50 năm Vụ án “Xét lại chống Đảng” (phần 1)

Phan Ba

Bối cảnh lịch sử

Sau khi Stalin qua đời năm 1953, Nikita Khrushchev lên nắm chức vụ bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Liên xô. Tại Đại hội lần thứ 22 của Đảng, Khrushchev đọc bài diễn văn phê phán việc sùng bái cá nhân Stalin (“Về sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó”). Nguyên tắc “chung sống hòa bình” bắt đầu xuất hiện trong các bài diễn văn của Khrushchev từ 1955. Ông tuyên bố rằng, mục tiêu bây giờ là chiến thắng chủ nghĩa tư bản trước hết bằng kinh tế và rồi bắt hầu thực hiện một loạt cải cách.

Ông Hoàng Minh Chính suốt đời kêu gọi đấu tranh và đã nhiều lần bị cầm tù
Ông Hoàng Minh Chính suốt đời kêu gọi đấu tranh và đã nhiều lần bị cầm tù

Các ý tưởng mới này của Liên Xô thâm nhập về Việt Nam qua nhiều đường. Hàng trăm sinh viên Việt Nam đã được gửi qua Liên Xô học bắt đầu từ năm 1954 và ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của làn gió mới trên chính trường Xô viết. Một trong những người này là Hoàng Minh Chính, học tại trường Đảng ở Moscow từ 1957 đến 1960. Bên cạnh đó là giới trí thức trong nước ở miền Bắc. Tuy người dân miền Bắc, theo thông tín viên Đông Đức Kapfenberger, “…thuộc trong số những người dân được thông tin tồi tệ nhất…”[1], nhưng giới trí thức thông thạo tiếng Pháp và tiếng Nga vẫn còn có thể tiếp cận được với báo chí tiếng Nga và tiếng Pháp xuất bản từ Liên xô. Một nguồn thông tin khác là văn phòng của Thông tấn xã Liên xô tại Hà Nội mà người Việt vào thời gian đó vẫn còn có thể ra vào tương đối không bị cản trở. Thêm nữa, người Việt còn có thể tiếp xúc thường xuyên và tương đối tự do với một số người nước ngoài như với người Đức Erwin Bochers, người Pháp Albert Clavier. Đặc biệt Erwin Bochers và thông tín viên Đông Đức sau này Pommerening đều thường xuyên tiếp xúc với nhiều người như với Lê Liêm, Vũ Đình Huỳnh, Dương Bạch Mai và Phạm Viết. (Sau này chính Bochers cũng bị nghi ngờ là thuộc “thành phần xét lại”, Lê Liêm  bị cách chức và bị quản thúc tại gia, Dương Bạch Mai chết trong hoàn cảnh hết sức đáng ngờ năm 1964, còn Vũ Đình Huỳnh và Phạm Viết thì bị bắt năm 1967. Phạm Viết chết trong tù năm 1971.)

Tiếp tục đọc

Advertisements

Rồng Mekong (42): Không phải cá, mà là cần và dây câu

Thái Lan đã trải qua sự phát triển nào dưới sự lãnh đạo của những người thống trị nó, điều này trở nên rõ rệt khi người ta tháp tùng theo vua Bhumibol trên chuyến đi bộ của ông qua phong cảnh xung quanh sau các nghi lễ trong ngôi chùa làng.

Năm 1955, ông là vị vua đầu tiên trong lịch sử Thái Lan đã rời hoàng cung ở Bangkok để tiến hành chuyến đi thanh tra kéo dài ba tuần ở miền quê. Vùng đông bắc nghèo và kém phát triển lúc đó phải chịu một trận hạn hán nặng. Các chuyến đi về vùng quê và lần gặp gỡ cá nhân với người dân bình thường đã làm thay đổi gần như là bắt buộc nghi thức cung đình cho tới lúc đó rất là nghiêm ngặt. Lúc trước, thần dân thậm chí còn không được phép nhìn nhà vua. Người Thái phải quay mặt đi khi nhà vua xuất hiện. Mãi 1850, Vua Mongkut mới bãi bỏ lệnh cấm đó.

Vua Bhumibol Adulyadej
Vua Bhumibol Adulyadej

Tiếp tục đọc

Một đất nước đẹp

Vào buổi trưa, trên khu đất phụ dành riêng cho trực thăng của phi trường Sài Gòn, chúng tôi bước lên một trong năm chiếc ‘chooper’ dành riêng cho VIPs (Very Important Persons) để bay tới Tây Ninh. Những chiếc trực thăng VIP này khác với những chiếc khác qua việc phi hành đoàn đối xử có khoảng cách hơn với những người khách của họ. Thiếu những câu chuyện đùa chiến hữu thông thường kiểu Mỹ, không ai vỗ vai người ta. Hai xạ thủ đại liên lịch sự chờ cho tới khi các hành khách cài xong dây an toàn, trước khi họ đu người qua lối vào của những cái cửa đẩy và đội những chiếc nón màu trắng với tai nghe lên đầu.

Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967
Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967

Tiếp tục đọc

“These people, they don’t understand” (hết)

Sự tham chiến của Mỹ ở Việt Nam, theo ý kiến của nhiều nhà báo, đã có một quy mô mà trước đó không ai muốn. Nhóm nhỏ của các cố vấn quân sự đã trở thành một đạo quân của hơn 400.000 người lính. Người Mỹ đã trượt vào lần leo thang này, tuy là không muốn. Mỗi một nấc thang là cần thiết, vì nấc thang trước đã không đủ, và phải xây chồng lên trên thất bại bằng cách tăng cường tham chiến. Một trong những yếu tố chủ yếu cho chính sách này hẳn là ý định bao vây Trung Quốc về chiến lược. Thế nhưng luận điểm, rằng Việt Nam sẽ trở thành một nước chư hầu của Trung Quốc, có một lỗ trống không thể không nhìn thấy: người Việt không căm ghét ai như căm ghét người Trung Quốc. Họ đã bị người Trung Quốc thống trị cả ngàn năm và một ngàn năm kế tiếp theo sau đó họ đã phải liên tục chống lại người Trung Quốc. Trong khi đó – một ví dụ nữa cho lòng khoan dung Á châu – không có khu kiều dân nào ở Việt Nam mà lại lớn như khu của người Hoa. Chỉ riêng trong Chợ Lớn, thành phố anh em của Sài Gòn, là đã có ba tới bốn trăm ngàn người Hoa sinh sống, những người cho tới ngày nay vẫn nói tiếng Quảng Đông mà một phần không nói được một từ tiếng Việt. Tuy vậy, một ngày nào đó, Tổng thống Diệm đã làm cho tất cả những người Hoa đang sống trên đất nước này đều trở thành người Việt, bằng cách là ông đã ban sắc lệnh giao cho họ quốc tịch Việt và thẻ căn cước mà thiếu chúng thì người Hoa không còn được phép làm việc trong đất nước này nữa.

Đường Tôn Thất Đạm Chợ Cũ, Sài Gòn 1965/1966. Hình: Thomas W. Johnson
Đường Tôn Thất Đạm Chợ Cũ, Sài Gòn 1965/1966. Hình: Thomas W. Johnson

Tiếp tục đọc

“These people, they don’t understand” (phần 1)

Bệnh nhân của chúng tôi – trừ một ít trường hợp ngoại lệ – xuất phát từ những tầng lớp nghèo của xã hội. Nói chung thì họ không nói được ngoại ngữ; sự học hành của họ ít có khác nhau, và ý kiến của họ giới hạn ở quanh những gì gần gũi nhất với cuộc sống. Chúng tôi chỉ có thể nói chuyện với họ qua thông dịch. Điều này không những giới hạn các khả năng của một câu chuyện mà qua sự hiện diện của một người thứ ba cũng trở nên không trực tiếp. Vì vậy mà khó có thể phân biệt được, rằng người được hỏi không có gì để nói về một đề tài nào đó hay là không muốn nói gì. Ví dụ như người anh em của bệnh nhân bị liệt nửa người chẳng hạn, người mà đã bị Việt Cộng bắt giữ, không nói về việc cuối cùng thì Việt Cộng đã mang ông ấy về nhà như thế nào.

Đường Tự Do, Sài Gòn, 1967

Tiếp tục đọc

Rồng Mekong (41): Cô gia sư của Rama IV

Bhumibol ngày đăng quang

Trong một ngôi làng hẻo lánh ở miền bắc Thái Lan, cách Chiang Mai bốn giờ ô tô cực nhọc, người dân đang chờ vị vua của họ đến thăm. Khoảng 2000 người, nông dân hay công nhân nông trường với gia đình của họ, đứng đầy quảng trường trước wat, ngôi chùa Phật giáo của làng. Chỉ các nhà sư mới có chỗ trong chùa. Nhích sát lại với nhau, họ ngồi trên một cái bục ở bức tường chính diện và tụng niệm đều đều.

Ở ngoài kia trên quảng trường không được trải nhựa của làng, tiếng tụng niệm đó chỉ có thể nghe được văng vẳng. Chín giờ sáng. Mặt trời thiêu đốt từ trên bầu trời không có mây. Người dân làng ngồi chen chúc với nhau trên nền cát màu đỏ đã từ nhiều giờ rồi, bất chấp nóng nực và ánh nắng làm lóa mắt của mặt trời. Họ chừa lại một lối đi hẹp mà vị vua sẽ đi trên đó để vào ngôi chùa. Người dân chen nhau ở cả hai bên của lối đi đó. Ở đây, người ta có cơ hội chắp tay đưa cho vị vua một tờ tiền, cái mà người này “hái” từ đám đông người và đưa tiếp cho những người tháp tùng ông. Vị vua tạo cơ hội cho thần dân sùng đạo của ông lập công đức qua bố thí, để cải thiện cái nghiệp, là tổng kết của một đời người mà theo tín ngưỡng Phật giáo thì sẽ cho biết con người đó được đầu thai ở dưới dạng nào và ở cấp nào sau khi chết đi.

Tiếp tục đọc

Đáng thương nhất là trẻ em (hết)

Có một thời gian mà chúng tôi hầu như ngày nào cũng tiếp nhận trẻ em bị thương ở bụng hay ở ngực vì mảnh bom đạn. Những mảnh đó đã cắt xuyên qua ruột tại nhiều nơi. Những em này phần lớn đến từ vùng đồng bằng có mật độ dân cư cao. Cho tới cuối 1966, không có những đơn vị lớn của người Mỹ hoạt động trong vùng này, và quân đội quốc gia chủ yếu là cố giữ được các căn cứ của họ nên không có giao tranh nhiều cho lắm. Việc này đã thay đổi vào đầu năm mới. Ngay từ cuối 1966, người ta đã đồn rằng chẳng bao lâu nữa sẽ xảy ra giao tranh lớn, và thật sự là từ giữa tháng Giêng, ở Sài Gòn người ta đã nghe được tiếng nổ từ phía Nam ngày một nhiều hơn. Nhưng còn chắc chắn hơn là việc chúng tôi có thể nhìn từ con số người dân thường bị thương được đưa đến chỗ chúng tôi, rằng cuộc chiến ở trong vùng đồng bằng đã lan rộng ra. Chiếc xe cứu thương VW của bệnh viện tỉnh ở Long An mỗi ngày đến chỗ chúng tôi một lần, thỉnh thoảng là hai lần. Người tài xế khiến cho tôi nhớ tới một người lái xe cứu thương ở Ethiopia, nơi tôi đã làm việc năm 1965. Cả hai đều thấp người, có bụng nặng nề, mái tóc ngắn trên gương mặt tròn, và họ có tính chậm chạp không thể lay chuyển được. Ngay với đèn xanh cấp cứu đã được bật lên, người tài xế từ Long An vẫn lái xe còn chậm hơn cả giao thông mà bình thường thì cũng đã không nhanh lắm của Sài Gòn rồi, và không có gì có thể làm cho ông mất bình tỉnh được. Chỉ sau này, khi chúng tôi có lần đến thăm bệnh viện ở Long An, thì gương mặt của ông hồng lên vì mừng rỡ. Ông thức tỉnh từ sự chậm chạp của mình, hăm hở và hãnh diện hướng dẫn chúng tôi đi thăm thành phố nhỏ đó và chỉ cho chúng tôi xem một trại gà và đền thờ Cao Đài xinh đẹp ở Long An.

Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967
Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967

Tiếp tục đọc