào trong cuộc chiến ở miền Nam, Hà Nội gửi quân lính và tiếp tế qua một con đường rừng bí mật xuống Nam Việt Nam, chạy qua lãnh thổ Lào và sau đó về phía nam là cũng chạy qua cả lãnh thổ Campuchia.

Năm 1960, công cuộc mở rộng cho cái được gọi là đường mòn Hồ Chí Minh đó bắt đầu, cái dẫn từ ở ngay trước sông Bến Hải, ở vĩ độ của thành phố Đồng Hới, dẫn sang lãnh thổ Lào và từ đó chạy song song với biên giới Lào-Việt xuống miền Nam trên vùng đồi núi khó tiếp cận được. Huyện lỵ Tchepone là một giao điểm của đường mòn. Tiếp tục về phía Nam, con đường mòn chạm vào các tỉnh Saravane và Attapeu của Lào. Từ đây có những con đường ngang dẫn trở lại Việt Nam vào vùng hoạt động của các đơn vị ở miền Trung Việt Nam. Tiếp tế cho Sài Gòn vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng được chở từ lãnh thổ Lào tiếp tục sang lãnh thổ Campuchia, cũng là trung lập, và chỉ tới được với lực lượng chiến đấu ở miền Nam sau khi vi phạm tính trung lập của hai đất nước.

Vùng đất cần thiết cho đường mòn Hồ CHí Minh trên thực tế là bị quân đội Bắc Việt chiếm đóng. 30.000 tới 40.000 người lính đã giành sự kiểm soát một vùng đất khó tiến tới gần, hầu như chỉ có các bộ tộc miền núi sinh sống, mà không cần quan tâm tới luật pháp quốc tế và không có thỏa thuận với chính phủ ở Vientiane.

Hoạt động của Việt Nam này được che chắn bởi một tổ chức – mặt trận thống nhất Lào, Neo Lao Hak Sat (Mặt trận Yêu nước Lào), có “Đảng Nhân dân Cách mạng Lào” đứng điều khiển ở phía sau, mà trong đó những người con lai, người Lào-Việt và thành viên của thiểu số người Việt ở Lào nắm quyền lực trong tay. Quân lính của các tổ chức cộng sản theo Việt Nam này được biết dưới tên Pathet Lào (Đất Lào).

Phần lớn của tất cả tám tỉnh Lào có biên giới với Việt Nam đều bị quân đội Hà Nội chiếm đóng và qua đó bị giật ra khỏi sự kiểm soát của chính phủ ở Vientiane. Ở đây, dưới sự bảo vệ của quân đội Bắc Việt hùng mạnh, trong tỉnh lỵ Sam Neua còn hoang sơ chưa được khai phá, Pathet Lào, lực lượng hỗ trợ của Lào, có tổng hành dinh của họ.

Sự cắt xén chủ quyền, sự bất lực của chính phủ ở Vientiane, không thể bảo vệ quyền kiểm soát trên toàn bộ lãnh thổ, đã khiến cho xã hội Lào phân rã ra thành ba phần: thành Pathet Lào, những người thành lập một nhà nước trong nhà nước, được Việt Nam hỗ trợ và cung cấp quân trang quân dụng; rồi người cánh hữu dưới sự lãnh đạo của tướng Phoumi Nosavan, những người tin rằng có thể tái thiết lập sự toàn vẹn lãnh thổ; và cuối cùng là phe “trung lập” , làm trung gian giữa tả và hữu và không muốn rời bỏ niềm tin, rằng hòa bình có thể được tái thiết lập ở Lào, chỉ cần người Lào giải quyết các vấn đề của họ ở bàn đàm phán và cùng chung sống hòa bình không có sự can thiệp từ bên ngoài, trong tinh thần của sự khoan dung và phi bạo lực.

Trụ cột chính của những người trung lập là hoàng tử Souvanna Phouma (Ph phát âm như P), sinh năm 1901. Lần nước Nhật xâm chiếm Đông Nam Á đã mang Souvanna Phouma ra chính trường năm 1942. Ông tham gia phong trào Lào Issra, phong trào mà sau 1945 với những sức lực cuối cùng đã cố gắng ngăn chận lần quay trở lại của thế lực thuộc địa Pháp.

Sau khi việc này thất bại, một chia rẽ có nhiều hậu quả đã xảy ra trong phong trào Lào Issara. Một nhóm dưới sự lãnh đạo của Souvanna Phouma quyết định cộng tác dè dặt với chính quyền thuộc địa, để qua đàm phán và áp lực, thế nào đi nữa thì cũng bằng phương tiện hòa bình, mà đạt tới nền độc lập quốc gia. Nhóm Lào Issar thứ hai dưới sự lãnh đạo của người em cùng cha khác mẹ trẻ hơn mười một tuổi của ông, Souphanouvong quyết định đấu tranh vũ trang. Đồng thời, họ cũng thiết lập một liên minh về chính trị và quân sự với Hồ Chí Minh và Việt Minh của ông. Sự chia rẽ của Lào Issara là một sự chia rẽ của giới tinh hoa Lào, và là lời mời Đảng Cộng sản Bắc Việt can thiệp vào tình hình nội bộ.

Souvanna Phouma đã dùng phần còn lại của cuộc đời mình để tái thống nhất dân tộc. Sự hòa giải của hai anh em cần phải là một tấm gương, một ví dụ cho tính cùng chung với nhau của Lào. Nó cần phải chứng minh, rằng tình yêu huynh đệ và tình đoàn kết quốc gia sẽ vượt qua được tất cả các hố sâu. Chính trị đã để cho lý tưởng của Souvanna Phouma rơi vào chân không.

Năm 1960, cuộc khủng hoảng của Lào tăng cao khi Hà Nội bắt đầu xây dựng con đường mòn Hồ Chí Minh. Dựa trên đề nghị của hoàng tử Sihanouk, người đứng đầu nhà nước Campuchia, các thế lực ký tên ở Genève năm 1954, đã cùng nhau bảo đảm tính trung lập của Lào, lại gặp nhau trong tháng Hai 1962 tại một hội nghị thứ nhì, cũng diễn ra ở Genève.

Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ bây giờ cũng sẵn sàng từ bỏ không ủng hộ nhóm “cánh hữu” và trong tương lai sẽ chấp nhận những người trung lập quanh Souvanna Phouma. Moscow đưa ra lời bảo đảm, rằng Bắc Việt Nam sẽ tôn trọng tính trung lập của Lào. Và Souvanna Phouma tuyên bố sẵn sàng cho tất cả ba nhóm trong đất nước, cánh hữu, những người trung lập của ông và Pathet Lào, tham gia vào một chính phủ liên minh và qua đó là tham gia nắm quyền lực.

“Lào là vấn đề lớn của anh”, Eisenhower đã nói với John F. Kennedy lúc bàn giao chức vụ. Cả người kế nhiệm cũng đã hoàn toàn đồng ý với đánh giá của Bộ Ngoại giao, rằng Lào mà một cột trụ cho sự ổn định ở Đông Nam Á, và rằng an ninh của Hoa Kỳ bị đe dọa trực tiếp, nếu như Lào rơi vào sự kiểm soát của người cộng sản.

“Lào là con chuột đang gầm lên”, nữ sử gia người Mỹ Barbara Tuchman sau này đã viết châm biếm như vậy. Thời đó, khi kết cuộc của lịch sử ở Đông Dương vẫn còn chưa được nhận ra, chỉ có một vài người là nhận ra được sự không tương xứng giữa đất nước nhỏ bé đó ở cạnh sông Mekong và sự chú ý quốc tế giành cho nó. Hầu như không ai có được một hình dung thích hợp với hoàn cảnh địa lý ở Đông Nam Á, nhất là về đường biên giới và kết cấu ở Lào. Mặc dù vậy, đó dường như là điều tự nhiên, khi Kennedy và Khrushchev xem Lào như là một đề tài trao đổi quan trọng tại cuộc họp thượng đỉnh ở Wien. “Nếu chúng ta bỏ rơi Lào”, Eisenhower và người đơn giản hóa lớn, ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles, giảng giải cho giới công chúng như vậy, “thì chúng ta có thể bỏ đi cả vùng đó.”

Tính trung lập được quốc tế bảo đảm của Lào được xem như là giải pháp mô hình cho xung đột ở Nam Việt Nam. Các cường quốc thế giới kình địch nhau thay vì can thiệp từ bên ngoài vào và tiếp tế đạn dược cho các bên của cuộc nội chiến thì phải cho sự hòa giải có một cơ hội: những người trung lập, “lực lượng thứ ba”, là cốt lõi của một liên minh lớn, cái có thể chấm dứt cuộc chiến và dẫn tất cả các nhóm đi tới chung sống hòa bình và cộng tác. Charles de Gaulle đã tin vào phương án này và luôn cố thuyết phục các tổng thống Mỹ tin vào sự đúng đắn của nó.

Mặc dù vậy, Lào vẫn bị lôi cuốn vào cuộc chiến vì Hà Nội không giữ lời hứa của mình là từ bỏ không sử dụng lãnh thổ Lào. Trưởng đoàn đàm phán Moscow Georgi Pushkin còn thỏa thuận chính thức với người đàm phán phía Mỹ, Averell Harriman, rằng Liên bang Xô viết sẽ bào đảm việc Hà Nội tuân thủ đúng theo Hiệp định Genève.

Cả Hà Nội lẫn Moscow đều không giữ đúng lời hứa của họ. Cố vấn an ninh của John F. Kennedy, Walter Rostow, sau này nhận ra trong đó một bước ngoặc của tiến trình chính trị: “Tôi cho rằng chính phủ Kennedy bất lực trong việc ép buộc giữ đúng các thỏa thuận về Lào là sai lầm chính trị lớn nhất của những năm sáu mươi.”

Thuốc phiện như là vũ khí

Giới báo chí nước ngoài tường thuật từ Lào và Việt Nam thời đó gồm một giới nhỏ, mở rộng ra tới vài trăm người trong thời gian khủng hoảng leo thang, nhưng chưa từng bao giờ đạt tới được con số của đạo quân từ 2000 tới 4000 nhà báo đổ về các sự kiện quốc tế lớn của ngày nay. Ở Vientiane hiếm khi có hơn 50 hay 100 thông tín viên hoạt động cùng lúc. Họ có thể tự do tiếp cận tới giới tinh hoa chính trị, tới các đại diện ngoại giao từ Đông và Tây, thậm chí tới cả các đại diện của Pathet Lào, những người sống ở trung tâm thủ đô, ở cạnh một cái chợ lớn, trong một ngôi biệt thự màu nâu, được canh gác bởi du kích quân cộng sản bằng xương bằng thịt, tay cầm AK 47.

Lính Pathet Lào năm 1974
Lính Pathet Lào năm 1974

Vào buổi sáng sớm, người ta có thể quan sát thấy một nhóm Pathet Lào, trong những bộ quân phục màu xanh quá rộng và mũ nồi với lưỡi trai đen trên đầu. Họ mua gạo và rau cải ở chợ. Đối với người dân Lào bình thường, nhất là đối với những người phụ nữ ở chợ, thì cảnh tượng đó hoàn toàn bình thường. Người lạ, các nhà quan sát từ Phương Tây bị mê hoặc bởi tính hoàn toàn tự nhiên mà Pathet Lào đi lại trong thủ đô với nó. Vì trong cùng thời gian đó, quân đội chính phủ đang chiến đấu chống lại chính những người lính này ở các tỉnh phía đông và trên Cánh đồng Chum. Ở Lào, người ta chiến đấu theo một cách đặc biệt; và giới báo chí quốc tế đóng một vai trò quan trọng ở trong đó.

Vientiane là điểm quan sát tốt nhất, để nhìn ra phía sau cái được gọi là bức màn tre mà các nước cộng sản châu Á dùng nó để che chắn họ. Không chỉ Pathet Lào có đại diện ngoại giao; cả người Bắc Việt, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, Liên xô và Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ cũng được đại diện qua nhân sự có trình độ cao, những người xuất phát trực tiếp từ tình báo hay đã được chuẩn bị rõ ràng cho một nhiệm vụ intelligence nhạy cảm. Tại các buổi tiệc cocktail trong thủ đô Lào, Đông và Tây giao tiếp hết sức tự nhiên và thanh lịch – khoan dung như không ở nơi nào khác trên thế giới.

Bởi vì có mặt ở Vientiane là có lợi nên các cơ quan tình báo hiện diện nhiều lần: qua các chuyên gia cải trang làm nhà ngoại giao trong các sứ quán và qua các điệp viên trong trang phục của đại diện thương mại, doanh nhân nhỏ và cố vấn. Một người trong số họ, tiến sĩ Henn, đã học nghề của ông tại Berlin của thời Quốc Xã ở đô đốc Canaris huyền thoại. Ông đã lành lặn trải qua được lần kết thúc của cuộc chiến và chẳng bao lâu sau đó đã tìm thấy nhiệm vụ mới ở châu Á. Ở Thái Lan, ông điều hành một công ty tàu thủy nhỏ trên sông Chao Phraya, cái mang lại lợi nhuận nhiều đủ để ông cũng có thể bước vào kinh doanh khách sạn.

Ở Vientiane, tiến sĩ Henn mướn một ngôi nhà nhỏ, nằm ngay cạnh sông Mekong, chỉ cách bờ sông có một con đường cát. Người sếp thường ngồi ở trong đó sau một tấm màn màu xám, trông có vẻ thô, bảo vệ trước những cái nhìn từ phía ngoài nhưng mà lại cho phép quan sát cuộc sống ở bên ngoài. Đó là một cái “cửa sổ trưng bày” theo hai nghĩa. Vì dưới tấm màn có những tệp sách quảng cáo được bày biện để giả vờ tạo nên một văn phòng du lịch đang hoạt động.

Vào một ngày nào đó, trợ lý của người sếp công ty bắt chuyện với tôi trên đường phố và mời tôi theo ông ấy vào văn phòng để trao đổi một việc quan trọng. Sau tấm màn, tiến sĩ Henn lúc đó độ chừng sáu mươi tuổi chào tôi với câu nói khiến cho người ta không thể nào giận ông được: “Tất cả những gì mà anh nhìn thấy ở đây chỉ là ‘window dressing’.””

Một tập tài liệu lớn mà ông lôi ra có nhiệm vụ thuyết phục tôi rằng công ty “Dr. Henn Western Union Finance” rất thành công trong môi giới tin tức và cung cấp các phân tích tình hình cho khách hàng cao cấp, trong số đó, được minh chứng bằng một thư cảm ơn, là cho William Fulbright, chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Thượng Viện Hoa Kỳ và hiện đang là người phê phán mạnh mẽ chính sách Đông Dương của chính phủ ông. Tiến sĩ Henn có những thông tin đặc biệt về giới ma túy. Đổi lấy một khoản tiền dollar không nhỏ, ông đưa cho tôi một tập đặc biệt từ dịch vụ thông tin của ông, cái chuyên về đề tài kinh doanh ma túy ở Lào. Tuy vậy, nhà hoạt động tự do tiến sĩ Henn đã không thể có thêm văn phòng truyền hình ARD ở Hongkong, nơi tôi công tác, như là người thuê bao dài hạn được.

Lào đã đạt tới một vị trí trung tâm trong buôn bán ma túy quốc tế, việc mà đã có thêm khách hàng mới qua cuộc chiến ở Nam Việt Nam. Những người lính Mỹ chán nản, không còn có thể nhận ra được ý nghĩa của cuộc chiến, lũ lượt nghiện bạch phiến được cung cấp từ Lào về Sài Gòn.

Trồng cây anh túc đã có truyền thống ở các bộ tộc trên núi của Lào, những người mà trong những năm sáu mươi, CIA đã trang bị vũ khí cho họ và thúc đẩy họ chiến đấu chống lại các đơn vị Bắc Việt ở vùng núi. Những người bảo trợ từ Mỹ vì vậy mà hầu như không muốn làm gì để ngăn chận hay trấn áp việc sản xuất thuốc phiện. Nhu cầu ở Sài Gòn càng lớn thì diện tích trồng trên núi cao hơn một ngàn mét lại càng tăng nhanh, nơi thuốc phiện thô được lấy ra từ hoa của cây anh túc bằng cách dùng thủ công cực nhọc rạch vào bông mo, cái được cô đặc thành morphine và cuối cùng thành bạch phiến. Là bạch phiến có nồng độ cao, thứ gây nghiện này được chở đi và buôn lậu dễ dàng nhất.

Hàng không tư nhân, mà trong đó các tay cựu chiến binh già dặn của quân đội viễn chinh Pháp có tiếng nói quyết định, đã tham gia đáng kể vào trong việc chuyên chở thuốc phiện từ các ngôi làng trên núi về tới Vientiane. Để ngụy trang, cũng chính các công ty này chào mời những chuyến bay thuê bao cho thông tín viên ngoại quốc. Ai muốn có được một hình ảnh tại chỗ về cuộc chiến tranh của người Mèo, bộ tộc lớn nhất ở trên núi, thì đều phải dựa vào những chuyến bay như vậy. Nhưng nếu như chỉ dựa vào các hợp đồng thất thường với nhà báo thì các viên phi công chuyên bay thuê bao đó không thể chi trả cho công ty của họ được. Việc chuyên chở thuốc phiện mới mang lại lợi nhuận cho công ty.

Ở Vientiane, nhiều phòng thí nghiệm lớn được thành lập, để tinh chế thuốc phiện thô từ trên núi. Một doanh nhân người Hoa với cái tên Huu Tim Heng có phần lớn nhất trong cuộc kinh doanh này. Ở ngoại ô, Huu đã xây một nhà máy đóng chai Pepsi Cola. Giám đốc điều hành là Panya, con trai của thủ tướng Souvanna Phouma mà lời giới thiệu của ông ấy đã tác động để cho doanh nghiệp Huu cũng nhận được tiền hỗ trợ từ “US-Agency for International Development” (USAID). Tuy vậy, các nhân viên điều tra về ma túy của sứ quán Mỹ đã rất nhanh chóng nhận ra rằng nhà mày đóng chai này không hề đi vào hoạt động.

Năm năm sau khi giàn máy được xây dựng hoàn tất, tới một cái chai được đổ đầy duy nhất cũng không đi ra tới thị trường. Các chuyên gia Mỹ dần dần mới nhận ra rằng rõ ràng nhà máy này chỉ là mặt ngoài che chắn cho việc sản xuất bạch phiến. Thông qua nhà máy Pepsi Cola, Huu Tim Heng đã mua các hóa chất cần thiết cho phương pháp biến chuyển thuốc phiện sang bạch phiến.

Đảm nhiệm việc tiếp tục chuyên chở loại hàng nóng này về Sài Gòn ngoài những người khác là phòng vận tải của Không quân Nam Việt Nam, trung thành với thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Dưới mắt của các cố vấn Mỹ, những tổ lái máy bay của Kỳ mang bạch phiến từ Lào về tỉnh lỵ Pleiku của Việt Nam, rồi từ đó về Sài Gòn. Sau này, sau cuộc đảo chính Sihanouk năm 1970, việc chuyên chở lậu chuyển sang thủ đô Phnom Penh của Campuchia. Máy bay Nam Việt Nam bay tiếp tế hầu như mỗi ngày cho quân đội của tướng Lon Nol. Trong chuyến bay trở về căn cứ ở Tân Sơn Nhứt, phi trường của Sài Gòn, các tổ lái chở lậu bạch phiến.

Hồ Chí Minh và Hoàng tử Souphanouvong
Hồ Chí Minh và Hoàng tử Souphanouvong

Một nguồn cung cấp ma túy khác cũng có thể là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, thời đó thỉnh thoảng bị CIA nghi ngờ là lại sản xuất bạch phiến và dùng nó như là vũ khí chống lại nước Mỹ. Không có bằng chứng cho việc này. Thời đó, các phỏng đoán này được cho là một phần của chiến tranh tâm lý, cái cũng không e dè trước những tin sai.

Một manh mối cho loại vũ khí “thuốc phiện” được Trung Quốc sử dụng là hồi ký của Mohammed Haikal, người thân cận của Nasser đã cùng nghe những cuộc trao đổi mà Chu Ân Lai đã tiến hành trong chuyến viếng thăm chính thức Cairo năm 1965. Trung Quốc sử dụng thuốc phiện, để làm suy đồi nhanh chóng quân đội Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam, Chu Ân Lai thừa nhận. “Một vài người Mỹ muốn hút thuốc phiện, chúng tôi muốn tạo sự dễ dàng cho họ. Chúng tôi đưa ra những loại thuốc phiện tốt nhất cho lính Mỹ ở Việt Nam.” Khi Nasser tỏ vẻ không muốn tin, Chu Ân Lai nói thêm để thuyết phục: “Anh hãy nhớ rằng Phương Tây đã dùng thuốc phiện để chống lại chúng tôi. Bây giờ, chúng tôi chống lại họ bằng chính vũ khí của họ. Chúng tôi mong muốn rằng Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ can thiệp với một đạo quân lớn mà chúng tôi có thể bắt làm con tin và có thể làm cho họ suy đồi. Tác động của sự suy đồi này lên Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ sẽ lớn hơn những gì mà hầu hết mọi người nhận ra được ngày nay rất nhiều.”

Có là phi đạo đức hay không, khi làm cho quân lính đối phương nghiện ngập thay vì giết chết họ với súng ống và đại bác? Người ta cũng phải đặt câu hỏi này ra cho cả Hà Nội, cũng có thể sản xuất thuốc phiện với số lượng lớn trên vùng núi cao hơn một ngàn mét. Thật đáng ngạc nhiên, như Derek Davies nhận xét, người mang cuộc trao đổi của Chu Ân Lai ra trước một giới công chúng rộng rãi trong Far Eastern Economic Review, rằng vũ khí thuốc phiện trong tay của Bắc Việt và Trung Quốc nhận được ít sự chú ý tới như vậy. Hậu quả, suy đồi kéo dài của quân đội Mỹ, đã được Chu Ân Lai tiên đoán chính xác đáng kinh ngạc. Sự nghi ngờ về nguồn gốc không rơi xuống Bắc Việt và cũng không rơi xuống Trung Quốc, nước trước 1949, trước khi người cộng sản nắm quyền lực, là một trong những nhà sản xuất thuốc phiện lớn nhất. Tầm nhìn chỉ hướng tới Tam giác Vàng, đặc biệt là tới Lào.

Ngoài gỗ, một ít thiếc và bồ tạt, Lào không có sản phẩm nào có thể bán được trên thị trường thế giới. Số lượng nhỏ, thu nhập ngoại tệ cũng thế. Thật sự nhiều thì chỉ có việc xuất khẩu thuốc phiện và bạch phiến. Chính phủ ở Vientian không hề che dấu, rằng họ quan tâm tới việc kinh doanh này. Người am hiểu giới ma túy châu Á tốt nhất, sử gia người Mỹ Alfred McCoy, đã cống hiến cho đề tài này một quyển sách tỉ mỉ, nói về một chiến lược thị trường “năng nổ” của giới lãnh đạo Lào. Trong đó, họ giỏi giang giống như “những người bán đồ điện Nhật và người bán ô tô từ Đức”.

Việc thuốc phiện được mua bán tự do ở Vientiane đã lôi kéo hàng đoàn hippie và người sống lập dị tới, ngồi với nhau trong các quán rượu và nhà hàng riêng, và không chỉ Lào hóa qua y phục. Họ tiếp nhận trước hết là lối sống có định hướng tới hưởng thụ và thư nhàn của dân tộc chủ nhà. Các cơ quan nhà nước để tự do cho những người trẻ tuổi xa rời thực tế, say thuốc lâng lâng từ Âu Mỹ đó. Lào tôn trọng tự do cho tới cùng cực. Ở Vientiane, người ta hoàn toàn không nhận ra trách nhiệm gắn liền với việc đó.

Anh em, đối thủ, đối tác

Hầu như không ai thể hiện bản chất của xã hội Lào, các thế mạnh và thế yếu của họ một cách nhiều ấn tượng như thủ tướng Souvanna, người sống trong một ngôi biệt thự đồ sộ với tầm nhìn ra con sông Mekong to lớn, và luôn dành nhiều thời gian để tiếp khách nước ngoài trong gian phòng làm việc của ông, được trang trí với các tác phẩm của Gandhi.

Tại các nghi thức quốc gia và ở hoàng cung của vua Savang Vattana, hoàng tử Souvanna Phouma luôn xuất hiện trong y phục Lào chỉnh tề, với quần lụa và áo khoác bằng bông vải không có cổ và được cài lại bằng dây vải. Nhưng người ta thường trông thấy ông trong bộ comlê hai hàng nút lịch sự theo kiểu Tây Phương nhiều hơn, với áo sơ mí trắng sang trọng, chiếc cà vạt được thắt nút rộng và một cái khăn trang sức trong túi áo ngực: một người đàn ông lịch lãm, nhìn với đôi mắt nhân từ qua tròng kính được nhuộm màu của một cái kính mắt không viền, và để cho người ta nhận ra được sự hài lòng của ông, rằng ông đã hợp nhất ở mình các truyền thống tốt đẹp nhất của nền văn minh Lào và Pháp.

Hoàng tử Souvanna Phouma và phu nhân
Hoàng tử Souvanna Phouma và phu nhân

Những vẻ ngoài của cuộc sống, y phục, nhà ở, thức ăn và thức uống mang nặng dấu ấn của những năm học đại học tại Pháp – ông đã học xây dựng ở Paris và Grenoble. Phong cách của ông, cái để cho người ta mường tượng ra tính khí, cốt lõi trong cùng của cá tính, thì ngược lại vẫn rõ ràng là của Lào: khiêm tốn trong cử chỉ, toát ra vẻ điềm tỉnh và thanh thản, một sản phẩm của Phật giáo, đặt kỷ luật tự giác và bất bạo động lên trên tất cả. Ông kiên nhẫn để cho người ta tiến hành các công việc chuẩn bị về kỹ thuật với mình, những công việc gắn liền với một lần quay phim truyền hình. Không bao giờ ông để lộ ra những dấu hiệu giống như ông đang chịu áp lực, giống như thời gian đang thúc giục. Người khách của ông nhanh chóng hiểu được, rằng mình đang ngồi đối diện với một chính trị gia, người mà đồng thời cũng giống một người bậc thầy, một bậc triết gia như thế nào đó, người quan sát tất cả những sự xuất hiện của cuộc sống từ xa, và miễn cho mình những cơn bùng nổ của tâm hồn, của sự thịnh nộ, căm ghét, thất vọng, nhưng cũng cả tình cảm mạnh mẽ mãnh liệt nữa.

“Người Mỹ nói tôi là người cộng sản”, hoàng tử Souvanna Phouma đã có lần mô tả thế giới quan của ông như vậy, “điều đó thật đáng để thương hại. Làm sao mà họ có thể nghĩ như vậy được? Tôi tìm một con đường để giữ cho Lào phi cộng sản. Theo Phương Tây không có nghĩa là bắt buộc cũng phải theo Mỹ. Chống Mỹ không có nghĩa là theo cộng sản.”

Vị trí ở giữa này hoàn toàn không có giáo điều và hoàn toàn không có tư tưởng hệ, chỉ có định hướng tới lợi ích quốc gia. Souvanna Phouma tin chắc rằng không chỉ những người bất đồng chính kiến cánh hữu, mà cả những người bất đồng chính kiến cánh tả cũng vì sự thống nhất của dân tộc, và có khả năng hòa giải với nhau mà không cần có sự can thiệp từ bên ngoài. Chín mươi phần trăm Pathet Lào, Souvanna Phouma tin là vậy, trước hết là người Lào và rồi mới là người xã hội chủ nghĩa. “Là Phật tử, chúng tôi cũng là người xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi không được phép quên rằng cả người Lào ở phía bên kia cũng là Phật tử, kính trọng vua và muốn thống nhất quốc gia. Lào là một trường hợp đặc biệt.”

Souvanna Phouma không muốn nhận ra sự tàn bạo của một cỗ máy quyền lực cộng sản. Vị hoàng tử đã tự chứng tỏ mình không có khả năng phân biệt được tuyên truyền và chính trị thực tế. Về sau này, ông bị cáo buộc là đã hành động phi chính trị và thậm chí còn là nhẹ dạ và ngây thơ nữa.

Việc hoàng tử Souvanna Phouma sống trong một thế giới mơ mộng cho tới cuối cùng và đã xua đuổi đi tất cả những niềm nghi ngờ về tính đáng tin cậy các tiền đề của ông, bắt nguồn từ những mối liên quan tới người em cùng cha khác mẹ Souphanouvong của ông, người đã đưa ra lời hứa danh dự với ông, rằng Pathet Lao sẽ tôn trọng chế độ quân chủ và sự thống nhất quốc gia. Hoài nghi lời nói của một người họ hàng, của một người quý tộc, của một người yêu nước, điều đó vượt quá chân trời của Souvanna Phouma.

Người anh em cùng cha khác mẹ dường như đã ám chỉ tới vị trí của ông trong xã hội và trong chính trường qua vẻ ngoài. Khác với nhà quý tộc trau chuốt Souvanna Phouma, người đàn ông cánh tả Souphanouvong có tầm vóc của một người nông dân mà không có một nét thanh lịch nào muốn tỏa ra từ đó: chắc nịch, với một cái đầu vuông vức, mắt sinh động và một bộ râu mép. Quần áo ông đúng mực với đặc tính thô kệch, phi thời trang, được cắt may theo ý thích của một người thợ may quê mùa. Viên cán bộ cộng sản, người suy nghĩ vô sản, nhưng trong diện bộ lại tỏ vẻ tiểu tư sản, rõ ràng là một gương mẫu cho Souphanouvong. Thời đó, ở trên khắp thế giới, thanh lịch được đảng cộng sản xem như là tấm thẻ nhận dạng của sự suy đồi và quan điểm nguy hiểm. Nhà cách mạng trung thành với đường lối thì khinh thường hình thức; ông ấy cho rằng quần rộng và áo khoác chật là tiến bộ, thật ra thì đã lầm lẫn giữa thị hiếu tồi và quan điểm thật sự.

Vẻ ngoài của Souphanouvong để cho người ta nhận ra rằng ông giữ khoảng cách rõ rệt với người anh cùng cha khác mẹ, người mà ông đã gắn kết cả đời mình với ông ấy qua ganh đua, qua cạnh tranh. Vào giữa những năm ba mươi, người em trẻ hơn mười một tuổi Souphanouvong cũng học đại học ở Paris và đã có một kỳ thi cuối khóa xuất sắc tại “Ecole Nationale des Ponts et Chaussées”, đẩy lùi thành tích hàn lâm của người anh mình vào bóng tối. Sau những chuyến đi xe đạp xuyên qua vùng đồng quê nước Pháp, người ta thuật lại như vậy, ông đã nghiên cứu về những vấn đề trong tưới nước ở Bắc Phi. Tại các bến cảng của Le Havre, ông đã trở thành thành viên của Mặt trận Nhân dân chống phát xít, nơi ông lần đầu tiên tiếp xúc với những người cộng sản và ý tưởng cộng sản.

Trước khi quân đội Đức tiến vào Pháp, Souphanouvong đã trở về châu Á, nơi ông cũng như người anh cùng cha khác mẹ bắt đầu sự nghiệp của một kỹ sư cầu đường. Tuy vậy, đó là một sắp xếp của định mệnh, khi chính quyền thuộc địa Pháp không để ông làm việc ở quê hương Lào mà lại cử ông sang thành phố Nha Trang ở miền Trung Việt Nam, nơi ông xây cầu đường cho tới khi nước Nhật chấm dứt chiếm đóng năm 1945.

Ở Nha Trang, Souphanouvong kết hôn với Lê Thị Kỳ, con gái của một gia đình khá giả, rõ ràng là có tham vọng chính trị lớn và cùng hoạt động trong phong trào chống thuộc địa. Bà gắn kết ông với Việt Nam chặt cho tới đâu, có thể lôi kéo ông vào phương án lãnh đạo Đông Dương của Hà Nội cho tới đâu, và cả hai bị ý thức hệ cộng sản lôi cuốn cho tới đâu thì cho tới nay vẫn còn là đề tài của sự suy đoán. Rõ ràng là sự liên kết với Việt Nam qua gia đình đã tạo sự dễ dàng cho một liên minh với những người cộng sản hoạt động bí mật, với Việt Minh và đảng cộng sản ngụy trang. Thế nào đi nữa thì trước 1975, trước khi phe cánh tả của Lào nắm quyền,  Souphanouvong cũng đã không bày tỏ niềm tin Mác xít.

Là chủ tịch của “Neo Lao Hak Sat”, Souphanouvong là nhân vật của một chủ nghĩa dân tộc cánh tả của Lào, người tuy là liên minh với người cộng sản Việt Nam, nhưng lại quả quyết không biết mệt trách nhiệm của ông đối với sự thống nhất của dân tộc và lòng trung thành với nhà vua. Không ai muốn nói chắc chắn rằng bao nhiêu phần trong chương trình này của mặt trận là tuyên truyền và bao nhiêu là niềm tin. Souvanna Phouma, người thủ tướng trung lập, luôn tin vào những lời bảo đảm của người em cùng cha khác mẹ của ông.

Một cuộc họp của Ủy ban Trung ương Mặt trận Yêu nước Lào dưới sự chủ trì của Hoàng tử Souphanouvong
Một cuộc họp của Ủy ban Trung ương Mặt trận Yêu nước Lào dưới sự chủ trì của Hoàng tử Souphanouvong

Sức mạnh gợi ý và thuyết phục của người hoàng tử chủ tịch mặt trận thật sự mạnh cho tới đâu, điều này được chứng tỏ qua một mẩu chuyện từ năm 1959. Thời đó, cán cân chính trị giữa các nhóm kình địch với nhau bị phá vỡ. Chính phủ của thủ tướng nhất thời Phoui Sananikon, đã rơi vào ảnh hưởng mạnh của bên hữu, bắt giam ông “hoàng tử đỏ” và những người thân cận nhất của ông, trong số đó có Phoumi Vongvichit và Phoun Sipraseuth, hai nhà quý tộc cánh tả, có khả năng làm bộ trưởng và trung thành với đảng. Họ bị giam trong trại cảnh sát Phone Keng, ở ngoài Vientiane. Souphanouvong, những người thuộc phe ông lan tin đi trong thành phố, đang giết thời gian bằng cách đọc sách cổ điển Hy Lạp.

Lời lên án: Phạm tội làm hại tới an ninh quốc gia. Luật sư đã được nêu tên và cuối cùng một thời điểm xử án cũng được ấn định. Mãi cho tới lúc đó, chính phủ mới nhận ra rằng họ đã trượt vào trong một cuộc đối đầu mà đã mang lại cho cánh tả một diễn đàn để họ tự trình diễn họ trong tư thế của người hùng và phô bày hết sức hiệu quả mối liên quan giữa những nhóm cánh hữu dưới quyền tướng Phoumi Nosavan với CIA. Chính phủ thoát ra khỏi cảnh tiến thoái lưỡng nan này bằng cách trì hoãn hết lần này tới lần khác phiên xử án và giữ “những kẻ phản bội” trong nhà từ mà không có án tòa.

Sau mười tháng, hoàng tử Souphanouvong đã có thể giải quyết vấn đề khó khăn này cho tất cả các bên. Làm sao mà thành công được, việc này được ông kể lại trong một tường thuật trải nghiệm cho tờ báo đảng Việt Nam Nhân Dân trong tháng Năm 1961. Với thời gian, ông đã thành công trong việc chiếm lấy thiện cảm và rồi là lòng trung thành của những người lính gác. Cùng với những người đó, ông đã trốn khỏi nhà tù cảnh sát vào buổi sáng sớm của ngày 24 tháng Năm năm 1960, lúc đang có một trận mưa to. Phiên canh gác tới vào lúc sáu giờ sáng để thay ca chỉ còn nhìn thấy cửa mở và trại giam trống rỗng.

Souphanouvong  dành năm tháng trời để đi xuyên qua các tỉnh do Pathet Lào đang nắm giữ và thanh tra những người theo ông. Mãi tới tháng Mười Một 1960, ông mới trở về tổng hành dinh Sam Neua. Có lý do để tin rằng “phe Việt Nam” trong “Neo Lao Hak Sat” đã lợi dụng thời gian vắng mặt dài của ông để đẩy mạnh kiểm soát tổ chức Mặt trận Lào. Trong những tháng đó, dường như là như vậy, nhiều sự việc đã rồi được tạo nên, những việc mà cuối cùng đã để cho cả hai vị hoàng tử thất bại. Trong khi Souphanouvong bị bắt giam ở Vientiane và sau đó đi xuyên qua các tỉnh, một người được Hà Nội tin cậy đã nắm được quyền kiểm soát Mặt trận và đã tạo lập nền tảng cho một nước Lào mới, cho một nước Lào không có quân chủ và phụ thuộc vào Việt Nam. Kaysone Phomvihan là tên của métis này, như người Pháp nói, một người con lai mà bắt đầu từ bây giờ giật dây “Neo Lao Hak Sat” từ trong hậu trường.

Vì cha ông là người Việt, chỉ người mẹ là người Lào, nên người ta gọi Kaysone là “tên người Việt”. “Cai Song”, “hạ sĩ Song”, là tên Việt Nam. Đối với người Lào rất ý thức về truyền thống thì tất cả những điểm đặc biệt trong cuộc đời ông đều chỉ tới Hà Nội. Thế nào đi chăng nữa thì Kaysone dường như không phải là người một đại diện đáng tin cậy cho một chủ nghĩa dân tộc Lào.

Kaysone Phomvihan và Hồ Chí Minh
Kaysone Phomvihan và Hồ Chí Minh

Ông sinh ra đời năm 1920 hay 1925 ở Savannakhet. Có thời gian ông đã học y khoa ở Hà Nội. Bên cạnh tiếng Lào và tiếng Việt, người ta còn ca ngợi ông biết tiếng Thái, Shan, Pháp và cả tiếng Anh nữa. Ở Hà Nội dưới thời Nhật Bản chiếm đóng, dường như Kaysone đã hoạt động trong liên hiệp sinh viên cộng sản. Ông đã được Đảng Cộng sản và cánh tay quân sự của họ, Việt Minh, đào tạo về chính trị và quân sự. Nhóm lãnh đạo quanh Hồ Chí Minh phải sớm nhận ra rằng một người như Kayson là thích hợp để thâm nhập vào các tổ chức cánh tả của Lào và chuyển chúng sang hướng phục vụ cho các lợi ích của Hà Nộ.

Khi Souphanouvong bắt đầu tổ chức phong trào Lào Issra trong thành phố Savannakhet sau lần đầu hàng của Nhật Bản, Kaysone đã có mặt với một nhóm nhỏ người theo ông. Sau một thời gian kình địch ngắn, metis đã phải nhường lại cho vị hoàng tử quyền lãnh đạo trên danh nghĩa. Nhưng Kaysone giữ chặt trong tay của ông quyền kiểm soát phương tiện quyền lực, cỗ máy quân sự. Ông mới chính là viên chỉ huy thật thụ của Pathet Lào; các chuyên gia Lào đã nhận ra ông trong vai trò này ngay từ đầu những năm sáu mươi, như là người đàn ông nhiều quyền lực hoạt động trong hậu trường của “Neo Lao Hak Sat”.  Nhiều điều ủng hộ việc, rằng phe Việt Nam tạo thành trung tâm quyền lực của Đảng Nhân dân Cách mạng, đảng cộng sản bí mật, chỉ huy “Mặt trận” của Lào. Kaysone và những người cộng tác thân cận nhất, người ta được phép phỏng đoán như vậy, có đảng tịch đôi trong Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Đảng Cộng sản Lào, những đảng mà thời đó tất nhiên là ngụy trang bằng những cái tên khác và xem sự hợp tác của họ như là một bí mật quốc gia.

Liệu Souphanouvong có nhận ra đan kết quyền lực, nói chính xác hơn là sự xâm nhập vào tổ chức cánh tả của Lào này hay không, đó là một câu hỏi không có trả lời. Cho tới chừng nào mà cuộc chiến tranh của Mỹ ở Nam Việt Nam vẫn còn tiếp diễn và Hà Nội phải chịu đựng áp lực chưa từng có của siêu cường quốc Hoa Kỳ, thì Kaysone và Souphanouvong đều hoàn toàn không hoài nghi nhiệm vụ hỗ trợ cho pháo đài xã hội chủ nghĩa ở Hà Nội và cuộc đấu tranh của “Mặt trận Dân tộc Giải phóng” ở miền Nam Việt Nam. Phe Việt Nam chỉ cởi bỏ lớp ngụy trang mãi sau chiến thắng năm 1975.

Liên minh với các tổ chức cánh tả ở Lào mang tầm quan trọng cực cao cho Hà Nội. Vì Pathet Lào giúp bảo vệ những tỉnh biên giới đó của Lào,  những tỉnh mà các trung đoàn Bắc Việt hành quân qua chúng đi về phương nam. Con đường mòn Hồ Chí Minh đã trở thành mạch sống của cuộc cách mạng ở miền Nam Việt Nam.

Cuộc chiến mà Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tiến hành ở Đông Dương không được quyết định ở Khe Sanh và cũng không được quyết định qua đợt tấn công vào dịp Tết Mậu Thân 1968. Nó đã được quyết định ở tại Lào, trên con đường mòn Hồ Chí Minh, trong một cuộc chiến mà hai bên đều không loan báo thông tin chính thức.

Đường mòn Hồ Chí Minh

Quân đội Mỹ biết chính xác đến ngạc nhiên về đường mòn Hồ Chí Minh. Cuốn sách mỏng của Bộ Ngoại giao Nam Việt Nam từ năm 1967, do CIA trợ giúp, mô tả tỉ mỉ một hệ thống đường đi tỏa ra rất rộng, dài 5600 kilômét, cái mà người ta có thể nhìn thấy rõ trên những bức không ảnh được đính kèm.

Cuốn sách mỏng này có nhiệm vụ thuyết phục giới báo chí quốc tế, rằng con đường mòn vi phạm tính trung lập của Lào đó nói chung là có tồn tại. Bởi vì chính phủ ở Hà Nội  nhấn mạnh là không gửi quân đội vào Nam và tôn trọng sự trung lập của Lào. Thuộc vào trong giáo điều của những người có thiện cảm với Hồ Chí Minh và chống Mỹ ở Phương Tây là việc “Mặt trận Giải phóng” chỉ tuyển mộ binh lính từ nhân dân ở miền Nam, Bắc Việt không tham gia trực tiếp vào cuộc chiến, và cuộc chiến tranh ném bom miền Bắc của Mỹ là không có lý do và trái với luật lệ. Hình ảnh về con đường mòn Hồ Chí Minh vì vậy mà cần phải chứng minh cho “cuộc xâm lược” của Hà Nội và qua đó chứng minh cho quyền của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, hỗ trợ một đồng minh chống lại một cuộc tấn công từ bên ngoài.

Xe tải trên đường mòn Hồ Chí Minh
Xe tải trên đường mòn Hồ Chí Minh

Robert Shaplen, một chuyên gia châu Á người Mỹ, người tường thuật bốn mươi năm trời từ Đông Nam Á và được cho rằng có quan hệ tốt với CIA, đã mô tả “phức hợp” của con đường mòn Hồ Chí Minh trong nhiều quyển sách. Các cơ quan tình báo và cả giới chỉ huy quân đội đều biết rằng tuyến tiếp tế đó không chỉ là một con đường duy nhất hay một con lộ, mà là một mạng lưới của những con đường và đường mòn, chạy song song với nhau và tất cả cùng với nhau tiến hành tiếp tế cho miền Nam.

Năm 1960, khi cuộc khảo sát vùng đồi núi cho tới lúc đó hết sức khó đi lại và cuộc xây dựng những con đường đầu tiên bắt đầu, một nhóm người từ thành phố Đồng Hới ở phía Bắc của vĩ tuyến 17 cần độ khoảng nửa năm để hành quân cho tới mức ngang với Sài Gòn, tức là cho một đoạn đường tròn một ngàn kilômét. Ngay trong lúc vượt biên giới sang Lào, những người lính phải vượt đèo Mụ Giạ, cái đã khiến cho những người lính phải kiệt sức và bị sốc cho tới mức hẳn là nhiều người đã từ bỏ niềm hy vọng có thể còn sống hay lành lặn mà đi tới cuối con đường hành quân khủng khiếp này.

Người Việt là những người sống ở đồng bằng, nông dân trồng lúa, phó mặc vùng đồi núi, phần lớn của đất nước họ, cho Montagnard và không bao giờ, như dân cư châu Âu, cố gắng khai khẩn vùng trung du và dùng nó để chăn nuôi bò. Rừng rậm của vùng đồi núi đối với những người lính của Hà Nội là một vùng đất xa lạ, kỳ bí, đáng sợ cũng như đối với người Mỹ và người Âu. Khi những người lính đứng vững trước nguy hiểm và cực khổ thì đó không phải là một việc hoàn toàn tự nhiên. Giới lãnh đạo Đảng trao cho họ một nhiệm vụ mà họ không có tài năng đặc biệt và không có kinh nghiệm cho nó. Ý nghĩ về con đường mòn trong rừng rậm hẳn đã đầy những sự miễn cưỡng và kinh hoàng.

Ngày nay, trong Bảo tàng Quân đội, con đường mòn Hồ Chí Minh có một màn trình diễn riêng. Một tấm bảng bằng gỗ với bóng đèn điện minh họa hệ thống đường đi đó, cái khiến cho người ta nhớ tới cấu trúc của mô người mà trong đó một con số lớn các mạch máu và dây thần kinh tiếp tế cho các bắp thịt. Mỗi một con đường riêng lẻ trong lúc đó tương đối ít có giá trị và có thể được thay thế, mỗi một phần tử chỉ có tầm quan trọng của nó như là một phần của tổng thể. Cũng như ở cơ quan của con người, chỉ một lần cắt ngang, một lần mổ đẫm máu mới có thể chia cắt được những con đường đó và qua đó là có thể làm ngưng dòng chảy. Những biện pháp tại từng điểm một quấy rối và gây đau, nhưng không thể ngăn chận cái mô đó làm tròn chức năng của nó. Một cái bảng trong bảo tàng đưa ra những con số sau đây cho con đường mòn Hồ Chí Minh: chiều dài của tất cả các con đường và đường mòn là 16.000 kilômét, 7 triệu mét vuông đất đã được dịch chuyển, 56.000 quả bom đã đánh trúng vào hệ thống đường đi này, và hai triệu người lính đã đi trên con đường này vào miền Nam.

Quân đội Bắc Việt đã tham chiến ngay từ tháng Chín 1964. Vũ khí và quân lính được lén lút mang vào miền Nam qua con đường mòn Hồ Chí Minh.
Quân đội Bắc Việt đã tham chiến ngay từ tháng Chín 1964. Vũ khí và quân lính được lén lút mang vào miền Nam qua con đường mòn Hồ Chí Minh.

Đường đi thật sự chỉ được xây dựng mãi trong nửa sau của những năm sáu mươi, khi đợt tấn công Tết Mậu Thân cần nhiều tiếp tế cho tới mức chỉ người vác hàng, xe đạp và ngựa không thôi thì không còn đủ nữa. Xe vận tải chỉ chở hàng hóa vào Nam. Quân đội hành quân với 30 kílô hành lý trên lưng; chỉ một phần nhỏ trong số đó là vật dụng cá nhân: gạo, muối và một cái võng cho những đêm tối đáng sợ trong rừng nhiệt đới nguyên thủy. Cứ ba người lính tạo thành một tổ mà thành viên của nó giúp đỡ và giám sát lẫn nhau. Thiếu kỷ luật, yếu đuối về tinh thần hay thể xác đều được chống lại bằng phê bình, và nếu cần thiết thì với những biện pháp hà khắc.

Những người lính Bắc Việt trẻ tuổi, phải đi xuyên qua một môi trường rừng rậm xa lạ và thù địch đối với họ, chỉ có thể chịu đựng được gánh nặng, vượt qua được nỗi sợ hãi, hoàn thành phần việc làm và đoạn đường hành quân được giao cho hàng ngày nhờ vào áp lực thật nặng nề, nhờ vào một sự quyết tâm đã tiến sát gần tới sự tàn bạo. Người lính nhìn thấy khỉ, cọp và voi. Muỗi chích và lan truyền bệnh sốt rét đi dưới quy mô thật đáng sợ. Viêm đường ruột là chuyện bình thường. Thường xuyên phải điều trị vết rắn cắn. Người lính nào cũng mang theo mình một ống thuốc tiêm với thuốc giải độc. Cả những con đỉa rơi xuống từ cành cây và bám chặt vào da để hút máu cũng góp phần vào trong việc biến cuộc sống trong rừng rậm thành một cuộc thử nghiệm sức chịu đựng của con người.

Khi người Mỹ bắt đầu ném bom với cường độ cao xuống con đường mòn Hồ Chí Minh năm 1964, giới lãnh đạo quân đội ở Hà Nội phản ứng lại với chỉ thị hành quân vào ban đêm và nghỉ ngơi vào ban ngày ở những vị trí đã được ngụy trang. Người ta phải cần một ít trí tưởng tượng, để hình dung ra được mệnh lệnh đó có ý nghĩa gì trong thực tế. Người ta yêu cầu những người lính đang vác nặng phải chập choạng đi xuyên qua rừng nguyên thủy với một nguồn ánh sáng tối thiểu, không thể nhận ra được những đặc điểm của mặt đất. Trong mùa mưa, mặt đất mềm và trơn trượt. Những người lính phải hoàn toàn tin tưởng đi theo người trước mình, lúc nào cũng phải giữ vận tốc của đoàn vì nếu mất liên lạc với người ở trước thì có nghĩa là mất định hướng hoàn toàn. Trước khi quân đội từ Hà Nội tới chiến trường thật sự ở Nam Việt Nam thì họ đã đi qua “địa ngục xanh” trong các tỉnh miền Đông của Lào.

Một nữ đại úy của quân đội Bắc Việt có tên là Phung Thi Vinh đã mô tả lại cho tôi những trải nghiệm của bà trên con đường mòn Hồ Chí Minh. Bà luôn nhắc tới sự nhiệt tình và tính sẵn sàng hy sinh của thế hệ trẻ thời đó, không e ngại bất cứ sự cực nhọc và hy sinh nào để tiến hành tiếp tế cho lực lượng chiến đấu ở miền Nam. Bắt đầu từ 1968, phụ nữ trẻ được sử dụng để lái xe tải. Bà lái trên một đoạn đường dài 70 kilômét ở đầu của con đường mòn qua đèo Mụ Giạ. Lúc mặt trời lặn, đoàn xe tải bắt đầu chạy với mỗi chiếc một cây đèn nhỏ ở dưới xe. Tại điểm đến và kiểm tra, bà giao chiếc xe tải chở đầy hàng đó lại và ngay tức khắc lái một chiếc xe khác quay trở lại, để có thể về tới căn cứ của bà vào lúc bình minh. Tổn thất đồng đội đã là một áp lực lớn cho bà. Nỗi lo sợ bị ném bom hiện diện ở khắp nơi.

Trên đường về, sàn xe tải đầy những người tàn phế và bị thương nặng, được chở về miền Bắc để phục hồi chức năng. Trên toàn bộ tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, đoàn khốn cùng của các nạn nhân từ cuộc chém giết ở miền Nam phải đi ngang qua những người lính còn chờ chiến trận ở trước họ và trong trí tưởng tượng của họ buộc phải nhìn thấy cái tương lai đó còn đang ở phía trước của họ. Đối với những người bị thương trên sàn xe tải thì đó phải là một trải nghiệm thật đáng kinh sợ, được chở đi trên 800 hay 1000 kilômét trong bóng tối trên những con đường đất đầy ổ gà làm chiếc xe lắc lư và gây đau ghê gớm cho những người vừa được mổ xong. Những người bị thương, theo như bà Phung nói, muốn có tài xế là nữ; phụ nữ lái xe cẩn thận hơn đàn ông rất nhiều.

Không quân Mỹ đã dùng toàn lực để làm gián đoạn dòng chảy tiếp tế của đối phương. Những vị trí trung tâm của mạng lưới đường đi này đã bị chất hóa học làm rụng lá, để phi công chiến đấu cơ có thể nhận ra các di chuyển trên mặt đất. Từ 1965 cho tới 1973, trên hai triệu tấn chất nổ đã được ném xuống con đường mòn Hồ Chí Minh, nhiều bom hơn là trong Đệ nhị Thế chiến đã được sử dụng để chống lại châu Âu và Nhật Bản cộng lại. Không quân tăng cường hoạt động lên 700 tới 800 phi vụ mỗi ngày. Chiến dịch “Steel Tiger” đã biến các tỉnh phía Đông của Lào trở thành một vùng thử nghiệm cho hiệu quả của không chiến hiện đại. Về số lượng, việc sử dụng phương tiện như vậy lẽ ra là phải đủ để đẩy tổn thất của đối phương lên cao cho tới mức Hà Nội phải từ bỏ không sử dụng con đường mòn Hồ Chí Minh nữa. Việc sử dụng máy bay ném bom B-52 một cách có hệ thống, những người lập kế hoạch ở Washington tin là vậy, sẽ ngăn chận cuộc tiếp tế từ miền Bắc.

Tromg mùa hè 1968, Không quân Hoa Kỳ đã cho phép một phóng viên của tạp chí Mỹ Time bay cùng trong một phi vụ chống đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào. Các chiếc máy bay ném bom khổng lồ đó mang mỗi chiếc 30 tấn bom. Một ít B-52 đóng ở Thái Lan. Đa số các chiếc máy bay bay tới Lào đều đến từ Guam, Okinawa và Đài Loan. Ở trên Philippines, chúng được máy bay KC-135, phiên bản quân sự của Boeing 707, tiếp tế nhiên liệu trên không. Ở một độ cao từ 10.000 tới 12.000 mét, từ mặt đất hầu như không nhìn thấy và không nghe được, chúng bay tới mục tiêu của chúng.

Các tổ lái thực hiện một phi vụ mang lại cái chết. Nhưng ở trên cao trong chiếc máy bay khổng lồ đó thì không cảm nhận được gì về bản chất nhiệm vụ của họ cả. Tất cả các thành viên của tổ lái đều cảm nhận họ là chuyên gia kỹ thuật, điều khiển các thiết bị hiện đại mà không trải qua tác động xuất phát từ công việc của họ. Các phi công giữ đúng chính xác đường bay cho trước. Thêm vào đó, khi viên hoa tiêu làm việc không phạm lỗi, thì rồi khu vực mục tiêu cũng được giới hạn hết sức chính xác ở độ cao 12.000 mét. Ngay cả khi máy bay bay trên mây hay bay về đêm, và tổ lái không thể dùng mắt thường để mường tượng ra được hình dạng của mục tiêu, thì viên hoa tiêu với thiết bị của ông cũng có khả năng cho bom rơi xuống chính xác trong một hình chữ nhật 1000 x 2000 mét.

Tổ lái có hoàn thành đúng nhiệm vụ của họ hay không, điều này thì họ được một “controller” trên không thông báo cho, người bay thấp ở tít phía dưới và đánh giá sơ bộ tác động của lần ném bom đó. “Bom trúng mục tiêu”, phóng viên tờ Time nghe “controller” báo qua vô tuyến. “Một chuyến bay tốt. Chúc bay trở về êm đẹp. Hẹn lần sau.”

Đường mòn Hồ Chí Minh
Đường mòn Hồ Chí Minh

Thuộc vào bản chất của chiến tranh hiện đại là các tổ điều khiển những loại vũ khí giết người hàng loạt đó đều ở cách xa nơi bị tác động và hoàn toàn không cảm nhận được họ đã tạo ra một địa ngục nào. Các đội lái B-52 biết trọng tải bom của họ. Một “tấm thảm” như vậy gây ra thiệt hại nào trên mặt đất, nó để cho mặt đất trong phạm vi 30 kilômét rung chuyển như thế nào, điều đó thì họ chưa từng trải qua. Tổ lái bay trở về căn cứ mà không nhìn thấy mục tiêu, đối thủ, nạn nhân. Ngay cả người dân Sài Gòn, hầu như không bị chiến tranh quấy nhiễu, cũng vẫn còn có một mường tượng mơ hồ về tác động dữ dội của những chiếc B-52 mà từ 1966 đã thường xuyên ném bom khu “Tam giác Sắt”, một vùng Việt Cộng nằm 30 kilômét về phía bắc. Khi những quả bom rơi xuống tới, mặt đất trong thành phố bắt đầu rung chuyển. Ly cốc kêu lách cách, một âm thanh ầm ầm làm đầy không khí, giống như có một đoàn xe lửa cao tốc đang chạy ngang qua.

Ai trải qua tác động của những quả bom B-52 nổ ở cự ly gần, người đó cả đời mình sẽ gắn kết trải nghiệm này với cảm giác đã nhìn thấy một phần của lần tận thế, lần thế giới chìm đắm. Không có thông báo trước, không có cảnh báo trước, đúng theo nghĩa đen từ trên trời rơi xuống, mặt đất rung chuyển và bị lung lay cho tới mức nó làm cho con người có cảm giác như đang rơi vào trong một sự hỗn loạn khủng khiếp. Tiếng ồn kinh khủng đó gây ra một sự hoảng loạn, cái khiến cho lý trí không còn có hiệu lực nữa, và chỉ để cho bản năng hoạt động. Trong cái “box”, như các đội bay của B-52 gọi mục tiêu của họ, sự hủy diệt là toàn thể.

Nhưng những lần B-52 ném bom cũng có tác động lâu dài lên những người ở trong vùng lân cận, tuy là lành lặn về thể xác nhưng dứng dưới cú sốc của một trải nghiệm có ảnh hưởng tới lý trí ít hơn là tới tiềm thức rất nhiều.

Cuối cùng, quân đội của Hà Nội cũng đã chống lại được với cuộc chiến tranh ném bom dữ dội này. Trên con đường mòn Hồ Chí Minh, “yếu tố tinh thần” cuối cùng cũng quyết định cuộc chiến. Cuộc ném bom dữ dội nhất mà lịch sử thế giới trải qua cho tới lúc đó đã không thể bẻ gãy được ý chí chiến đấu của quân đội Bắc Việt và của người dân.

Cuộc chiến thường được nhìn quá nhiều từ vị trí của các tướng lĩnh và lãnh đạo chính trị, những người ở trong các trung tâm chỉ huy và văn phòng quốc gia xa xôi của họ, ở những nơi mà họ hoàn toàn không biết và không thể hiểu thấu được hiện thực của tình huống mà quân đội chiến đấu trải qua. Thuộc vào trong số những nhà chiến lược bàn giấy này cũng là thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng, người mà thời đó đã giải thích cho một viên khách nước ngoài: “Toàn bộ lịch sử của chúng tôi chỉ bao gồm chiến tranh. Kết quả của 2000 năm đau khổ là việc dân tộc chúng tôi có một hệ thống thần kinh rất ổn định. Chúng tôi không biết tới sự hoảng loạn.”

Đối với lực lượng trên con đường mòn Hồ Chí Minh thì 2000 năm lịch sử không phải là niềm an ủi và sự giúp đỡ. Hẳn đã phải có một con số lớn những vụ suy sụp tinh thần. Một sự hoảng loạn tổng thể chỉ có thể tránh khỏi qua kỷ luật tàn bạo, qua tổ chức vi mô trong những tổ ba người, qua tuyên truyền và tổng động viên những sức lực dự trữ cuối cùng.

Ở Mỹ, giới truyền thông ngày một hỏi thúc bách hơn, tại sao quân đội không chận được dòng tiếp tế và qua đó làm suy yếu một cách quyết định đối thủ ở Nam Việt Nam. Các lý do chính trị đã ngăn cản không cho Lầu Năm Góc thông tin cho công chúng, rằng chính mục tiêu đó đã được theo đuổi với chi phí nào và cường độ chưa từng có nào. Một nhóm chuyên gia đặc trách, cái được gọi là “Jason Group”, đã được thành lập, nhóm mà tương tự như ở dự án nguyên tử “Manhattan” trong Đệ nhị Thế chiến có quyền sử dụng tất cả nguồn lực của Mỹ để chận đứng con đường mòn Hồ Chí Minh. Thiết bị cảm biến điện tử, ghi nhận các di chuyển của quân đội và báo về trung tâm, đã được ném với số lượng thật lớn xuống vùng đất này. Bất cứ một phương tiện phá hoại nào được nghĩ ra, thuốc độc và thuốc nổ dưới nhiều hình thức, cũng đều được sử dụng, để ngăn chận không cho quân đội Hà Nội đi trên con đường mòn ở Lào này vào tới Nam Việt Nam. Họ đã không đạt được mục tiêu của họ, dù tổn thất của Bắc Việt có cao tới đâu đi chăng nữa,

Trong số một ngàn xe tải, ngày nay người ta ước lượng như vậy, có ít hơn sáu trăm chiếc là có thể mang hàng hóa của chúng tới nơi. Không một quân đội nào có thể chịu đựng được tổn thất gần năm mươi phần trăm trong một thời gian dài, theo như một quy tắc quân sự, mà không bị thiệt hại về tinh thần chiến đấu và qua đó là hiệu quả. Trận đánh vì con đường mòn Hồ Chí Minh đã đặt ra những thước đo mới. Quân đội Bắc Việt đã tiến gần tới hoảng sợ và hỗn loạn; mặc dù vậy họ đã tránh được sự sụp đổ. Cũng như trong Đệ nhị Thế chiến và trong chiến tranh Triều Tiên, trận đánh ở Lào cũng chứng minh rằng chỉ một mình không quân thôi thì không thể dẫn tới một quyết định ngã ngũ được.

Vì chính giới chỉ huy quân đội cũng không tin chắc vào hiệu lực của cuộc chiến tranh ném bom nên họ đã bắt đầu những chiến dịch bí mật trên mặt đất, do các đơn vị của “Special Forces” tiến hành. Trong các tỉnh Lào có biên giới với Việt Nam và trên Cánh Đồng Chum, chuyên gia du kích Mỹ tuyển mộ từ những bộ tộc ở trên núi, trước hết là từ người Mèo để thành lập một nhóm chiến binh cố gắng làm mất an ninh trên các tuyến đường tiếp tế của Hà Nội. Trong cuộc chiến tranh bí mật này, người Mèo đã làm những việc phi thường. Trong đó, nhóm người Mèo do tướng Vang Pao tài ba và nhiều bản năng lãnh đạo đã phải trả một giá cao bằng máu. Người dân của những ngôi làng trên núi chẳng bao lâu sau đó chỉ còn bao gồm đàn bà, trẻ con và người già. Đổi lại, Special Forces của người Mỹ phải cho phép các bộ tộc mở rộng sản xuất thuốc phiện và qua đó cải thiện cơ cở vật chất của họ. Đối với Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, thắng lợi và mất mát vào lúc cuối hẳn là đã ngang bằng cán cân.

Cuộc chiến trên vùng núi của Lào cũng bí mật như việc vận chuyển trong kinh doanh ma túy. Chính thức thì người Mỹ và người Bắc Việt tôn trọng nền trung lập của Lào. Không ai phản đối các chiến dịch của đối phương, vì qua đó thì sự hiện diện của quân đội chính mình ở Lào sẽ bị phơi bày ra.

Chiến dịch “Lam Sơn 719”

Năm 1968, tướng Westmoreland tin rằng những chiến dịch “bí mật”, được che đậy, không còn đủ để làm gián đoạn con đường mòn Hồ Chí Minh nữa. Vì vậy mà ông xin chính phủ Washington cho phép tấn công qua Lào, với sáu sư đoàn được chia thành hai quân đoàn, để chiếm và ngăn chận con đường mòn Hồ Chí Minh. Chiến dịch trên mặt đất dự định đi theo đường 9, dẫn từ thành phố Việt Nam Đông Hà ở phía nam của vĩ tuyến 17 qua pháo đài Khe Sanh trên núi tới huyện lỵ Tchepone của Lào. Tchepone, điều này thì đã được máy bay trinh sát chứng minh rõ, là một giao điểm và điểm đóng quân bậc nhất. Westmoreland cho rằng cần thiết phải tập trung sáu sư đoàn, vì Bắc Việt sẽ bảo vệ rất chặt phần hẳn là quan trọng nhất của con đường mòn Hồ Chí Minh. Tuy vậy, với hai quân đoàn cùng với sự hỗ trợ của không quân, Westmoreland tin rằng có thể hoàn thành được nhiệm vụ đặt ra và ngăn chận được dòng tiếp tế của đối phương.

Lam Sơn 719: Quân lính VNCH chờ trực thăng chở ra mặt trận.
Lam Sơn 719: Quân lính VNCH chờ trực thăng chở ra mặt trận.

Mặc dù đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đã xem xét tính khả thi chính trị của chiến lược quân sự này và ủng hộ kế hoạch tiến quân vào nước Lào, tổng tống Lyndon B. Johnson không muốn chuẩn y dự định của các tướng lãnh. Johnson không muốn chịu trách nhiệm cho việc xâm phạm nền trung lập của Lào một cách công khai và trên quy mô lớn. Các kế hoạch xâm lấn tạm thời được xếp vào hồ sơ.

Ba năm sau đó, 1971, tình hình đã thay đổi cho tới mức dự án lại được đưa vào chương trình nghị sự ở Washington. Tổng thống Richard Nixon và ủy viên an ninh Henry Kissinger của ông, người đã phân tích đặc biệt nhiều về tình tiết này trong các hồi ức của mình, cố gắng bảo đảm việc rút quân lính Mỹ bằng những biện pháp phòng trước. Một cuộc tấn công chống con đường mòn tiếp tế của Hà Nội, bây giờ các tướng lãnh ở Sài Gòn hy vọng như vậy, có thể sẽ làm suy yếu khả năng tấn công của người Bắc Việt cho tới mức nhà nước ở miền Nam có thêm được một thời gian hai năm để lấy sức. Sếp của Hội đồng Tham mưu trưởng, bảo đảm với tổng thống, “rằng đã lo liệu cho mọi việc”. Bộ binh Mỹ chỉ đi cùng tới Khe Sanh, tới biên giới Lào. Quân đội Nam Việt Nam sẽ đẩy cái nêm cho tới Tchepone, được che chở và hỗ trợ bởi Không quân Mỹ.

Những người chống lại chiến dịch này ở trong Bộ Ngoại giao Mỹ cố gắng tác động lên thủ tướng Lào để ông phản đối trước. Thế nhưng Souvanna Phouma khước từ, không phản đối kế hoạch của giới quân đội. Ông đồng ý với hoạt động này, ông báo cho Washington biết, nếu như chiến dịch không kéo dài quá ba tuần.

Vào ngày 18 tháng Giêng 1971, Hội đồng An ninh Quốc gia ở Washington quyết định tiến quân vào Lào.  Vào ngày 8 tháng Hai, 17.000 người lính Nam Việt có nhiệm vụ vượt biên giới và tiến quân cho tới Tchepone cách đó 35 kilômét. Đơn vị Mỹ với lực lượng khoảng 10.000 người sẽ hỗ trợ pháo binh và tiến hành các phi vụ máy bay trực thăng.

Dường như không ai nhắc cho Richard Nixon rằng tướng Westmoreland, khi ông lập kế hoạch cho một chiến dịch như vậy trước đó ba năm, đã cho rằng phải cần hơn gấp đôi con số quân lính như vậy. Thêm vào đó, không ai ở Washington biết rằng người tổng thống Nam Việt Nam, người mà suy nghĩ chiến lược của ông bám rễ sâu vào trong truyền thống châu Á, đã chỉ thị cho các viên chỉ huy của ông ngưng chiến dịch nếu như các đơn vị bị tổn thất quá 3000 người. Mục tiêu quan trọng nhất của một viên tư lệnh Á châu là bảo toàn nền tảng quyền lực, sự tồn tại thực thể của quân đội mình. Khôn ngoan là việc không đạt tới mục tiêu và giữ lại quân đội của mình, hơn là hoàn thành thành công một nhiệm vụ và qua đó mất đi phần tốt nhất của quân đội.

Tổng Tư lệnh Tưởng Giới Thạch trong Đệ nhị Thế chiến đã đẩy cố vấn người Mỹ của ông, tướng Joseph Stilwell có tài cũng như nóng tính, đi tới chỗ tuyệt vọng với chiến thuật này. Viên tướng tinh khôn Nguyễn Văn Thiệu, biết những quyển sách kinh điển về quân sự ở châu Á của ông, đã đưa ra chỉ thị giống như vậy cho chiến dịch “Lam Sơn 719”, được đặt tên theo địa danh một trận đánh thắng lợi của Việt Nam chống một đạo quân từ Trung Quốc: Bảo tồn các đơn vị tinh nhuệ của ông có ưu tiên cao hơn việc hoàn thành nhiệm vụ.

Henry Kissinger trong hồi ức của ông đã gọi chiến dịch này “được phác thảo với sự nghi ngại, có hoài nghi tháp tùng và được tiến hành trong sự lộn xộn”. Bộ tham mưu của ông đã góp phần đáng kể vào trong sự hỗn loạn mà cuộc xâm chiến chấm dứt ở trong đó. Hội đồng An ninh Quốc gia đã đánh giá quá thấp lực lượng phòng thủ của đối phương; và đặc biệt là ông đã chọn đúng địa điểm đó ở trên con đường mòn Hồ Chí Minh, địa điểm mà Hà Nội từ nhiều năm nay đã xác định là vùng có tiềm năng bị xâm chiếm và đã củng cố tương ứng. “Lam Sơn 719” không mang tính bất ngờ. Bắc Việt Nam đã chuẩn bị tối ưu cho một sự việc đã có thể nhìn thấy rõ trước.

Từ pháo đài núi Khe Sanh, các đơn vị Nam Việt Nam vượt biên giới sang Lào vào ngày 8 tháng Hai trong thời tiết lạnh có mưa và mây thấp, di chuyển trong một vùng đồi núi có rừng rậm bao phủ và Việt Cộng đã cẩn thận đặt mìn trên tất cả các con lộ và đường mòn. Mũi nhọn của cái nêm chỉ có thể tiến chậm chạp lên phía trước. Một con số lớn của những ổ phục kích được ngụy trang và các khó khăn của địa hình đã tác động khiến cho chiến dịch diễn tiến chậm nhiều hơn là các nhà lập kế hoạch ở Sài Gòn và Washington dự tính. Mãi sau bốn tuần cực nhọc làm sạch địa hình và thỉnh thoảng chạm trán nhỏ với các đơn vị đối phương, những người lính đầu tiên của Nam Việt Nam mới đến được huyện lỵ Tchepone.

Mãi tới lúc đó, các tướng lĩnh Hà Nội mới dẫn quân đội quen thuộc với địa hình của họ chuyển sang thế phản công. Một cái bẫy sập xuống. 17.000 người lính Nam Việt Nam nhìn thấy mình đối diện với một lực lượng đông hơn từ ba tới bốn lần của đối phương, kẻ quyết tâm không chỉ bảo vệ con đường mòn mà còn muốn bao vây và tiêu diệt đạo quân xâm nhập. Toàn bộ đoạn đường từ Khe Sanh cho tới Tchepone bất thình lình biến thành một địa ngục mà trong đó dường như có lửa từ trên trời rơi xuống, lộn xộn và hoảng loạn bùng phát, và các viên chỉ huy Nam Việt Nam mất tầm nhìn tổng quát và sự kiểm soát.

Đoàn máy bay trực thăng của Nam Việt Nam và của Mỹ bay đến để trợ giúp đã rơi vào trong một hàng rào hỏa lực bắn chặn chưa từng bao giờ được nhìn thấy trước đó trong cuộc chiến này. Các phi đội trực thăng – đúng theo nghĩa đen – đã bay trực diện vào trong một biển lửa mà trong đó các máy bay đã bị bắn rơi hàng loạt. Và mặc dù vậy, các tổ lái hết lần này đến lần khác vẫn buộc phải bay vào trong vòng vây, để lấy thương binh và di tản những người lính ra khỏi các vị trí không còn có thể giữ vững được nữa.

Mục tiêu đã hoàn toàn biến mất ra khỏi tầm nhìn. Chỉ còn những nhà lập kế hoạch trong các công sự an toàn ở hậu phương hay ở cạnh bàn hội nghị tại Washington là còn nói tới con đường mòn Hồ Chí Minh. Trong địa ngục màu xanh của Tchepone, gần như tất cả mọi người chỉ còn nghĩ tới sự sống còn. Quân đội Nam Việt Nam đã vượt quá giới hạn tổn thất từ lâu, cái mà người tổng thống đã đưa ra. Quân lính chạy trốn về biên giới. Không một sĩ quan nào có thể động viên họ tiếp tục trận đánh đã tuyệt vọng đó nữa. Hãy tự cứu lấy chính mình, đó là điều răn của lúc này.

Lam Sơn 719: Đoàn xe của Lữ đoàn 1 Thiết giáp trên QL 9 tiến đến Căn cứ Alpha
Lam Sơn 719: Đoàn xe của Lữ đoàn 1 Thiết giáp trên QL 9 tiến đến Căn cứ Alpha

Một vài thông tín viên đã mạo hiểm bay về hướng Tchepone, để qua chụp ảnh hay quay phim mà hình dung được sự hỗn loạn trên con đường số 9. Thêm vào đó, từ những lý do về chính trị mà Không quân Mỹ từ chối không chở các phóng viên bay qua lãnh thổ trung lập của nước khác. Luật quốc tế có giá trị đối với báo chí, những đạo luật mà giới quân đội trong một tình trạng khẩn cấp đã tự vô hiệu hóa chúng cho họ. Lý do này hẳn chỉ là viện cớ. Thật sự thì quân đội cho rằng rủi ro đi liền với việc này là quá cao.

Thuộc trong số nhóm nhỏ các phóng viên ảnh quyết tâm cho tới cùng là người Anh Larry Burrows, từ nhiều năm nay thuộc trong số các ngôi sao nhiếp ảnh gia của tờ báo ảnh Life. Larry Burrow đã có mặt tại nhiều trận đánh ở Nam Việt Nam. Trong lần bao vây pháo đài Khe Sanh trên núi năm 1968, ông đã chụp được nhiều bức ảnh đầy tính bi kịch, làm rung động về cuộc chiến đấu và về cái chết của những người lính cổ da ở chiến tuyến đầu. May mắn bao giờ cũng ở bên cạnh ông. Vào ngày 6 tháng Hai 1971, hai ngày trước cuộc hành quân sang Lào, Burrow tại một vị trí tiền đồn đã bị một trận mưa bom của Không quân Nam Việt Nam. Ông cũng lành lặn qua được cả lần rủi ro này và trong lúc nguy hiểm nhất đã chụp được những bức ảnh chuyển tải hiện thực của cuộc chiến: về sức mạnh của những quả bom nổ và sự sợ hãi bản năng của những người lính.

Larry Burrows, một người đàn ông 41 tuổi, điềm tỉnh, hoàn toàn không kiêu ngạo, hay tự mỉa mai, người mà chiếc kính mắt to có gọng sừng mang lại cho một nét nghiêm trang hàn lâm, người mà thế nào đi nữa cũng ít có điểm chung với các nhiếp ảnh gia hút cần sa của thế hệ trẻ, được Life gọi một cách xứng đáng là “nhiếp ảnh gia chiến tranh can đảm nhất và nhiệt tình nhất” ở Việt Nam. Trong số những người cầm máy thì chỉ có thể đặt người Úc Neil Davis ngang hàng với ông.

Vào ngày 19 tháng Hai, hai ngày sau khi cuộc thâm nhập bắt đầu, cuối cùng thì Larry Burrows cũng tìm được một viên tướng Nam Việt Nam cho phép ông bay cùng trong một phi đội gồm năm chiếc trực thăng do chính viên tướng này dẫn đầu. Hai chiếc máy bay trực thăng đã không trở về từ phi vụ này. Phòng không Bắc Việt Nam đã bắn cháy và khiến cho chúng rơi xuống. Sau chín năm làm việc xuất sắc ở Việt Nam, Larry Burrows đã tìm thấy cái chết trên con đường mòn Hồ Chí Minh.

Tin tức về việc chiếc trực thăng báo chí bị bắn rơi đã làm xấu thêm bầu không khí trước sau gì thì cũng đã không thuận lợi ở các phóng viên chiến trường. Các nhà báo hoạt động ở hậu phương Nam Việt Nam chuyển tải cho giới công chúng thế giới ngày một rõ hơn ấn tượng, rằng một chiến dịch quân sự lớn đã được bắt đầu ở đây, cái phải chấm dứt với một chiến bại, cái sẽ không mang lại cho Nam Việt Nam một thời gian để dưỡng sức như những nhà lập kế hoạch trong Hội đồng An ninh Quốc gia hy vọng, mà chứng minh dứt khoát rằng cái được gọi là “Việt Nam hóa” chiến tranh, công cuộc xây dựng một quân đội mạnh, có kỷ luật chuyên nghiệp của Nam Việt Nam, có thể tự sức mình mà cầm cự được với đối thủ từ miền Bắc, đã thất bại không thể chối cãi.

Khi tiền quân Nam Việt Nam bị tiêu diệt trước Tchepone và lực lượng vượt trội của Hà Nội để cho chiến dịch “Lam Sơn 719” trở thành một cuộc rút quân mất trật tự, giống như bỏ chạy, thì thực tế là đã có những cảnh tượng có thể được đánh giá như là bằng chứng cho sự thất bại của Việt Nam hóa. Hỗn loạn ở khắp mọi nơi. Không quân Mỹ bay tấn công cho tới ranh giới của sự kiệt sức mà không thể làm giảm thiểu được các hoạt động của Bắc Việt. Hỏa lực trên con đường mòn Hồ Chí Minh dữ dội cho tới mức con số tổn thất lớn của những chiếc trực thăng đã làm lay động tinh thần chiến đấu của quân đội. 176 người Mỹ đã hy sinh ở Lào, 1042 người bị thương. Các phi đội trực thăng Mỹ chưa từng bao giờ phải chịu những tổn thất như vậy trước đó. Vì chỉ lực lượng bay mới bị ảnh hưởng. Tổn thất trên mặt đất là do quân đội Nam Việt Nam gánh chịu.

LamSơn 719
LamSơn 719

Truyền thông Mỹ đổ lỗi thất bạị ở Lào về cho tổng thống Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Thiệu, và các viên tướng của ông. Hầu như không ai làm sáng tỏ thẩm quyền của Hội đồng An ninh Quốc gia ở Washington; không ai nhắc tới việc là quân đội trên mặt đất của Mỹ thật ra chỉ dám thực hiện cuộc tiến quân sang Lào khi có sáu sư đoàn chớ không chỉ với hai sư đoàn mà tổng thống Thiệu, được Mỹ hỗ trợ và cố vấn, đã bắt đầu chiến dịch với họ. Quân đội Nam Việt Nam rõ ràng là đã thất bại. Họ đã bị đánh bại, họ đã hoảng loạn bỏ chạy khỏi Lào mà không thể phá hủy và chận được con đường mòn Hồ Chí Minh.

Những chiếc trực thăng lành lặn trở về từ Lào nhét đầy người bị thương và những người lính mà trong cơn hoảng loạn đã giành được một chỗ trong máy bay. Loại “Bell Huey”, mà quân đội Mỹ vẫn còn sử dụng cho tới ngày nay, thông thường chở chín người cộng phi đội. Người Việt nhẹ cân hơn và mảnh khảnh hơn rất nhiều đã tăng tải trọng lên hai mươi người và hơn thế. Những chiếc trực thăng trở về từ Lào đã chở nặng gần tới mức không thể bay được. Ai không tìm được chỗ trong cabin thì mạo hiểm một chuyến bay trên càng hạ cánh. Trong lúc đó, nhiều người lính đã rơi xuống. Nhưng cũng có không ít người đã chịu đựng được áp lực cực kỳ nặng đó, và đã ngồi trên càng máy bay mà sống sót đi ra khỏi được địa ngục.

Những chiếc trực thăng quá tải với những người lính không còn súng ống trên càng máy bay, khiến cho các phi công phải hết sức cẩn thận trong lúc đáp xuống, đã trở thành một hình ảnh tượng trưng cho một chiến dịch quân sự lớn buộc phải chấm dứt với một cuộc rút lui mất trật tự. Khắp thế giói, truyền hình với cảnh tượng đó đã có thể thuyết phục khán giả, rằng quân đội Nam Việt Nam đã không vượt qua được lần thử thách. Đặc biệt giới truyền thông Mỹ đã đổ hàng đống sự nhạo báng lên quân đội Sài Gòn. Dưới cùng những điều kiện thì quân đội Mỹ cũng không thể làm được gì tốt hơn nhiều. Mặc dù vậy, dấu ấn của sự bất tài, sự hèn hạ bây giờ đã bám vĩnh viễn lên quân đội Sài Gòn. Ít nhất thì giới truyền thông đã rõ, rằng Nam Việt Nam không thể tự lực để khẳng định mình trước miền Bắc. Cuộc phong tỏa đường mòn Hồ Chí Minh đã thất bại, không còn có thể thắng cuộc chiến chống Bắc Việt được nữa.

Cả trong Hội đồng An ninh quốc gia ở Washington, người ta cũng nhận ra sự nghiêm trọng của thất bại. “Người Nam Việt đã chiến đấu dũng cảm hơn là cho tới nay”, tiến sĩ Kissinger đã viết trong hồi ký của ông. Nhưng sức mạnh tấn công của Hà Nội đã không bị làm giảm đi qua chiến dịch “Lam Sơn 719”.

Tuy vậy, Nixon và Thiệu vẫn cố gắng nói dối công chúng. Vào ngày 7 tháng Tư 1971, tổng thống Richard Nixon quả quyết trong một bài diễn văn trên truyền hình gửi toàn quốc, rằng đã đạt được một chiến thắng to lớn: “Tối hôm nay tôi có thể tường trình, rằng Việt Nam hóa đã thành công.” Tổng thống Thiệu tổ chức một buổi duyệt binh mừng chiến thắng ở Sài Gòn. 13.000 người lính Bắc Việt, con số tuyên truyền là như vậy, đã bị giết chết trong chiến dịch.

Henry Kissinger trang trí cho lần phân tích cuộc xâm nhập qua Lào bằng một hồi tưởng tới Konrad Adenauer. Năm 1962, ông, Kissinger, nhận nhiệm vụ từ Kennedy, đã thông báo cho người thủ tướng Đức “khó chịu” Konrad Adenauer về một vài kế hoạch chiến lược của quân đội Mỹ. Sau một bài diễn văn dài, Adenauer hỏi người giáo sư Harvard, từ đâu mà ông biết rằng những lý thuyết này là đúng. Kissinger khẳng định rằng một viên tướng đã đưa thông tin cho ông. Tiếp theo đó, Adenauer hỏi rằng viên tướng này có mặc quân phục hay không.  “Khi tôi nói là tôi không nhớ rõ thì ông nói rằng tôi nên yêu cầu viên tướng đó lập lại bài thuyết trình của ông ấy trong thường phục; khi ông ấy vẫn còn gây ấn tượng cho tôi thì tôi hãy cho ông biết.”

Vì vậy mà con người dân sự từ Rhöndorf [ý nói cố thủ tướng Đức Konrad Adenauer] vẫn còn có chỗ đứng của mình trong lịch sử chiến tranh của Đông Dương. Sự ngờ vực của Adenauer đối với giới quân đội, nỗi lo ngại của ông, bị lóa mắt bởi ánh hào nhoáng của những bộ quân phục, lẽ ra đã có thể giúp để tránh được nhiều chiến bại và chấm dứt cuộc chiến ở Đông Dương bằng phương tiện chính trị.

Ở Lào, lẽ ra người ta đã tưởng thưởng cho sự khéo léo trong chính trị, thậm chí còn cho sự xảo quyệt và mưu mô. Tất nhiên, chính trị cũng không thể làm thay đổi được số phận. Các con đường đi đã được định trước. Thảm họa bắt đầu tiến trình của nó.

Hậu phương của Hà Nội

Cho tới ngày hôm nay, Lào vẫn còn bị người ngoài quyết định. Đất nước có dân cư thưa thớt với chưa tới ba triệu người bị gắn chặt với Việt Nam qua cuộc Chiến tranh Đông Dương. Tự lực mình thì người Lào không đủ khả năng bảo vệ lãnh thổ của họ và ngăn chận cuộc hành quân của quân đội Bắc Việt trên con đường mòn Hồ Chí Minh.

Chiến bại của Mỹ đã được quyết định ở các tỉnh phía đông của Lào. Yếu tố quân sự quan trọng nhất quyết định cuộc chiến là công cuộc tiếp tế chưa từng bao giờ bị gián đoạn từ miền Bắc Việt Nam cho Việt Cộng, cái phải được chuyên chở qua lãnh thổ của Lào. Hà Nội đã biến Lào trở thành hậu phương theo nghĩa quân sự của họ, đã lấy đi mọi chức năng ra khỏi biên giới đất nước, đã đóng một lực lượng đáng kể quân đội của mình trên vùng đất của nước láng giềng và qua đó đã có được ảnh hưởng chính trị mà người Lào yếu ớt phải tuân theo.

Một cuộc họp của Ủy ban Trung ương Mặt trận Yêu nước Lào dưới sự chủ trì của Hoàng tử Souphanouvong
Một cuộc họp của Ủy ban Trung ương Mặt trận Yêu nước Lào dưới sự chủ trì của Hoàng tử Souphanouvong

Người Lào chỉ tham gia ở rìa của cuộc chiến trên lãnh thổ của họ. Hàng năm, Pathet Lào tiến hành vài trận đánh với quân đội hoàng gia trung lập trong mùa khô, những trận đánh mà bây giờ nhìn lại, theo góc nhìn lịch sử, thì người ta phải chứng nhận cho chúng tính trình diễn. Thật sự chiến đấu ở Lào là quân đội Bắc Việt Nam và các bộ tộc ở trên núi do Mỹ cung cấp tiền và vũ khí, trước hết là người Mèo. Người Lào, một nhà quan sát người Mỹ đã chế diễu như vậy, “khác với các quốc gia được cho là văn minh, chưa từng bao giờ thật sự học cách giết nhau”. Họ đã trả giá cho sự bình thản của họ, tính hiền lành và niềm tôn sùng định mệnh của họ bằng một quyền tự chủ bị giới hạn và một sự phụ thuộc đau đớn vào Hà Nội. Những cố gắng yếu ớt chống lại áp lực của Việt Nam đều thất bại một cách vô vọng.

Khi Mỹ ký kết một hiệp định ngừng bắn với Hà Nội ở Paris trong tháng Giêng 1973 và rút những lực lượng cuối cùng ra khỏi Đông Dương, thủ tướng Lào Souvanna Phouma bất thình lình nhận ra rằng chỉ có một bên rời bỏ chiến trường, nhưng Bắc Việt Nam thì sẽ ở lại. Đứng trước mối nguy hiểm, Souvanna Phouma đã thố lộ nỗi lo lắng của mình một cách dữ dội, đối với người Lào là thái quá, khi Henry Kissinger, thời gian này đã thăng tiến trở thành Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ, dừng chân ở Vientiane trên đường tới Hà Nội.

Lời kêu cứu là một phần của lời chúc mừng lúc nâng cốc mà người thủ tướng Lào đã đưa ra cho những vị khách Mỹ của ông trong một bữa ăn tối tại nhà riêng của ông. Liên kết với một “toast” là điều lạ lùng. Dịp yến tiệc vui vẻ bề ngoài này không thể làm giảm được sự căng thẳng ở bên trong. “Sự sống còn của Lào phụ thuộc vào các ông”, Souvanna Phouma nói, hướng tới Kissinger, “chúng tôi yêu cầu láng giềng của chúng tôi hãy để cho chúng tôi sống trong yên bình trên mảnh đất này, mảnh đất còn lại từ vương quốc đáng kính của chúng tôi… Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ không thể mong muốn rằng các cố gắng của họ sẽ chấm dứt với sự thống trị của Bắc Việt Nam ở Đông Dương. Đó là nỗ lực của Hồ Chí Minh, người muốn bước ra thay thế người Pháp trở thành người thống trị Đông Dương. Vì vậy mà chúng tôi phải tin tưởng rằng những người bạn lớn của chúng tôi, người Mỹ, sẽ giúp chúng tôi sống còn.”

Lịch sử Đông Dương cô đọng trong vài câu nói ít ỏi này. Chúng cũng chứa đựng cốt lõi của cái triết lý chính trị quyết định mọi hành động của giới lãnh tụ ở Hà Nội. Chúng phác họa quan hệ đặc biệt, liên kết Lào và Campuchia với Việt Nam, cộng đồng bị cưỡng bức cùng chung số phận đó, cái đã mang lại cho con người trong ba đất nước nhiều bất hạnh và không có lợi lộc nào.

Đối với các lãnh tụ ở Hà Nội thì điều đó là hoàn toàn tất nhiên, tự cảm nhận mình như là người thừa kế của chính quyền thực dân Pháp, tin rằng mình sở hữu một yêu cầu mang tính lịch sử, thi hành cùng một quyền tối cao trên toàn Đông Dương như “Gouverneur Général” đã từng thi hành cho tới năm 1954. Cũng như hầu hết những lãnh tụ của các dân tộc được trao trả độc lập, Hồ Chí Minh và những người đồng hành với ông cũng tiếp nhận khuôn mẫu suy nghĩ của các ông chủ da trắng. Pháp đã tiến hành kiểm soát các vùng đất bảo hộ Lào và Campuchia từ Hà Nội. Nhậm chức trong dinh thự của toàn quyền sau 1954 là Hồ Chí Minh và thủ tướng Phạm Văn đồng, những người trong nghi lễ quốc gia của họ đã thể hiện rõ rằng họ muốn thừa hưởng di sản không suy suyển của nước Pháp.

Kaysone Phomvihan và Hồ Chí Minh
Kaysone Phomvihan và Hồ Chí Minh

Sứ mệnh khai hóa của Pháp đã không thật sự gây hại cho tính độc lập về văn hóa của ba dân tộc châu Á này. Các nhà khảo cổ Pháp thậm chí còn tham gia đáng kể vào trong việc bảo tồn các di tích lịch sử. Qua đó, họ đã làm tăng thêm lòng tự tin của các quốc gia đó, và khởi đầu một sự phục sinh về văn hóa. Việt Nam sẽ không tiếp tục vai trò này. Hà Nội quan tâm tới các lợi ích chiến lược và vật chất. Nhưng Việt Nam đồng thời cũng là một quyền lực văn hóa bành trướng mà trong quá khứ đã Việt Nam hóa và hấp thụ nhiều dân tộc và nền văn minh khác. Việt Nam trong vai trò của Pháp đối với Lào và Campuchia có nghĩa là một mối nguy hiểm cho bản sắc văn hóa, một sự đe dọa cho sự tồn tại của quốc gia họ.

Souvanna Phouma đã nhìn thấy rõ nguy hiểm này cũng như hoàng tử Sihanouk của Campuchia. Giới tinh hoa chính trị ở Lào không bao giờ quên rằng Việt Nam đã từng cố gắng Việt Nam hóa nhiều phần của Lào một lần, năm 1832. Vùng Cánh đồng Chum, tỉnh Xieng Khouang, ít nhất về địa lý là trái tim của đất nước, đã rơi vào tay Việt Nam năm 1832, vào vương quốc An Nam được cai trị từ Huế. Một sử gia mô tả nền thống trị của Việt Nam ở Xieng Khouang là “cứng rắn cho tới cực đoan”. Người dân còn bị bắt buộc phải mặc quần áo Việt Nam. Cuối cùng, người dân nổi dậy làm loạn và giết chết viên thống đốc người Việt.

Triều đình Việt Nam đã có thể trấn áp lần nổi dậy đó. Tuy vậy áp lực của Việt Nam đã giảm đi nhanh chóng sau đó, vì triều đình phải chống cự lại với sự can thiệp quân sự của Pháp. Lực bành trướng của Việt Nam đã tê liệt gần 80 năm. Lần nước Pháp chiếm hai đất nước này làm thuộc địa đã mang lại cho người Khmer cũng như người Lào một thời gian nghỉ ngơi. Tuy vậy, sau khi Hà Nội chiến thắng Pháp và Mỹ, Việt Nam lại nhìn thấy một cơ hội để đẩy mạnh sự thâm nhập vào Lào và Campuchia, và Việt Nam hóa từng bước toàn Đông Dương.

Điều đó giải thích tại sao Souvanna Phouma đàm phán một cách kiên trì và nhẫn nại tới như vậy, để hòa giải người Lào của cả hai bên. Ông không thể dựa vào Mỹ, điều này thì chắc chắn là ông đã biết rõ vào lúc phát biểu ở bàn tiệc. Chỉ khi những người trung lập và Pathet Lào vượt qua được những đối chọi của họ, toàn thể nhân dân tựu họp xung quanh nhà vua thì Lào mới có thể có được một cơ hội để bảo vệ nền độc lập và bản sắc văn hóa của họ.

Quá trình hòa giải và tích hợp này kéo dài hai năm. Trong tháng Tư 1974, hơn một năm sau “Hiệp ước Hòa bình” Paris và cuộc rút quân của Mỹ, hai anh em cùng cha khác mẹ Souvanna Phouma và Souphanouvong thống nhất với nhau để thành lập một chính phủ liên minh mới.

Người dân Vientiane đã tháp tùng theo mỗi một bước tiến hòa giải với những buổi lễ hội tự phát, với reo hò và hân hoan, những cái đã làm tê liệt nỗi sợ hãi trong thâm tâm. Thủ đô đã rơi vào trong một cơn say vui mừng, khi Souphanouvong rời tổng hành dinh của Pathet Lào, để tiếp nhận vị trí của ông trong chính phủ của Vientiane. Các nhà sư trong chùa đã hoạt động theo cách thức đặc biệt, qua diễn văn, xuất hiện trước công chúng và qua những nghi thức chính trị hóa, vì sự hòa giải của một dân tộc mà đã gắn chặt mình với niềm tin vào các nguyên tắc bất bạo lực. Các nhà sư tin rằng Phật giáo có thể đồng hóa được những ý tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Đại đa số người dân tin vào sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc và vào truyền thống khoan dung của Lào. Họ đã xua đuổi hiện thực.

Hòa giải và tái tích hợp ở Lào trong thực tế có nghĩa là Pathet lào vẫn tiếp tục độc quyền thống trị lãnh thổ của họ, nhưng thêm vào đó lại có thêm quyền lực ở những vùng cho tới nay do quân đội phe trung lập kiểm soát. Họ mở rộng từng bước một cơ sở của họ. Souvanna Phouma và những người của phe trung lập phải mang lại sự hy sinh này, cái mà nhờ vào nó mới có được sự thỏa hiệp đó.

Trong tháng Tư 1975, Hà Nội chấm dứt cuộc chiến ở Nam Việt Nam với lần xâm chiếm Sài Gòn. Hai tuần trước đó, người Khmer Đỏ đã chiến thắng ở Campuchia. Những điều đó tạo cơ hội cho những người cộng sản ở Lào bộc lộ mối tương quan quyền lực thật sự và hoàn thành cuộc cách mạng cả ở trong đất nước thứ ba của Đông Dương, ở Lào.

(Còn tiếp)

Advertisements