Con đường khó khăn của sự tiếp cận

Trong lịch sử, chưa từng bao giờ có một bên trên thực tế là chiến bại mà lại đặt ra những điều kiện khó khăn như vậy cho người chiến thắng. Ngay từ năm 1973, Quốc Hội đã từ chối không chấp thuận những phương tiện mà Nixon đã hứa hẹn cho công cuộc tái xây dựng Việt Nam. Tổng thống Ford ban hành lệnh cấm vận kinh tế và còn công khai phủ nhận cả những lời hứa hẹn bí mật của người tiền nhiệm ông. Ngoài ra, năm 1976, Hoa Kỳ đã dùng quyền phủ quyết chống việc kết nạp Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. Washington luôn yêu cầu Hà Nội làm sáng tỏ hoàn toàn số phận của tất cả các người Mỹ mất tích. Dưới thời Tổng thống Jimmy Carter, dường như đã có một cuộc tiếp cận được bắt đầu. Thế nhưng các đàm phán về một sự giúp đỡ kinh tế của Mỹ đã nhanh chóng dẫn đến những sự hiểu lầm và đã kết thúc mà không mang lại kết quả nào. Ngoài ra, Carter, người trong tháng Giêng 1979 chấp thuận công nhận hoàn toàn về mặt ngoại giao với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cho rằng cũng phải quan tâm đến phe bảo thủ. Mặc dù Nixon đã chấp thuận kết nạp Trung Quốc vào Liên Hiệp Quốc (và qua đó đã lấy mất chiếc ghế của Đài Loan), ông Tổng thống lo ngại rằng chính sách cân bằng của ông đối với hai kẻ thù ngày xưa có thể làm dấy lên sự phản kháng quyết liệt của Quốc Hội. Trong nhiệm kỳ của Ronald Reagan, câu hỏi về những người mất tích đã được cường điệu hóa thành một cuộc thập tự chinh thật sự. Đã có nhiều cuộc tường trình trước Quốc Hội về đề tài này và mang lại cho một giới vận động hành lang hùng mạnh một diễn đàn gây nhiều sự chú ý của truyền thông. Tuy vậy, người ta vẫn không thể đưa ra bất cứ một bằng chứng chắc chắn nào về việc vẫn còn những người lính Mỹ bị giam hãm. Mặc dù thế, luôn xuất hiện những tường thuật về các xà lim tử thần và phi công bị bắt giam trong truyền thông.

Tù binh Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam
Tù binh Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam

Continue reading “Con đường khó khăn của sự tiếp cận”

Việt Nam thời hậu chiến

Cuộc cách mạng đã mang lại cho người dân và đất nước của họ sức mạnh và sức chịu đựng để chiến thắng những địch thủ vượt trội về quân sự trong một cuộc chiến kéo dài ba mươi năm. Thế nhưng sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ thì người Việt đã phải trải nghiệm một cách đau đớn, rằng đấu tranh chiến thắng một cuộc cách mạng thì đơn giản hơn là cầm quyền một đất nước đã bị chia cắt lâu dài và bị tàn phá bởi chiến tranh. Khó khăn trong xây dựng thật lớn: hoàn cảnh quốc tế không thuận lợi, tàn phá, nhiều vấn đề về sinh thái, tâm lý, xã hội và kinh tế. Thêm vào đó, những người cộng sản tự đánh giá mình quá cao và chờ đợi rằng đại đa số người Việt sẽ hoan nghênh một xã hội xã hội chủ nghĩa vô điều kiện.

Sài Gòn 1985 - Nghĩa trang máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhứt. Hình: Philip Jones Griffiths
Sài Gòn 1985 – Nghĩa trang máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhứt. Hình: Philip Jones Griffiths

Continue reading “Việt Nam thời hậu chiến”

Tại sao người cộng sản chiến thắng

Người dân Việt Nam đã trả giá đắt cho chiến thắng của người cộng sản và MTDTGP trong cuộc chiến chống người Pháp, người Mỹ và chính phủ Nam Việt Nam: Cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã lấy đi sinh mạng của 800.000 con người; từ 1961 cho tới 1975 có khoảng hai triệu người Việt Nam là nạn nhân của cuộc chiến, thêm vào đó là 300.000 người mất tích. Hàng trăm ngàn người Campuchia và Lào cũng đã bỏ mạng. Ở miền Bắc, sáu trung tâm công nghiệp thành thị cũng như 4000 trong số 5800 hợp tác xã nông nghiệp đã bị hư hại nặng do những trận ném bom. Ở miền Nam, những người tiến hành chiến tranh đã phá hủy 9000 trong số tròn 15000 làng mạc, hàng triệu hecta đất đã không còn có thể được sử dụng nữa vì mìn, bom và thuốc diệt cỏ. Nhiều khu rừng khổng lồ đã bị hủy diệt bởi thuốc làm rụng lá cây và chất độc cho cây cỏ. Ở Nam Việt Nam, chiến tranh đã để lại 900.000 trẻ mồ côi, một triệu góa phụ và 200.000 người bán dâm. Trong số 3 triệu người Mỹ đã phục vụ ở Việt nam từ 1961 cho tới 1973 đã có 58.000 người lính phải trả giá bằng mạng sống của mình cho sự hoạt động của họ. Tổng số chi phí chiến tranh trực tiếp là 167 tỉ dollar.

Những giây phút cuối cùng của lá cờ vàng
Những giây phút cuối cùng của lá cờ vàng

Continue reading “Tại sao người cộng sản chiến thắng”

Chiến tranh sau cuộc chiến

Ở Việt Nam, cả hai bên đều đổ trách nhiệm cho phía bên kia là đã vi phạm các điều kiện ngưng bắn. Ngay cả khi Bộ Chính trị ở Hà Nội đã quyết định trong mùa xuân 1973, tiếp tục tiến hành cuộc chiến cho tới cuối cùng thì những người không giữ đúng các thỏa thuận ở Paris vào lúc ban đầu là các tướng lãnh Nam Việt Nam. Họ phá hoại “Hội đồng Dân tộc” và cố hết sức để mở rộng quyền kiểm soát của họ trên đất nước – đất và người đối với Thiệu là những yếu tố mà ông dùng chúng để định nghĩa quyền lực của ông. Trong thời gian của năm đó, QLVNCH đã có thể chiếm giữ 1000 ngôi làng. Nhưng qua đó, quân đội Nam Việt Nam lại phải đảm nhận càng nhiều hơn những nhiệm vụ bảo vệ mang tính phòng thủ và bất động. Sức mạnh trên số liệu của QLVNCH – 1,1 triệu người lính và lực lượng bán quân sự đứng dối diện với tròn 300.000 người Bắc Việt và các đơn vị của MTDTGP – vì vậy không có nghĩa là Sài Gòn chiếm ưu thế về mặt quân sự. Vì trong khi hai phần ba lực lượng của QLVNCH phải đảm nhận việc bảo vệ lãnh thổ thì MTDTGP và người Bắc Việt thực hiện các nhiệm vụ phòng ngự và bất động chỉ với 10% quân đội của họ.

Ngày 30-4-1972 Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công mùa xuân vượt qua vùng phi quân sự và sông Bến Hải. Sau 5 tháng giao tranh ác liệt, quân BV đã chiếm được vùng phía bắc sông Thạch Hãn thuộc tỉnh Quảng Trị. Giới tuyến tạm thời giữa hai miền Nam Bắc từ đây không còn là sông Bến Hải, mà là con sông Thạch Hãn này. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973, nhiều tù binh của phía BV đã được Nam Việt trao trả qua con sông này.
Ngày 30-4-1972 Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công mùa xuân vượt qua vùng phi quân sự và sông Bến Hải. Sau 5 tháng giao tranh ác liệt, quân BV đã chiếm được vùng phía bắc sông Thạch Hãn thuộc tỉnh Quảng Trị. Giới tuyến tạm thời giữa hai miền Nam Bắc từ đây không còn là sông Bến Hải, mà là con sông Thạch Hãn này. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973, nhiều tù binh của phía BV đã được Nam Việt trao trả qua con sông này.

Continue reading “Chiến tranh sau cuộc chiến”

Quốc Hội và Watergate

Cùng với lần trở về của những người lính cuối cùng và lần Hà Nội trả tự do cho 580 tù binh trong tháng Ba 1973, Quốc Hội và công chúng không còn sẵn sàng tiếp tục hỗ trợ cho Nam Việt Nam như trước nữa. Nhiều bản tường trình về các vi phạm hiệp định ngưng bắn cũng không thể làm thay đổi được gì ở điều này. Tư lệnh Hải quân Đô đốc Elmo Zumwalt diễn đạt một cách phi ảo tưởng: “Có ít nhất hai khái niệm mà người ta không được phép sử dụng để mô tả kết quả của chính sách mâu thuẫn này. Một khái niệm là ‘hòa bình’, khái niệm kia là ‘danh dự'”.[1]

Zumwalt (thứ ba từ bên trái) cùng với các thành viên Hội đồng Tham mưu trưởng: Moorer, Abrams, Cushman, Ryan và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Laird, 1973.
Zumwalt (thứ ba từ bên trái) cùng với các thành viên Hội đồng Tham mưu trưởng: Moorer, Abrams, Cushman, Ryan và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Laird, 1973.

Continue reading “Quốc Hội và Watergate”

Hiệp định Paris tháng Giêng 1973

Ngoài những cuộc đàm phán hòa bình chính thức ở Paris, Henry Kissinger đã bí mật gặp gỡ và trao đổi với trưởng đoàn đàm phán Bắc Việt Lê Đức Thọ nhiều lần. Vì các quan điểm không thể hòa hợp được nên họ chưa bao giờ có thể tiếp cận lẫn nhau. Nhưng đứng trước các diễn tiến về quân sự và trên trường quốc tế, giới lãnh đạo Hà Nội đã đi đến quan điểm rằng trì hoãn các cuộc đàm phán sẽ không mang lại lợi thế. Ngoài ra, họ cũng không ảo tưởng rằng McGovern sẽ thắng cuộc bầu cử tổng thống và một chính phủ của đảng Dân chủ sẽ đưa ra cho Bắc Việt Nam những điều kiện tốt hơn – trong các cuộc thăm dò dư luận, Nixon dẫn trước quá xa. Về phần mình, Nixon lại chia sẻ quan điểm của Henry Kissinger, rằng bây giờ là thời điểm để đàm phán cho một nền “hòa bình trong danh dự”.

Ký kết Hiệp định Paris 1973
Ký kết Hiệp định Paris 1973

Continue reading “Hiệp định Paris tháng Giêng 1973”

Mùa Hè Đỏ Lửa 1972

Trước bối cảnh “ngoại giao bóng bàn” của Kissinger, các chuẩn bị cho một đợt tấn công quân sự được hấp tấp bắt đầu ở Bắc Việt Nam. Một tháng sau chuyến viếng thăm Trung Quốc gây sự chú ý khắp nơi trên thế giới của Nixon, và với lần bắt đầu cuộc tranh cử ở Mỹ, các công việc chuẩn bị đã hoàn thành. Trong tháng Ba 1972, 120.000 người lính Bắc Việt được trang bị xe tăng Xô Viết đã xâm nhập Nam Việt Nam: Một phần thì vượt qua vùng phi quân sự, một làn sóng tấn công thứ nhì nhắm vào vùng cao nguyên Trung phần, một làn sóng thứ ba từ Campuchia đi về hướng Sài Gòn. Vào thời điểm của đợt tấn công còn có 95.000 người lính Mỹ ở Nam VIệt Nam, trong đó chỉ có 6000 người thuộc lực lượng chiến đấu. Các cơ quan tình báo tuy đã báo cáo nhiều dấu hiệu cho thấy Bắc Việt tăng cường hoạt động, nhưng quy mô, thời gian và địa điểm đã được ước lượng hoàn toàn sai. Trong một thời gian ngắn, tuyến bảo vệ biên giới của QLVNCH bị tràn ngập. Quân đội Bắc Việt nhanh chóng chiếm lĩnh năm tỉnh phía bắc với thành phố Quảng trị. Ở cao nguyên trung phần, họ tiếp cận Kontum và đe dọa chia cắt đất nước ra làm hai phần. Trong miền Nam, họ tiến quân chỉ còn cách Sài Gòn 70 kilômét. Thiệu phải dùng toàn bộ lực lượng của QLVNCH để bảo vệ các thành phố và xây dựng những tuyến phòng thủ. Việc này là tín hiệu khởi động cho MTDTGP, chuyển sang thế tấn công trong các vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long và trong vùng có nhiều dân cư quanh Sài Gòn, và đã giành lấy quyền kiểm soát nhiều làng mạc cũng như căn cứ của QLVNCH. Đợt tấn công Phục Sinh đã làm lung lay nền tảng của chính quyền Nam Việt Nam và cho giới công chúng Mỹ thấy rằng các đánh giá tốt đẹp của Tổng thống về cuộc Việt Nam hóa mang nhiều dấu ấn của những hình ảnh lý tưởng giống như các lời giải thích của Johnson trước đợt tấn công Tết Mậu Thân 1968.

Máy bay  A-1 Skyraider đang ném bom ở mặt trận Kon Tum
Máy bay A-1 Skyraider đang ném bom ở mặt trận Kon Tum

Continue reading “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972”