Từ theo cộng đến chống cộng (37): Làm báo Lao Động Mới

Ngày 1 tháng 5 năm 1975 tôi nhận được quyết định vào Sài Gòn để thành lập tờ báo của Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam. Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức đoàn xe đưa tất cả các cán bộ do công đoàn quản lý cùng đi, nhưng dềnh dàng mãi mất một tuần mà vẫn chưa được lên đường. Tôi và anh Nguyễn Văn Minh chánh văn phòng Nhà xuất bản Lao Động được gọi vào đoàn tuyên huấn báo chí do anh Nguyễn Linh phó giám đốc Nhà xuất bản Sự Thật làm trưởng đoàn và được đi bằng chiếc máy bay L19 của chủ tịch tôn Đức Thắng. Máy bay hạ cánh khi Tân Sơn Nhứt còn nhiều đụn khói. Chúng tôi được đưa vào nghỉ ở hội trường của Bộ Thông tin Chiêu hồi trên đường Hiền Vương. Hôm sau Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam đến đón tôi và anh Nguyễn Văn Minh nhưng anh Minh không chịu đi và anh được trưởng đoàn Nguyễn Linh giữ lại cho Cục Xuất bản của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục. Ông Nguyễn Hộ chủ tịch Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam phân công ông Đặng Mai ủy viên Ban Thường vụ Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam làm chủ nhiệm báo, anh Nguyễn Văn Nhã cán bộ tuyên huấn Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam làm trưởng ban biên tập tờ báo, tôi làm ủy viên phụ trách nội dung tờ báo, anh Nguyễn Hồng Hiển làm ủy viên quản trị tờ báo. Ông Đặng Mai phát biểu: “Tôi không biết gì về công việc làm báo. Anh Tư Nhã được phân công làm trưởng ban cũng chỉ vì anh từng phụ trách báo tường của cơ quan, chớ cũng không biết gì về báo chí đâu. Hay anh đã làm báo ngoài Bắc, mọi việc anh cứ chủ động, chỉ khi có việc không giải quyết được mới phải hỏi anh Nhã và tôi”. Anh Hiển và tôi vui vẻ nhận việc vì đã biết câu “nhất trụ, nhì tù, tam khu, tứ kết” (hồi này cán bộ được phân loại theo bốn bậc tin cậy để sử dụng, cất ngắc: bậc nhất là cán bộ trụ lại nằm vùng; thứ hai là người từng bị địch bắt bỏ tù; thứ ba là cán bộ ở R rừng chiến khu; thứ tư là cán bộ tập kết từ miền Bắc trở về).

Từ theo cộng đến chống cộng

Từ theo cộng đến chống cộng

Tiếp tục đọc

Advertisements

Từ theo cộng đến chống cộng (36): Chủ nghĩa lý lịch quật ngã ông thường vụ tỉnh ủy

Là phóng viên báo Lao Động, tôi quen thuộc với trụ sở công đoàn các tỉnh như cơ quan mình. Tôi đến Liên hiệp Công đoàn Nam Định nhiều hơn vì tỉnh này có nhà máy dệt, nhà máy tơ có hàng vạn công nhân. Đặc biệt ông Lê Quốc Tế, chủ tịch Liên hiệp Công đoàn Nam Định là một người nắm rất chắc tình hình các cơ sở, nghe ông kể đã thấy hiện ra trong đầu tôi bao nhiêu đề tài hấp dẫn. Cán bộ, nhân viên cơ quan rất khâm phục và quý mến ông chủ tịch của mình, họ kể với tôi nhiều chuyện xuất quỷ nhập thần của ông trong thời chiến tranh chống Pháp. Ông nhiều lần hóa trang như người thợ sửa chữa máy thâm nhập vào thành phố Nam Định dày đặc lính Tây. Trong thời hòa bình xây dựng, ông phát hiện rất nhanh những điển hình xuất sắc trong lao động sản xuất. Trong đợt bầu chọn anh hùng lao động năm 1967, có nhiều cán bộ lãnh đạo trong tỉnh ủy Nam Định không đồng ý chọn Đào Thị Hào vì lý do lý lịch. Vấn đề khó chấp nhận nhất đối với những đảng viên Cộng sản là gia đình bà Đào Thị Hào nhiều đời theo đạo Công giáo. Anh ruột của Hào từng là lính của thực dân Pháp, nay đang là thợ cắt tóc. Ông Lê Quốc Tế phản bác rất quyết liệt quan điểm quy chụp về lý lịch nói trên. Ông bảo họ, không ai chọn gia đình sinh ra mình, phải đánh giá con người ở cách sống, việc làm hiện tại đóng góp lợi ích cho cộng đồng, cho đất nước ra sao. Dù là anh em ruột, mỗi người chịu trách nhiệm về hành động của cá nhân mình. Đối với người anh của Hào, xã hội cũng chỉ nên bỏ qua quá khứ, chỉ quan tâm đến cách sống và việc làm của anh ta hiện nay. Thợ cắt tóc là một nghề lương thiện, có ích.

Từ theo cộng đến chống cộng

Từ theo cộng đến chống cộng

Tiếp tục đọc

Từ theo cộng đến chống cộng (35): Hôn nhân theo “quan điểm lập trường”

Chị Phan Dung, trưởng phòng tổ chức của báo Lao Động là một người đẹp, vậy mà chị hay kể, mỗi lần lên làm việc ở cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động, trước khi ra về chị thường đến bên cửa sổ phòng hành chính để ngắm cô Toan: “Chao ơi, người sao mà đẹp đến thế chứ!” Nhiều lần nghe chị Dung trầm trồ như thế, nhà thơ Thái Giang tò mò đi tìm “ngắm”, rồi bảo tôi “Cậu định nghĩa thế nào là một người đẹp?” Tôi đáp, ta mượn lời cụ Nguyễn Du vậy: “Làn thu thuỷ nét xuân sơn…” Thái Giang không chịu, anh hắng giọng “Người đẹp là người khi đã bảy con mà tuổi trẻ của ta chỉ mong được quỳ mọp dưới chân người!” Nghe nói, các bạn đại học của con trai chị Toan khi đến chơi đã ngẩn ngơ trước sắc đẹp của bà mẹ bạn mình! Lứa cán bộ thời Cách mạng tháng Tám kể: Năm 1945, ông Bùi Thủy là trưởng ty công an tỉnh Phú Thọ. Thời cách mạng 1945 trong hàng ngũ Việt Minh, công an là “oách” nhất. Ông hơi lùn, gầy gò, đã đen nhẻm. Thời ấy, cán bộ đảng viên rất dị ứng với người theo đạo Công giáo. Phía bà con Công giáo cũng tự biết mình đang bị “cách mạng” định kiến, phải luôn e dè, tự giữ mình. Cô Toan xinh đẹp sinh ra trong gia đình giàu có theo công giáo nhiều đời. Người ta nói những người sùng đạo kính Chúa, sinh con gái sẽ rất giống Đức Mẹ. Đó là cái đẹp của cô Toan. Giữa lúc cô đang được nhiều chàng trai tuấn tú ngấp nghé thì ông trưởng ty công an Bùi Thủy xuất hiện và tỏ tình. Cô rất lo sợ, vì không hề yêu mà không dám từ chối. Bà con, bạn bè trong họ đạo đang sống trong tâm trạng lo âu đều cho rằng cô và gia đình đã gặp may. Cô bị một mạng lưới của những toan tính cơ hội bủa vây, cuối cùng phải chịu đầu hàng số phận. Điều này phía những người cộng sản gọi là “đầu hàng giai cấp”. Khi Bùi Thủy báo cáo xin cưới cô Toan thì cả chi bộ phê bình hết sức nghiêm khắc: “Đồng chí là đảng viên, cán bộ lãnh đạo ngành công an, cơ quan chuyên chính của giai cấp, tại sao lại xin lấy vợ là tín đồ Thiên Chúa?” Đảng viên Bùi Thủy đã khóc nấc tại chi bộ. Ông làm đơn xin chuyển công tác sang “cơ quan đoàn kết dân tộc” là Mặt trận Việt Minh để được cưới một tín đồ Công giáo, sau đó xin cho vợ vào làm nhân viên của Công đoàn. Dù là ủy viên ban chấp hành tổng cộng đoàn, nhưng Bùi Thúy đen đúa, xấu xí so với cô vợ quá xinh đẹp nên luôn bị xầm xì là “đôi đũa lệch”. Những chàng khảo sát vây quanh chị Toan do đó lúc nào cũng có chuyện đồn thổi rằng chị đang lén lút với người này người nọ. Ông Bùi Thủy chỉ còn biết đối phó bằng cách cho vợ đẻ năm một!

Từ theo cộng đến chống cộng

Từ theo cộng đến chống cộng

Tiếp tục đọc

Từ theo cộng đến chống cộng (34): Gặp ba nhà văn bị vùi dập

Tôi gặp nhà văn Hà Minh Tuân ngay sau khi ông bị lâm nạn năm 1962. Bạn tôi, anh Trần Dũng Tiến nguyên là cảm tử quân Hà Nội năm 1946, phụ trách công tác tuyên truyền thi đua của nhà máy gỗ Hà Nội ở bến Chương Dương, gần bãi sông Hồng. Tôi đến nhà máy gặp anh Tiến tìm tài liệu viết báo và nhân đó xin mua gỗ vụn làm củi đun bếp. Anh Tiến cho biết, ông Hà Minh Tuân vừa bị cách chức giám đốc Nhà xuất bản Văn học, đang lao động cải tạo ở đây. Công việc của ông là khuân gỗ dưới bến sông Hồng xếp lên xe hai bánh, kéo xe về, xếp gỗ vào kho nhà máy. Lúc giải lao giữa ca, anh Tiến mời ông vào văn phòng uống nước, trò chuyện với chúng tôi. Ông hơn tôi một giáp, hoạt động cách mạng từ năm 1943, tham gia Khởi nghĩa Tháng tám ở Hà Nội, rồi vào bộ đội lên đến chính ủy trung đoàn, sau tiếp quản Hà Nội được bổ nhiệm làm giám đốc đầu tiên của Nhà Xuất bản Văn học. Nếu ông cứ chuyên tâm vào việc “gác cổng chính trị” như các vị giám đốc khác thì hẳn đã leo lên cấp vụ, cấp bộ rồi, hoặc ít nhất cũng được yên vị tới lúc hưởng lương hưu. Nhưng do có máu mê văn chương, năm 1957 ông biết quyển “Trong lòng Hà Nội”, năm 1960 ông viết “Giữa hai trận tuyến”. Cả hai tác phẩm đều được đánh giá “đã đóng góp xuất sắc cho nền văn học xã hội chủ nghĩa”. Ông hăm hở viết một tác phẩm không né tránh, không bóp méo hiện thực, từng trang nóng bỏng hơi thở cuộc sống, có tựa đề “Vào Đời”, một bài học cho lớp trẻ trong giai đoạn mới. Quyển sách vừa xuất bản thì lập tức bị “ăn đòn hội chợ” của các nhà phê bình nhân danh “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Số bài phê bình tốn giấy mực hàng chục lần quyển sách 200 trang của ông. Ông phải làm bản tự kiểm điểm sai lầm vì đã viết quyển sách bôi nhọ xã hội tốt đẹp những sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và ngồi nghe cấp trên và các cấp dưới của mình xỉ vả, rồi nhận quyết định cách chức, đi lao động cải tạo vô thời hạn. Nhà thơ Xuân Sách có bốn câu thơ đúc kết cho ông về sự kiện này:

Tống Văn Công

Tống Văn Công

Tiếp tục đọc

Từ theo cộng đến chống cộng (33): Khiếu nại là phụ lòng tập thể chi bộ

Năm 1967 tôi làm phóng viên thường trú của báo Lao Động ở vùng than Quảng Ninh. Liên hiệp Công đoàn Quảng Ninh do ông Lê Bùi làm chủ tịch sắp xếp cho tôi ăn ở cạnh cơ quan trong một hốc núi vùng Khe Hùm, hằng ngày đi lại bằng xe đạp đến các mỏ than sưu tầm tài liệu.

Từ theo cộng đến chống cộng - Hồi ký Tống văn Công

Từ theo cộng đến chống cộng – Hồi ký Tống văn Công

Tiếp tục đọc