Kết cuộc của Ngô Đình Diệm

Thật ra, trong mùa hè năm 1963 đã có nhiều khả năng để dàn xếp một cách hòa bình cuộc nội chiến ở Nam Việt Nam. Cú sốc của cuộc Khủng hoảng Cuba hồi tháng Mười 1962, mà trong diễn tiến của nó thế giới đã đứng ở rìa của một cuộc chiến tranh hạt nhân, và các kho vũ khí hạt nhân đáng sợ của Mỹ và Xô viết, mà khả năng hủy diệt của chúng được gọi là MAD (mutually assured destruction, bảo đảm hủy diệt lẫn nhau), đã chuẩn bị nền tảng cho một giai đoạn xuống thang đầu tiên giữa hai cường quốc. Sau khi thành lập một “đường dây nóng” giữa Washington và Moscow, và sau khi Kennedy chính thức công nhận công lao của Xô viết trong Đệ nhị Thế chiến trong tháng Sáu 1963, Hoa Kỳ, Liên bang Xô viết và Liên hiệp Anh đã ký kết một hiệp định ngưng thử bom nguyên tử, không cho phép thử bom nguyên tử trong khí quyển, dưới nước và trong vũ trụ. Trong khi các quan hệ Xô viết – Hoa Kỳ được cải thiện thì nhiều vết rạn nứt lại xuất hiện trong nội bộ các bên. Khi Bắc Kinh lên án gay gắt chính sách Hoa Kỳ của Khrushchev và phát triển một quả bom nguyên tử ngược lại với ý muốn của Moscow, Liên bang Xô viết rút các cố vấn kỹ thuật và quân sự cuối cùng của họ ra khỏi Trung Quốc. Cùng với lần bùng nổ xung độ vũ trang đầu tiên ở biên giới, mối quan hệ của hai cường quốc cộng sản tạm thời xuống thấp. Nhưng cả trong liên minh Phương Tây cũng có căng thẳng bộc phát. Chán ngán vai trò lãnh đạo của Mỹ, Tổng thống Pháp Charles de Gaulle tuyên bố nước Pháp sẽ rút lui ra khỏi cấu trúc quân sự của NATO. Kỷ nguyên của tính lưỡng cực qua đó đã chấm dứt. Điều này mang lại cho cả hai siêu cường quốc cơ hội để vứt bỏ một vài gánh nặng của cuộc Chiến tranh Lạnh mà không bị mất uy thế. Trước bối cảnh đó, nhiều nhân viên hàng đầu của Bộ Ngoại giao, ví dụ như người đàm phán cho Lào Averell Harriman hay đại sứ Galbraith đã ủng hộ cho một phiên bản mới của Hội nghị Đông Dương 1954 hay của Hội nghị Lào 1961/1962. Cả de Gaull cũng bước ra công chúng trong tháng Tám 1963 với lời yêu cầu hãy chấm dứt cuộc xung đột Việt Nam một cách hòa bình ở cạnh bàn đàm phán.

Xe tăng của quân đảo chánh trước Dinh Gia Long (03/11/1963)
Xe tăng của quân đảo chánh trước Dinh Gia Long (03/11/1963)

Continue reading “Kết cuộc của Ngô Đình Diệm”

Cuộc tranh giành quyền lực đã ngã ngũ

Thủ tướng sắp về hưu của Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng sẽ không đạt được mục tiêu của ông, tiếp nhận lấy quyền lãnh đạo Đảng.

Tất cả các dấu hiệu đều cho thấy rằng cuộc tranh giành quyền lực đầy tính bi kịch giữa Tổng Bí thư cho tới nay của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), Nguyễn Phú Trọng, và đối thủ của ông, người sếp chính phủ cho tới nay Nguyễn Tấn Dũng, đã ngã ngũ: Tổng Bí thư Trọng là người chiến thắng.

Vào tối thứ hai đã có thể thấy rằng Thủ tướng Dũng còn đương nhiệm sẽ không còn đứng trên danh sách ứng cử chính thức cho Trung ương Đảng. Qua đó, con đường đi đến vị trí đứng đầu Đảng của ông đã bị ngăn chận. Vì Bộ Chính trị, mà rồi người tổng bí thư được chọn ra từ đó, được quyết định từ 180 thành viên của Ban chấp hành Trung ương. Dũng đã từ bỏ khả năng cuối cùng, nhờ vào sự hỗ trợ của 1500 người tham dự Đại hội Đảng 12 mà đưa tên mình vào danh sách.

Nguyễn Tấn Dũng và đối thủ của ông, Nguyễn Phú Trọng
Nguyễn Tấn Dũng và đối thủ của ông, Nguyễn Phú Trọng

Continue reading “Cuộc tranh giành quyền lực đã ngã ngũ”

Cuộc Khủng hoảng Phật giáo

Ngày Phật Đản lần thứ 2527, ngày 8 tháng Năm năm 1963, đánh dấu thời điểm bắt đầu kết thúc mối liên kết “đối tác có giới hạn” giữa Hoa Kỳ và Ngô Đình Diệm. Ở Huế, nơi mà trong những ngày trước đó còn có nhiều lá cờ của Tòa thánh Vatican được treo lên để vinh danh Tổng giám mục Ngô Đình Thục, người anh của Diệm, người Phật giáo bây giờ treo cờ của họ lên, để mừng một cách xứng đáng người sáng lập ra tôn giáo họ. Việc treo cờ, ngoại trừ lá cờ quốc gia Nam Việt Nam, nói chung là bị cấm, nhưng điều gì mà người Công giáo không bị từ chối thì người Phật giáo cũng không để cho người ta tước đoạt. Diệm, người cũng nhận ra được chiều hướng chính trị của việc hành lễ Phật giáo, quyết định thi hành đúng luật pháp với mọi sự cứng rắn: nhóm quân đội tinh nhuệ của ông nổ súng vào đám đông, chín người chết. Lời tuyên bố của Diệm, trách nhiệm cho những phát súng đó thuộc về MTDTGP, không thể thuyết phục được ai, và hai ngày sau đó hàng chục ngàn người Phật giáo đã kéo nhau đi biểu tình trên các con đường của thủ đô các hoàng đế trước đây. Diệm lại tiến hành các biện pháp mạnh một cách không khoan nhượng; những người đứng đầu của Phật giáo bị bắt giam và các ngôi chùa quan trọng nhất bị quân lính bao quanh. Vào ngày 11 tháng Sáu, nhà sư 66 tuổi Quảng Đức đã tự thiêu trước máy quay phim ngay trên một ngã tư trong trung tâm thủ đô để phản đối Diệm. Bắt đầu từ khoảnh khắc đó, không còn có thể ngăn chận cuộc phản đối chống Diệm của những người Phật giáo được nữa. Sinh viên tham gia vào những cuộc biểu tình, và trong quân đội cũng sôi sục. Bà Nhu, phu nhân của Ngô Đình Nhu, đổ dầu vào lửa khi gọi cuộc tự thiêu đó là “barbecue”, và hứa sẽ tặng xăng và diêm quẹt cho bất kỳ ai muốn làm theo Quảng Đức. Cuối cùng, vào ngày 21 tháng Tám, các đơn vị tinh nhuệ của Nhu tổ chức một cuộc bố ráp, bắt giam 14.000 sinh viên, người Phật giáo và những người đối lập khác. Việt Nam Cộng Hòa rơi vào trong cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử non trẻ của nó.

Huế, 1963
Huế, 1963

Continue reading “Cuộc Khủng hoảng Phật giáo”

Chiến lược chống chiến tranh du kích thất bại

Ở Việt Nam, chiến lược “Flexible response” cần phải được tiến hành trong cuộc chiến tranh chống du kích (counterinsurgency). Đứng ở đằng sau đó là kết hợp của nhiều biện pháp và phân tích về quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội mà tiền đề quan trọng nhất của chúng là chỉ có thể chống lại phong trào kháng chiến cộng sản  bằng một chiến lược tổng hợp chứ không chỉ bằng phương tiện quân sự. “Counterinsurgency” có nghĩa là một phản ứng linh hoạt, từng bước một trên ba bình diện. Bước 1 dự định bảo vệ làng mạc Việt Nam qua quân đội. Nếu như những làng mạc đó không còn nằm trong tay của MTDTGP nữa, thì có thể bắt đầu với bước 2: xây dựng một nền hành chánh địa phương có năng lực, không tham nhũng. Khi nền hành chánh này bám rễ và giành được thiện cảm của người dân làng thì có thể khởi động bước 3 – cải thiện các điều kiện sống về mặt vật chất. Tiếp nối theo nhau, ba bước này có nhiệm vụ tước đi các phương tiện và khả năng của MTDTGP và xóa bỏ cơ sở làng mạc của phong trào kháng chiến. Trên lý thuyết, qua đó Hoa Kỳ cũng có một phương án tương tự như chiến lược của MTDTGP, tích hợp các phương diện quân sự, chính trị và kinh tế; thế nhưng trên thực tế đã có thể nhanh chóng nhận thấy rằng giới quân đội Mỹ không có ý muốn lẫn khả năng để tiến hành một cuộc chiến tranh khác với thông thường. Đối với phần lớn giới quân đội, “counterinsurgency” chỉ là một trò chơi trí thức của những người “giỏi giang nhất và thông minh nhất”. Đối với MACV, mang tính quyết định không phải là các quan điểm chính trị, hệ tư tưởng hay xã hội-kinh tế, mà là hỏa lực.

Ấp Chiến lược Thanh Trì
Ấp Chiến lược Thanh Trì

Continue reading “Chiến lược chống chiến tranh du kích thất bại”

Washington quyết định hướng đi

Với sự thất bại trong hoạt động chống Cuba của CIA và với những cuộc đàm phán về Lào, Việt Nam đạt tới một tầm quan trọng to lớn đối với chính phủ Kennedy. Washington muốn ngăn chận không cho trung lập hóa đất nước theo gương mẫu của nước Lào khó đi lại và không quan trọng. Điều này phù hợp với chiến lược của Kennedy cũng như với mối liên hệ đặc biệt của ông với Việt Nam như là thành viên của “American Friends of Vietnam”, và với những tiền đề cho đối ngoại của các cố vấn thân cận nhất của ông. Phe Cộng hòa đối lập còn nghi ngại ít hơn nữa về những mối liên kết tới Nam Việt Nam đã được thiết lập dưới thời Eisenhower. Về mặt đối nội, họ khai thác triệt để lần thảm bại ở Cuba và lên án Kennedy rằng ông muốn bán đứng lợi ích Mỹ với lần trung lập hóa Lào. Dưới những tiền đề như vậy, các nhà phê phán chính sách Việt Nam của Mỹ trong nội bộ chính phủ, ví dụ như đại sứ quán ở Ấn Độ, John Kenneth Galbraith, đã không được lắng nghe. Cả một disengagement [thoái lui] lẫn một sự trung lập hóa Việt Nam ở bàn đàm phán đều không phải là một lựa chọn thực tế cho chính phủ Kennedy. Việc loại trừ các lựa chọn khác này đã ngăn chận một thảo luận thấu đáo về nguyên nhân và mục đích cho hoạt động của Mỹ ở Nam Việt Nam. Sau này nhìn lại, McNamara nhận định rằng: “Chúng tôi đã bỏ lỡ cơ hội để đưa ra năm câu hỏi quan trọng nhất cho chúng tôi: Nam Việt Nam sụp đổ sẽ kéo theo việc mất toàn bộ Đông Nam Á, điều này có đúng không? Điều đó có là một mối đe dọa nghiêm trọng cho nền an ninh của Phương Tây hay không? Một cuộc chiến tranh loại nào – thông thường hay du kích – sẽ diễn ra? Chúng ta có thể chiến thắng nó với quân đội Mỹ cùng chiến đấu với quân đội Việt Nam hay không? Không phải là chúng ta phải biết câu trả lời cho tất cả những câu hỏi này trước khi chúng ta quyết định gởi quân đội sang hay sao?”[1]

Phó Tổng thốngLyndon B. Johnson gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm trong Dinh Độc Lập, tháng Năm 1961
Phó Tổng thốngLyndon B. Johnson gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm trong Dinh Độc Lập, tháng Năm 1961

Continue reading “Washington quyết định hướng đi”

Dresden, cái đó

Khi những chiếc xe buýt chở khách du lịch nằm cạnh nhau như những con thú lớn đang ngủ đứng về ban đêm, khi những người bồi bàn đếm tiền boa và một dòng chảy về nhà bắt đầu xuất hiện trong những ngõ hẻm quen thuộc thì đã nửa đêm. Gót giày gõ lách cách, chào và tạm biệt. Rồi trở nên yên lặng.

            Tôi đứng trong bóng tối của một cổng nhà. Trong hầm tránh đạn của pháo đài, buổi liên hoan toàn công ty trước Giáng Sinh của một thương hiệu rượu mạnh được ưa chuộng vừa chấm dứt, nhiều nhóm người vui vẻ trào ra, khoác vai nhau, quạ kêu trên cây trơ trụi, có lẽ chỉ là quạ Siberia đang trên đường đi, và trước một quán rượu mang vẻ Australia nhiều người Anh trẻ tuổi đang cãi nhau về khác biệt giữa những buổi tiệc ở Siberia và ở Moscow.

Dresden về đêm. Hình: Wikipedia
Dresden về đêm. Hình: Wikipedia

Continue reading “Dresden, cái đó”

Kennedy và “Ranh Giới Mới”

Cùng với lần John F. Kennedy nhậm chức trong tháng Giêng 1961, một thế hệ mới đã bước lên đứng đầu Hoa Kỳ. Không chỉ người Tổng thống 41 tuổi mới trẻ trung, năng động và lạc quan, mà cả phần lớn các cố vấn của ông, những “người giỏi giang nhất và thông minh nhất” (The Best and the Brightest), cũng vậy – người em của ông Robert Kennedy; cố vấn an ninh McGeorge Bundy, từng là trưởng khoa của Đại học Harvard; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert S. McNamara, cựu giám đốc Ford Motor Company; cũng như người cộng tác thân cận, nhà kinh tế học Walt W. Rostow, sử gia Harvard Arthur M. Schlesinger, Jr. và luật sư cũng như người viết diễn văn Theodore C. Sorensen. Vì chính Tổng thống muốn định đoạt chính sách đối ngoại nên ông đã chọn người tương đối không có gì đặc sắc là Dean Rusk để làm bộ trưởng. Ông bổ nhiệm Tướng Maxwell D. Taylor làm cố vấn quân sự đặc biệt, người mà dưới thời Eisenhower đã từ chức tham mưu trưởng lục quân để phản đối “New Look”.

Tổng thống Kennedy với Dean Rusk và   Robert S. McNamara
Tổng thống Kennedy với Dean Rusk và Robert S. McNamara

Continue reading “Kennedy và “Ranh Giới Mới””