Chúng Tôi Không Hỏi

http://www.amazon.com/dp/B00EPBTGZA
Chúng tôi không hỏi họ từ đâu đến

Người bác sĩ trưởng đầu tiên của chiếc tàu bệnh viện Đức “Helgoland” thuật lại những trải nghiệm của mình ở Việt Nam trong những năm 1966/1967. Ông tường thuật về công việc làm trong ngôi nhà bệnh viện nổi trên nước, về những bệnh nhân của ông, nạn nhân của một cuộc chiến tranh tàn bạo mà họ thường không hiểu được, một cuộc chiến mà người Việt và người Mỹ sa vào, về những phóng viên báo chí vô lương tâm và đầy trách nhiệm, về cuộc sống hàng ngày trong một đất nước mà thường khó nhận ra được đâu là mặt trận ở trong đó. Được sự đồng ý của ông, Giáo sư Tiến sĩ Y khoa Heimfried-Christoph Nonnemann, Phan Ba đã dịch quyển hồi ký của ông về thời gian hoạt động nhân đạo ở miền Nam Việt Nam (1966/1967) với rất nhiều chi tiết thú vị cũng như đau lòng về con người và đất nước Việt Nam trong khoảng thời gian đó. Sách đã được phát hảnh trên Google Play (không mất tiền): Chúng Tôi KHông Hỏi Họ Từ Đâu Đến

Sách in giấy cũng đã được phát hành trên Amazon: http://www.amazon.com/dp/1496075099

Giáo sư Tiến sĩ Y khoa Heimfried–Christoph Nonnemann

Phan Ba dịch

Những đường nét mờ ảo

Chiếc tàu bệnh viện Đức nằm ở bến tàu Sài Gòn đã được vài tháng. Cuối tháng Tư 1967, Theo Sommer của tờ “Zeit”, thông tín viên của Đài Bắc Đức Winfried Scharlau và tôi ngồi trong quán Ramuntcho ở Sài Gòn. Quán này, thường không được kể ra chung với những quán tốt nhất trong thành phố, được con số ít ỏi của các nhà báo người Đức đang có mặt ở Việt Nam trong thời gian này ưa thích, điều mà tôi chưa từng bao giờ thấu hiểu hết được. Trang bị nội thất bằng gỗ sẫm màu, những tấm trải bàn kẻ ô vuông to và những chiếc ghế có điêu khắc khiến cho người ta nhớ đến một quán cà phê Hà Lan như thế nào đó. Nhưng ngay cả gian phòng hơi sang trọng hơn một chút trên tầng một này, gian phòng mà chúng tôi đang ngồi ở trong đó, vẫn mang lại một bầu không khí của một quán ăn tự phục vụ nhưng thích khoe khoang nhiều hơn là bầu không khí của một nhà hàng tốt mà nó rất muốn được như thế. Góp phần khiến cho nó được giới nhà báo ưa thích trước hết có lẽ là vì nó nằm ngay trên đường Lê Lợi cách không xa khách sạn “Continental”, cách gian phòng có máy điều hòa nhiệt độ của khách sạn chỉ một vài bước chân.

Lúc đó đã muộn, chỉ có vài bàn là còn khách. Những người bồi bàn bắt đầu một công việc kín đáo dễ thấy, cái có nhiệm vụ kín đáo biểu lộ cho những người khách thấy rằng thời điểm đóng cửa đã sắp đến, xếp ghế lại cho có trật tự, những chiếc ghế trước đó đã đứng ở đúng chỗ của chúng, đẩy gạt tàn thuốc trên những cái bàn đã sạch và lách cách đĩa ở bên trong. Trong Sài Gòn của 1967, chỉ có một ít nhà hàng là sẵn sàng bán cho khách khi đã về khuya. Giới nghiêm vào lúc nửa đêm, một giờ trước đó cho quân đội Mỹ, khiến cho ban đêm ngắn đi.

Tiếng ồn của những chiếc xe gắn máy và xe Jeep trên đường Lê Lợi ở dưới cái cửa sổ lớn của nhà hàng bắt đầu giảm xuống. Mấy người bán hàng rong không còn rao bán những chiếc bật lửa, nón, bút bi, ví tiền nữa và xếp quầy của họ lại.

Trong tháng tư, lúc bắt đầu mùa mưa, người ta hầu như không nhận ra được rằng cột thủy ngân của chiếc nhiệt kế, sau khi trời sập tối, đã tụt xuống một vài vạch. Việc làm quen với một khí hậu khác, với những biện pháp sinh lý học mà ở phần lớn con người sau vài tháng đã thể hiện một cách cụ thể qua những việc như chức năng tuần hoàn đã biến đổi và đổ mồ hôi, bộc lộ một cách hết sức đơn giản: làn không khí nóng ẩm chụp xuống như một tấm vải đang bốc hơi khi người ta vừa rời khỏi nơi có máy điều hòa nhiệt độ. Nhưng những người bán quán Ramuntcho biết rất rõ nhu cầu của khách chỉ toàn người Âu Mỹ của họ. Quạt của cái máy điều hòa nhiệt độ đang kêu rì rì ở vận tốc cao, và gian phòng bây giờ, với số ít người ở trong đó, đã hơi lạnh rồi.

Winfried Scharlau đã ở Việt Nam từ nhiều tuần nay và đã bị thương nhẹ ở gần vĩ tuyến mười bảy. Theo Sommer chỉ vừa mới đến vài ngày trước đây. Lúc nào cũng vậy, trong những dịp như thế này đề tài bao giờ cũng xoay quanh Việt Nam nói chung, về tin này hay tin kia và về sự kiện này hay sự kiện kia nói riêng. Các sự việc được lật qua lật lại trong câu chuyện; sự lo lắng và cam chịu thường hay thống trị, khi bản thân người ta ở trong sự kiện đó. Lúc uống cà phê, chúng tôi lại trở về đề tài Việt Nam nói chung.

Chiếc tàu bệnh viện Helgoland đã hoạt động dưới lá cờ của hội Hồng thập Tự Đức ở Việt Nam từ 1966 cho tới 1972. Hình của hội Hồng thập Tự Đức
Chiếc tàu bệnh viện Helgoland đã hoạt động dưới lá cờ của hội Hồng thập Tự Đức ở Việt Nam từ 1966 cho tới 1972. Hình của hội Hồng thập Tự Đức

“Anh nghĩ như thế nào về tình hình ở Việt Nam, mọi việc rồi sẽ tiến triển đến đâu? Bây giờ thì anh đã ở đây được một thời gian khá lâu rồi? Theo Sommer  hỏi tôi và nhìn tôi đầy chờ đợi qua tách cà phê của anh. Tôi bắt đầu nói điều gì đó, tôi không còn biết là điều gì, vì mãi đến khoảng khắc đó tôi mới biết rõ là mình không biết phải trả lời câu hỏi này như thế nào cho thích đáng. Tôi cảm thấy xấu hổ; ít ra thì tôi đã ở trong đất nước này được chín tháng rồi, tức là lâu hơn phần lớn các nhà báo ở lại đây, và trong thời gian đó đã cố gắng trải nghiệm và tìm hiểu càng nhiều càng tốt. Sau chín tháng tôi vẫn còn cảm thấy khó khăn khi phải trả lời cho câu hỏi cốt yếu, nói chung là phát biểu một ý kiến.

Vào buổi tối hôm đó tôi mới biết rằng tôi không thể trình bày một câu trả lời rõ ràng được, vì hiện bây giờ tôi đã có quá nhiều thông tin và đã biết quá nhiều chi tiết và những mối quan hệ đan kết chằng chịt với nhau của chúng.

“Việt Nam giống như một tấm tranh khảm Byzantine!”, Theo Sommer viết sau khi trở về, “nếu như người ta nhìn ngắm nó từ xa, đá ghép riêng lẻ hòa vào với nhau thành những hình ảnh rõ ràng; đường nét thật sắc sảo. Nhưng khi nhìn gần thì sự rõ ràng đó tan biến đi. Những đường nứt nẻ lộ ra, chỗ gồ ghề và đường ghép nối thay cho kết cấu có ý nghĩa; đường nét trở nên mờ ảo.”

Đối với tôi, năm câu này là những gì đúng đắn nhất mà tôi đã đọc được về tình hình Việt Nam. Đúng, bởi vì nó là một tóm tắt của những quan sát từ bên ngoài và trải nghiệm từ bên trong, những cái hầu như không thể mang cho chúng trùng khớp lại với nhau được. Chỉ một người Việt, tôi tin thế, là có thể thật sự hiểu được tình hình ở Việt Nam, vì anh ta biết được những nội tình với các liên kết phức tạp của chúng, với những điều cấm kỵ không được nói đến và với những mối quan hệ họ hàng. Nhưng ở người Việt thì người ta có thể nói về sự hiểu biết theo ý nghĩa của chúng ta hay không? Theo những quan sát của tôi, họ thiếu tính phân tích. Họ suy nghĩ như một nhà thơ suy nghĩ. Nhà thơ là những người hùng thật sự trong đất nước này, và làm thơ, mặc cho tất cả những cuộc biểu tình của sinh viên về các câu hỏi hàng ngày trong văn xuôi, vẫn được xếp lên trên chính trị và khoa học. Tính cách đó cũng tìm thấy được sự biểu hiện của nó qua lần ép buộc quốc gia hóa các đại học, một việc làm rất đáng để nghi ngại khi thiếu giảng viên nói tiếng Việt mà không sao giải quyết được và đứng trước sự thật, rằng tiếng Việt cho tới nay vẫn hầu như không có các khái niệm trong những môn kỹ thuật.

“Người Mỹ và người Âu cố hiểu chính trị Việt Nam với những thước đo của họ”, ông Nghiêm nói với tôi, một nhà làm báo đối lập và là ứng cử viên cho Thượng Viện ngay trước cuộc bầu cử trong mùa Hè 1967, “họ cố gắng áp dụng phương án chính trị của họ vào đất nước chúng tôi, và họ đã thất bại, vì chúng tôi suy nghĩ khác với họ.”

Việt Nam, tốt hơn: cuộc chiến ở Việt Nam, hay: cuộc chiến Mỹ ở Việt Nam, đã trở thành môn thể thao tập xà của giới trí thức châu Âu và châu Mỹ. Người ta tự đưa ra những bài tập, để trừng phạt “những kẻ đang có quyền lực”. Không một bài luận văn của một nhà trí thức hoạt động tích cực nào mà không có từ Việt Nam. Những người trí thức mà chưa từng bao giờ đến gần Việt Nam hơn là, chúng ta cứ nói như thế đi, mười ngàn kilômét đường chim bay, viết tài liệu về tình hình ở Việt Nam. Với các con số thống kê về những người lính đào ngũ của quân đội Nam Việt Nam, chuỗi các bằng chứng được khép lại bởi những người chưa từng bao giờ nhìn thấy, nói chuyện, trải qua một người lính Nam Việt Nam duy nhất.

Người nông dân Việt Nam cần sự giúp đỡ, đúng. Nhưng họ chẳng được gì từ một sự giúp đỡ được in ra trên giấy, được chắp vá lại với nhau một cách hết sức nghiêm chỉnh ở trên những cái bàn giấy bằng gỗ tếch trong châu Âu. Dưới ánh nắng mặt trời nóng cháy da, trong ngôi nhà kính của mùa mưa, trong bụi bặm và bùn lầy và ở bên cạnh những con muỗi truyền bệnh sốt rét – ở đó thì sự giúp đỡ mới hợp lý, còn hơn thế nữa: ở đó người ta rất cần tới nó. Ở đó, người ta cũng cảm kích tiếp nhận sự giúp đỡ đó, người ta thực hiện nó với cùng sự khôn ngoan đã được dùng để tạo ra tất cả những lý thuyết trang trọng trong những tập giấy in đó. Ở Việt Nam đang diễn ra một xung đột về quyền lực chính trị giữa Chủ nghĩa Cộng sản và cái được gọi là Thế giới Tự do. Cuộc chiến tranh này được cả hai bên – chắc chắn là được cả hai bên – tiến hành với những phương tiện giúp chiến thắng được phía bên kia. Tàn bạo, đó là tính chất của mỗi một cuộc chiến. Napalm và hơi độc là các khẩu hiệu của những người phản đối ở bàn giấy. Ở Việt Nam, trong số nhiều ngàn bệnh nhân, tôi không nhìn thấy được một người duy nhất bị hơi độc có nguồn gốc từ tác động của chiến tranh. Chỉ mười phần trăm bệnh nhân của chúng tôi bị bỏng napalm, trong số khoảng ba mươi bệnh viện khác mà tôi đã đến thăm ở Nam Việt Nam, tôi không nhìn thấy được trong bệnh viện nào có một bệnh nhân bị bỏng napalm.

‘Vietnam, Genesis eines Konfliktes’ [Việt Nam, căn nguyên của một xung đột], quyển sách không có bất cứ thông tin nào của người trong cuộc, mô tả Hồ Chí Minh như một con người chân thật, người mà lúc nào cũng bị đối xử bất công: hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa, ông là một người rất khôn khéo: Việt Cộng và quân lính Bắc Việt mang ảnh của ông ở trong ví, nếu như người ta được phép tin vào nữ nhà báo người Pháp Michèle Ray, người đã khéo léo để cho Việt Cộng bắt giữ mình và qua đó đã kiếm được nhiều tiền từ các tạp chí Âu Mỹ. Phiến quân khắp nơi trên thế giới học cách đánh du kích ở Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Giáp của Hồ Chí Minh, người bây giờ được nhắc đến cùng với Mao vĩ đại trong cùng một hơi nói. Và nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh vì tự do của họ, người ta nói, và có ý muốn nói đến 200.000 người Việt Cộng và các trung đoàn của Hồ Chí Minh.

Việt Cộng treo cổ những người già nhất trong làng lên, những người mà lần bầu cử họ đã được các nhà quan sát quốc tế tuyên bố là hoàn toàn không thể chê trách gì được. Việt Cộng dùng súng liên thanh bắn vào đám đông đàn bà và con nít, cho nổ mìn trong chính những đám đông người đó, bắn súng cối vào nơi họp chợ, nơi nhiều nhất là có một người lính về phép giúp vợ mình đi chợ. Khủng bố trực tiếp.

Ở độ cao 10.000 mét, máy bay ném bom của Mỹ bay trong những phi đoàn trật tự, như chúng ta đã quen thuộc từ thời Đệ nhị Thế chiến, và ném những ‘tấm thảm bom’ qua lớp mây dầy của mùa mưa bằng những dụng cụ ngắm phức tạp. Những người ném bom hoàn toàn không nhìn thấy gì từ mục tiêu của họ và tác động của lần gạt cần bom của họ. Đóng quân ở Guam hay Thái Lan, có lẽ họ chưa từng bao giờ nhìn thấy tận mặt một dân cư của đất nước này. Khủng bố gián tiếp, vô danh?

Nếu người ta hỏi một người lính Mỹ đang uống cho hết những đồng tiền lương của mình ở trên bãi biển Vũng Tàu hay ở trong các quán rượu của Sài Gòn, người mà đêm hôm qua còn đứng ngập nước cho tới bụng trong một của không biết là bao nhiêu con kênh đào và bắt đầu biết căm thù muỗi từ tận trong đáy lòng, rằng anh làm những việc đó để làm gì, thì rồi anh ấy sẽ trả lời mà không ngần ngừ đến một giây: “Cho tự do của người Việt.”

Tàu bệnh viện Helgoland ở Sài Gòn. Hình của Siegfried Kogelfranz
Tàu bệnh viện Helgoland ở Sài Gòn. Hình của Siegfried Kogelfranz

Vào một tối, tôi gặp thông tín viên George Page của NBC trên hàng hiên của ‘Continental’. Thời đó, hàng hiên với những người bồi bàn chậm chạp chính là điểm gặp gỡ của giới nhà báo. Lúc nào cũng thế, có một em gái nhỏ, dơ dáy, liên tục được người chị cử đi, ngước lên xin những người Mỹ, người Âu, người Úc khổng lồ với giọng nói bé nhỏ của em “gimme fi’pi'”. Vài ngày trước đó, George Page đã phỏng vấn tôi về công việc làm của chiếc tàu bệnh viện. Anh đi ngang qua những cái bàn đến chỗ tôi với vẻ mặt của một người đang mừng rỡ vì đã gặp được một người quen nào đó. Tôi nhận ra là anh muốn tạm quên đi những nỗi phiền muộn nào đó. Với mối quan tâm hơi quá mức cho câu chuyện của chúng tôi, anh cố xua đi nỗi phiền muộn mà người ta có thể nhận thấy rõ được.

Chúng tôi nói về những chuyện đâu đâu, cho tới khi những người đồng hương của anh ở bàn bên cạnh uống bia Philippine nhiều cho tới mức chúng tôi chỉ còn có thể hiểu nhau bằng cách gào lên. Anh đề nghị tiếp tục nói chuyện trong phòng khách sạn của anh ở đối diện với ‘Caravelle’.

Chúng tôi thong thả bước qua quảng trường trước nhà hát cũ, cái bây giờ đã trở thành trụ sở của Quốc Hội. Quảng trường được bao quanh bằng những rào cản bằng gỗ sơn trắng, để ngăn không cho ném chất nổ vào tòa nhà và tạo chỗ đậu xe cho các dân biểu. Nó vắng không một bóng người, ngược với những con đường và quảng trường khác, vì ba người cảnh sát đang nói chuyện và hút thuốc lá, đứng dựa người vào một góc cổng, thổi còi của họ ngay lập tức khi có một người Việt vượt qua rào cản. Người da trắng không bị xem như là những kẻ có thể khủng bố và được phép đi ngang qua sát bên cạnh tòa nhà.

Trong phòng của anh, thật ra là một căn hộ nhỏ và so với chỗ ở chật chội và đơn sơ trên chiếc tàu bệnh viện thì đã khiến cho tôi phải ganh tỵ về sự phân chia sở hữu không công bằng của thế giới này, người chủ nhà đi đi lại lại không mục đích, tôi có cảm giác như vậy, mang Whisky và ly đã dùng rồi ra – “phục vụ trong khách sạn tốt nhất của thành phố là phục vụ tồi nhất, nhưng bù lại thì đó là khách sạn mát nhất” – và Ginger Ale, tiếp tục bước qua bước lại, cầm lấy một tờ giấy từ trên cái bàn viết, đọc những gì ở trên đó và ngần ngừ đưa cho tôi. Đó là một bài thơ ngắn về cái chết của một người lính trẻ.

Người tiếp đãi tôi thuật lại việc anh đã đi theo một chuyến tuần tra qua các cánh đồng ruộng ở phía Bắc Sài Gòn như thế nào, và một phát súng duy nhất của một người thiện xạ đã chấm dứt cuộc sống của người lính trẻ đó ra sao. Đó là việc đã khiến anh buồn rầu. Qua câu hỏi về ý nghĩa của mỗi một cuộc chiến tranh, chúng tôi bàn đến câu hỏi của ý nghĩa cuộc chiến này.

“Anh nghĩ như thế nào về vai trò của nước Mỹ ở Đông Nam Á?”, anh hỏi tôi. Tôi trả lời, rằng tôi tự xem mình là người khách của đất nước này, với một chức năng trung lập về mặt chính trị, và nguyên tắc tự đưa ra của tôi là trong lúc ở Việt Nam sẽ không bao giờ phát biểu về những đề tài chính trị. Nhưng anh thì có gì để nói, anh, người Mỹ, nhà báo, một nhà quan sát mang tính phê phán?

“Người Mỹ quả quyết”, anh nói, “rằng họ chiến đấu ở đây là cho tự do của người dân Nam Việt Nam. Mỗi một người lính Mỹ đều được nói như thế ở Mỹ và ở đây, mỗi một người vợ, người mẹ, người chị em gái ở Hoa Kỳ đều tin như thế. Phần lớn các chính khách đều luôn khẳng định điều đó. Và không có ai trên thế giới này tin chúng tôi cả, vì đó là một sự lừa dối. Chúng tôi chiến đấu ở đây cho quyền lợi của đất nước chúng tôi, và lẽ ra thì người ta sẽ tin tưởng chúng tôi nhiều hơn, nếu như thừa nhận điều đó.”

Chiếc tàu Helgoland, biểu tượng của niềm hy vọng và tình nhân đạo trong cuộc Chiến tranh Việt Nam
Chiếc tàu Helgoland, biểu tượng của niềm hy vọng và tình nhân đạo trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Hình: Ennulat

Sinh viên và diễn viên xã hội chủ nghĩa trong nước Đức đã kéo cao ngọn cờ của Việt Cộng, hay của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, nếu như muốn nói thế, lên trên cột buồm của sự phản đối của họ. Bất cứ họ chống lại điều gì, lá cờ đó đều trở thành biểu tượng, trở thành thể hiện của sự phản đối to tiếng. Không biết là Việt Cộng có vui mừng hay không, nếu như họ biết được điều đó. Vì ngày nào cũng có người chết cho cùng biểu tượng đó, cho dù người ta có nghĩ về lá cờ đó và về ý nghĩa của cái chết cho lá cờ đó như thế nào đi chăng nữa. Tất cả những người đã để biểu tượng đó bay phấp phới trong gió cho các mục đích riêng của họ có biết rõ những gì đứng ở đằng sau biểu tượng đó hay không, ở nơi mà nó được sử dụng một cách chính danh theo sự đồng thuận chung, ở Việt Nam?

Một nhân viên của tôi có dịp thăm một trại tù binh ở Quảng Ngãi.

Đó là một trại giam cho tù binh đã được công nhận. Chỉ một phần của Việt Cộng là có thể tương ứng với Công ước Genève, tức, ngoài những điều khác, mặc quân phục của một đơn vị quân đội chính quy và được công nhận, việc rồi sẽ bảo đảm được đối xử theo Công ước Genève. Tù binh do người Nam Hàn canh gác, những người đã lịch sự dẫn nhân viên của tôi đi trong trại giam và chỉ cho anh xem tất cả những gì anh muốn thấy. Người Việt Nam được sắp xếp chỗ ăn ở rất nhân đạo, còn có thể chơi thể thao nữa. Cho phép đi thăm một trại giam tù binh vào lúc đó là một việc không phải bình thường. Có lẽ tiếng tăm của chiếc tàu bệnh viện cũng giống như một chiếc chìa khóa trong lúc đó. Nhân viên của tôi được người Nam Hàn để cho nói chuyện với tù binh một mình. Anh tìm được một người nói tiếng Pháp trong số họ và hỏi họ có phải là Việt Cộng không.

“Không”, họ nói, “chúng tôi không phải là Việt Cộng.”

“Nhưng các anh đang ở trong một trại tù binh, các anh là tù binh chiến tranh cơ mà.”

Sau một lúc: “Tôi là người Đức, không phải là người Mỹ, tôi không phải từ CIC, tôi đơn giản chỉ muốn biết điều đó thôi, và các anh có thể nói chuyện hoàn toàn cởi mở với tôi.”

“Không”, họ nói, “chúng tôi không phải là Việt Cộng, nous sommes des combattants, quân lính chiến đấu.”

“Thế tức các anh là người miền Bắc?”

“Không, chúng tôi là người miền Nam.”

“Các anh sống ở đâu, nhà các anh ở đâu, gia đình ở đâu?”

“Người này đến từ một ngôi làng cách Quảng Ngãi năm kilômét, người này từ một ngôi làng cách Quảng Ngãi tám kilômét.”

“Nhưng các anh là người Cộng sản!”

“Không phải, chúng tôi không phải là người Cộng sản, chúng tôi là người Quốc gia.” – “Thế các anh chiến đấu vì cái gì?”

“Chúng tôi chiến đấu cho nền độc lập của Nam Việt Nam. Chúng tôi muốn tự mình cầm quyền đất nước này. Nếu rồi chúng tôi cần người Mỹ  hay sự giúp đỡ của ai khác, thì chúng tôi sẽ xin họ giúp đỡ cho.”

“Nhưng các anh nhận mệnh lệnh của các anh từ miền Bắc chứ?”

“Không, chúng tôi độc lập. Tất nhiên là chúng tôi nhận được vũ khí và tiếp tế từ miền Bắc; và trong các đơn vị của chúng tôi cũng có người miền Bắc, nhưng chúng tôi độc lập.”

Câu hỏi, tại sao trong cuộc chiến tranh quốc gia này lại có những hành động khủng bố được tiến hành để chống phụ nữ và trẻ em, chống lại chính những người cùng quê hương với họ, không được họ trả lời.

Người nhân viên của tôi rất có ấn tượng về cuộc trao đổi đó và thuật lại cho một người Việt Nam, một dược sĩ, vào ngày hôm sau. Trong câu chuyện, người này ngày càng bị kích động, cuối cùng bật khóc và nói:

“Tất cả những điều đó chỉ là tuyên truyền thôi. Anh đừng tin, không đúng đâu. Việt Cộng được hướng dẫn rất cụ thể là cần phải nói những gì khi họ bị bắt.”

Thật là khó khăn khi muốn biết rõ về danh tính của Việt Cộng, và có lẽ đối với một người mà sự trung lập của anh ta không được biết rõ thì điều đó là hầu như không thể, bởi vì người Việt khép kín lại ngay tức khắc, khi người ta đặt ra cho họ những câu hỏi như thế, trả lời với những từ ngữ sáo rỗng như chúng có trên báo chí Việt Nam. Nhưng chỉ có người Việt là có thể phán xét ai là Việt Cộng, ai là Cộng sản và Việt Cộng là gì. Đến người nước ngoài đã ở Việt Nam cả đời mình cũng không thể hiểu người Việt cho tới mức có thể dễ dàng phân biệt được. Với lần ở Việt Nam một năm, thêm vào đó là trong một vị trí rõ ràng là trung lập, người ta có thể tiếp xúc thân mật với một vài người Việt cho tới mức họ phát biểu thận trọng, nhưng cởi mở tới một mức độ nào đó.

Một nhà văn nữ nổi tiếng ở Việt Nam và biết nhiều thông tin, người đã chiến đấu chống người Pháp trong một đơn vị Việt Minh, trả lời cho câu hỏi Việt Cộng là người Quốc gia hay người Cộng sản:

“Nhiều người quen của tôi từ thời Việt Minh vào lúc ban đầu đã cùng chiến đấu với Việt Cộng, và nhiều người trong số họ là người Quốc gia. Nhưng ngày nay, trong số người mà tôi biết là người Quốc gia thì không còn có ai ở bên phía Việt Cộng nữa. Chúng tôi thường nghe được tên họ của những người lãnh đạo Việt Cộng trong radio. Tất cả những người bây giờ có chức vụ cao ở bên Việt Cộng đều là người Cộng sản cả. Người dân ở đây còn hoàn toàn không hiểu Chủ nghĩa Cộng sản có nghĩa là gì”, bà tiếp tục trong trạng thái bị kích động có thể thấy rõ được, “nếu hiểu thì họ sẽ tích cực đấu tranh chống nó nhiều hơn nữa chứ không trở nên thụ động như thế này. Thỉnh thoảng, tôi mong ước họ có thể trải nghiệm được một vài năm Chủ nghĩa Cộng sản, rồi họ sẽ biết bây giờ họ đang được tốt đẹp như thế nào. Nhưng rất đáng tiếc là điều đó không thể thực hiện được. Có trời đất chứng giám, tôi không hề thân Mỹ. Trong các tác phẩm của tôi, tôi cố gắng mô tả truyền thống dân tộc Việt Nam và nói với người dân, rằng họ hãy nên hãnh diện là người Việt Nam, và hãy có một phong cách đối xử như thế. Tôi rất đau lòng khi nhìn thấy dân tộc tôi và đất nước tôi suy tàn trong sự thờ ơ và tham nhũng. Xin anh hãy kiên nhẫn và đừng phán xét quá nặng nề, đừng đánh mất hy vọng quá nhanh chóng như phần lớn người Âu ở đây đã làm.”

Một nhân viên nhà nước ở độ tuổi trung niên, đã từng là sĩ quan chiến đấu cho Việt Minh, nói giống như vậy đối với tôi. “Anh đừng tin rằng Việt Cộng là một phong trào Quốc gia. Tôi biết hết sức chính xác những gì ở phía sau đó, vì tôi đã cùng với những người đó chiến đấu chống lại người Pháp nhiều năm trời.”

Tôi muốn biết những người này tưởng tượng gì dưới một chế độ Cộng sản, và tôi thường hỏi họ về điều đó. “Người Trung Quốc sẽ đến cùng với những người Cộng sản”, một người nào đó nói, “và chúng tôi biết rất rõ những người này, vì họ đã có lần đô hộ chúng tôi cả ngàn năm. Họ tàn bạo vô cùng. Chúng tôi rất sợ họ!”

Và: “Ở miền Bắc Việt Nam, chùa bị đóng cửa và người dân không còn được phép tụng niệm ở đó nữa. Những người Phật giáo làm chính trị ở đây trong miền Nam rất ngu ngốc, vì họ muốn giật lấy quyền lực về cho mình. Họ không thể đương đầu được với người Cộng sản. Cả ở miền Bắc, họ cũng đã làm việc cho Việt Minh, bây giờ thì họ bị đàn áp. Tôi có nghe được về một người họ hàng vẫn còn sống ở miền Bắc Việt Nam, và bị chính con trai của mình tố cáo tại những người Cộng sản.”

Tôi không phải là người quyết định về sự đúng đắn của những lời nói đó, nhưng chúng có thật. Có nhiều khả năng họ có được thông tin của họ từ họ hàng xa ở miền Bắc hơn là từ báo chí, và rõ ràng là họ tin rằng một chế độ Cộng sản là một mối đe dọa cho sự tự do tín ngưỡng và tự do cá nhân của họ và cũng có nghĩa là đạo đức gia đình sẽ sụp đổ. Tường thuật từ Trung Quốc, như từ quyển sách ‘Der begeisterte Selbstmord’ [Hân hoan tự sát] của nhà truyền giáo từ vùng Flanders Dries van Coillie, để cho người ta tin rằng những nỗi lo ngại đó là có lý do.

Sinh viên quyên tiền cho Việt Cộng trước nhà ăn của các trường đại học Tây Đức. Cả việc đó có thể là một hành động tượng trưng, biểu hiện thái độ chống đối của họ đối với những người cầm quyền. Tôi không biết là họ muốn đưa những đồng tiền của họ cho Việt Cộng sâu trong rừng rậm và ở đồng ruộng Nam Việt Nam như thế nào. Mặc dù vậy, đối với tôi, điều đó là một phương án hết sức mơ mộng của một biểu tượng.

Giường bệnh trên tàu Helgoland
Giường bệnh trên tàu Helgoland

Người Mỹ công khai thừa nhận, rằng mười lăm phần trăm vật liệu mà họ chở đến Việt Nam đã biến mất trước khi nó đến nơi nhận. Không chính thức, người ta nói đó là hai mươi lăm phần trăm. Đó là nguồn vốn được đưa cho người dân Việt Nam; những người chủ thuyền, công nhân vận tải, lái buôn và đại gia đình của họ sống nhờ vào đó, và tất cả họ, người ta nói thế, đều trả thuế cho Việt Cộng. Tức là Việt Cộng hầu như không phải lo lắng gì về tài chính cả. Vì đối với sự tưởng tượng ở châu Âu thì chi phí vật chất của người Mỹ ở Việt Nam là không thể hiểu được; nó phá vỡ tất cả các khuôn khổ mà người châu Âu chúng ta quen suy nghĩ ở trong đó. Và hai mươi lăm phần trăm từ những cái đó có thể nuôi sống được rất nhiều người, những người đã quen với các yêu cầu vật chất khiêm nhường của họ.

Tất nhiên đó là một lời quả quyết, rằng thuế cũng được trả cho Việt Cộng ngay cả trong những vùng do chính phủ kiểm soát; vì không ai có thể chứng minh được điều đó. Mặc dầu vậy, nó được tất cả mọi người chấp nhận như là một sự việc có thật. Ai đi ngang qua một nhà hàng hay một quán cà phê có người Mỹ tới lui trong đó và cửa sổ của chúng không được bảo vệ chống ám sát bằng lưới sắt, người đó chỉ nhận xét một cách khô khan: “Chủ tiệm này cũng trả tiền cho Việt Cộng, để họ để không động đến quán của ông ấy.”

Khi một thành viên của Quốc Hội, một người đàn ông cương trực không đảng phái, bị bắn chết trên đường phố vào một buổi sáng, một thành viên rất cao cấp của chính phủ nhún vai trả lời cho câu hỏi của tôi, liệu đó có phải là một vụ ám sát của Việt Cộng hay không:

“Ai mà biết được? Vụ đó cũng có thể là do một nhóm khác xếp đặt. Ở Việt Nam thì không thể dễ dàng giải thích được tất cả mọi việc đâu.”

Cabot–Lodge, cựu đại sứ Mỹ ở Việt Nam mà tôi đã có nhiều dịp để thán phục khả năng tự kiềm chế một cách khôn khéo và tính kỷ luật lạnh lùng của ông, được cho rằng đã nói với một nhà báo:

“Nếu như anh tin là anh đã hiểu được điều gì đó về Việt Nam thì tôi có thể bảo đảm với anh rằng anh ở chưa đủ lâu trong đất nước này đâu.”

Ghi chép lại những gì mà tôi nhìn, nghe và trải qua trong gần một năm ở Việt Nam không thể là một quyển sách về Việt Nam. Nó không gì khác hơn là một tường thuật về những trải nghiệm và phản ánh của tôi, vì tôi ở Việt Nam để làm việc cho những người đang phải chịu cơ cực: giúp chữa lành bệnh cho các bệnh nhân, vì bác sĩ đang được cần đến trong đất nước này.

Đối với hàng ngàn người tỵ nạn và người nghèo, đối với những người nông dân, quân nhân, ngư dân, tiểu thương, những cô gái đứng đường, những người vợ góa và hàng ngàn đứa trẻ mồ côi cha mẹ, nạn nhân của cuộc chiến tranh này, thì việc ai tiến hành chiến tranh với ai trong đất nước của họ là việc họ hoàn toàn không quan tâm đến. Rằng đang có chiến tranh và họ không có khả năng để trốn thoát được nó, đó là một thực tế và là điều không thể tránh né được. Từ hàng ngàn năm nay, họ dạy cho con cái của họ phải kiên nhẫn, không được bộc lộ sự bực dọc. Họ dường như cũng chấp nhận sự khốn cùng, sự suy tàn của đất nước họ, những căn bệnh và những vết thương. Họ âm thầm chịu đựng, và họ lặng lẽ qua đời. Đối với những người này thì cái chết còn chưa trở thành đối thủ của cuộc sống; sinh, sống và chết là một đơn thể, thuộc vào nhau.

Tất cả họ đều gọi chiếc tàu bệnh viện là biểu dương chính trị, cử chỉ đoàn kết, sự tham gia chiến tranh của nước Đức, những người cho rằng phải bút chiến về việc đó. Đối diện với những gì mà chúng tôi, những người làm việc trên con tàu bệnh viện, nhìn thấy ở Việt Nam, thì những câu từ khẩu hiệu đó đối với chúng tôi nghe thật trống rỗng. Trước không biết bao nhiêu là người bệnh, người bị thương, người khốn cùng trong đất nước này thì thích hợp hơn là nên im lặng và làm việc. Điều đó có thể được tiến hành một cách càng chuyên nghiệp thì càng tốt. Ngoài việc giúp đỡ họ ra thì, theo các thước đo và tiêu chuẩn được trích dẫn tại mỗi một cơ hội của chúng ta, còn gì là đúng hơn và dễ hiểu hơn cho một hoạt động vì người nghèo, người khốn cùng, người bệnh và vì những người đã mất đất nước của họ và đã mất gốc rễ; và là với tất cả những phương tiện kỹ thuật đã nhận được nhiều khen ngợi của chúng ta?

Đừng làm đổ trà của chủ ngươi

Trước đây một thế kỷ, người Pháp hợp nhất Việt Nam, Lào và Campuchia lại thành Đông Dương. Cũng trong thời gian đó, Thái Lan, thời đó còn được gọi là Xiêm, và Việt Nam, trước đây được gọi là An Nam, đã cố gắng phân chia Campuchia ra cho chính họ. Người Pháp ngăn chận việc đó và tuyên bố Campuchia là nước được họ bảo hộ. Cho tới ngày hôm nay, người Campuchia vẫn cảm kích nói về người Pháp như là những người đã bảo vệ họ. Khác với trong nước Lào ở phía Bắc và trong Việt Nam nằm ở phía Đông, người Pháp cũng xử sự giống như là những người bảo vệ nhiều hơn là những người chiếm hữu đất nước đó. Họ còn mang lại cho người Campuchia cả sở hữu quốc gia và cảm giác quốc gia đã bị lãng quên của họ, bằng cách đã khai quật khu đền thờ Angkor tuyệt diệu trong rừng rậm và tháo bỏ bức màn che đậy lịch sử của người Khmer. Ngay ngày nay, người Campuchia cũng gọi họ là người Khmer, và ở Angkor, những người hướng dẫn khách du lịch chỉ cho du khách xem các phù điêu hết sức nghệ thuật, mô tả những trận đánh ác liệt giữa người Khmer và người An Nam. Tên của cái thành phố nhỏ bé ở cạnh khu đền thờ đó không được ghi trên bất cứ tấm bản đồ Thái Lan nào, mặc dù máy bay của hãng hàng không Thai International đáp xuống đó. Tên thành phố đó là Siemreap, có nghĩa là “cái chết của người Xiêm”.

Truyền thuyết kể rằng người An Nam trong trận đánh cuối cùng, diễn ra bất lợi cho người Khmer, đã bắt được nhiều tù binh và lôi họ về doanh trại của mình. Những người tù binh đó bị chôn xuống đất cho tới tận cổ, người ta đổ hắc ín lên đầu họ rồi đốt cháy. Người An Nam nấu trà của họ trên những ngọn đuốc sống đó, và khi những nạn nhân của họ lắc lư qua lại trong đau đớn, người ta đã quát lên: “Đừng làm đổ trà của chủ ngươi.” Câu nói này cho tới ngày nay vẫn còn được xem là một lời lăng nhục chết người ở Campuchia. Người Việt Nam chính thức là kẻ thù của đất nước này. Nhưng với lòng khoan dung đáng khâm phục của người Á, người Khmer không động chạm đến những khu kiều dân người Việt, ngay cả ở trong thủ đô Pnom–Penh của họ.

“Lịch sử Việt Nam vừa mới được viết”, tùy viên văn hóa ở Tổng Lãnh sự Pháp tại Sài Gòn nói, người có nửa tá thầy giáo đứng dưới quyền, những người có nhiệm vụ giảng dạy về lịch sử của đất nước này trong các trường học Việt–Pháp, “bây giờ, trong thời gian của ý thức quốc gia Việt Nam. Lịch sử Việt Nam bao gồm một loạt truyền thuyết mà nội dung của chúng bây giờ được viết thành sử.” Điều đó không hoàn toàn đúng. Các nhà sư, ngay khi rất rời rạc, cũng đã ghi lại nhiều phần của lịch sử Việt Nam. Nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha Alexander de Rhodes, người sáng tạo ra một bảng chữ cái rất giống với chữ La tinh cho tiếng Việt có nhiều cách nhấn giọng, cho tới lúc đó còn được viết theo chữ Trung Quốc, cũng đã viết sử.

Người ta cho rằng trước Công Nguyên khoảng hai thế kỷ rưỡi, người Việt ngày nay đã di cư đến từ miền Nam Trung Quốc. Lúc thâm nhập xuống miền Nam, họ đã đẩy lùi những người dân cư nguyên thủy, có lẽ là có nguồn gốc Mã Lai, lên núi. Nhưng ngay từ trước Công Nguyên, người Trung Quốc đã đô hộ Bắc Việt Nam ngày nay và đã là những người thống trị cả ngàn năm. Cho tới ngày nay, tập quán Trung Hoa, nghệ thuật, văn học và triết học của họ thống trị trong số những ảnh hưởng khác nhau từ nước ngoài ở Việt Nam. Ngay từ thời đó, người Việt đã tập đánh du kích chống lại quân đội Trung Quốc. Con đường của “Hai chị em họ Trưng”, đường Hai Bà Trưng ở Sài Gòn, nhắc nhở đến một cuộc nổi dậy chống người Trung Quốc trong năm 40, được hai chị em này dẫn đầu nhưng đã thất bại. Đại lộ Lê Lợi ở Sài Sòn được gọi theo tên của một lãnh tụ nông dân, người đã chiến đấu chống người Trung Quốc vào khoảng năm 1400.

Vào khoảng năm 1000, Việt Nam giành được độc lập và về cơ bản vẫn độc lập trong vòng 900 năm sau đó. Thế nhưng chiến tranh thường xuyên được tiến hành với người Trung Quốc, người Mông Cổ và giữa những nhóm người Việt với nhau. Trong thế kỷ mười sáu và mười bảy, người Âu đến Việt Nam, thương gia, những người tuy vậy vẫn cố làm chính trị và giúp đỡ những nhóm khác nhau. Năm 1858, quân đội thuộc địa Pháp đổ bộ xuống Đà Nẵng, thành phố mà họ gọi là Tourane, và dần dần chiếm lấy đất nước này. Đông Dương thành hình năm 1887, cái chấm dứt tồn tại trước đây mười lăm năm sau cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đẫm máu. Năm 1954, Việt Nam bị chia cắt tại Hội nghị Genève.

Nam Việt Nam, Việt Nam Cộng Hòa ngày nay, là một phần của Liên bang Đông Dương, bối cảnh của nhiều quyển tiểu thuyết trữ tình và sách chiến tranh thực tại. Ngày trước, người Pháp không thích sống ở miền Nam Việt Nam, vì, như một nhà báo và là cựu chiến binh Pháp ở Điện Biên Phủ nói với tôi: “Trái tim của chúng tôi đã ở lại miền Bắc.” Như người ta thường hay tìm thấy được một thang bậc chia độ của những đặc tính và khả năng tùy theo vị trí địa lý của nó trong một dân tộc, ở Việt Nam, người Bắc và người Nam khác với người Trung. Tương phản lớn là giữa Bắc và Nam. Miền Nam có nhiều đất đai mầu mỡ, thu hoạch ba lần mà chẳng phải cực nhọc gì nhiều, cây trái không cần phải được chăm sóc đặc biệt. Người miền Nam vì vậy mà yêu đời và vô tư lự. Ở miền Bắc thì phải làm việc cực nhọc mới giành được hoa quả từ đất. Giữa mùa Hè và mùa Đông có sự khác biệt rõ ràng, và thống trị trong mùa Đông là một khí hậu khắc nghiệt. Người miền Bắc đã quen làm việc có chủ định. Họ cần cù hơn và năng động hơn là những người đồng hương từ miền Nam của họ.

Sau lần chia cắt đất nước năm 1954, trong vòng 300 ngày được hoạch định để di chuyển quân đội theo Hiệp định Genève, hai triệu người miền Bắc đã chạy trốn vào Nam. Ngày nay, họ thường ở những vị trí có nhiều ảnh hưởng: Tướng Kỳ là người Bắc. Viên đại sứ của một đất nước nhỏ bé ở châu Âu, một người khôn khéo, người nhờ ở Việt Nam một thời gian đặc biệt dài – thường các đại sứ thay nhau hai hay ba năm một lần – mà có được những hiểu biết sâu sắc về tình hình hơn là phần lớn người ngoại quốc, có lần đã nói với tính sống động trong tiếng mẹ đẻ của ông: “Thật ra thì ở Việt Nam người miền Bắc đánh nhau với người miền Bắc. Phần lớn các chức vụ lãnh đạo trong chính phủ Sài Gòn đều do người xuất thân từ miền Bắc nắm giữ.”

Tàu Helgoland ở Việt Nam 1967
Tàu Helgoland ở Việt Nam 1967

Đó là một đất nước rất đẹp mà chiến tranh đang được tiến hành thật ác liệt ở đó; trong vòng hai mươi năm đã là cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhì, như Bernard Fall gọi nó trong quyển “Street without Joy” của ông, vì nó bao gồm ít nhất là biên giới của tất cả các nước ngày xưa đã từng hợp thành Liên bang Đông Dương. Lại là một cuộc “chiến tranh không giới tuyến”, và điều đó có nghĩa là không có vùng an toàn nào cả. Cuộc chiến có mặt ở khắp mọi nơi, ngay cả khi chẳng có gì xảy ra ở nơi mà người ta hiện đang ở đó. Ai lần đầu tiên bay đáp xuống cảng hàng không Tân Sơn Nhứt đều lo lắng nhìn ra cửa sổ và chờ đợi ngay trong khoảng khắc đó một loạt đạn súng liên thanh từ cái bụi cây mà chiếc máy bay đang bay qua đó trong một đường cong dốc đứng. Nhưng sau một vài tháng thì không còn ai nghĩ đến việc đó nữa, khi người ta đi ô tô xuyên qua đất nước này. Nhận thức về sự nguy hiểm có mặt ở khắp mọi nơi chỉ còn lại trong tiềm thức. Chỉ sau khi đáp xuống một cảng hàng không ở ngoài Việt Nam, người ta mới bất chợt nhận ra rằng đã được giải phóng khỏi một cái gì đó; và ở Việt Nam thì người ta luôn ngạc nhiên vì những cảnh quang hòa bình trong phong cảnh này, mà nét đẹp của nó đã nuốt đi biết bao nhiêu là sự tàn phá. Trẻ con chơi những trò chơi như ở châu Âu. Tối tối, những đứa bé trai lùa trâu về nhà và trong lúc đó thong thả nhìn quan sát những con người xa lạ, như tất cả những đứa bé chăn cừu. Láng giềng nói chuyện với nhau qua hàng dậu.

Sự điêu tàn có thể nhận thấy trong thành phố nhiều hơn là ở đồng quê, những sửa chữa vội vã, tạm bợ trên nhà cửa và đường phố, sự hấp tấp bề ngoài của thời bất an. Các thành phố xấu xí hơn từ năm này sang năm khác, và trước hết là thủ đô, Sài Gòn.

Theo quảng cáo du lịch, Sài Gòn trước đây 200 năm là một làng đánh cá. Trước đây 100 năm, người Pháp xây dựng nó thành một thành phố thương mại phát đạt. Ngôi nhà thờ, hơi giống một nhà thờ gothic một chút, nhìn từ một nơi cao hơn xuống trung tâm thành phố; bưu điện và cơ quan nhà nước nằm ở xung quanh đó. Đối diện với cửa vào, ở đầu kia của quảng trường, là bắt đầu ‘con đường đua’ của thành phố, đường Tự Do. Tất cả đều giống như tỉnh lẻ đến mức người ta được phép dùng từ mô tả đặc trưng cho các thành phố nhỏ đó. Khi đường Tự Do còn có tên là Rue Catinat, những người thợ may tốt nhất Đông Dương có cửa hàng của họ ở đây, và những người thợ kim hoàn nổi tiếng nhất có cửa tiệm của họ ở đây. Khách sạn có truyền thống tốt nhất thành phố, ‘Continental’ tạo thành một góc với quảng trường nhà hát. Nhà hát nhìn ra đại lộ Lê Lợi rộng lớn, dẫn đến chợ, nửa đường vào khu phố Chợ Lớn của người Hoa. Là đường Tự Do, Rue Catinat ngày nay là con đường của những quán rượu tối tăm, của sự kinh doanh những thói xấu. So với hoạt động cắt cổ một cách tinh vi này thì dường như [khu phố đèn đỏ] Reeperbahn của Hamburg chỉ là một trường nội trú nữ mà thôi. Quốc Hội họp trong nhà hát trước đây, và ở bên kia của đường Tự Do có hai người lính rắn chắc, màu xanh ô liu, giống như bằng giấy bồi, đang xung phong đến cửa vào của nó, sau lưng họ là quảng trường trước Tòa Đô Chính và khu chợ hoa, ở hai bên là đoạn cuối của chợ đen. Mặt tiền của Tòa Đô Chính, đã từng có màu trắng vôi bây giờ bị nhuộm thành nâu–xám bởi bụi có mặt ở khắp nơi trong vùng nhiệt đới, có gương mặt của phong cách thuộc địa Pháp; khoa trương, phô diễn, đầy trang trí hoa mỹ.

Bắt đầu ở phía bên kia của nhà thờ là các con đường biệt thự được quy hoạch giống như bàn cờ, nhà lớn và đẹp trên những khu đất rộng. Ở đây, thế giới to lớn của Đông Dương mơ mộng qua những giờ khắc nóng nhất trong ngày. Tiếp theo đó về phía Bắc là khu phố Việt Gia Định có lăng nổi tiếng của Tướng Lê Văn Duyệt, người đã thống nhất Việt Nam trong thế kỷ 19.

Thành phố này, thuộc vào đó còn có một vườn thực vật và một vườn bách thú, được người Pháp quy hoạch và xây dựng cho ba trăm năm mươi ngàn dân cư. Sống ở đây ngày nay ít nhất là hai triệu người, có lẽ là hai triệu rưỡi; trong các khu phố gồm những ngôi nhà nhỏ như lon đồ hộp, trong những ngôi nhà sàn dọc theo các con kênh hay đơn giản là trên vỉa hè; họ sống ở đó, ở nơi mà họ có thể buôn bán một cái gì đó. Những người hạnh phúc hơn có thể thuê một trong những ngôi nhà giống như nhà đỗ xe, những cái lan ra xung quanh như nấm trong những hàng dài cạnh những con đường không được trải nhựa. Sống trong hai hay ba phòng, hai tầng, trên sơ đồ mặt bằng khoảng một cái nhà đỗ xe như chúng ta quen thuộc, là những gia đình mười hai hay mười lăm người. Đã quen với việc cùng sống với gia đình trong một không gian chật hẹp, họ hoàn toàn không phải là không cảm thấy hạnh phúc, như một người Âu có thể tưởng tượng. Một phòng riêng, ngay cả cho những người trong giới hàn lâm như giảng sư đại học hay một dân biểu Quốc Hội, là một việc xa xỉ quá đắt giá. Hàng ngàn người Mỹ, những người được cơ quan hay đơn vị của họ bố trí cho ở trong thành phố, đã đẩy giá thuê nhà và giá đất lên cao và qua đó là giá cho tất cả các vật liệu xây dựng.

Cả Sài Gòn đã cười người phụ nữ đó, người đã để cho một doanh nhân xây một căn nhà hai tầng. Khi hai tầng đó được xây xong, giá thuê nhà leo lên cao đến mức bà chủ xây nhà không cưỡng lại được sự cám dỗ, muốn kiếm thêm nhiều tiền nữa. Bà thuyết phục ông nhà thầu, người cũng thích muốn kiếm thêm nhiều tiền nữa, xây lên thêm hai tầng. Khi tất cả bốn tầng được xây xong, cơn mưa đầu mùa ập đến và tất cả đã sụp đổ xuống, may mắn là trước khi có một người thuê nhà nào đó dọn vào.

Chỉ một số ít người thành đạt, những người đặc biệt giàu có, mới xây nhà lớn. Cung cấp nước, với áp suất 0,6 atm; hệ thống điện với dao động từ 70 đến 110 Volt; hệ thống thoát nước quá tải vô vọng, nếu như nói chung là chúng tồn tại.

Những cây thanh liễu xa lạ, xinh đẹp, được trồng dọc theo những con đường nhỏ thành hàng dài để làm cây che bóng mát, trông có vẻ thật buồn rầu dưới gánh nặng của những đường dây điện thoại do quân đội thiết lập mà dây điện của nó với thời gian đã kết lại với nhau. Hầu như không nhìn thấy được những ngôi nhà rộng rãi kiểu thuộc địa ở phía sau những ngôi vườn bị bỏ hoang trong khu phố biệt thự, tất cả đều tạo nên một ấn tượng điêu tàn. Trước mỗi một đồn cảnh sát, trụ sở bộ, khách sạn Mỹ, trước mỗi một cơ quan quân sự đều có bao cát được chất chồng lên thành tường và hàng rào kẽm gai được giăng ra, người đi bộ phải rời lề đường để đi vòng qua cái pháo đài nhỏ đó; khi ở phía đối diện, ở bên kia đường, có một chiếc xe tải đứng lại thì những người lính gác trong chiếc lồng bằng kẽm gai hay trong những cái ống hình trụ bằng bê tông của họ liền hoảng hốt lên, vì nó có thể chất đầy chất nổ. Qua những con đường chật hẹp đó, vòng quanh những pháo đài bằng bao cát, qua những ổ gà, diễn ra cái mà ở nơi khác người ta gọi là giao thông. Hàng trăm ngàn chiếc xe đạp, taxi Renault C4 màu xanh trắng, ô tô được lắp ráp từ mọi thời điểm, xe Jeep quân đội, xe tải quân đội đủ mọi cỡ, xe tăng và xe xích lô làm cho giao thông đó trở thành thảm họa. Luật giao thông không được biết tới hay là bị dửng dưng phớt lờ đi. Con giun giao thông đó cực nhọc đẩy mình đi xuyên qua Sài Gòn từ bảy giờ sáng cho tới đêm khoảng mười một giờ, phần lớn là dưới sự nóng nực cháy da, thường hay đan kết với nhau không thể gỡ rối được. Các cảnh sát đứng thờ ơ trong bóng mát, điều khiển đèn giao thông dưới những mái che nắng tạm bợ. Một cây đèn giao thông, bị một xe tải húc gãy, tiếp tục nhấp nháy trên vỉa hè sau đó hai ngày liền. Ô tô bị hỏng hóc thường được sửa chữa ngay tại chỗ, giao thông uốn lượn với vận tốc của con ốc sên vòng quanh chúng. Trong khu Đa Kao, cứ vài ngày thì lại có một ống nước vỡ ra dưới con đường chính Hiền Vương. Có tin đồn, rằng việc lắp đặt đã được giao cho doanh nghiệp với giá đấu thầu thấp nhất – rõ ràng là cho doanh nghiệp tồi nhất. Giao thông tránh những vòi nước phun lên đó, nhưng thỉnh thoảng lại có một chiếc xe tải sập xuống nền đường đã thấm đẫm nước đó, rồi tất cả đứng yên nửa giờ  trong cái nóng như thiêu đốt đó. Thỉnh thoảng, người ta cứ muốn nổi điên lên trong cái giao thông lộn xộn đó, khi những anh chàng trẻ tuổi trên những chiếc Honda, Bridgestones, Yamaha của họ chạy với vận tốc cao nhất vào đường ưu tiên, khi người ta đứng chờ cạnh đèn đỏ, và không biết bao nhiêu là người đi xe đạp dịch lên trước, lên cạnh và quanh chiếc xe, để đi qua ngã tư trước nhất; khi người ta có cảm giác, tất cả những người đó bám chặt vào mình. Nhưng sự nóng nảy đó nhanh chóng biến mất. Vì không ai đã từng nói một lời giận dữ nào trong giao thông thành phố lộn xộn nhất thế giới này. New York, Paris, Tokio và Bangkok chỉ là chỗ chơi đùa cho trẻ con khi so với Sài Gòn, nếu bàn về giao thông. Ở Sài Gòn chỉ có một luật: chuyển động như thế nào đó theo hướng đích đến của mình. Luật này được tất cả mọi người tôn trọng. Sự khoan dung, kiên nhẫn và bình thản mà người Việt Nam và cả người ngoại quốc cũng phải miễn cưỡng dùng chúng để đối phó với giao thông ở Sài Gòn cũng độc nhất vô nhị như chính giao thông đó, và mang tính gương mẫu, khi tôi nghĩ đến phong cách của những người lái xe ở Trung Âu.

Hết sức đặc trưng cho sự điêu tàn của Sài Gòn dường như là nhà ga, một nhà ga cụt. Chấm dứt ở đây là tuyến đường sắt từ miền Bắc, nơi người ta nói rằng có kết nối với đường sắt xuyên Siberia và qua đó là với mạng đường sắt châu Âu. Ý nghĩ, ‘vào thời xưa cũ tốt đẹp’ có thể lên tàu hỏa ở Paris hay Berlin, để rồi đến Sài Gòn nhiều tuần sau đó, khiến cho người ta buồn rầu. Ngày nay, nhà ga này đã đóng cửa, những cánh cửa dẫn vào một chuyến đi mang nét thơ mộng qua Trung Quốc, Mông Cổ và Siberia đến châu Âu đã bị đóng kín bằng ván. Ở một tuyến phụ xuyên qua trung tâm thành phố có một chiếc tàu hỏa vận tải chạy về đêm từ cảng tàu thủy đến Biên Hòa cách đó ba mươi cây số. Việt Cộng đều đặn, khoảng hai lần trong một tháng, cho nổ tung chiếc tàu hỏa đó. Tuyến đường cũng được sửa chữa và chạy lại với cùng sự đều đặn đó.

Đường Hàm Nghi, Sài Gòn, 1967
Đường Hàm Nghi, Sài Gòn, 1967

Người ta đã viết nhiều về Sài Gòn trong những năm vừa qua, có lẽ vì có những nhà báo nào đó tìm thấy hình ảnh Việt Nam của mình ở Sài Gòn và khách sạn ‘Caravelle’ là trạm cuối của chuyến đi đến Việt Nam của ông. Nhưng vài khía cạnh riêng lẻ và những ấn tượng ngắn ngủi không thể là lời phán xét cuối cùng về đất nước này được.

Mary MacCarthy mô tả Sài Gòn như là ‘một PX khổng lồ, một siêu thị cho lính Mỹ.’ Ở đó ‘hầu như không có gì là hàng Việt để mua cả, ngoại trừ hoa’, đập vào mắt bà là những cửa hàng bán ô tô với xe Mỹ, trò chơi trẻ con Mỹ và máy đánh chữ hiệu Olivetti. Sài Gòn ‘ngày nay ít kỳ lạ hơn là Florence hay Place de la Concorde’. Như thế này – có lẽ ai cũng tìm thấy được những gì mà người đó muốn tìm thấy và Mary MacCarthy đã tìm thấy những người đồng hương của bà ở Sài Gòn. Ít kỳ lạ? Có thể, vì ở kỷ nguyên của sự đồng phục hóa này, như ngay Tucholsky cũng đã nhận định, trong thành phố lớn nào của thế giới này mà còn sự kỳ lạ? Chắc chắn là Mary MacCarthy đã không bước vài bước chân từ đại lộ Lê Lợi đến ngôi chợ mà ngày nay vẫn mang tính Việt như bao lâu nay. Ở đó, người ta chào mời những loại trái cây phong phú, ‘kỳ lạ’ của Việt Nam, những trái xoài, vú sữa, thanh long, đu đủ và nhiều thứ khác nữa, những thứ không có tên trong tiếng Đức. Có thể là quần áo chất thành từng đống lộn xộn đó một phần không xuất xứ từ Việt Nam, nhưng chúng chắc hẳn không đến từ PX. Hàng thịt, ba tê, rau cải cũng như giày là hàng Việt. Ở đây không có bán Whisky ‘Johnnie Walker’ và ‘Time Magazin’. Các tấm bảng quảng cáo kem đánh răng Hynos ở quảng trường trước nhà ga đúng là phô bày một người da đen đang cười với hàm răng trắng. Nhưng quảng cáo cho kem đánh răng với những gương mặt của người da đen và hàm răng trắng của họ thì chắc hẳn không phải là phong cách Mỹ. Tôi tình cờ làm quen được với ông chủ hãng kem đánh răng này. Đó là một người Hoa trong Chợ Lớn, người nói tiếng Pháp tốt hơn tiếng Anh nhiều. Các quảng cáo bia ’33’ bên cạnh gương mặt mỉm cười của người da đen đó quảng cáo cho một loại bia Pháp–Việt. Tất nhiên là hàng hóa Mỹ được mua bán trên vỉa hè của những con đường chính, vì người Mỹ mua ở đây, không phải người Việt. Mary MacCarthy tìm thấy mình ‘lại ở trong một thành phố Mỹ’. Thực sự thì người Mỹ mang lại cho hình ảnh của thành phố này hầu như không nhiều hơn một vết màu có thể nhìn thấy rõ được, nếu như người ta đi khỏi khu vực ngay cạnh các cửa hàng PX, các khách sạn dành riêng cho người Mỹ và các trụ sở của họ chỉ năm mươi mét thôi, vào trong mê cung của các con hẻm nhỏ, và loại trừ đường Tự Do, nơi những người nghỉ phép từ mặt trận và thủy thủ lảo đảo đi từ quán rượu này vào quán rượu khác và không có một người Việt nào tình nguyện đi dọc theo đó, người mà không muốn bán một thứ gì đó cho người Mỹ. Mary MacCarthy tìm thấy không biết bao nhiêu là nhà hàng Pháp trong Sài Gòn này, nơi mà bà cảm thấy như đang ở trên ‘một hội chợ trong một thành phố Mỹ tầm thường’. Thật sự thì ngày nay người ta có thể đếm được các nhà hàng Pháp trên đầu ngón tay. Lẽ ra bà nên tìm thời gian để đi dạo dọc theo kênh Bonard, cũng còn được gọi là kênh Lò Gốm, hay ở ‘Suối Tàu’ trong Chợ Lớn, với những chiếc thuyền, chiếc ghe nằm trên cạn vào lúc nước rút; hay lẽ ra bà nên đi vào những khu nhà sàn trên bờ Đông sông Sài Gòn, nơi những đứa trẻ con chơi mạt chược và những người chữa bệnh nhổ răng ngay trên đường phố và thay bằng răng vàng vào đó; hay lẽ ra là vào dịp Tết, cái mà bà cũng nhắc đến, bà nên đi vào một ngôi chùa, nơi người xa lạ cũng có thể tự do quan sát được cuộc sống và hoạt động của người Việt. Cả đó cũng là Sài Gòn, cả đó cũng là Việt Nam, không chỉ vài con đường trong trung tâm mà những chiếc xe Jeep của hành chính quân đội cực nhọc xuyên qua đó, và những đoàn xe tiếp tế dính bùn. Không chỉ những cô gái duyên dáng, yêu kiều trong chiếc áo dài nhiều màu sắc của họ, mà cả những người khác, những người không bao giờ có thể mua được một cái áo dài, sống trong những con hẻm với bộ ‘pyjama’ màu đen hay in hoa, cũng là đặc trưng cho Sài Gòn. Vì người nghèo sống ở phía bên kia của ngôi chợ, cách xa những con đường lớn, những người chỉ có một phần nhỏ hay chẳng có phần nào trong số hai mươi lăm phần trăm bị lấy đi của hàng tiếp tế Mỹ, những người phải đưa con trai của họ đi lính và sống nhờ vào một nắm cơm. Họ là những bệnh nhân của con tàu bệnh viện.

Tất nhiên là không thể không nhìn thấy quân phục trong Sài Gòn cũng như ở khắp mọi nơi trong Việt Nam. Cuối cùng thì cũng đang có chiến tranh. Và ở Sài Gòn tôi cũng gặp cả tinh thần của đại úy Köpenick [người năm 1906 đã cải trang thành đại úy, xông vào tòa đô chính của thành phố Cöpenick, bắt giam thị trưởng và cướp két tiền của thành phố].

Cùng với viên sĩ quan thứ nhất của chiếc tàu bệnh viện, tôi đi xe ra cảng hàng không để đón một trong nhiều người khách đến thăm chúng tôi, lần này là một người đặc biệt quan trọng. Như thường lệ, máy bay muộn chuyến hai giờ đồng hồ và chúng tôi đứng đó và chờ. Không có gì nhiều để nhìn ngắm ngoại trừ các nữ tiếp viên của Air Vietnam và những hàng dài lính Mỹ đang kiên nhẫn chờ chuyến bay đi nghỉ phép của họ. Vì quân phục chiếm phần lớn ở đây, và người Mỹ cũng vậy. Không có thường dân người Việt nào được phép đi qua cổng kiểm soát đôi đó trước cảng hàng không, nếu như người đó không trình ra một tấm vé máy bay hay một thẻ căn cước đặc biệt. Cuối cùng, chiếc máy bay đáp xuống, và chẳng bao lâu sau đó chúng tôi nhìn thấy người mình chờ trong dòng người trước cổng kiểm soát hộ chiếu. Ở cảng hàng không của Sài Gòn, thông thường thì người ta có thể đi qua nơi bị chặn lại đó với một cái hộ chiếu ngoại giao, để đón tiếp những người vừa mới đến ở trước nơi kiểm soát hộ chiếu và có thể giúp họ tại các thủ tục không hoàn toàn đơn giản. Thế là tôi rút hộ chiếu ngoại giao của tôi ra và đưa cho viên cảnh sát xem, người, chỉ bằng nửa tôi, đeo khẩu súng ngắn xệ xuống hông theo kiểu phim cao bồi và cảnh sát Nam Việt Nam, đang đứng dựa vào cái cổng đó. Tôi muốn đi ngang qua anh, nhưng anh giữ tôi lại.

“Đây là một hộ chiếu ngoại giao”, tôi nói với anh.

“Chỉ dành cho hành khách thôi”, anh nói.

Vì đây là lần đầu tiên tôi gặp phải việc như thế này nên tôi chưng hửng và nghĩ rằng anh không hiểu tôi. Tôi giơ cái hộ chiếu sát mặt anh thêm lần nữa và giải thích thêm lần nữa, tôi là nhà ngoại giao và muốn đón ai đó. Anh thản nhiên lắc đầu, cái nón trượt qua trượt lại, và nhắc lại:

“Chỉ dành cho hành khách thôi.”

Vẫn còn chưng hửng và bây giờ thì cũng bực mình, tôi quay trở lại với viên sĩ quan tàu thủy, người đã quan sát cảnh đó.

“Để tôi thử xem”, ông nói.

Ông mặc một chiếc quần dài màu trắng, một cái áo ngắn tay màu trắng, cầu vai màu đen chẳng có gì trên đó ngoài ba vạch ngang màu vàng và một cái mũ màu trắng có huy hiệu tương đối không gây ấn tượng cho lắm của hãng tàu thủy. Ông bước thẳng tới cổng chận, thờ ơ chạm tay nhẹ vào vành nón trước viên cảnh sát, viên cảnh sát cũng thờ ơ chạm nhẹ vào nón của mình y như thế và để cho ông đi qua. Một bộ đồng phục, bất cứ đồng phục nào cũng được, đều có giá trị nhiều hơn là dân sự trong một đất nước đang có chiến tranh.

Chào mừng con tàu Helgoland cập bến Đà Nẵng
Chào mừng con tàu Helgoland cập bến Đà Nẵng

Vào một buổi tối, tôi được mời đi dự đám cưới. Một thương gia khá giả người Hoa cưới một cô gái Việt. Những cuộc ‘hôn nhân khác chủng tộc’ như vậy thỉnh thoảng cũng có, ngay cả khi người Hoa thường không hòa nhập vào người dân của đất nước mà họ đang sống ở trong đó, và những người kia cũng không hòa lẫn vào với họ. Đám cưới được bắt đầu với một buổi tiệc trong câu lạc bộ đêm đắt tiền nhất Sài Gòn, ‘Maxim’. Được mời đến dự ngoài hai gia đình còn có bạn bè của cô dâu và đối tác kinh doanh của chú rể. Buổi tiệc không có gì đặc biệt, nhưng đối với tôi thì những người khách dường như đáng để chú ý: những người đàn ông trẻ tuổi, trong bộ smoking của người thợ may tốt nhất thành phố, đang thờ ơ theo dõi chương trình biểu diễn bên cạnh những người phụ nữ duyên dáng, đeo trang sức đắt tiền của họ, trong khi trên đường phố có những người cùng trong lứa tuổi đó, trong những bộ quân phục không vừa vặn và với chiếc nón sắt quá lớn trên những gương mặt trẻ măng, được chở ra một mặt trận nào đó trên xe tải. Buổi tiệc cho khoảng một trăm người, trong cái quán đắt tiền nhất của thành phố, hẳn phải tốn cả một gia tài, trong khi cách đó năm mươi mét có những người ngủ trên vỉa hè và sống bằng một nắm cơm. Và cái xa lạ ở cảnh tượng này, cái rất là Á châu: tất cả những người đó, những người đàn ông trẻ tuổi với những cái bật lửa bằng vàng của họ cũng như những người phụ nữ và trẻ em dùng báo để đắp thay chăn ở ngoài kia, đều cảm thấy điều đó nói chung là cũng đúng. Ở châu Âu, những người với cái bật lửa bằng vàng có thể còn ‘bị lương tâm cắn rứt’, người ta muốn hy vọng thế, và những người nằm dưới mấy tờ báo sẽ chống đối. Không như thế ở châu Á, và tất cả những tưởng tượng của Phương Tây về đạo lý của cuộc chiến này đều không đúng là bởi vì vậy. Người láng giềng vui mừng, khi tai họa dung tha cho mình; người bị tai họa được xem là người bị xui xẻo, hoàn toàn không có sự hả hê hay ghen ghét ở trong đó. Hưởng lợi từ chiến tranh đối với họ là một trong những triệu chứng đáng mừng của chiến tranh, của cuộc sống trong chiến tranh, và kinh doanh là một hoạt động bất biến của con người, và lâu đời như việc bán dâm. Họ – mỗi người cho chính bản thân mình – cố làm điều tốt nhất từ hoàn cảnh đang thống trị.

Không thể  không nhìn thấy người Mỹ trong hình ảnh nhiều màu sắc của Sài Gòn, vì họ thường cao lớn gần gấp đôi người Việt. Những chiếc Jeep của họ cũng đập vào mắt, vì chúng nhiều hơn là xe của người Việt. Nhưng ‘bị Mỹ hóa’ thì nhiều lắm chỉ là khu mua bán trong trung tâm, nơi phần đông người da trắng cư ngụ và mua sắm. Ở nơi cần kiếm tiền, người Việt hòa nhập vào trong đó, ở bất cứ nơi nào mà họ nhìn thấy được một lợi thế. Nhưng ngoài vùng nhỏ đó thì họ đóng kín mình trước tất cả những gì mà Mỹ mang vào đất nước này, như chỉ một dân tộc lâu đời mới có thể làm được như vậy. Chỉ có một thứ, cũng như trên khắp thế giới, là thắng thế: rượu Whisky. Trong các nhà hàng hạng kha khá ở ngoại ô thành phố, những nhà hàng mà chỉ có một ít người da trắng lạc vào đó, nơi mà chỉ một ít người ngoại quốc thông thạo thỉnh thoảng mới đến để thử ẩm thực Việt Nam, người Sài Gòn không còn uống rượu đế bản địa nữa; thay vì vậy họ mang Whisky mua ở chợ đen đến và uống nó trong bữa ăn.

Thống trị Sài Gòn là những chiếc áo dài của phụ nữ Việt, những người tài xế xích lô gân guốc với gương mặt hằn dấu thuốc phiện của họ, những anh chàng trẻ tuổi trên những chiếc xe Honda của họ, những người đọc chỉ tay ở góc đường, các cô bán mía với những cái thúng trên chiếc đòn gánh vắt qua vai và lối đi nhún nhảy của họ, những người cha gia đình với vợ, hai hay ba đứa con trên những chiếc Vespa của họ, những người bán sách, quần áo, hàng PX trên vỉa hè của đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ. Sự hiện diện của người Mỹ bộc lộ nhiều hơn qua sự nở rộ của hàng trăm quán rượu và câu lạc bộ đêm. Và ngay cả khi những người lính Mỹ trông có vẻ rụt rè và không chắc chắn trên đường phố, thế nào đi nữa thì cũng cho tới chừng nào mà họ không uống quá nhiều, thì ở đây trong những quán rượu họ cảm thấy như đang ở nhà, ở đây tất cả mọi thứ đều xoay quanh đồng dollar của họ, ở đây người ta nói tiếng nói của họ. Những người thợ may nổi tiếng ngày xưa của Rue Catinat bây giờ đặt quân phục Mỹ vào sau kính chào hàng của họ trên đường Tự Do, và những đứa bé xin tiền không còn lẩm bẩm ‘deux sous, monsieur’ nữa, mà ‘gimme fi’ pi”. Tối tối vào lúc mười một giờ, khi bắt đầu giờ giới nghiêm cho lính Mỹ, những người tài xế xích lô đạp gọi khách bộ hành: “Want a very young girl, mister?” Mặc dù vậy, Sài Gòn vẫn còn là một thành phố tiểu thị. Các cô gái moi tiền lính Mỹ trong những quán rượu hầu như hoàn toàn tối mịt cho một ‘Saigon–Tea’ đắt tiền – tên sang trọng cho một ly uống rượu đầy nước ngọt hay quả thật là trà – biến mất qua cửa sau vào lúc mười một giờ, khi các quán rượu đóng cửa, và leo lên chiếc Vespa của người anh em ruột hay bạn bè ở góc đường, và nửa giờ sau đó trong toàn Sài Gòn không còn có bán bia nữa.

Vào lúc mười một giờ rưỡi, vài trăm người trào ra khỏi hai rạp chiếu bóng đã từng tiện nghi một thời, ‘Eden’ và ‘Rex’ trong trung tâm, mà trong đó khán giả không ngạc nhiên khi ghế rồi bất thình lình đổ sụp xuống hay chuột nhảy qua chân. Trong thời gian đó, rác từ trong nhà đã tụ tập lại trên vỉa hè trong sự che chở của bóng tối, cái rồi sẽ được xúc lên xe tải tại một ngày gần đây.

Vào lúc nửa đêm, giờ giới nghiêm, đường phố Sài Gòn không một bóng người ngoài cảnh sát Việt Nam với súng liên thanh và xe đạp của họ, ngoại trừ những chiếc Jeep mui trần của quân cảnh, được bảo vệ bằng những bao cát trên bộ tản nhiệt và những tấm thép ở phía sau lưng và bên cạnh, và ngoại trừ những đoàn xe quân đội với động cơ đang gầm lên, cuối cùng không còn bị giao thông ban ngày ngăn cản nữa, chạy từ cảng ở đường Hai Bà Trưng chạy lên về hướng Bắc.

Con đường không vui

Huế, thủ đô cũ của Việt Nam, một trăm kilômét ở phía Nam của vĩ tuyến mười bảy đã trở nên nổi tiếng vì chia cắt đất nước, nhìn theo nhiều phương diện dường như là một cực đối nghịch cổ xưa với thủ đô mới của Nam Việt Nam. Cuộc sống hàng ngày trong trung tâm cổ xưa của đất nước này vẫn còn là cuộc sống của một thành phố đại học nhỏ, hàn lâm và điềm tỉnh, như nó cứng rắn và vội vã ở Sài Gòn. Trong khi hoàng hôn nhiệt đới đẹp nhất cũng không thể nào che đậy được nét xấu xí của sự suy tàn ở Sài Gòn thì hoàng hôn đã biến thành phố cổ xưa của các hoàng đế trở thành một bức tranh Trung Hoa. Giữa các bờ sông có hoa sen viền cạnh là những chiếc thuyền làm nhà ở, những cái mà người ta có thể mướn cho một đêm gồm cả tình yêu, được chống đi xuôi theo dòng sông Hương cạn nước, ‘Rivière de Parfum’, không bị những chiếc thuyền đổ bộ đang mang hàng tiếp tế lên ngược dòng sông của Thủy quân Lục chiến Mỹ quấy rầy. Những người lính Mỹ, đang đào công sự ở trên bờ sông xung quanh những cái thùng hàng đã được bốc lên, càng nhấn mạnh đến sự thanh bình và hòa hợp của phong cảnh đang được những tia nắng mặt trời cuối cùng nhuộm vàng đó. Tất cả đều là thi ca và đất đẫm lịch sử.

Hue 1967 - Hình của Jennife
Hue 1967 – Hình của Jennife

Năm 1804, Hoàng đế Gia Long xây một thành phố mà đúng là có thể xem như một trong những công trình xây dựng đáng khâm phục nhất của thế giới. Ngọ Môn nổi tiếng, ‘Cổng Giữa Trưa’, chỉ được mở ra cho chính hoàng đế. Khi một người khách muốn vào đến ngai vàng trong điện Thái Hòa, người đó phải đi qua bảy cái sân lộng lẫy giữa một hàng lư hương khổng lồ và có lẽ là qua một giàn chào của những người trong cung đình trong một đường thẳng đến chiếc ngai vàng nằm ở vị trí cao hơn. Ở cuối của bảy cái sân đó, người đó sẽ bị các minh chứng cho uy quyền của hoàng đế áp đảo cho tới mức chỉ còn lại sự thần phục: thật là một sự phô diễn của tâm lý học ứng dụng, know-how châu Á. Xung quanh hoàng thành, các hoàng đế đã xây những lăng mộ đầy ấn tượng đó ngay từ lúc còn sống. Họ kiến lập bên cạnh đó những cái hồ sen và những cái đình xinh xắn mà họ đã lấy ở đó cảm hứng cho những bài thơ hay nhất trong thi ca rất phong phú của Việt Nam. Các lăng của hoàng đế Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh và Khải Định là những thành phố nhỏ và hầu như còn đáng để khâm phục nhiều hơn là chính hoàng thành nữa.

Huế ngày nay vẫn còn được xem là trung tâm về tinh thần của Việt Nam. Vị trí thuận lợi của nó, truyền thống của nó và tinh thần của nó đã khiến cho nó trở thành một địa điểm lý tưởng cho một trường đại học. Năm 1957, một trường đại học cũng được thành lập với sự giúp đỡ của các nước khác, và từ 1961 cũng có một đội ngũ nhỏ của các bác sĩ Đức cố gắng xây dựng khoa Y. Với sự quan tâm lúc nhiều lúc ít từ phía chính phủ Đức và sáng kiến xây dựng lúc nhiều lúc ít của phía Việt Nam, những người Đức đó thường có cảm giác như đang chiến đấu trong một trận đánh đã thất bại. Mưu đồ đủ kiểu và hành động hẹp hòi của những người trưởng khoa đã ngăn cản không cho trường đại học này có được sự ổn định và danh tiếng. Có lẽ chính là vì tinh thần của họ và tiềm năng mang lại sự bất ổn của họ, như cũng đã xảy ra qua phong trào Phật giáo, mà Huế bị chính phủ trung ương ở Sài Gòn nhìn một cách nghi ngại và hầu như không hề giúp đỡ gì. Nhưng không chỉ như thế: tôi hỏi sếp của một bệnh viện ở Sài Gòn và cũng là thành viên của khoa ở Sài Gòn: “Thật ra là vì lý do gì, khi Huế không tiến lên được, khi ở đây không có gì là thành công thật sự trong việc xây dựng khoa? Tại sao từ Sài Gòn anh lại giúp đỡ Huế ít đến như thế?”

“Điều đó hoàn toàn đơn giản”, ông nói, “chúng tôi không có quan hệ với Huế. Chúng tôi không hiểu được người dân ở đó, họ xa lạ đối với chúng tôi. Tôi biết là chính phủ của các anh đã cố gắng rất nhiều ở Huế. Nhưng trường đại học ở Huế không có tương lai đâu. Chính phủ của các anh tốt hơn là nên tham gia xây dựng trường đại học ở Cần Thơ, đó là một việc thú vị và có ý nghĩa.”

Cần Thơ là một tỉnh lỵ ở đồng bằng sông Cửu Long, ở phía Tây Nam của Sài Gòn, và người nói chuyện với tôi xuất thân từ Cần Thơ.

Trong mùa Thu 1967, người ta tuyên bố rằng đội ngũ bác sĩ Đức ở Huế sẽ được gọi về nước. Quyết định này của Bộ Hợp tác Kinh tế được giới báo chí quan tâm đúng mức. Rõ ràng là đã phí mất số tiền chi trong sáu năm trời cho dự án này. Nhưng người dân trả thuế nhiều lắm là chỉ bực dọc – có lý do chính đáng – về việc đó vào buổi tối, sâu trong chiếc ghế bành bên cạnh cái lò sưởi trung tâm của mình, ly rượu cognac không vì vậy mà ít ngon hơn. Nhưng công việc làm cực nhọc sáu năm trời của ba bác sĩ dưới những điều kiện sống và làm việc mà không ai trong châu Âu ôn hòa có thể tưởng tượng được, qua đó đã trở thành vô giá trị như một tờ báo lá cải của ngày hôm qua, và điều đó thì nhiều hơn là đáng để bực mình.

Đường Trần Hưng Đạo ở Huế, 19.04.1967, Hình của Dan Arant
Đường Trần Hưng Đạo ở Huế, 19.04.1967, Hình của Dan Arant

Ở bờ Nam của sông Hương, trong khu ‘Pháp’ của thành phố, Tổng thống Diệm đã cho xây một khách sạn rất đẹp, hiện đại. Sau vụ đảo chính ông, nó được quân đội Việt Nam sử dụng cả một thời gian dài như là trại lính. Khi tôi sống trong đó vào tháng 3 năm 1966, nó vừa mới được quân đội trao trả lại. Từ cửa sổ, người ta có một tầm nhìn không thể nào quên được xuống Rivière de Parfum, xuống hòn đảo nhỏ có cây giống như cây liễu, xuống những chiếc thuyền chậm chạp đi qua và những đóa hoa sen ở cạnh bờ, xuống thành phố ở bên kia sông với những ánh sáng nhiều màu của nó và hình bóng những căn nhà nhỏ bé của nó. Ở đây, bất thình lình tôi nhận ra cảnh vật đã làm mẫu cho những người họa sĩ Trung Hoa cổ xưa, và tôi có cảm giác như mình đang ở sâu trong châu Á. Nhưng cái nhìn qua con sông lúc đó là điều thu hút duy nhất mà khách sạn đó có được. Không có nước chảy ra từ vòi nước, muỗi kêu vo ve tự do qua những cái lổ thủng của màn ngủ, và các con gián tụ họp lại trên sàn nhà dơ bẩn. Nhà vệ sinh bị nghẹt và tỏa ra một mùi thối ghê tởm. Nhưng chẳng bao lâu sau đó tất cả đã được sửa chữa lại, tới mức cuối cùng Việt Cộng xem cái khách sạn đó như là một mục tiêu đáng để phá rối, xuôi dòng xuống trên tàu trong tháng Năm năm 1967 và cố cho nổ tung nó lên nhưng chỉ thành công có mức độ. Sau đó, những người Âu sống trong khách sạn mới nhớ lại rằng không còn nhìn thấy một người Việt nào vào lúc sắp bị đột kích.

Ngay bên cạnh sân bay Huế, người ta đã đào công sự cho một khẩu đội trọng pháo Mỹ. Trong những khoảng cách thất thường, các khẩu đại pháo bắn vào những mục tiêu nào đó trên đồng ruộng hay vào trong khu rừng rậm gần đó, hay họ cứ bắn bừa vào một vùng đất trên bản đồ mà họ đã không gây xáo trộn ở đó từ ít lâu nay rồi. Khi chiếc máy bay mà người ta ngồi ở trong đó cất cánh lên khỏi phi đạo, người ta có thể nhìn thấy những toán đi tuần tra của Thủy quân Lục chiến, có nhiệm vụ bảo vệ khu vực sân bay, đang bước đi khó nhọc trên các đụn cát.

Có một con đường đi từ Huế theo hướng Tây Bắc ra đến làng Quảng Trị, trước kia là một phần của Quốc lộ 1 và là một liên kết quan trọng lên miền Bắc. Sau những trải nghiệm cay đắng, lính của quân đội Pháp đã đặt tên cho nó là “la rue sans joie”, con đường không vui. Ngay từ trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, vùng này đã nằm chắc trong tay của Việt Minh, những người đã xây dựng một hệ thống địa đạo và chỗ trú ẩn trong lòng đất. Năm 1953, người Pháp trong một chiến dịch có quy mô lớn đã cố gắng giải phóng vùng này khỏi những người Cộng sản, và đã tiến quân vào chỗ không người. Các du kích cơ động đã kịp thời tránh đi nơi khác.

Bernard Fall gọi quyển sách về cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và bắt đầu lần thứ hai của ông là “Street without Joy”. Fall được xem như là người am hiểu tốt nhất lịch sử đương đại của Đông Dương, một nhà văn xuất sắc. Là thành viên của lực lượng kháng chiến trong nước Pháp, anh sau này sang Mỹ và đã xem việc phân tích vấn đề Đông Dương như là nhiệm vụ của cuộc đời mình. Do những ý kiến của anh thường không trùng hợp với các ý kiến chính thức của Mỹ nên anh không được Lầu Năm Góc ưa thích cho lắm, nhưng lại được coi trọng vì những kiến thức sâu sắc của anh về tình hình ở Việt Nam. Lính Mỹ ở Việt Nam thì khâm phục anh vô biên, vì anh không những có thể nêu ra được toàn bộ các sự kiện quân sự ở Việt Nam với tất cả các đơn vị đã tham gia, mà còn có thể trích dẫn các văn kiện tương ứng để làm bằng chứng. Bernard Fall, người ta cho là thế, lúc nào cũng có lý trong một cuộc cãi nhau. Tôi quen anh vào một buổi chiều tối trong một nhóm bác sĩ và nhà báo. Với gương mặt Do Thái thông minh của anh, kính đồi mồi sậm màu, tính sống động thuyết phục của anh, anh trông trẻ hơn là số tuổi 40 mà anh thật sự có. Trung thành với tiếng tăm của mình, tại câu chuyện của chúng tôi, lý lẽ của anh về sự can thiệp của Hoa Kỳ vào trong Việt Nam là rõ ràng và mang nhiều tính thuyết phục. Anh cực lực chống lại luận điểm, rằng với Việt Nam, toàn bộ Đông Nam Á sẽ rơi vào tay của những người Cộng sản khi người Mỹ rút lui.

Hai ngày sau câu chuyện của chúng tôi, Bernard Fall tham gia một cuộc tuần tra của Thủy quân Lục chiến, giống như số ít những nhà báo quan tâm đến những gì diễn ra thật sự. Một phần của đội tuần tra dẫm phải mìn, trong số những người chết là Fall. Đội tuần tra đó ở trong một vùng nằm ngay bên cạnh Quốc lộ 1, ‘Street without Joy’.

Quốc lộ 1 đi từ Huế khoảng 100 kilômét về hướng Đông Nam vào Đà Nẵng. Hiếm còn có người nào dám đi trên đoạn đường này. Điều đó ít có liên quan đến lòng can đảm và tính trung lập, nhiều hơn là với tính cẩn thận hay khinh suất. Mìn không phân biệt giữa bạn và thù.

Năm 1858, quân đội thuộc địa Pháp đổ bộ xuống ở đây và xây dựng Tourane. Cho tới khi Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất chấm dứt, đó là một tỉnh lỵ nhỏ và phát đạt với 100.000 người dân. Người Pháp thích sống ở đây, và nhiều người Việt cho tới ngày nay vẫn còn gọi nó là Tourane. Nhưng hiện giờ thì nó đã trở thành Đà Nẵng, và là Đà Nẵng, nó ngày càng có tầm quan trọng nhiều hơn, không chỉ là trọng điểm để người Mỹ tiến hành chiến tranh ở miền Trung Việt Nam, mà cũng vì các chương trình xây dựng phần nhiều là sáng kiến của người Mỹ. Dự định sẽ có một trung tâm công nghiệp trong và xung quanh Đà Nẵng. Con số dân cư đã tăng lên 250.000 vì người tỵ nạn và người đi tìm việc làm, tức là gấp hai lần rưỡi. Sài Gòn ngược lại đã tăng lên gấp tám lần. Vì thế mà Đà Nẵng tạo ấn tượng của một ngôi làng bị xáo trộn lên nhiều hơn, nhưng không bị vỡ tung ra như thủ đô. Sự suy tàn ở đây không được che đậy bởi số lượng người đông đảo như ở Sài Gòn. Tất cả đều trống trải hơn, có ít cây hơn. Những cái lỗ trên vữa tường, vôi bong ra, những hàng hiên gỗ đã đổ sập xuống của các căn nhà thuộc địa nhỏ. Trong khi người ta không tiến lên được trong giao thông của Sài Gòn, vì tất cả các đường phố đều kẹt cứng, thì đường ở Đà Nẵng bắt buộc người ta phải chạy chữ chi chậm chạp quanh các ổ gà. Chỉ những căn nhà bằng đá hai tầng, tất cả hầu như đều là công sở, mới dấu mình ở sau những hàng rào lưới và tường bằng bao cát. Các cửa hàng ít ỏi trong trung tâm trông có vẻ nghèo nàn, có lẽ vì chúng với con số ít ỏi của chúng dễ bị kiểm soát hơn và hầu như không bán hàng chợ đen. Những chiếc Honda không chạy ầm ầm thành từng đoàn lớn xuyên qua thành phố. Nhưng trước hết là thiếu một cái, cái thuộc vào hình ảnh của thành phố Sài Gòn: vô số các quán rượu. Khu vực thành phố của Đà Nẵng là ‘out of bounds’ cho lính Mỹ.

Tàu Helgoland ở Đà Nẵng
Tàu Helgoland ở Đà Nẵng

Về phía Nam của trung tâm có một cây cầu dẫn qua sông đến khu phía Đông của thành phố. Có hàng chục lính Mỹ đứng gác ở cả hai bên giữa những nhịp cầu bằng sắt và bắn vào tất cả những gì trôi tới cây cầu. Đó là một mưu mẹo đã được tiến hành nhiều lần của Việt Cộng, dùng lá dừa ngụy trang cho chất nổ và để cho trôi theo dòng nước đến các trụ cầu. Trên những con sông này, mà thủy triều của biển Đông vào sâu trong đất liền nhiều kilômét, lúc nào cũng có thân cây và cây cỏ lớn nhỏ bị dòng nước cuốn trôi đi.

Ở đầu bên kia của cây cầu là bắt đầu vương quốc của Thủy Quân Lục Chiến, bắt đầu những nơi đóng quân lớn, kho hàng, sân bay quân sự, bờ biển nghỉ mát. Khi gió nổi lên, cát được thổi bay đi như những đám mây qua sự phô diễn dự trữ vật chất của Mỹ này, phủ đầy các chòi gác được bảo vệ bằng những bao cát, và những người lính Mỹ ngồi xuống trên cát. Những cái cần cẩu khổng lồ, xe ủi, xe tăng lội nước biến mất ở đằng sau một tấm màn cát. Mặc dù ít nhìn thấy quân nhân ngay chính trong thành phố, Đà Nẵng bị thống trị hoàn toàn bởi quân đội. Mỗi một cân bánh mì, mỗi một kí lô thịt, mỗi một con ốc vặn, mỗi một lít xăng đều do quân đội mang lại, dỡ xuống và vận chuyển đi. Trong tòa “Voi Trắng” ở cạnh con đường dọc theo bờ biển – một khu nhà vững chắc, được sơn trắng và là trụ sở của bộ tổng chỉ huy – công lý được thi hành, tất cả các chương trình dân sự được lên kế hoạch, được cầm quyền. Các kế hoạch xây dựng Đà Nẵng thành một trung tâm công nghiệp cho miền Trung Việt Nam cũng được chi tiết hóa ở đây. Cần phải tạo việc làm cho nhiều lao động trong phần đất này của đất nước. Người Mỹ đã cùng với chính phủ ở Sài Gòn phát triển ý tưởng này, việc làm rất đúng và tốt. Có nhiều quốc gia tham gia xây dựng. Rất đáng tiếc là đã có thể thấy được ở Đà Nẵng, rằng các dự án giúp đỡ thường không chỉ được quyết định bởi việc có phù hợp với mục đích hay không, mà bản thân nó đã là rất quan trọng rồi, vì từ những lý do về thanh thế mà người ta muốn có mặt ở đó trong bất cứ trường hợp nào. Vì thế mà người Mỹ đã xây lại một phần, làm mới và trước hết là đã mở rộng rất hào phóng bệnh viện tỉnh. Giám mục Đà Nẵng xây một bệnh viện lớn thứ hai trong phần phía Đông của thành phố. Cuối cùng, rất đáng tiếc là trong lúc lên kế hoạch cho bệnh viện Đức, cái có nhiệm vụ thay thế cho chiếc tàu bệnh viện vào một ngày nào đó, người ta cũng đã quyết định cho Đà Nẵng.

Hội từ thiện Công giáo Malterser Hilfsdienst cũng đã tự đặt ra cho mình nhiệm vụ chăm sóc các làng tỵ nạn ở xung quanh Đà Nẵng. Những người thợ mộc, thợ nguội, y tá và bác sĩ trẻ tuổi sống và làm việc nhiều tháng trời dưới những điều kiện hết sức đơn sơ, lập những trạm y tế nhỏ trong các trại, cố gắng xây nhà bệnh viện và kiến lập những điều kiện vệ sinh trong các ngôi làng tỵ nạn với lòng kiên nhẫn đáng khâm phục. Đó là một cuộc chiến đấu chống lại những cái cối xay gió, nếu như người ta nhìn đến nhiệm vụ thật to lớn đó, cái mà bây giờ họ cố gắng thực hiện nó từ ‘bộ tổng chỉ huy’ do họ tự xây lên ở Hội An.

Bệnh viện tỉnh bây giờ hiện đang có trên bốn trăm năm mươi giường vào đầu 1967. Kể cả vùng lân cận được tính toán hơi hào phóng một chút với một triệu rưỡi tới hai triệu rưỡi dân cư thì con số giường bệnh đó còn xa mới đủ. Các bệnh viện lớn của Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến ở gần đó tuy cũng hay tiếp nhận thường dân người Việt, nhưng điều đó hẳn không thể làm thay đổi một cách cơ bản tỷ lệ đó. Con số giường bệnh được sử dụng trung bình cũng tương ứng như thế: 700 bệnh nhân cho bốn trăm năm mươi giường. Điều đó có nghĩa là hầu như tất cả các giường bệnh đều có hai bệnh nhân. Vào đầu 1967 có mười bác sĩ Mỹ và hai bác sĩ Việt Nam làm việc trong bệnh viện này: mỗi ngày bên cạnh tất cả mọi việc khác có mười lăm ca mổ lớn được tiến hành.

Cách các tòa nhà với những khoa quá tải như thế một vài bước chân là một căn lều cho bệnh nhân tư của năm bác sĩ hành nghề trong thành phố với nhiều giường trống. Ban hành chính của bệnh viện, cũng như phần lớn các ban hành chính bệnh viện trên thế giới, đều buộc phải tiếp nhận bệnh nhân trả tiền càng nhiều càng tốt, và những người mà chia sẻ hai người một giường bệnh thì không có tiền. Họ thường được chở bằng máy bay từ vùng lân cận đến đây, vì chỉ có thể đến được với phần lớn làng mạc trong tỉnh qua đường không. Ở phía bên kia của những doanh trại quân đội to lớn là vùng có chiến sự. Vì thế mà các phi đội trực thăng chở bệnh nhân và người bị thương trong những chiếc ‘chopper’ của họ và mang những người đó về Đà Nẵng.

Sân bay ‘dân sự’ ở phía Tây Nam của thành phố, bên cạnh sân bay Tân Sơn Nhứt ở Sài Gòn, tranh giành với Kennedy Airport tại New York về tần số cất cánh và hạ cánh lớn nhất thế giới. Từ một ngôi nhà bằng gỗ ván có diện tích mười mét nhân mười mét, cái đóng vai trò của một tòa nhà cảng hàng không cho giao thông dân sự với một vẻ nghiêm trang thật buồn cười, người ta nhìn những chiếc máy bay đủ các cỡ và các kiểu có thể nghĩ ra được đang hạ cánh, cất cánh, hạ cánh xuống hai đường băng. Thỉnh thoảng, một trong số các phi công đang đáp xuống phải cất cánh lên ngay tức khắc, để đừng đâm sầm vào chiếc máy bay ở phía trước mình. Ở giữa đó có những chiếc trực thăng bay lơ lững cách mặt đất vài mét. Máy bay tiêm kích Phantom hạ xuống nhẹ nhàng như không có trọng lượng với một cái ấn nhẹ cuối cùng xuống cây điều khiển, đuôi khói nhỏ màu xanh bám nhiều giây liền ở phía sau bánh xe, khi cao su chạm xuống bê tông. Những chiếc dù hãm nhiều màu được thổi căng ra nhảy múa trên đường băng, máy bay chậm dần đi cho tới đầu kia của phi đạo; hơi thổi của tuốc bin đẩy những chiếc dù đã được tháo ra vào một cái lưới thu, và những chiếc máy bay tiêm kích chậm chạp lăn ngang qua ngôi nhà gỗ đến nhà chứa máy bay, kính buồng lái được đẩy cao lên, phi công vẫy tay qua phía bên này, trông có vẻ thoải mái, vui vẻ. Họ đã ở trên Bắc Việt Nam với những cỗ máy giết người đó, cái chỉ phục vụ cho sự tàn phá và hủy diệt, họ đã ném những trái bom của họ xuống ‘những nơi tụ tập của Việt Cộng’ đúng ở cực điểm của cái hình parabôn nhìn từ xa trông rất đẹp của chiếc máy bay đang lao xuống của họ? Người ta vẫy tay chào họ với một ít sự ghê sợ. Nhưng có ‘đứa bé’ nào của thế kỷ này mà lại không bị thu hút bởi màn trình diễn kỹ thuật đó trên sân bay Đà Nẵng?

Chợ Hàn, Đà Nẵng 1967. Hình của Van Kley
Chợ Hàn, Đà Nẵng 1967. Hình của Van Kley

Dẫn đến Hội An – một giờ ô tô về phía Nam của Đà Nẵng – là một con đường xuyên qua những cánh đồng ruộng bao la, và chỉ trong mùa khô thì mới có thể đi lại được trên con đường này một cách không có khó nhọc cho lắm. Rải rác đó đây có những mô đất nhô cao lên khỏi những cánh đồng ngập nước, cao như người, với một lớp đất có cỏ ở rìa trên, giống như một cái đầu cạo trọc ở đỉnh của các tu sĩ: những ngôi mộ. Người Việt Nam thờ ông bà phải chôn cất người chết của họ trên ruộng đất riêng của họ, nếu không thì linh hồn của người chết không thể an nghỉ được mà phải chịu kiếp thang lang mãi mãi. Lúa được trồng quanh những ngôi mộ, và trên một vài cánh đồng, chúng đã chiếm hơn nửa diện tích trồng. Một ngày nào đó, khi có một cuộc cải cách ruộng đất được thực hiện ở đây với những biện pháp dân chủ, các ngôi mộ đó sẽ là một vật cản nghiêm trọng. Có người nông dân nào mà lại muốn đưa ra đất đai có chôn cất tổ tiên của họ ở trên đó?

Làng Hội An là một căn cứ quân sự chủ yếu của quân đội Việt Nam. Trước trụ sở của viên chỉ huy, cái tất nhiên được bảo vệ bằng hàng rào lưới và bao cát như thường lệ, có một người đàn ông đã xuất hiện cạnh người lính gác vào một ngày nào đó, người ta kể lại cho tôi nghe như thế, và đã hỏi thăm thật chính xác về các lối vào, lối ra và số lượng người của từng căn nhà một. Người lính gác giải thích cho ông mọi điều mà không hề ngờ vực gì. Vài ngày sau đó, người đàn ông đã trở lại vào lúc đêm khuya với một đơn vị Việt Cộng mà ông trực thuộc. Vào buổi sáng hôm sau, căn cứ đó chỉ còn là một đống đổ nát,

Chiếc trực thăng có nhiệm vụ mang chúng tôi từ Hội An sang An Hòa, cũng thuộc trong vùng hoạt động của hội Malteser, đã bay đi sớm hơn dự định. Nhưng trên cái sân bay dã chiến nhỏ đó còn có hai chiếc trực thăng Sikorsky cũ không có huy hiệu. Rồi sau đó người ta mới biết rằng chúng thuộc Không quân Việt Nam. Các phi công thân thiện sẵn sàng chở chúng tôi đến An Hòa, mặc dù đó không phải là mục tiêu của họ. Những chiếc Sikorsky lắc lư một vài mét trên đường băng, giống như những con chim nước nặng nề phải dùng chân phụ thêm một chút vào lúc cất cánh, trước khi chúng bay lên và rồi đi về phía Đông Bắc trên những ngọn đồi núi thấp xanh tươi. Thật là một niềm an ủi, khi từ phía sau nhìn ngắm những chiếc giày ủng của các viên phi công đang ngồi trên ghế ở vị trí cao hơn trong những chiếc máy bay loại này, những người đang nhẹ nhàng điều khiển các cần đạp của họ như những người chơi đàn ống. Vì cái cửa đẩy để đi ra ngoài không đóng lại được, dây an toàn ở ghế ngồi rõ ràng là thứ xa xỉ đối với Không quân Việt Nam, chỗ gắn bình cứu hỏa trống rỗng và có nhiều dây điện đu đưa, bị giật đứt, mất đi trong luồng gió bay.

Chúng tôi đáp xuống trên một ngọn núi bên cạnh một cứ điểm quân sự, tức là các phi công giữ cho chiếc máy bay gần chạm đất, và chúng tôi nhảy ra; tí nữa thì đã trúng phần tản nhiệt của một chiếc Jeep đóng đầy bùn đất, vừa được một người Mỹ chỉ mặc mỗi cái quần, đỏ au vì ánh nắng mặt trời, vất vả dừng lại trong đám bụi.

“Các anh muốn gì ở đây chứ, mẹ kiếp”, ông quát chúng tôi, “các anh phải báo trước chứ, mẹ kiếp. Tí nữa thì tôi đã bắn hạ mấy con chim khốn kiếp này rồi. Các anh phải báo trước.”

Vùng An Hòa rất đẹp, đồi núi có rừng bao phủ nằm xung quanh một thung lũng xinh đẹp, giữa núi đồi có những hồ nước nhỏ, xanh trong. Nhưng khắp nơi là các pháo đài bằng bao cát của Thủy quân Lục chiến, thường xuyên có giao tranh ở gần đây. Máy bay trực thăng và những chiếc máy bay nhỏ một động cơ bay tuần tra qua những vùng đất xanh tươi của rừng rậm, bay vòng tròn, rồi tiếp tục bay đi: nơi thơ mộng đã trở thành địa ngục.

Một người Mỹ khác, cũng chỉ mặc quần và mang ủng, chở chúng tôi bằng chiếc xe Jeep đến nơi chúng tôi muốn tới. “Chạy cẩn thận đấy, không phải là xe tăng đâu”, người thứ nhất gọi ông thật to và rồi nói với chúng tôi: “Ông ấy chỉ huy xe tăng.”

Chúng tôi đi ngang qua một trung đội lính Mỹ, đang mệt mỏi đi bộ thành hàng dài ở hai bên đường để trở về trại của họ. “Họ vừa mới chạm địch. Có hai thương vong.”, viên chỉ huy xe tăng của chúng tôi nói qua tiếng ồn của động cơ chiếc Jeep. Người ta nhìn những người lính đó thêm một lần nữa, họ vừa mới thoát chết.

Trong thung lũng của ngôi làng An Hòa nhỏ bé đang thành hình một ‘khu liên hợp’, một phần của kế hoạch công nghiệp hóa miền Trung Việt Nam, được xây dựng với tiền của nước Đức và nước Pháp và được người Việt tiến hành. Từ khi Thủy quân Lục chiến đóng quân ở An Hòa và bảo đảm về an ninh, sản xuất cũng bắt đầu khởi động chậm chạp. Đến một ngày nào đó, hóa chất và xi măng dự định sẽ được sản xuất ở đây. Cho tới nay, máy móc đang rỉ sét ở Sài Gòn, vì không ai có thể mang chúng đến An Hòa. Lực lượng Thủy quân Lục chiến bây giờ muốn đảm nhận việc đó, bao giờ cũng sẵn sàng giúp đỡ và có đủ năng lực.

Trở về đến Đà Nẵng là hai mươi phút máy bay trực thăng, thế nhưng viên phi công đảo vòng một lúc lâu ở gần một mỏ than, nơi người ta khai thác lộ thiên than nâu, và quan sát một chiếc máy bay trực thăng thứ hai hay hoạt động xa tít phía dưới chúng tôi. Phong cảnh đồi núi thấp xanh tươi đó nghiên về phía chúng tôi trong những đường bay nghiên, trở lại ngang bằng khi bay thẳng, với những đám mây nhỏ của những quả đạn đại bác, hỏa tiễn và bom đang nổ tung ra, bông gòn trong màu xanh đều đặn.

Thỉnh thoảng người ta bay với một chiếc máy bay hành khách của Air Vietnam, ví dụ như từ Sài Gòn ra Huế, và uống, bị kẹp cứng trong chiếc ghế chật chội, một ly nước cam hay Coca-Cola, vì chiếc máy bay ở Tân Sơn Nhứt phải chờ trước đường băng trên một giờ đồng hồ và người ta đổ mồ hôi thành dòng trong cái lồng bằng kim loại đó. Bất thình lình, hành khách chộn rộn, ai cũng cố nhìn ra ngoài cửa sổ máy bay. Ở bên ngoài, mặt trời buổi chiều chiếu xuống phong cảnh rừng rậm đồi núi xanh tươi. Cho tới tận chân trời chẳng có gì ngoài rừng cây. Nhưng rồi ở ngang phía bên trái, xa tít phía dưới như món đồ chơi, có thể nhận thấy được hai chiếc máy bay óng ánh bạc, đang lao theo một đường dốc, như chơi đùa và dường như không có trọng lượng, xuống cái diện tích có màu xanh đó, quay lên bầu trời trong một đường cong rộng, lại lướt xuống đất một cách chính xác. Và ở mỗi lần như thế, khi họ đã qua được điểm thấp nhất trong đường bay của họ, có một tia chớp lóe lên trong màu xanh của rừng, và một đám mây nhỏ màu trắng phủ lên đó vài giây sau đó. Một màn trình diễn khủng khiếp, cái mà người ta theo dõi như khán giả trong sự an toàn dễ chịu từ trên cao. Tôi nhớ lại lúc còn bé mình đã vài lần đứng ở đầu bên kia như thế nào, trên sân khấu, cái mà phi công của những cỗ máy bây giờ trông giống như những món đồ chơi kia đang nhắm đến. Ở bên cạnh của một cây cầu xa lộ, tôi đã ép mình vào lớp cỏ của một cái hào nước, trong khi những chiếc máy bay cường kích óng ánh bạc giống thế, Jabo như [người Đức] chúng ta thường gọi, từ trên trời lao xuống. Tiếng nổ tung của những quả bom của họ, những tiếng nổ đó đã đào sâu vào trong ký ức của tôi cả đời người, và những con người tít ở phía dưới chúng tôi cũng sẽ không cảm giác khác gì hơn.

Long An 1967. Hình của Larry Burrows
Long An 1967. Hình của Larry Burrows

Ở phía Nam của Sài Gòn, giữa Campuchia và biển Đông, có tròn một phần ba của mười bốn triệu người Nam Việt Nam sinh sống trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nếu như phần lớn đất đai ở phía Bắc Sài Gòn được phủ bởi rừng xanh quanh năm thì đất ruộng lúa bằng phẳng trải dài ra trước mắt ở trong vùng đồng bằng, có không biết bao nhiêu là nhánh sông, suối, kênh đào xuyên qua. Là vùng có mật độ dân cư cao nhất của Việt Nam, nó là thành trì của Việt Cộng, sân khấu cho sự thành hình và thất bại của nhiều chương trình ấp chiến lược và kế hoạch bình định nông thôn. Phần lớn bệnh nhân bị thương, tàn tật, bị bỏng của chúng tôi đến từ vùng đồng bằng này.

Lúc lái xe đi xuyên qua, vùng này giống như Vườn Địa Đàng, một Thiên Đàng đã trở thành hiện thực. Cây trái, trước hết là chuối, mọc trong sự phong phú vô cùng mà không cần phải làm thêm gì nhiều trong vùng đất có nhiều nước này với khí hậu nóng ẩm của nó. Người ta chỉ cần đưa tay ra để hái chúng. Nông dân xưa nay đã thu hoạch ba lần trong một năm; trong khi đó thì các phương pháp trồng trọt của họ bị chuyên gia nông nghiệp cho là lỗi thời và không có lợi. Qua cố vấn trong quy mô lớn cho những người nông dân – những người mà cũng như tất cả các nông dân khác trên thế giới đều bền bỉ bám chặt vào một khả năng cố chấp và các phương pháp cổ truyền – bây giờ người ta đã thành công trong việc nâng cao sản lượng lên thật nhiều, mặc dù cuộc chiến gây khó khăn rất lớn cho công việc của người nông dân.

“Chính phủ Việt Nam bây giờ xây khắp trong các tỉnh lỵ chi nhánh của một ngân hàng được thành lập chuyên cho nông dân”, một chuyên gia nông nghiệp của USAID kể cho tôi nghe, “và người nông dân đã bắt đầu tiết kiệm những khoảng tiền lớn.”

Nhưng một quan sát khác khiến cho ông rất ngạc nhiên, ông buồn cười không hiểu được và kể lại cho chúng tôi nghe:

“Chúng tôi cố khuyên những người nông dân mua máy cày, những cái sẽ làm cho công việc đồng áng của họ đơn giản hơn và cho phép họ làm việc hợp lý hơn rất nhiều. Chúng tôi cũng tạo điều kiện dễ dàng như chúng tôi có thể để họ mua máy cày. Nhưng họ không mua máy cày mà mua trâu, và nếu như họ đã có trâu rồi thì họ lại càng mua thêm nhiều trâu nữa.”

Người nông dân, người cày ruộng với con trâu của mình, là biểu tượng của châu Á. Từ tất cả những nước châu Á mà tôi đã đi thăm, Thái Lan, Campuchia, Singapore, Tân Giới của thuộc địa Hongkong và Đài Loan, Cộng hòa Trung Hoa, không có một đất nước nào để lại trong ký ức tôi hình ảnh của một chiếc máy cày trên đồng ruộng. Nhưng luôn luôn và ở khắp mọi nơi là trâu; trâu nằm dưới nước, chỉ ló mắt và mũi ra khỏi mặt nước; trẻ chăn trâu, bé tí xíu giữa những thân hình đồ sộ màu nâu của các con vật; trâu băng qua đường với sự chậm chạp vô tận, đúng vào lúc người ta vui mừng nhìn thấy được một đoạn đường không có ổ gà và đạp hết chân ga; trâu nằm trong bóng mát nhai lại; trâu thong thả bước đi trong bùn lầy cho tới tận gối của những cánh đồng ruộng, trước cái cày của người nông dân dưới chiếc nón lá hình nón màu vàng nhạt của họ.

Mỗi một thành phố, một vùng đất, một đất nước đều có một hình ảnh đứng đầu tiên trong ký ức, và rồi luôn luôn xuất hiện trong nhận thức khi tôi nghĩ đến đất nước đó. Hình ảnh đó cho châu Á là trâu, cái cày và người nông dân trên những cánh đồng ruộng bao la, hình ảnh tượng trưng cho sự điềm tỉnh, hài hòa và kiên nhẫn; những đặc tính mà chúng ta cảm thấy hết sức đặc biệt như thế ở người Á. Tôi không ngạc nhiên, khi nông dân trong vùng đồng bằng sông Cửu Long mua trâu thay vì máy cày, ngay cả khi nó đi ngược lại với lý lẽ của những lợi nhuận sẽ có được nhiều hơn nữa qua những chiếc máy cày. Những người nông dân đó còn bám rễ sâu ở trong thế giới của họ. Và vì tôi không phải là một chuyên gia nông nghiệp nên tôi vui mừng về việc đó.

Trong đồng bằng, tỉnh lỵ Mỹ Tho là điểm cực Nam mà từ Sài Gòn người ta có thể đến đó một cách tương đối an toàn bằng ô tô vào lúc ban ngày. Trong mùa Thu 1966, ngay sau khi con tàu bệnh viện đến Việt Nam, tôi đã đến thăm bệnh viện tỉnh ở đó. Vào thời đó, làm việc bên cạnh ông giám đốc bác sĩ người Việt là hai bác sĩ phẫu thuật Philippine và hai bác sĩ dân sự người Mỹ. Vài tuần trước đó, một người cha mang đứa con gái mười hai tuổi của ông đến chỗ chúng tôi trên chiếc tàu bệnh viện, đứa bé vì gãy cả hai xương đùi mà đã nằm bốn tháng trời trong bệnh viện này. Người ta không chữa trị gì cho em cả, và các chỗ gãy đã liền lại với nhau trong một kiểu sai lạc kỳ lạ. Sau kinh nghiệm với em gái đó, tôi đã mời ông bác sĩ nội khoa người Mỹ đang làm việc ở Mỹ Tho, người đã đến thăm chúng tôi trên chiếc tàu bệnh viện, cộng tác với chúng tôi, và ông đã mời tôi đến thăm bệnh viện ở Mỹ Tho. Qua chuyến đi thăm đó mới biết rằng người Việt và người Philippine không hài lòng cho lắm với sáng kiến đó của người Mỹ. Người Mỹ này đến Việt Nam trong vòng hai tháng dưới tư cách là bác sĩ dân sự tình nguyện qua một chương trình của Medical Association và đã đóng cửa phòng khám phát đạt của ông ở Hoa Kỳ trong thời gian này. Điều đó, như một hoạt động cá nhân, đã gây nhiều ấn tượng cho tôi, cả ở những lần gặp gỡ sau này với các bác sĩ đó. Nhưng ngay tại chuyến đi thăm ở Mỹ Tho này là đã có thể thấy rõ, rằng thời gian ngắn ngủi đó không đủ để làm quen với các hoàn cảnh đặc biệt của đất nước này. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, người ta cần một khoảng thời gian nhất định để quen với không những các hoàn cảnh sống khác ở Việt Nam mà cả với tính tình và phản ứng tâm lý rất khác biệt của bệnh nhân người Việt. Và phần lớn những ca chữa trị đều kéo dài hơn hai tháng. Mỗi một người kế đến lại phải làm quen lại từ đầu với bệnh nhân, và bệnh nhân cũng không phải lúc nào cũng có thể chuyển sự tin tưởng cần thiết đó sang cho một người xa lạ khác. Cũng có những vấn đề tương tự như thế nảy sinh trong lúc cộng tác với các bác sĩ địa phương.

Trẻ em được điều trị trên tàu Helgoland
Trẻ em được điều trị trên tàu Helgoland

Bệnh viện ở Mỹ Tho, cũng như tất cả các bệnh viện Việt Nam khác, thiếu y tá tới mức không thể nào khắc phục được. Thêm vào đó, số nữ y tá ít ỏi có một quan điểm về nghề nghiệp khác với những gì mà chúng ta chờ đợi ở một người nữ y tá châu Âu.

Có lẽ điều đó có liên quan đến việc là khái niệm lòng thương người không tồn tại trong châu Á, cái ở châu Âu là nguồn gốc và nền tảng cho nghề chăm sóc bệnh nhân. Ở châu Á hay châu Phi, khi ai đó không thuộc trong gia đình, dòng  họ thì người đó phải tự mình gắng đi tới. Người ta chỉ giúp đỡ thành viên trong dòng họ mình, và dòng họ lo cho thành viên của mình. Ở châu Á, người ta có thể chết trên đường phố, và hàng ngàn người dửng dưng đi ngang qua. Người châu Âu tình cờ đi ngang qua, tuân theo sự thôi thúc của bản thân và cố giúp người ốm hay người bị thương đó, có thể sẽ gặp phải phản ứng thù địch của người dân. Hành động vì lòng thương người gây nên sự ngờ vực ở những người không biết đến nó.

Ai đau ốm đều không chờ đợi sự giúp đỡ từ người lạ. Trong tháng 3 năm 1967, một chiếc máy bay trực thăng vỡ tan ra thành từng mảnh trong sương mù của vùng đồi núi gần Đà Lạt. Chỉ viên phi công chính và phi công phụ là không bị thương tích; ba người khách, hai người Việt và một người da trắng, bị thương nặng, một người bị kẹt dưới những mảnh vỡ của chiếc máy bay trực thăng. Hai người Việt không bị thương bỏ những người bị thương lại và vượt đường mòn về đến Đà Lạt. Họ cũng mang theo khẩu súng duy nhất có ở đó, mặc dù có cọp sống trong vùng này, và những người bị thương không có vũ khí. Khi sương mù tan sau hai ngày và tìm được điểm rơi máy bay, tất cả ba người đều đã chết.

Có lẽ là có một cái gì đó tương ứng với lòng thương người bây giờ đang thành hình trong đất nước lớn nhất của châu Á, trong Trung Quốc của Mao. Với những công cụ và biện pháp mà chúng ta cảm thấy là vô nhân đạo và dưới câu khẩu hiệu “mối nguy hiểm màu vàng” đã dấy lên nỗi lo sợ truyền thống. Mao tiêm nhiễm cho 750 triệu tín đồ của ông, rằng mỗi người cần phải chăm sóc người bên cạnh mình. Có nhiều người ủng hộ luận điểm, rằng chỉ bằng những biện pháp vô nhân đạo của một chính quyền độc tài là mới có thể tạo nên một cuộc sống nhân đạo cho hàng triệu con người của châu Phi và châu Á. Nhưng đối với tôi thì dường như đó là lý lẽ của những người sẽ giận dữ từ chối không sống trong một của những nước đó khi đang có một trong những quá trình như thế diễn ra. Ở cạnh lò sưởi ấm áp thì dễ dàng nói về băng giá hơn. “Tôi muốn phủ nhận quyền được làm những điều bất công và sự khủng bố gắn liền với việc đó của một cuộc cách mạng, ngay cả khi tôi biết rằng phương cách tiến lên dần dần theo kiểu tiến hóa luôn luôn bị ngăn chận lại bởi những thỏa hiệp và những nhà cách mạng sôi nổi khiến cho người ta nhớ đến sự khôi hài bi kịch của một cuộc diễu hành tôn giáo”, Günter Grass viết cho Pavel Kohout. Trong đó, Grass có ý muốn nói đến các hoàn cảnh trong những nước châu Âu. Nhưng tất cả mọi thứ có khác đi nhiều trong những nước đang phát triển không, khi vấn đề là những việc quanh con người?

Tình cảnh ngày nay ở Nam Việt Nam hẳn sẽ là một lý lẽ không tốt cho luận điểm, rằng tham nhũng và nghèo nàn có thể được xóa bỏ bằng sự độc tài tàn bạo. Chúng ta chỉ cần nhớ lại rằng tất cả những thước đo luân thường đạo lý vào cuối Đệ nhị Thế chiến đã bị dịch chuyển đi như thế nào trong châu Âu; ở Việt Nam, chiến tranh đã thống trị con người lâu hơn thời đó ở châu Âu nhiều.

Ở châu Á và châu Phi, nghề y tá đồng nghĩa với việc thuộc vào trong một tầng lớp trên của xã hội, và trọng tâm của công việc làm là cung cấp sự trợ giúp về mặt y học cho bệnh nhân với tiêm thuốc, thuốc uống, vân vân, chứ không phải là sự chăm sóc cho bệnh nhân. Việc này được thân nhân người bệnh đảm nhận trong các bệnh viện Việt Nam, những người ở trọ như thế nào đó trong khu vực bệnh viện. Các thân nhân chăm sóc, làm giường, đổ bô cho bệnh nhân. Người ta nấu trong một gian bếp chung có trong mỗi một bệnh viện lớn. Vì người thân của bệnh nhân không hề có một ý tưởng nhỏ nhất nào về vệ sinh, nên hình ảnh của các gian phòng chứa bệnh nhân, được thành lập với một ngân sách quá ít, khiến cho người ta rất lấy làm phiền muộn. Nói chung là không có y tá trực đêm, về ban đêm bệnh nhân tự lo lấy cho mình, và ai đã có lần nằm ốm nặng trong bệnh viện thì đều có thể tưởng tượng được điều đó có nghĩa là gì. Việc được mô tả ở đây là quy luật chung, nhưng có những ngoại lệ. Tôi biết một vài người phụ nữ Việt Nam, trong số đó là một trong những người đứng đầu của đất nước này, đã hy sinh chăm sóc cho bệnh nhân như thế nào.

Khong anh My Tho 1967-68 - Mekong River
Không ảnh Mỹ Tho 967-68

Ở Mỹ Tho, người Mỹ đã xây một nhà phẫu thuật theo cùng kiểu như ở phần lớn các bệnh viện tỉnh.  Được bố trí ở xung quanh một gian phòng chung là hai phòng mổ, một phòng tiệt trùng, một phòng điều trị không nằm lại và ở giữa đó là những gian phòng quần áo, giặt giũ, vân vân. Tất cả các nhà phẫu thuật mà tôi đã nhìn thấy được thành lập và trang bị không hơn mức tạm thời là bao nhiêu và được bảo trì một cách thiếu thốn. Không chỉ thiếu tiền mà hầu như khắp mọi nơi vẫn thiếu nhân sự có chuyên môn và tinh thần trách nhiệm.

Mỹ Tho, với một hậu phương do Việt Cộng làm chủ, vào thời gian đó là một thành phố nhỏ không có tầm quan trọng về quân sự, hầu như không có các hoạt động khủng bố. So với Sài Gòn, nó đối với chúng tôi giống như một thành phố trong hòa bình. Bề ngoài của nó mang vẻ chiến tranh ít hơn nhiều khi so với các tỉnh lỵ ở miền Trung Việt Nam. Cuộc sống hàng ngày diễn ra một cách thanh bình, giao thông khiến cho người ta nghĩ đến giao thông của một hòn đảo ở biển Bắc mà người ta đã cấm ô tô ở trên đó. Ở cạnh sông, một nhánh to của sông Cửu Long, trước cái nhà hàng duy nhất bán thức ăn kiểu Pháp, có độ một tá tàu tuần tra Mỹ bập bồng trên làn nước màu vàng chảy chậm chạp. Những chiếc tàu này, với đội lái Mỹ và cảnh sát Việt trên tàu, kiểm soát tàu thuyền trên những con đường nước chằng chịt của vùng đồng bằng. Cảnh sát Việt Nam leo qua những chiếc thuyền nhỏ lắc lư và những chiếc tàu lớn có con mắt huyền bí ở mũi tàu được khắc hình để kiểm soát chúng. Người Mỹ chỉ nhìn thấy nhiệm vụ của họ là giúp các viên cảnh sát lại có được sự kính trọng ở người dân của họ. Một ngày nào đó, người Việt phải đi tuần tra một mình. Phần lớn các hoạt động của người Mỹ đều có định hướng, rằng đến một ngày nào đó chúng cần phải được người Việt tiếp tục thực hiện. Nguyên tắc này, cái được cố gắng đạt đến ở tất cả các dự án giúp pháp triển, rõ ràng là tốt và đúng. Nhưng thường hay có một ý nghĩ sai lầm về việc sau bao nhiêu lâu thì cần phải bàn giao lại. Ví dụ như một bệnh viện, cái mà người ta phải đào tạo dần dần nhân viên cho nó, theo tôi chỉ có thể bàn giao lại sớm nhất là sau mười năm, với điều kiện là các ‘counterparts’ thích hợp, đối tác bản xứ, có thể được đào tạo ngay từ đầu.

Sau khi tham quan bệnh viện ở Mỹ Tho, người Mỹ đó mời tôi về căn nhà tiện nghi mà ông ở trong đó cùng với các chuyên gia Mỹ khác. Một trong những người sống cùng nhà nói tiếng Việt tương đối tốt và phô diễn không thể không nghe được điều đó với bà nấu bếp.

Người bác sĩ, một người đàn ông to lớn, rõ ràng là mắc một bệnh nào đó khiến cho hai tay của ông run mạnh, kể cho tôi nghe về công việc làm của ông. Ông đã bay bằng máy bay trực thăng đến các ngôi làng ở trong vùng để tiêm chủng cho người dân. Ông trải một tấm bản đồ ra trên đầu gối của mình, cái lại bị gió của chiếc quạt ở trên trần nhà gấp lại liên tục, để chỉ cho tôi xem từng nơi mà ông đã làm việc ở tại đó.

“Đây này, anh xem này, đây là Mỹ Tho”, ông nói, “còn đây, mười kilômét về phía Tây, là nơi tôi đã đến vào ngày hôm qua để tim ngừa dịch hạch cho người dân. Tất nhiên là với trực thăng. Còn ở đây”, ngón tay trỏ run run của ông vẽ một vòng tròn lớn trên tấm bản đồ ở phía Tây của Mỹ Tho, “ở đây là ‘free bombing zone’.” Vào thời gian đó, tôi ở trong đất nước này còn chưa lâu lắm và nhìn ông không hiểu.

“Free bombing zone có nghĩa là tất cả các máy bay trở về đều có thể quẳng những quả bom còn lại của họ xuống đó, vì ở đó chắc chắn là không có quân đội đồng minh.”

Trên đường trở về Sài Gòn, người ta chạy qua tỉnh lỵ Long An. Nó không khác gì mấy khi so với Mỹ Tho. Bệnh viện với cùng những khoa giống như thế và với ngôi nhà mổ giống như thế được điều hành bởi các bác sĩ quân đội Mỹ và một bác sĩ phẫu thuật người Việt được đào tạo ở Bỉ. Vào cuối tuần và ngày lễ không thể liên lạc với các người Mỹ được. Chiếc xe cứu thương VW, cũng như năm mươi chiếc khác trong đất nước này là một quà tặng của nước Cộng hòa Liên bang [Đức], vẫn còn có thể hoạt động được và ở đây cũng còn phục vụ cho mục đích thực sự của nó, tức là chuyên chở người bệnh. Trong các tỉnh lỵ khác, tôi đã nhìn thấy xe cứu thương chuyên chở chủ yếu là rau quả, xi măng hay bất cứ những thứ nào khác và lo cho chuyến đi chơi vào ngày chủ nhật cho giám đốc bệnh viện. Từ vùng xung quanh Long An, nơi có nhiều giao tranh vào đầu 1967, chúng tôi nhận được phần lớn các bệnh nhân bị thương vì chiến tranh. Hầu như tất cả trẻ em bị thương tích từ chiến tranh của chúng tôi đều đến từ vùng này, và thường là trẻ em mồ côi.

Ở ranh giới thành phố của Sài Gòn, người ta đi ngang qua một đồn cảnh sát đã bị một đơn vị Việt Cộng gồm một trăm người đột kích vào giữa ban ngày và đã bị phá hủy. Lần tấn công tương đối quan trọng này của Việt Cộng là chuyện ưa được bàn tán cả một thời gian dài trong Sài Gòn, vì ít ra thì đồn cảnh sát đó đã ở trong cái được gọi là vùng an toàn. Người ta nói đùa rằng viên cảnh sát trưởng hẳn đã không trả tiền thuế của mình cho Việt Cộng.

Sếp Việt Cộng chỉ uống rượu Cognac thôi

Các sự kiện văn hóa ở Sài Gòn thật là ít. Khu nào của thành phố cũng đều có rạp chiếu bóng. Nhưng nói chung thì người ta chỉ đi xem ở hai rạp, ‘Rex’ và ‘Eden’ trong trung tâm. Trong năm nay, tôi chưa từng thấy người ta loan báo trước một phim hay nào cả. Ở Chợ Lớn có một nhà hát Trung Quốc, biểu diễn hàng đêm những vở bình dân. Ngoài ra, sự kiện có tầm cỡ văn hóa Phương Tây chỉ được Centre Culturelle Français mang đến Sài Gòn, và của Viện Goethe, hoạt động tích cực với thành công đáng chú ý. Viện tổ chức những buổi thuyết trình và đêm chiếu phim, được con số đông các sinh viên học tiếng Đức thích đến dự; người Pháp tổ chức triển lãm tranh, thỉnh thoảng còn có cả đêm hòa nhạc. Có lẽ nhiều người Việt Nam học tiếng Đức không phải vì họ cho rằng văn hóa Đức là đáng để vươn đến, mà nhiều hơn là vì họ hy vọng có được những lợi thế về vật chất và tinh thần, ví dụ như học bổng ở Đức. Vì, như người lãnh đạo Viện Goethe có lần đã nói rõ, lực hấp dẫn của văn hóa Pháp vẫn còn mạnh tới mức những người nhận được học bổng xin phép bay vòng qua Paris để sang Đức.

Rạp REX, khánh thành năm 1962 và là rạp chiếu phim hiện đại nhất Đông Nam Á vào thời điểm đó.
Rạp REX, khánh thành năm 1962 và là rạp chiếu phim hiện đại nhất Đông Nam Á vào thời điểm đó.

Ngoại trừ các sự kiện không thường xuyên đó và ngoài cái hồ bơi của Cercle Sportif vẫn đông người mặc cho tính sang trọng đắt tiền của nó thì hầu như không có gì để giải khuây trong Sài Gòn. Đi ra ngoài thành phố vào lúc cuối tuần cũng có nhiều vấn đề không kém. Thời gian xưa cũ tốt đẹp mà trong đó người ta có thể tự do thưởng thức nét đẹp của đất nước này đã qua từ lâu lắm rồi. Những người Pháp, những người đã sống cả cuộc đời họ ở Việt Nam, bất chợt có những đôi mắt mơ mộng khi họ thuật lại những chuyến đi xuyên qua Đông Dương: họ đã ở trên đồn điền vào cuối tuần, nghỉ mát trong thời gian nóng bức nhất ‘ở trên’ Đà Lạt như thế nào, tổ chức săn cọp trên cao nguyên và săn vịt trên những cánh đồng ruộng của đồng bằng như thế nào; họ sang đảo Phú Quốc câu cá hay đi thuyền buồm trước Cap St. Jaques [Vũng Tàu] hay Đà Nẵng, sang Phom Penh trong Campuchia ăn tối và trở về vào lúc đêm khuya ra sao. Tất cả những thứ đó cách đây đã lâu lắm rồi, không ai còn biết chuyến đi kéo dài bao lâu; họ cãi nhau cần ba hay năm giờ đồng hồ, để đi từ Sài Gòn sang Pnom Penh. Ngày nay, hầu như không còn một đồn điền nào, có hồ bơi và sân đánh quần vợt, vẫn thích hợp là nơi nghỉ dưỡng nữa. Các chủ đồn điền cố gắng giữ cân bằng giữa các bên tham chiến. Viên chỉ huy của một đơn vị Việt Cộng thống trị vùng đất của một đồn điền cao su chỉ uống rượu Cognac thứ thiệt của một nhãn hiệu nào đó, và bất cứ lúc nào mà người chủ đồn điền không thể mang loại rượu đó về thì cuộc sống của ông không còn chắc chắn nữa. Tôi nghe được câu chuyện đáng tin này trực tiếp từ người đó. Đà Lạt trên cao nguyên, cách Sài Gòn ba trăm kilômét về hướng Đông Bắc, là một nơi nghỉ mát lý tưởng, đặc biệt là trong mùa nóng nực. Khí hậu tương đối mát lạnh; núi có phủ cây thưa và một cái hồ nhỏ khiến cho người ta nhớ đến một phong cảnh đồi núi thấp của châu Âu. Vì đó không phải là một thành phố có trại lính, và sân bay mang tính dân sự nhiều hơn bất cứ một sân bay nào khác của Việt Nam, nên có tin đồn rằng Đà Lạt được cả hai phe tham chiến – trong một gentleman-agreement không được nói ra – xem như là vùng trung lập. Nghỉ ngơi ở Đà Lạt là những người không ngại cực nhọc, chờ một chuyến bay theo lịch trình nhiều giờ liền, cái mà rồi lại không bay. Chỉ còn một ít người có can đảm đi bằng ô tô. Ngày nay, Việt Cộng đòi tiền mãi lộ trên đường từ Sài Gòn đi Đà Lạt, điều đó nói chung ai cũng biết. Thay vì tiền, người ta cũng nhận thuốc lá, dược phẩm và pin. Người quen Pháp trên đường đi còn được yêu cầu hãy mang pin theo trên chuyến về. Sang Phom Penh bằng ô tô, vì những khó khăn về thị thực và giấy nhập cảnh, mà cho người nước ngoài bình thường là chuyện hầu như và cho người Việt Nam là chuyện hoàn toàn không thể được. Vì thế mà để đi chơi cuối tuần thì chỉ còn lại vùng bờ biển ở phía Nam gần đây. Nó cũng được xem là tương đối an toàn cho khách du lịch. Ba mươi kilômét đầu tiên của con đường này, cho tới Biên Hòa, đã được mở mang thành một con đường ô tô rộng lớn trước đây một vài năm; nó trông giống như một đường băng nhiều hơn là một xa lộ. Phía ngoài ranh giới thành phố Sài Gòn còn có những khu phố dân nghèo kéo dài vài kilômét ở hai bên đường về phía Bắc. Sau một cây cầu lớn qua sông Sài Gòn, người ta chạy qua một ngôi trường dạy nghề mới của Đức, qua ‘cité universitaire’ với những ngôi biệt thự dành cho các giáo sư đại học mà hầu như không có ai sống ở trong đó vì sợ những hoạt động về đêm của Việt Cộng. Sau nhà máy điện và một ngôi chùa Phật giáo hiện đại, người ta đi ngang qua doanh trại khổng lồ của người Mỹ. Sau dãy đất cấm bằng hàng rào kẽm gai và mìn, nằm trong bụi bặm của mùa khô và trong bùn lầy của mùa mưa là xe tải, xe tăng, trực thăng, xe ủi đất, xe xúc đủ mọi cỡ, nhiều tới mức có lẽ chúng đủ để hào phóng trang bị cho một quân đội quốc gia có quy mô châu Âu chỉ riêng với vật liệu này thôi. Người ta càng đến gần Biên hòa thì hình ảnh của một khu vực xung quanh một doanh trại lính càng rõ nét: mỗi một ngôi nhà nghèo nàn của người Việt đều trở thành một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. Quán rượu, tiệm giặt ủi và nơi rửa xe luân phiên thay đổi cho nhau. Lính Mỹ không chỉ để cho rửa xe Jeep và xe tải của họ, trong khi họ nhai kẹo cao su uống bia lon Mỹ trong quán cạnh bên, mà còn cả xe tăng của họ nữa.

Đến Biên Hòa qua con đường cũ thì dễ chịu hơn. Ở đầu bên kia của một cây cầu được canh gác rất cẩn mật, mà những thanh gỗ dầy của nó kêu rầm rầm khi chiếc ô tô chạy ngang qua, là bắt đầu ‘vùng không kiểm soát’. Con đường nhiều khúc quanh này dẫn đi xuyên qua giữa những cánh đồng ruộng, đồn điền và những cây dừa nhỏ đến phía bên kia của cái thành phố nhỏ bé này. Ở sau Biên Hòa, con đường rẽ sang hướng Đông Nam về phía Vũng Tàu.

Vũng Tàu, cửa sông phía Đông Nam của Cửu Long và của sông Sài Gòn, trước đây – cả trong số những thành phố thuộc địa trước sau gì thì cũng không hối hả cho lắm – là một nơi tắm biểm êm đềm với một đường đi bộ dọc theo bờ biển en miniature, một Grand Hotel, một ngôi nhà thống đốc tít trên một của hai nhóm đồi và một số biệt thự và nhà nghỉ cuối tuần. Người ta sống ở đó qua những cuối tuần hay đợt nghỉ. Ngày nay, nó là mục tiêu cuối tuần duy nhất – ngoại trừ Long Hải nằm cách đó bốn mươi cây số về phía Đông – có thể đến được từ Sài Gòn bằng ô tô mà không mạo hiểm nhiều cho lắm. Tuy con đường tỉnh lộ từ Sài Gòn đến Vũng Tàu về mặt chính thức được xem là không an toàn, và Việt Cộng phô diễn sự hiện diện của họ bằng cách hầu như cuối tuần nào cũng cho nổ tung một trong số nhiều cây cầu đó. Quân đội Mỹ, Việt, Philippines và Úc của nhiều doanh trại dọc theo con đường đó không thể ngăn chận họ được. Trên con đường này, rõ nét hơn là ở những nơi khác, có thể thấy rõ người dân sống chung với chiến tranh cho tới đâu. Trong những năm vừa qua, ở đây, và trên vài con đường có tương đối nhiều xe cộ qua lại khác, đã có một vài trăm chiếc xe đò đầy nghẹt người chạy trúng mìn và nhiều người đã chết trong lúc đó. Mặc dù vậy, hàng ngày vẫn có hàng ngàn người leo lên những chiếc xe đò đó, cho tới khi họ nhô ra khỏi cửa lên xuống và cửa sổ; lơ xe, thường là một em trai mười hai, mười bốn tuổi, chạy đi chạy lại trên nóc xe ở vận tốc trăm cây số giờ và sắp xếp lại các cái vali, thùng các tông và giỏ đựng gà giữa các trạm dừng. Hầu như lúc nào cũng vậy, khi đi từ Sài Gòn ra Vũng Tàu, người ta có thể nhìn thấy một chiếc xe đò như thế ở ngay sau một cái hố nông do mìn xé ra khỏi nhựa đường, nằm nghiên sang một bên hay lật úp, với những cái bánh xe nhô lên trên không khí, giống như một con rùa chết nằm lật ngữa.

Mặc dù vậy, ngày nào, đặc biệt là cuối tuần, cũng có một đoàn dài ô tô kéo đi từ Bắc xuống Nam và ngược lại vào buổi chiều. Những chiếc xe to đầy người, phục vụ như taxi và có thể mướn với giá ba ngàn đồng ở đường Nguyễn Huệ; những chiếc xe buýt mini hiệu Vespa chở quá tải, những chiếc mà Tướng Kỳ đã trao hàng ngàn chiếc theo kiểu trả góp cho những người quan tâm đến ngành nghề này trước cái máy quay của chương trình thời sự truyền hình; động cơ của chúng yếu tới mức người ta phải đẩy những chiếc xe yếu ớt này lên trên đoạn dốc nhỏ của các cây cầu tạm, nhưng lái xe lần nào cũng cố thử vượt lên chỉ với động cơ thôi, được nửa đoạn đường dốc lên, dừng lại, tất cả hành khách phải xuống xe và đẩy nó; ở sau họ, những chiếc xe đò chở đầy người và những chiếc ô tô của người Việt khá giả và của người Âu tạo thành một hàng dài. Ai cũng cố gắng, vì mìn, không phải là người đi đầu tiên vào buổi sáng và không trở về trong bóng tối vào buổi chiều. Xe hỏng vào ban đêm thì thật đúng là không dễ chịu cho lắm. Chỉ người Mỹ là tránh không chạy xe trên con đường đi Vũng Tàu, ngoại trừ đi thành đoàn. “Chúng tôi chỉ được phép chạy xe theo đoàn”, một người Mỹ dân sự nói với tôi ở bãi biển Vũng Tàu. “Nhưng tôi sẽ không bao giờ đi cùng với một đoàn xe người Việt nữa. Có một lần, tôi không còn có cách nào khác hơn, và thế là tôi đã đi cùng. Nhưng các anh chàng đó toàn dừng lại ở những nơi phức tạp, có thể bị bắn từ hai bên đường. Họ cứ đơn giản xuống xe và nằm trong bóng mát, hút thuốc lá và tán láo, và không một ai nghĩ đến việc cắt đặt người canh gác cả. Không bao giờ nữa. Tôi thích bay hơn.”

Vũng Tàu 1967-68, Hình: Michael Holt
Vũng Tàu 1967-68, Hình: Michael Holt

Vào một buổi sáng chủ nhật, khi muốn đi xe ra Vũng Tàu, tôi phải dừng lại trong một đoàn xe dài ngay sau Biên Hòa. Ở phía trước chúng tôi, một cây cầu nhỏ đã bị cho nổ tung. Khoảng hai mươi người Việt xúc đất bằng tay vào trong cái lỗ đó; công việc đã tiến triển cho tới mức các loại xe không phải là xe đi trên mọi địa hình cũng có thể đi qua nơi đó được. Quân cảnh Mỹ đứng đổ mồ hôi ở quanh đó, dưới chiếc nón sắt và áo chống đạn. Đã xảy ra kẹt xe vì có một đoàn xe tải cần phải đi qua đó trước các xe dân sự. Có một người quân cảnh trẻ tuổi đứng ở giữa nơi vừa được đổ đất lên đó, chận từng xe tải một lại ở nơi này và nói to với người lái: “Four wheel drive”, bốn bánh chủ động. Các tài xế trả lời: “O.K.”, chuyển sang chế độ bốn bánh chủ động và tiếp tục chạy đi. Các tài xế người Việt không dừng lại, họ chỉ nhìn vào mặt của người lính một cách không hiểu và cố lắc lư qua được đống đất đó nhanh và tốt trong chừng mực ô tô của họ cho phép. Anh cũng nói “Four wheel drive” của anh với tôi. Tôi lấy làm ngạc nhiên và nói với Siegried Kogelfranz của tờ “Spiegel” đi cùng với tôi:

“Một người Mỹ trẻ tuổi hẳn phải biết là một chiếc ô tô bình thường không có bốn bánh chủ động. Mà anh chàng trông cũng không có vẻ mệt mỏi tới mức vừa nói vừa ngủ.” Kogelfranz cười to:

“Trước đây hai năm”, ông nói, “tôi đã còn gặp những người Mỹ không biết tìm Việt Nam ở đâu trên bản đồ. Bây giờ thì điều đó có thể đã khác đi, nhưng có lẽ người ta đừng nên cho rằng một cá nhân, ngay cả khi anh ấy thuộc một dân tộc có nền văn minh cao, có quá nhiều kiến thức.”

Ở ranh giới Vũng Tàu, người đi đường thỉnh thoảng bị chận lại và phải trả hai mươi đồng – theo giá chợ đen tương ứng với giá trị thật của đồng tiền thì đó là năm mươi xu Đức – và nhận được một tờ biên nhận: Vũng Tàu là một nơi tắm biển và hai mươi đồng đó là phí mà du khách phải trả cho nơi nghỉ dưỡng. Thỉnh thoảng, người ta cũng có thể chạy vào mà không bị chận lại, khi người thu tiền bận rộn ở nơi khác. Rồi ông thu tiền lúc đi ra. Mức lệ phí đó cho thấy rằng đẳng cấp của nơi tắm biển này chỉ còn là sự tưởng nhớ mà thôi. Vào thời mà người ta ấn định khoản lệ phí phải đóng cho nơi nghỉ dưỡng này thì có lẽ là hai mươi đồng còn có được một giá trị tương ứng. Ngày nay, những đứa bé đánh giày ở Sài Gòn chỉ đánh một chiếc giày cho số tiền đó thôi, và bồi bàn khách sạn chờ tờ hai mươi đồng khi họ mang một chai nước suối lên phòng. Vũng Tàu, nơi mà người Pháp gọi là Cap St. Jaques, đã trở thành một thị trấn nhỏ dơ bẩn. Chẳng có gì còn lại từ nét mơ mộng của một thành phố nhỏ lẫn sự hấp dẫn của một thị trấn tắm biển nhỏ của Pháp. Đường phố, quảng trường, Grand Hotel và phần lớn biệt thự bị bỏ hoang và không người chăm sóc giống như trong tất cả các thành phố Việt Nam sau bao nhiêu năm chiến tranh.

Bãi biển ở cạnh con đường đi dạo của nơi nghỉ dưỡng trong Vũng Tàu, ngày xưa là nơi đẹp hơn trong số hai bãi tắm, hầu như không còn có thể tắm được nữa. Ở nơi đỗ lại trước sông Sài Gòn có khoảng hơn hai mươi chiếc tàu đang thả neo chờ được phép đi vào và chờ một chỗ trống trong cảng Sài Gòn. Dầu mà những chiếc tàu này thải ra trong thời gian chờ đợi thường nhiều tuần được đẩy trực tiếp vào trong vịnh của Vũng Tàu và vào bãi biển trước con đường đi bộ. Hàng trăm người Mỹ, người Úc, Philippines và du khách cuối tuần từ Sài Gòn nằm cho da cháy nắng ở bãi biển tiếp theo đó về phía Đông, nơi những người Việt Nam, khôn ngoan hơn, ngồi trên hàng hiên của các ngôi nhà gỗ là quán ăn dọc theo đường. Các phi công trực thăng từ phi trường ở sau những đụn cát bay một vòng thật thấp qua bãi biển, ném một cái nhìn xuống các cô gái mặc áo tắm trước khi bay về phía Bắc theo lệnh hành quân của họ.

Ở bãi biển này xe của tôi kẹt lại trong cát và không thể tự thoát ra được. Màn trình diễn những cố gắng của tôi đã thu hút khoảng hai mươi người Việt, phần lớn là những anh chàng trẻ tuổi, những người chăm chú nhìn xuống từ hàng hiên của một nhà hàng bị bỏ trống. Không ai động tay cả. Một người Mỹ kéo tôi ra khỏi cát với chiếc Jeep của ông. Lúc đó, trải nghiệm này đã làm cho tôi suy nghĩ nhiều, và sau đó tôi đã hỏi những người bạn Việt rằng tại sao những anh chàng trẻ tuổi đó đã không giúp tôi, trong khi sự việc thật ra hết sức là dễ hiểu.

“Lẽ ra anh phải yêu cầu họ giúp”, bạn bè của tôi nhún vai nói, “thế nào đi chăng nữa thì đấy cũng không phải tại vì anh là người da trắng. Chúng tôi cũng có thể bị như thế.”

Có thể là như thế. Mặc dù vậy, đó vẫn là một trải nghiệm mà tôi bất lực đứng đối diện với nó.

Người Mỹ đã biến Vũng Tàu thành một trong số các ‘R. and R. – Centres” của họ, Rest and Recreation. Trong biệt ngữ quân đội, chúng được gọi là ‘L. and L. – Centres’, Love and Liqueur. Như nhiều diễn đạt khác của lính, cách diễn đạt này cũng gần với sự thực hơn. Nhiều con đường toàn quán rượu đã hình thành chỉ qua một đêm, với một quầy rượu bên cạnh những căn phòng khác, bé tí, dơ bẩn, những căn phòng tối tới mức người bồi bàn phải dùng đèn pin để phục vụ. Có vô số các cô gái lo giải trí cho lính. Những người nghỉ phép từ mặt trận trở về thì không keo kiệt, khu vực này của thành phố làm ăn phát đạt.

Tôi đến Vũng Tàu lần đầu tiên để đón chiếc tàu bệnh viện mà tôi đã rời nó ở Colombo, nhằm có mặt trên tàu trong đoạn đường – lúc đó chúng tôi nghĩ như thế – nguy hiểm nhất của chuyến đi, ngược sông Sài Gòn. Tôi tới vào buổi tối trước khi con tàu đến theo lịch trình và được một lãnh đạo của USAID ở Vũng Tàu mời qua đêm trong phòng dành cho khách của anh.

Anh là một con người dễ mến, độ ba mươi lăm tuổi, thấp người, tóc đỏ, nhiều tàn nhang trên làn da trắng và có tính tình chậm chạp của miền Trung Tây như tôi đã quen biết ở Hoa Kỳ. Anh rất hiếu khách, chỉ cho tôi xem thành phố, câu lạc bộ sĩ quan và ‘red light district’, như anh gọi, và nhân cơ hội này mà trút bầu tâm sự đầy lo lắng của anh cho tôi nghe. Anh là một trong số những người Mỹ trẻ tuổi mà tôi thỉnh thoảng gặp, những người đến Việt Nam với đôi mắt to sáng ngời, với trái tim trong sạch, tràn đầy sứ mệnh của mình, và dùng mọi sức lực để cố gắng giúp đỡ người Việt và xây dựng đất nước này, cũng: đền bù cho những gì mà quân đội của họ đã dẫm nát với những chiếc giày ủng của lính. Họ không muốn dẫn nhập niềm tin Mỹ về nền kinh tế thị trường tự do vào Việt Nam, như Mary MacCarthy nghĩ. Họ đơn giản là chỉ muốn giúp đỡ, nhưng rất nhanh chóng nhận thấy rằng họ ở trong một thế giới khác với thế giới mà người Việt lớn lên ở trong đó; điều đó không ngăn cản họ cố gắng một cách chân thật để có được tình bạn thật sự với người Việt. Họ sống cùng với người dân trong làng và ăn thức ăn của họ, chịu đựng dơ bẩn và ốm đau và ngày nào cũng chứng minh ý định tốt đẹp của họ lại từ đầu.

Vũng Tàu 1967-68. Hình: Michael Holt
Vũng Tàu 1967-68. Hình: Michael Holt

“Anh thật không thể tưởng tượng được những khó khăn mà tôi đang đấu tranh với chúng đâu. Đơn giản là thiếu mọi thứ ở khắp nơi; nếu như cuối cùng rồi có được xi măng thì không có gạch, và nếu như người ta có được cả hai thì rồi có ai đó muốn xây một cái gì đó khác với chúng.”

Anh lái chiếc xe to đi trên mọi địa hình qua những con đường chật hẹp với các quán rượu ở hai bên đường. Những người đàn bà mảnh dẻ đeo theo cánh tay của những người lính to lớn khổng lồ, đi loạng choạng. Trời tối và mưa. “Tối thế này thì một anh chàng như thế chẳng biết được những người đàn bà nhỏ bé đó thỉnh thoảng có thể là bà của anh. Nhất là khi anh chàng say rượu. Chúng tôi đã cung cấp penicillin cho giám đốc của bệnh viện tỉnh, để ông chữa bệnh giới tính cho các cô gái ở quán rượu. Bây giờ chúng tôi mới biết được rằng ông lấy ba trăm đồng cho mỗi một lần tiêm. Đối với các cô gái thì như thế là quá nhiều tiền nên họ không đi đến đó. Họ phải đưa hầu hết thu nhập của họ cho gia đình của họ.

Nhưng đó còn chưa phải là điều tồi tệ nhất. Trước đây một tuần, tôi tìm thấy một đứa bé ba tuổi bị bệnh lao phổi nặng. Em là một đứa con lai, rõ ràng là từ một người Mỹ. Mẹ của em đã biến mất. Người duy nhất chăm sóc cho bé trai đó là một em gái mồ côi mười lăm tuổi mang bệnh giang mai. Mỗi sáng, tôi mang sữa đến cho bé trai đó và đưa tiền cho em gái để em có thể mua thức ăn. Nhưng từ ngày hôm qua, em gái đó đã biến mất, và bây giờ tôi phải lo tìm chỗ ăn ở cho đứa bé trai đó. Thật là buồn khi quân đội của chúng tôi là nguyên nhân cho sự khốn cùng này.”

Người châu Âu, những người quen biết đất nước này một ít, nghỉ qua cuối tuần ở Long Hải, cách Vũng Tàu bốn mươi kilômét về phía Đông, với một bãi biển ít đẹp hơn – nếu như bàn về bãi cát – nhưng yên tịnh hơn gấp nhiều lần. Yên tịnh là vì Long Hải được tính vào những vùng được cho là không an toàn. Mặc dù sự phân loại này theo trải nghiệm của tôi thì không phải lúc nào cũng đúng, nhưng ở Long Hải thì nó cũng không sai lầm nhiều cho lắm.

Người ta sống trong khách sạn duy nhất có thể ở được, ‘Hotel de la Piscine’, cái mà người ta không còn có thể gọi là khách sạn hạng sang được nữa, nhưng tương đối sạch sẽ và có đầu bếp nấu tương đối tốt. Những cái lỗ hình chữ nhật ở tường ngoài cho thấy rằng người Mỹ, những người từng chiếm khách sạn này một thời gian, đã mang theo những cái máy điều hòa nhiệt độ của họ. Trong khách sạn này lúc nào cũng có phòng trống, tức là: cả ở cuối tuần dài như Giáng Sinh hay Phục Sinh, nó cũng trống một nửa. Nhưng những người biết chuyện thì gọi điện thoại cho một văn phòng ở Sài Gòn khi họ muốn nghỉ qua cuối tuần ở Long Hải và hỏi rằng có phòng trống cho cuối tuần tới đây hay không. Thỉnh thoảng, họ nhận được một câu trả lời phủ nhận và thế là biết rằng không nên ngụ lại trong khách sạn vì Việt Cộng đang ở Long Hải.

Một người quen từ Sài Gòn, một người say mê uống rượu vang, rất thích kể lại lần rượu vang không còn làm cho ông thấy ngon nữa trên hàng hiên của khách sạn vào một buổi tối như thế nào. Ông quan sát thấy rằng ở phía dưới ông, ở bãi biển, đang có một đơn vị Việt Cộng lẻn đi về phía Đông như thế nào, trong khi ở phía sau ông, một đơn vị của quân đội Việt Nam đang bước về doanh trại ở phía Tây.

Từ Long Hải, bờ biển Việt Nam trải dài cả ngàn kilômét về phía Đông Bắc, về phía Bắc và sau đó là về hướng Tây Bắc cho tới Vịnh Bắc bộ. Tuyến đường sắt, ngày nay là một con đường sắt chết, và Quốc lộ 1 chạy dọc theo bờ biển mà từ Sài Gòn không còn có thể đến nơi nào khác được nữa bằng đường bộ. Khi tôi bay trên máy bay qua đó, tôi nhìn thấy những làn sóng dài của biển Đông đập vào đá màu xanh xám và lăn đi trên cát sáng trong những dải màu trắng. Trong ký ức của tôi, hình ảnh đẹp như mơ đó lúc nào cũng được mặt trời chiếu sáng. Sự so sánh với bờ biển Địa Trung Hải hay bờ biển Ấn Độ Dương bất chợt xuất hiện, viễn cảnh của những khách sạn chọc trời mà chắc hẳn là một ngày nào đó sẽ xuất hiện, và sự nhộn nhịp của du khách tắm biển trên cát trắng.

Long Hải 1967
Long Hải 1967

Nha Trang, Vịnh Cam Ranh, Qui Nhơn và Quảng Ngãi là những đầu cầu Mỹ trong vùng đất kéo dài ra này, doanh trại lính buồn chán, căn cứ tiếp liệu, vị trí xuất phát cho những chuyến đi vào trong nội địa. Bến tàu vẫn còn chưa có, nên tàu tiếp tế phải neo ngoài ở ngoài vũng tàu và được dỡ hàng bằng thuyền đổ bộ. Vùng đất giữa các đầu cầu do Việt Cộng kiểm soát.

Ở Nha Trang có hai bệnh viện lớn của Mỹ, và những người bác sĩ quân đội làm việc ở đó là những người duy nhất cũng chăm sóc cho người dân của vùng đất này giữa Vũng Tàu và Qui Nhơn, một giọt nước trên hòn đá nóng bỏng. Chúng tôi có quan hệ tốt với những bác sĩ đó, bên cạnh bình diện hành chánh chính thức, và có những bệnh nhân nào đó được họ chuyển lên chiếc tàu bệnh viện. Tất cả các công sở Mỹ có liên quan đều tự phát và hoàn toàn không quan liêu, nhưng đặc biệt là những người lái xe cứu thương và phi công, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ và rất đáng tin cậy khi cần phải chuyên chở bệnh nhân từ Nha Trang hay các tỉnh lỵ khác đến với chúng tôi và chở các bệnh nhân đã bình phục trở về. Vì người Mỹ là những người duy nhất có một mạng lưới vận tải hoạt động đáng tin cậy ở Nam Việt Nam. Những người lính Mỹ, hạ sĩ quan, thiếu úy lúc nào cũng tạo mọi điều kiện trong khả năng có thể, để giúp những người Việt ốm đau và bị thương. Cả Việt Cộng chính quy, bị thương và bị người Mỹ bắt được, cũng nhận được một sự chăm sóc chuyên môn từ  các bác sĩ trong những bệnh viện Mỹ. Lúc nào tôi cũng bực mình, khi các bác sĩ trong lúc viếng thăm một bệnh viện như thế dùng ngón tay chỉ đến một người Việt nằm lặng lẽ giữa những người lính bị thương của chính họ và nói một cách quan trọng, giống như họ chờ đợi một sự ngạc nhiên tột cùng từ phía người khách đến thăm: “That’s a V.C.”, đó là một Việt Cộng. Người ‘V.C.’ đó, nằm trong những thiết bị kéo giãn hay với đầu được băng kín và nhìn chúng tôi với ánh mắt trừng trừng, có lẽ hơi thách thức một chút, chẳng còn cái gì ở trên người để mà người ta có thể nhận ra họ là ‘V.C.’ nữa: đó là những người Việt bị thương, những con người ốm đau. Nhưng mặc cho cách đối xử thiếu tế nhị đó của những người Mỹ, các tù binh rõ ràng là cũng được chăm sóc một cách chuyên môn và chu đáo như những người lính Mỹ bị thương. Bernard Fall viết có khác đi trong ‘Street without Joy’ về sự chăm sóc cho các thương binh người Pháp bị Việt Minh bắt được: ” … Trong số tổng cộng 1330 ca phẫu thuật trong lúc họ bị bắt giam chỉ có tám mươi mốt ca nói chung là được điều trị phẫu thuật; ba mươi tám trong số này được mổ mà không có thuốc gây mê. Người ta chỉ biết về một tù binh chiến tranh duy nhất đã qua được lần mổ ruột thừa, và lần đó là do một bác sĩ Pháp trong trại 128 tiến hành.”

Ngay cả khi người ta xem xét đến các khả năng kỹ thuật ít ỏi của những người Cộng sản Việt Nam thì đó là các con số đáng sợ. Cũng có thể giải thích điều đó với sự dửng dưng Á châu trước người khác – người đang phải chịu đựng sự thống khổ hay không? Có thể. Vì trong những trại tù binh chiến tranh của Việt Minh thời đó, tuyên giáo chính trị đã được tổ chức rất tốt. “Trại bệnh viện 128”, Fall viết ở một đoạn khác, “có nhân sự y khoa là người Pháp, đứng dưới quyền các bác sĩ Việt Minh, những người thường chỉ được đào tạo về cơ bản nhưng rất thích học tập thêm qua phẫu thuật tù binh.” Như tôi có thể quan sát được, người Mỹ ở Việt Nam đối xử với người Việt dân sự và Việt Cộng cũng giống như với người của họ, ít nhất là trong chuyên chở nhanh chóng và điều trị y khoa.

Thánh Victor Hugo ở Tây Ninh

Ở phía Tây của vùng bờ biển hẹp, trong miền Nam gần cho tới Sài Gòn, nổi lên dãy núi có độ cao trung bình, vùng rừng rậm. Rừng rậm phủ lên gần một nửa Đông Dương. Cao nguyên Việt Nam còn tương đối ít được khai phá. Người thổ dân của đất nước này đã lui về đó, người ta cho là thế. Họ khác biệt rõ rệt với người Việt. Có lẽ có nguồn gốc từ Malaysia, họ vạm vỡ hơn người Việt mảnh khảnh, có mắt to hơn và chân ngắn hơn. Hơn hai chục bộ lạc, một phần nói các thứ tiếng hoàn toàn khác nhau, được người Pháp gọi tổng quát là ‘Montagnard’. Giống như người du mục, họ dời làng của họ đi nơi khác khi không còn thu hoạch gì được trên mảnh đất mà họ trồng lúa ở đó, và khai phá một cánh rừng mới. Là người sống trên núi và trong rừng rậm, họ là những người thợ săn rất tài tình. Người ta xếp họ vào các dân tộc nguyên thủy, vì họ không biết dự trữ cho tương lai và hoàn toàn không biết đến bất cứ một hình thức kế hoạch nào cả. Họ thật sự rất ngây thơ. Cuộc chiến đã giới hạn rất nhiều sự tự do đi lại của họ, cho tới mức thỉnh thoảng họ không thể thu hoạch được lúa là lương thực rất cần thiết cho họ. Trong nhiều làng, thiếu thốn rất lớn. Vì thế mà người Mỹ và một vài quốc gia khác tặng gạo cho họ. Trung thành với quan niệm sống của mình, họ tính toán có thể sống được bao lâu với số gạo được tặng cho đó, và đầu tiên là chẳng làm gì cả trong thời gian đó. Một người quen nói rằng có lẽ một hay hai trăm năm nữa, người Montagnard sẽ thuật lại huyền thoại rằng trước đây rất lâu bất chợt có gạo từ trên trời rơi xuống, và không một ai còn phải đi làm việc nữa. Nhưng rồi người dân không bày tỏ cho đủ lòng cảm ơn các thần thánh, và như là hình phạt, bây giờ thì họ lại phải cực nhọc trồng lúa.

Nhà của họ là nhà sàn với một gian rộng duy nhất, có một phần xây để ngỏ ở phía trước và một mái nhà thấp bằng rơm, được sắp xếp thành những ngôi làng thưa thớt. Khi đến thăm họ, người ta bước lên nhà trên một thân cây được khắc thành một cái thang, ngồi trên một cái ghế đẩu nhỏ bằng gỗ và chiêm ngưỡng sáu hay bảy cái vò rượu làm từ gạo, đứng thàng hàng ở cạnh bức tường ở phía sau của gian phòng. Chẳng bao lâu sau đó, người ta phải dùng thử rượu từ mỗi một vò đó theo thứ tự.

Chỗ đi vệ sinh là khu vực xung quanh nhà. Dưới mỗi một ngôi nhà, giữa bốn cái cột nhà sàn, có một hay hai thân cây được nạo rỗng, quan tài.

Trung tâm của mỗi một làng là một ngôi nhà làng lớn. Đàn ông tụ tập lại ở đây, nếu như phải bàn thảo về những câu hỏi của làng. Ngoài ra nó còn là nơi ngủ của các thiếu niên, những người không còn được phép sống trong nhà của cha mẹ và chị em nữa, sau khi đã cai sữa mẹ. Người Pháp gọi ngôi nhà làng cao hơn những ngôi nhà khác này là “la Maison de Joie’, ngôi nhà của niềm vui, hẳn là vì cho rằng những thiếu niên đó không phải lúc nào cũng qua đêm một mình ở đây.

Cuộc sống cơ cực trên núi, nhiễm trùng và thiếu ăn đã giữ cho con số người Montagnard không đổi, mặc dù các gia đình có rất nhiều con. Họ chôn cất người chết của họ ở nghĩa trang mà mồ mả của họ cũng được xây trên cột giống như nhà của họ. Cây đòn dông của những ngôi nhà mộ này được khắc trang trí. Ở một ngôi mộ gần Kontum tôi phát hiện ra một cái đầu được khắc mà hình dáng của nó rõ ràng là giống của de Gaulles.

Họ rất rụt rè, ít nhất là khi họ tỉnh táo, nhưng họ rất thường không như thế. Mỗi một dịp – tang lễ, sinh đẻ hay bất cứ một sự kiện nào đó – đều là cớ để họ tổ chức lễ lạc. Người khách của nhà phải dùng thử rượu từ mỗi một vò rượu đó, và chỉ sau một lúc thì họ đã say rượu, trở nên thân mật, vui vẻ và hạnh phúc. Cả làng ca hát, nhảy múa và uống rượu. Và bất thình lình, khi họ uống đủ nhiều, những người đàn ông bắt đầu nói trôi chảy tiếng Pháp với người lạ, tuy là với văn phạm hết sức đơn giản nhưng với một vốn từ tạm đủ. Người Pháp đã đánh giá cao họ như là những người đồng minh và chiến binh. Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, nhiều bộ lạc đã là những người đồng minh đáng tin cậy và rất hữu dụng để chống lại Việt Minh. Như bức tượng de Gaulles cho thấy và khả năng nói tiếng Pháp của những người đàn ông để cho phỏng đoán, về phần mình, người Montagnard vẫn còn cảm thấy họ gắn kết chặt chẽ với người Pháp cho tới ngày hôm nay.

Mặc dù họ đã tạo thành một đạo quân chiến binh nhỏ từ nhiều bộ lạc, thỉnh thoảng lại đổi bên, nhưng thường tự hoạt động độc lập, và lần trở về với nền Cộng hòa vào cuối năm 1966 được Tướng Kỳ chào mừng với nhiều sự khoa trương, họ hầu như không đóng một vai trò nào về mặt chính trị ở Việt Nam cả. Người Việt coi thường người dân miền núi, đối với họ giống như những kẻ mọi rợ vô văn hóa. Nhưng những người sống trên miền đồi núi lại hãnh diện vì sự tự do của họ. Người Montagnard phục vụ trong quân đội tạo thành các đơn vị riêng của họ. Người Việt, nếu như họ có thể tránh được, không tiếp nhận người của các bộ lạc miền núi vào trong các bệnh viện tỉnh của họ, và người Montagnard nếu có thể thì cũng không đi vào bệnh viện Việt. Vì thế mà ở Kontum, tỉnh lỵ ở rìa bắc của Tây Nguyên, đã thành hình một bệnh viện của những người truyền đạo Công giáo. Bệnh viện này được một nữ bác sĩ người Mỹ lãnh đạo, người nổi danh như một huyền thoại vì tài giỏi và tận tụy hy sinh. Các khoa có bệnh nhân chủ yếu là người  Montagnard. Bà hầu như không có tiền để sử dụng và rất hạnh phúc khi nhận được bất cứ sự giúp đỡ nào, ví dụ như hai nữ y tá Đan Mạch trẻ tuổi, những người làm việc với bà mà không cần trả lương. Và có rất nhiều khó khăn: ở Sài Gòn, các trụ sở Mỹ khước từ không cung cấp cho bà thuốc kháng sinh, vì bệnh viện của bà nằm trong vùng Việt Cộng và thuốc kháng sinh có thể dễ dàng bị Việt Cộng chiếm đoạt.

Cũng có một nhóm nhỏ của Hồng Thập Tự Thụy Sĩ làm việc ở Kontum. Hai bác sĩ, hai trợ lý y khoa–kỹ thuật và hai nữ y tá chăm sóc cho khu phẫu thuật của bệnh viện tỉnh mà trong đó cũng có bảy bác sĩ quân y Việt Nam làm việc. Bên cạnh đó, họ cũng thiết lập một trạm điều trị không nằm lại với một vài giường bệnh ở ngoại ô phía Bắc của thị trấn, cạnh con đường đến nhiều ngôi làng của người Montagnard mà trong đó họ chỉ điều trị cho người Montagnard thôi. Các bệnh nhân, thường được mang đến trong tình trạng bệnh thật nặng nhưng lại biến mất ngay lập tức không một lời cảm ơn khi họ vừa khá hơn và có thể đi lại được, nhận thức ăn từ bếp của bệnh viện, cái ở đây chỉ là một nơi nấu nướng có mái che. Nơi nấu nướng này được một người Montagnard trông nom, người vẫn còn sống trong quá khứ quân đội Pháp của mình cũng như nhiều người anh em của ông: khi nhìn thấy sắp có khách đến thăm ‘bếp’, ông đứng nghiêm, giậm hai gót chân trần lại với nhau, kéo thẳng chiếc áo khoác quân đội Pháp cũ của ông lại, cái mà ông mặc phủ lên trên cái khố được thắt quanh hông theo kiểu người Montagnard, và chào đúng quy định, với bàn tay duỗi thẳng cạnh một chiếc mũ của quân đội Mỹ. Mắt của ông lóng lánh rượu.

Nếu như đi thăm một trong những ngôi làng tiếp theo đó về phía Bắc, những ngôi làng mà người Thụy Sĩ thường xuyên đến để khám bệnh, thì người ta có thể ngồi ở trên hàng hiên của một trong những ngôi nhà sàn đó và quan sát phụ nữ làng đội củi hay nước trên đầu đi ngang qua, chỉ mặc một tấm vải tự dệt lấy được quấn lại quanh hông và chân như một chiếc váy. Qua khu rừng rậm ướt nước mưa là vùng đất có con ‘Đường mòn Hồ Chí Minh’ đi từ Lào sang Việt Nam. Con đường tiếp tế này của Việt Cộng và của các trung đoàn Bắc Việt không phải là một ‘đường mòn’ nhất định, mà là một vùng rừng rậm rộng hàng kilômét luôn có những con đường mòn mới được tạo thành ở trong đó và – tương ứng với cách tiến hành chiến tranh một cách đặc biệt của những người du kích quân – được ngụy trang hết sức khéo léo.

Có thể đến Kontum, ngoài đi máy bay, từ Pleiku trên một con đường còn giữ được tương đối tốt. Con đường này được các đoàn xe tải của Mỹ sử dụng và được thường xuyên dọn mìn. Thế nhưng ngay cả trên con đường đã được dọn mìn này cũng có một mục sư với năm trẻ em trong chiếc xe jeep của ông chạy phải mìn. Bay đến Kontum thì tốt hơn, ngay cả khi bay trong những chiếc máy bay vận tải hoàn toàn không tiện nghi chút nào.

Do tôi đã thuật lại những trải nghiệm đi săn ở rừng châu Phi trong lúc đang ăn uống vui vẻ nên những người chủ nhà Thụy Sĩ của tôi đã tổ chức một chuyến đi săn vịt trong cái được gọi là vùng của Việt Cộng. Họ buồn cười vì sự ngạc nhiên của tôi. Quả thật là người ta đã có ấn tượng, rằng vào trưa ngày thứ bảy, các trại lính Kontum đều được đóng cửa và chiến tranh được nghỉ phép cho tới ngày thứ hai. Trong lúc đi săn, tôi chỉ thỉnh thoảng mới có cảm giác bất an, vì có người dùng súng các bin để bắn gà rừng ở gần đó và đạn lạc suýt nữa thì đã sượt qua tôi.

Đó là một ‘vùng đất lịch sử’, nơi chúng tôi đi săn vịt ở gần Kontum. Cách đó không xa về phía Nam, quân đội Pháp đã thất bại thảm hại trong nhiều trận đánh của họ. Thời đó, Trung đoàn 803 của Việt Minh hoạt động trong vùng này: bây giờ nó cũng đã hoạt động trở lại, lần này thì như là một đơn vị chính quy Bắc Việt. Các cựu chiến binh biết rất rõ địa hình vùng này và ép đối thủ ngày nay của họ vào trong cùng một chiến thuật như đã làm với người Pháp. Nhưng người Mỹ ngày nay, theo như Bernard Fall tường thuật, vẫn phạm phải cùng những sai lầm như người Pháp trước đây mười hai năm.

Tây Ninh, bốn mươi phút trực thăng về phía Tây của Sài Gòn, tám kilômét về phía Đông của biên giới với Campuchia, đã được Graham Green nhắc tới trong quyển sách ‘Người Mỹ trầm lặng’ của ông. Tây Ninh là thủ đô và là trung tâm của giáo phái Cao Đài, cái có riêng một đạo quân nhỏ vào thời người Pháp thống trị ở Đông Dương và vẫn còn cho tới thời của Diệm. Tầm quan trọng về chính trị của họ tương đối nhỏ, quân đội đã giải tán từ lâu.

Người Cao Đài tin vào sự xuất hiện lần thứ ba của Thượng Đế trên trần thế, ‘sự thật thiêng liêng’. Họ cảm nhận tôn giáo của họ là sự hợp nhất của tất cả các tín ngưỡng đang tồn tại và cũng đã tiếp nhận từ các tôn giáo khác những gì mà họ cho là đúng đắn. Các tòa thánh của họ giống nhau cũng như các nhà thờ thông thường ở châu Âu giống nhau. Họ đã tiếp nhận nhiều nguyên tố xây dựng và phong cách của nhà thờ Kitô giáo và chùa Phật giáo. Có một đài thờ ở mặt trước của một gian giữa rộng lớn. Tâm điểm của đài thờ này là một con mắt khổng lồ được vẽ trên một quả thiên cầu màu xanh nhạt, con mắt của Thượng Đế. Ẩn ở phía sau đó, được những cột trụ tròn quay quanh, là một loại bàn thờ, không cho người lạ vào. Trước đó có những chiếc ghế vàng của giáo chủ và các viên chức sắc của ông. Có một loạt các thánh canh giữ cho tín ngưỡng này – người nổi tiếng nhất đối với người châu Âu là Victor Hugo. Hai gian bên được chia ra bởi nhiều cây cột tròn có những con rắn khổng lồ quấn quanh lên trên. Tất cả ở trong và bên ngoài tòa thành đều được tô bằng những màu sắc rực rỡ, đa số là vàng. Ấn tượng đầu tiên của người Âu: lòe loẹt, thạch cao, vữa nổi, màu sắc sặc sỡ như ở một gian hàng trên chợ trong châu Âu. Nhưng có phải là tự phụ và tự cao hay không, khi lấy thị hiếu của chúng ta làm thước đo cho những gì mà người châu Á cảm thấy đẹp? Và các nhà sư hiền lành, những người đã viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức lời yêu cầu tiếng Việt, nên cởi giày ra trước khi bước vào tòa thành, rất hãnh diện vì tòa thánh của họ.

Ở Tây Ninh, người Mỹ đã xây bệnh viện dã chiến hiện đại nhất của họ trong trung tâm của một doanh trại quân đội khổng lồ của họ. Những đoạn có thể bơm lên được, bao gồm những thanh nẹp riêng lẻ, có thể được xếp hàng cạnh nhau thành những khu chữa trị với ba mươi giường trên nền đất đã được san phẳng. Những thanh đó không chỉ tách rời ra với nhau mà còn có vỏ đôi để mảnh pháo và đạn không gây ảnh hưởng đến tính ổn định. Có thể gắn phòng nhỏ ở mặt trước, những cái, cũng như các gian chữa trị kia, được cung cấp điện và điều hòa nhiệt độ từ những cỗ máy khổng lồ qua những dây dẫn to còn hơn cả ống hút hơi của bếp nấu ăn. Trang thiết bị với giường, nơi tắm rửa có thể gấp lại được và những thứ cần thiết khác đều đã được tiêu chuẩn hóa và phần lớn là bằng kim loại nhẹ. Những cái bàn phẫu thuật nặng đến năm mươi kí lô trên đệm không khí có thể được đẩy đi bằng hai ngón tay. Một đơn vị như thế có giá là mười triệu Mark, mỗi một cỗ máy tiêu mười ngàn lít xăng trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Phí tổn này hẳn chỉ có thể có với khả năng khổng lồ của quân đội Mỹ. Nhưng các lợi thế thì thật là đáng để kinh ngạc. Trong vòng ba mươi phút, một đơn vị bệnh viện có thể được tháo dỡ, treo thành hai hay ba phần dưới bao nhiêu đó trực thăng và sau khi đến vùng chiến sự có thể được xây lên và sẵn sàng hoạt động cũng chỉ trong vòng ba mươi phút. Sau khi được xác định vị trí trực tiếp ở mặt trận, một người lính Mỹ bị thương có thể được trực thăng mang trực tiếp đến bệnh viện dã chiến và trong trường hợp thuận lợi nhất thì đã có thể nằm trên bàn mổ sau nửa giờ. Được thông tin trước về vết thương từ trên trực thăng qua đàm thoại vô tuyến, đội ngũ phẫu thuật có thể đứng sẵn sàng lúc thương binh về đến và có thể chăm sóc cho người này dưới những điều kiện làm việc không hề tạm bợ.

Trong tháng 12 năm 1966, khi tôi đến thăm bệnh viện dã chiến này, những kỹ thuật viên, y tá và bác sĩ trong đội ngũ đó đã tự phát triển lấy mỗi một chi tiết. Tất nhiên là họ rất tự hào về việc đó và hơi thất vọng, khi tôi kể cho họ rằng ở Đức cũng có một phòng phẫu thuật giống y như thế được xây lên dưới cái tên ‘Clino-Box’. Họ cũng đầy tự hào chỉ cho xem những cái tay cầm ở cạnh đèn mổ của họ, những cái mà có thể tháo rời ra và khử trùng được và cho phép người bác sĩ phẫu thuật điều chỉnh ánh sáng của cây đèn với găng tay đã tiệt trùng của ông theo ý muốn của ông. Tôi không thể nhịn được lời lưu ý ác độc, rằng chúng tôi cũng có những cái tay cầm đó của đèn mổ trên tàu bệnh viện. Rất đáng tiếc là trong thực tiễn thì không thể sử dụng chúng được, vì trong lúc mổ thế nào các chiếc mũ phẫu thuật không được tiệt trùng cũng chạm vào chúng, tức là không được phép sờ vào với găng tay đã được tiệt trùng. Và những cây đèn đó cũng không sáng tới mức người ta có thể đặt chúng ở một độ cao mà chiếc mũ không chạm tới được. Những cái tay cầm đó chỉ là một món đồ chơi vô ích. Thế nhưng ngoại trừ cái việc nhỏ đó thì cái bệnh viện dã chiến ở Tây Ninh là một thiết bị đáng khâm phục, và các bác sĩ, y tá và kỹ thuật viên, những người đã phát triển nó, có thể có quyền tự hào vì nó. Đối với những người bị thương thì nó là vô giá.

Doanh trại quân đội, mà bệnh viện này nằm ở trong đó, có thể được nhìn thấy từ một ngọn núi bị Việt Cộng chiếm giữ, có hình nón vươn cao lên từ vùng đất bằng phẳng. Dù đã cố gắng nhiều lần dưới sự cộng tác của một cựu sĩ quan Việt Cộng đã quen thuộc với những nơi ẩn nấp đó, người Mỹ cũng không thành công trong việc đẩy lùi Việt Cộng, những bậc thầy của ngụy trang, ra khỏi ngọn núi. Nằm cách đó không xa cũng là ‘Tam Giác Sắt’ nổi tiếng, một vùng đất mà quân đội quốc gia đã không còn bước vào kể từ cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Trong tháng 1 năm 1967, người Mỹ với nổ lực to lớn đã cố chiến thắng Việt Cộng trong ‘Tam Giác Sắt’ đó. Người dân được di tản ngày nay sống một cuộc sống rất đáng thương hại trong các trại tỵ nạn, trong khi Việt Cộng vẫn tiếp tục giữ vững các công sự dưới mặt đất của họ.

Người Việt và người Mỹ còn có một đồng minh thứ ba trong vùng này của đất nước. Ở phía Tây của Tây Ninh, trong Thanh Điền, người Philippines đã khởi động một dự án mang tính gương mẫu trên nhiều phương diện. Dưới tên ‘1st Philippine Civic Action Group’ và với nhãn hiệu ‘bayanihan’, tức ‘giúp đỡ thiện nguyện của láng giềng’, một đơn vị 2000 người bao gồm lực lượng chiến đấu, công  binh, bác sĩ, nha sĩ và y tá đã giữ một vùng đất rộng gần năm ngàn hecta, bình định và xây dựng với thành công đáng ngạc nhiên. Ngoài ra còn có 14 thôn được chăm sóc. Các lực lượng chiến đấu bảo đảm an ninh cho vùng, công binh xây đường xá, làng mạc với nhà công sở và tất cả những gì thuộc trong đó, và những người ngành y chăm sóc cho người dân. Nếu muốn thì có thể chế nhạo rằng có một cái loa phóng thanh được lắp đặt ở trên trạm nha khoa để tiêu khiển cho bệnh nhân bằng những bài hát được ưa thích. Không thể không nhìn thấy sự thành công, trong vòng 13 tháng các đội ngũ bác sĩ và nha sĩ – theo thống kê – đã tiến hành một trăm năm mươi ngàn lần chữa trị. Người Philippines cố gắng lôi kéo người Việt tích cực cộng tác. Một ngôi trường hay một ngôi nhà của làng mà người dân đã xây nó hàng tháng trời thì tất nhiên là có giá trị rất nhiều hơn một ngôi nhà, với khả năng của người Mỹ và những phương tiện trợ giúp kỹ thuật của họ, đã được giao lại chỉ sau vài tuần cho người dân làng ngạc nhiên, chỉ đứng nhìn trong thời gian xây dựng. Ngoài ra, người Philippines còn biết được một yếu tố khác của sự thành công trong công việc làm ở một đất nước xa lạ; Thiếu tướng Tobias, viên chỉ huy đơn vị, viết trong một mệnh lệnh trong tháng 12 năm 1966: “Người ta biết rằng phương pháp hữu hiệu nhất để giành được tình hữu nghị và sự cộng tác của người dân chính là sự nhận diện của chính chúng ta với họ. Chúng ta phải nhấn mạnh đến sự giống nhau của chúng ta với nhân dân Việt Nam, tức là hoàn cảnh, tập quán và cách sống giống nhau. Chúng ta phải khuyến khích quân đội của chúng ta hãy tự mình quan tâm đến từng người một.”

Ngoại trừ một vài người trẻ tuổi sống với người Việt trong làng, người Mỹ ở Việt Nam, cũng như ở khắp nơi trên thế giới, có khuynh hướng khép kín họ lại trước hoàn cảnh xa lạ. Họ sống trong những vùng được rào quanh, chỉ vào những quán ăn của riêng họ hay quán ăn Âu và mua trong những cửa hàng riêng của họ, những cửa hàng mà họ thành lập ngay lập tức khi họ đóng lại ở một nơi nào đó. Họ biểu lộ rõ ràng tại mỗi một cơ hội, rằng về cơ bản họ nhìn người Việt như những người em nhỏ dại sẽ không bao giờ có thể học được cách người ta làm việc này hay điều kia như thế nào. Người Việt phản ứng rất nhạy cảm với điều đó, có lẽ là quá nhạy cảm, ngay khi họ hiếm khi để lộ ra điều đó; họ được giáo dục quá tốt để mà có thể làm như thế. Nhưng ở dưới bề mặt có một sự phản kháng chống lại tất cả những gì là Mỹ, một sự phản kháng mà cả những người Mỹ ‘tốt’ cũng hầu như không thể phá vỡ xuyên qua được. Tất nhiên là có cả những điều khác đóng một vai trò trong đó: người Mỹ thật sự lả những kẻ khổng lồ khi so với người Việt mảnh khảnh, họ sở hữu thừa thãi mọi thứ và dường như có thể đạt được đến mọi thứ, trong khi người Việt phải trông cậy vào quà tặng và tài tổ chức không thuộc vào trong những đặc tính nổi bật của họ. Họ đơn giản là phải chống cự lại lực mạnh mang tính đè bẹp của người Mỹ.

Có lẽ rồi ở Việt Nam điều đó cũng sẽ thắng thế, cái được gọi là sự Mỹ hóa. Có ý muốn nói ở đây là những cái máy hát nhạc, bao bì chân không bằng nhựa, bia lon, những vật chỉ được sử dụng một lần và các thói quen tất yếu phải gắn liền với chúng, tiêu chuẩn hóa và đơn giản hóa. Theo ý kiến của tôi thì điều đó ít có liên quan đến sự lan truyền những hiện tượng đặc trưng của Mỹ, mà là một hệ quả của mức sống đang tăng lên, trong nước nào thì cũng vậy thôi. Rạp chiếu bóng vào đến làng cùng với điện, và cùng với rạp chiếu bóng là những cuốn phim đa sầu đa cảm. Nước Mỹ lâu nay đã là đất nước có mức sống cao nhất thế giới. Nhờ khoảng cách đi trước này mà các đồ vật làm tăng thêm nữa sự tiện nghi hàng ngày của con người thường được phổ biến đầu tiên là ở trong Hoa Kỳ. Mỹ hóa về nguyên tắc không nên hiểu là cách sống từ Mỹ mà là cách sống như trong nước Mỹ. Nếu mức sống ở Việt Nam một ngày nào đó cũng mang những dấu hiệu rõ rệt của sự Mỹ hóa này thì điều đó không có nghĩa là người Việt ưa thích người Mỹ. Mối quan hệ với những người chủ trước đây của đất nước thì có khác đi. Ngay cả khi đó chỉ là một ‘đẳng cấp quan lại’, cái đã rộng mở cho ảnh hưởng của Pháp, còn nhận dạng mình trong phong tục và tập quán với nó nữa – không ít lần tôi nghe được lời phát biểu của người Việt: “Tôi nói tiếng Pháp tốt hơn là tiếng Việt” – nhưng nó lại bao gồm đại đa số giới trí thức của đất nước. Vì thế mà tôi đã hỏi người Việt: “Lý do gì mà các bạn lại đánh giá người Pháp cao hơn là người Mỹ, mặc dù người Pháp đã cai trị các bạn và người Mỹ chỉ muốn giúp các bạn thôi?”

“Người Pháp”, họ nói, “hiểu chúng tôi tốt hơn, họ đã sống với chúng tôi, sống giữa chúng tôi và đã ăn thức ăn của chúng tôi. Người Mỹ sống cách biệt với chúng tôi trong đất nước của chúng tôi và không muốn ăn thức ăn của chúng tôi.”

Điều đó có lẽ là không hoàn toàn đúng. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn nhìn thấy được ở một vài người Pháp sự kiêu căng thuộc địa mà không có người Mỹ nào có cả. Nhưng rõ ràng là người Pháp đã tạo được một ấn tượng khác, họ khéo léo hơn.

Cũng thành công tương tự như người Philippines là người Hàn Quốc ở trong vùng Quảng Ngãi, những người tuy phải chiến đấu với sự khủng bố thật đáng sợ, nhưng lại bảo đảm an ninh tuyệt đối trong vùng đất mà họ đã giật lại được từ Việt Cộng. Ngoài ra, những người lính thỉnh thoảng lại giúp đỡ nông dân trong lúc thu hoạch. Nhưng cả một dự án có ích như dự án của người Philippines có lẽ cũng sẽ bị chấm dứt quá sớm. Tướng Tobias, người mà Mary McCarthy gọi là một tuýp người giống như Yul Brynner, thuật lại cho tôi nghe trong một lần viếng thăm con tàu bệnh viện, rằng phe đối lập trong quốc hội đã tạo ra nhiều khó khăn để chống lại việc giúp đỡ Việt Nam và đơn vị này rất muốn rút về.

[…]

Một phần đã ở lại

‘Một ngày nào đó, khi đất nước này có hòa bình, tôi rất muốn quay trở lại đây’, viên phi công phụ đã nói như vậy. Cho tới chừng nào mà bạn vẫn còn bận bịu với cuộc sống hàng ngày, với sự nóng bức và với những khó khăn lớn nhỏ của công việc, thỉnh thoảng bạn lại ao ước có thể bỏ lại tất cả mọi thứ ở sau lưng và quay trở về châu Âu. Ngày trở về càng đến gần thì bạn lại càng buồn. Bất chợt, bạn nhận ra rằng những người bạn đó quý giá cho tới đâu, những người mà bạn đã có thêm được ở đất nước này, rằng bạn đã yêu quý con người ở đây cho tới đâu, mặc dù họ xa lạ tới như vậy, rằng đất nước này có ý nghĩa gì đối với bạn. Bạn bước xuống cầu tàu lần cuối cùng để đi ra phi trường. Con tàu bệnh viện, đối tượng của nhiều lo lắng và nguyên nhân của nhiều thất vọng cũng như của nhiều khoảng khắc vui mừng, nằm lại cạnh Quai Belgique, được buộc chặt ở đầu và đuôi tàu với ba sợi dây thừng ở mỗi nơi, cái bến tàu mà được giới nhà báo thích gọi là bến tàu của những người nổi tiếng, vì trong thời xưa cũ tốt đẹp, thật sự là chỉ có những chiếc tàu nổi tiếng nhất trong số những chiếc tàu vào đây mới được thả neo ở đó. Cho tới khi con tàu bệnh viện đến trong tháng 9 năm 1966, chủ yếu là vật liệu chiến tranh nặng được bốc dỡ ở đây, cạnh một trong số ít các bến tàu bằng bê tông vững chắc.  Chúng tôi đã nói đùa, rằng chỉ riêng việc chúng tôi làm cản trở việc đó với con tàu bệnh viện, chúng tôi đã giúp cho Việt Cộng nhiều hơn là cho người Mỹ.

Bạn đi ngang qua trạm canh gác của cảnh sát, kiểm soát lối lên tàu bệnh viện. Các viên cảnh sát đã xây một cái gì đó giống như một cái kiosque bằng ván và tôn với một cái bàn ở giữa mà họ ngồi đó để mơ mộng hay tán gẫu với nhau, nếu như không đang câu tôm với những sợi dây mỏng và lưỡi câu tự tạo. Vì gỗ trôi giạt và thân cây dừa được nước đưa đẩy tới đã tụ tập lại thành rác ở cạnh những cây cột của bến tàu bê tông và giữa con tàu nằm yên lâu dài một chỗ và các thanh ngang của bến tàu. Lúc thủy triều lên và thủy triều xuống lúc nào cũng kẹt lại ngay cả khi người ta thường dùng cây sào dài để dọn đi. Mớ lộn xộn đó thu hút tôm, và các con tôm thu hút những người cha gia đình trong số các cảnh sát. Họ tựa súng của họ vào một cây cột hay đặt khẩu súng ngắn kiểu cao bồi của họ xuống mặt đất và câu từ giờ này qua giờ khác, quên cả thế giới xung quanh.

Hai sĩ quan cảnh sát thay phiên nhau chỉ huy trạm gác này.Một người thì thấp bé và gầy gò, hôi hám và bất lịch sự, có lẽ cảm thấy không tự tin, gây khó khăn cho các nhân viên người Việt của chúng tôi và phản ứng một cách bướng bỉnh và khó gần khi người ta muốn điều gì ở ông. Người kia cao lớn hơn và mập mạp hơn, một người câu cá không biết mệt, lúc nào cũng có sẵn một nụ cười thân thiện và dễ gần khi người ta nói chuyện với ông. Nếu như ông ngồi ở cạnh cái bàn hình chữ nhật trong trạm gác thì ông không bỏ qua cơ hội, đứng dậy và cười tươi giơ tay chào khi bạn đi ngang qua. Lần cuối cùng này cũng vậy.

Giao thông tiếp tế trên bến Bạch Đằng vẫn chạy đi như thường lệ. Xe tải, xe Jeep, xe bồn trong cả hai hướng hầu như không để lại một khoảng trống nào. Bạn đi ngược đường Tự Do, con đường mà vào chiều tối bạn rất không muốn đi dọc theo nó, vì cứ năm thước một thì bất cứ khách bộ hành nào cũng bị thúc ép bởi những câu mời mọc như ‘wanna young girl’ hay ‘wanna change money’ hay chỉ với ‘scooter, mister’ từ những người lái Vespa và Lambretta làm tắc xi lậu.

Khách sạn Caravelle, ngôi nhà Quốc Hội và Nhà hát Thành phố trước đây, khách sạn Continental với hàng hiên đã trở nên nổi tiếng nhờ Graham Green ở lại phía sau trong giao thông giờ cao điểm. Giao thông từ cạnh ngôi nhà thờ đã trúng đạn pháo Việt Cộng đổ xuống đại lộ Thống Nhất rộng lớn, con đường đẹp.

Ở đường Pasteur, ô tô lại chen nhau. Ở phía kia, bên kia của đường Công Lý song song, ngôi dinh thự hùng vĩ màu vàng nhạt nằm ở phía sau hàng rào cao bằng sắt và công viên, ngôi dinh thự mà tướng Kỳ và những người đồng mưu đã ném bom Tổng thống Diệm. Lúc đó, Diệm đã thoát được qua một lối đi dưới mặt đất; sau này, Kỳ đã cho sửa chữa các hư hại do bom gây ra, để tự cầm quyền trong dinh của Diệm. Vào lúc bảy giờ rưỡi tối, một chiếc trực thăng đón ông từ mái của dinh thự, chiếc máy bay trực thăng duy nhất được phép đáp xuống trong khu vực của thành phố. Lính trong quân phục duyệt binh với nón bê rê xanh và khăn quàng cổ đỏ đứng nghiêm canh gác trước cổng.

Nếu bạn phải chờ ở đèn giao thông, mồ hôi sẽ chảy ròng ròng xuống thân thể bạn, và ở cạnh cơ quan hành chánh Mỹ, gần Viện Pasteur với người giám đốc cứ cười suốt của nó, hàng xe ở bên trái cũng lại kẹt như thường lệ, vì, như thường lệ, có ai đó muốn chỉnh chiếc ô tô của mình để lái qua cổng vào.

Ở cuối đường Pasteur, đoạn ngắn đầy ổ gà của đường Hiền Vương dẫn qua đường Công Lý, liên kết duy nhất và quá tải một cách tuyệt vọng giữa phi trường và trung tâm thành phố. Xe tải, xe buýt, xe Jeep, xe tư nhân, xe xích lô máy, xe gắn máy và xe đạp lộn xộn đan vào nhau trong cả hai hướng.

Phi trường được bao quanh bởi một vòng đai an ninh rộng, cổng vào được canh gác nghiêm ngặt. Người Việt chỉ được phép vào với thẻ đặc biệt hay với một vé máy bay; người da trắng thường được phép lái xe qua mà không bị chận lại, vì có ai đã từng nghe nói về một người Việt Cộng da trắng? Ở cạnh cổng chận thứ nhì cũng có cả quân cảnh Mỹ gác cùng với người Việt, nhưng tất cả những điều đó đã không ngăn chận được lần Việt Cộng đã cho nổ nhà ga hành khách của phi trường năm 1965.

Hiện giờ thì nó đã được xây dựng lại. Công việc làm thủ tục đăng ký bay nổi bật với sự thiếu thốn về tổ chức đặc trưng cho đất nước này; dòng người xếp hàng trước quầy đăng ký bay rất dài. Bên cạnh đó còn những hàng lính Mỹ dài hơn, những người kiên nhẫn chờ chuyến chở họ đến các Trung tâm R và R, có lẽ còn là chuyến bay trở về nhà nữa. Các cô gái trong chiếc áo dài màu xanh lá mạ, trang phục quốc gia đã trở thành đồng phục của Air Vietnam, che dấu sự bất lực và tính hay đùa nghịch đáng yêu của họ ở phía sau sự uy quyền không thân thiện. Hàng thứ nhì, làm thủ tục hộ chiếu, đang lộn xộn vì chỉ trạm kế tiếp, thủ tục ngoại tệ, là có người. Các nhân viên làm thủ tục hộ chiếu đã cùng nhau đi ăn trưa và người ta cũng không trông mong là họ sẽ nhanh chóng trở về. Không sao cả, vì Air Vietnam đã hoãn chuyến bay của họ, như lệ thường, ba giờ đồng hồ. Bạn mời những người đi cùng với bạn uống Coca-Cola với những đồng bạc cuối cùng, và các bạn bước trên cầu thang lên tầng một. Quạt máy tạo những làn sóng nhỏ trên những vũng nước ở trên bàn, ghế dính chặt, góc nhà được làm tròn bằng bụi bặm. Có những người phụ nữ già, có thẻ đặc biệt lủng lẳng ở trước ngực, dịch chuyển những cây chổi quét nhà khổng lồ, cũng như ở dưới nhà ga. Qua các tấm kính mờ đục, một phần đã vỡ, bạn nhìn xuống nơi đỗ đầy những chiếc máy bay đủ mọi kiểu. Hết chiếc máy bay vận tải này đến chiếc khác đáp và cất cánh ở các đường băng, hiếm có một chiếc máy bay dân sự, như mỗi ngày hai lần là một chiếc Boeing 707 của Pan American hay Air France.

Ở bên kia của nơi kiểm tra hộ chiếu và hải quan, bạn có cảm giác như là đã ở ngoài đất nước này rồi, đất nước mà bạn đã ở đó trong một khoảng thời gian ngắn của cuộc đời bạn. Sự dơ bẩn, sự cọ xát không thể nào tránh được với đám đông, thiếu thốn một tài năng tổ chức, bất lực trước lối làm việc và suy nghĩ có hệ thống của chúng ta – mà theo ý của chúng ta là chỉ chúng mới hứa hẹn mang lại thành công –, được bù trừ qua uy quyền lấn át và lối đối xử tự tin; người châu Á, và trong số họ nhất là người Việt Nam nhạy cảm, hết sức thông minh, với khả năng tiếp nhận những khác biệt tinh tế và sắc thái trí tuệ hết sức đặc biệt, chắc phải xem người da trắng – người Mỹ còn nhiều hơn người Âu – với tính thẳng thắn thô lỗ và cứng nhắc về trí tuệ của họ, với văn hóa đã bị làm cho thô kệch đi bởi nền văn minh và các ngôn ngữ không có âm điệu của họ, với kỹ thuật đơn giản hóa của họ và với sự tiêu phí vật chất thường hết sức khó hiểu cho tiện nghi cá nhân, như là những người quê mùa và thô lỗ, phi văn hóa. Và thỉnh thoảng họ còn ít cố gắng hơn cả người da trắng, để bắc cầu qua cái hố sâu đó ở giữa các dân tộc.

Cái nóng bức và ẩm thấp đè nặng lúc nào cũng có, tiếng ồn ào và những con chuột, côn trùng, gián, những bộ quần áo comlê nổi mốc ở trong tủ, những cơn tiêu chảy có chu kỳ, những viên cảnh sát thích ra oai đều là quá khứ. Tất cả những cái đó, những cái mà bạn phải khổ cực chịu đựng trong cuộc sống hàng ngày, mặc dù bạn đã cố gắng làm quen với tính nhẫn nại và tự chủ không thể nào tốt hơn được nữa của châu Á, dường như có ranh giới của chúng ở quầy hải quan của phi trường và đã ở lại với tiếng dập con dấu xuất cảnh. Trong vài giờ nữa, bạn sẽ đáp xuống ở Hongkong, Tokio, Sydney hay Paris trong thế giới của nền văn minh sạch sẽ, có quy củ, với những khách sạn tiện nghi, lướt đi trong taxi trên con đường nhựa phẳng phiu, ở giữa những con người không lo lắng, mặc đẹp. Bất thình lình bạn sẽ nhận ra, rằng bạn lại tự do và ngẩng đầu đi qua những con đường hẹp như thế nào, vì không còn mối nguy hiểm đó nữa, có cái gì đó nổ ở đâu đó.

Có những lần nào đó bạn đã ao ước nhìn theo những người ra đi và ước mong bạn là người đó. Bây giờ thì nỗi buồn của lần chia tay lớn hơn là niềm vui có nền văn minh. Mặc cho tất cả, bạn đã nhận đất nước tan nát này vào trong lòng của bạn và đã yêu nét đẹp của nó bên cạnh những diện tích cháy đen, những ngôi nhà bị bắn nát, những cái hố trên đường đi, những chướng ngại bằng bao cát và những hàng rào dây kẽm gai. Bạn đã yêu con người của dân tộc bị hành hạ này, những người nông dân bình thản và những người phu gân guốc, những người bán hàng nhiều mưu mẹo và những người đánh cá yêu tự do, những chàng trai trẻ tuổi yêu thơ ca và những cô gái trẻ đẹp với dáng yêu kiều không thể nào bắt chước được của họ, những người khốn cùng, những người bị thương và vô số trẻ mồ côi.

Bạn đã bỏ lại một phần của bạn. Partir, c’est mourir un peu [Ra đi là chết ở trong lòng một chút], những người bạn Pháp nói với tôi lúc từ giã, sau khi bạn hẹn gặp họ ở châu Âu trong kỳ nghỉ phép kế tiếp, và thật ra thì cho tới lúc ra đi chẳng còn điều gì nữa ngoài việc buồn bã nhớ lại.

Những người bạn Việt ở lại với một câu nói mơ hồ ‘một ngày nào đó ở đâu đó’, vì họ ở nhà trong chiến tranh. Chính bạn có chiếc chìa khóa cho cánh cửa đi vào hòa bình, cái hộ chiếu của một đất nước có hòa bình. Tiếng nói khàn khàn từ loa gọi chuyến bay, chỉ hiểu được ‘Hongkong’. Bạn đi cái đoạn ngắn đó trên nhựa đường đã mềm ra đến máy bay. Bạn rời đất Việt Nam trên cái cầu thang bằng kim loại.

Vì bạn là bác sĩ, bạn đã hổ thẹn một chút vì đã rời Việt Nam, nơi con người đang cần mỗi một bác sĩ đến như vậy./.

Sách đã được phát hành trên Amazon: http://www.amazon.com/dp/B00EPBTGZA

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s