Vinh Quang của sự Phi Lý (14)

Bây giờ, tôi xin tiếp tục cuộc hành trình đầy cảm xúc, trở về lại những chuỗi ngày của một phóng viên trẻ tại những gì còn lại của Sài Gòn như một Paris của Phương Đông; cuộc hành trình trở về những ngày mà đường Tự Do vẫn còn giống con đường Catinat cũ đầy sức quyến rũ và trước khi thành phố đó biến thành một khu đèn đỏ khổng lồ. Trở về lại thời đại mà tiếng Pháp vẫn còn được dùng xen kẽ trong từng lớp có học thức, và có thể tiếp xúc được với các tướng lãnh quyền hành nhất bằng cách lắng nghe lời gợi ý kín đáo của viên tùy phái thì thầm trong tai bằng tiếng Pháp: “Ông có thích rượu sâm banh không? Ố, tôi cũng vậy, tôi mê Dom Pérignon lắm!” Tôi tìm được ba chai trong PX, và được ông tướng tiếp ngay, người mà sau này trở thành bạn thân của tôi cho đến khi tôi rời hẳn Sài Gòn. Người uống sâm banh không phải ông tướng, mà là viên tuỳ phái với đồng lương nghèo đói. Cạn ly nhé, ông quan ba của tôi ơi, cái gu của ông thật là quý phái.

Sài Gòn 1965 nhìn từ khách sạn Rex
Sài Gòn 1965 nhìn từ khách sạn Rex

Tiếp tục đọc

Indochina, mon Amour

Trên máy bay, cuối tháng Tư 1975

Chiếc máy bay phản lực của Air France bay lên cao trong những đường dốc đứng. Các đội quân tiền phong Bắc Việt có nơi đã đứng trước cửa ngõ Sài Gòn. Viên phi công biết rằng cũng có cả hỏa tiễn SAM được bố trí dọc theo Quốc lộ 13. Đó là chuyến bay dân sự cuối cùng rời Sài Gòn, như sau này tôi biết được. Vẫn còn chưa có ai trên máy bay đoán được rằng việc thủ đô thất thủ chỉ còn là một câu hỏi của ba ngày. Nhưng bất cứ hành khách nào cũng cảm nhận được, rằng đây là lần từ biệt vĩnh viễn, rằng ngay cả trong trường hợp sau này mà quay lại thì thành phố cạnh sông Sài Gòn này, đất nước Nam Việt Nam, rằng toàn bộ Đông Dương sẽ bị biến đổi và bị làm cho xa lạ. Các đồng nghiệp lực lưỡng của đội quay phim, những người mà tôi đã nghĩ rằng không có khả năng cho những xúc cảm như vậy, nhìn với những nét mặt bất động và nghiêm trang xuống các cánh đồng ruộng ngập nước và những mạch nước rộng lớn của dòng sông Cửu Long, dưới những tia nắng cuối cùng của mặt trời đang sáng óng ánh lên như vàng và máu, như những sắc màu của nước Việt Nam Cộng Hòa đang biến mất vào vực thẳm của lịch sử trong những giờ khắc này. Tiếp viên hàng không phục vụ sâm banh. Không có sự nhẹ nhõm nào được bộc lộ, rằng người ta đã thoát được tấn bi kịch. Ai cũng cảm nhận được nỗi buồn và đau đớn, giống như đang tiến hành nghi thức cho lần kết thúc của một mối tình. Thế nhưng phát ra từ những cái loa của chiếc máy bay không phải là “Les feuilles mortes” của Prévert mà là một bài ca Pháp đang thời thượng: “Elle court, elle court, la maladie d’amour”.

Trận đánh cuối cùng trên cầu Tân Cảng ngày 28 tháng Tư năm 1975
Trận đánh cuối cùng trên cầu Tân Cảng ngày 28 tháng Tư năm 1975

Tiếp tục đọc

Những ngày cuối cùng của Sài Gòn

Sài Gòn, tháng Tư 1975

Đối với tôi, Sài Gòn chưa bao giờ mang nhiều nét Á hơn là trong những những ngày trước khi sụp đổ. Ngay sau khi ra khỏi con đường Tự Do và cái chợ hoa, người ta sẽ nhanh chóng đi trong một đám đông chật ních người da vàng như là người da trắng duy nhất. Trước người nước ngoài, người Việt đeo lên gương mặt họ một cái mặt nạ của sự dửng dưng. Chỉ khi họ có cảm giác không bị quan sát thì ánh mắt của họ mới lộ ra nỗi lo lắng và sự chờ đợi cái thảm họa đang tiến đến gần. Tài xế Canh của tôi, người mà tôi đã quen biết từ nhiều năm nay, chưa từng bao giờ lái xe một cách sơ ý và lơ đễnh qua sự hỗn loạn của giao thông nội thành như vậy. Bị tôi khiển trách, nỗi lo sợ bộc phát từ trong anh ấy ra ngoài: “Ông cũng biết mà, Monsieur: năm 1954 tôi đã chạy trốn người cộng sản từ Hà Nội vào miền Nam, rồi bây giờ thì họ lại bắt kịp tôi.” Bà đứng đầu sở điện tín, một người miền Trung trầm tư với búi tóc nghiêm khắc, kéo tôi sang một bên: “Có đúng không, Monsieur, người Bắc Việt sẽ giết chết hết tất cả các nhân viên của chính phủ Sài Gòn?” Trong Đà Nẵng bị chiếm đóng, người cộng sản đã bắt bừa hàng trăm người trong mỗi một khu phố và đã bắn chết công khai để đe dọa. Người ta đã thuật lại cho bà như vậy. Thỉnh thoảng cứ trông giống như là sự hỗn loạn được cố tình được kích động qua tin đồn.

Cha và con trên đường chạy tỵ nạn ở Trảng Bom, 23 tháng Tư 1975.
Cha và con trên đường chạy tỵ nạn ở Trảng Bom, 23 tháng Tư 1975.

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (13)

Chương 6

Kịch trường truyền thông của sự phi lý

Một sự bất ngờ khó chịu đón chờ đón tôi lúc trở về khách sạn Continental sau lần đi chứng kiến một tính chất không được đánh bóng của cuộc chiến Việt Nam tại Cao nguyên Trung phần. Đó là một bức điện tín từ Julius Hollos, chủ bút ở Hamburg với nội dung mà thuật ngữ trong dịch vụ truyền tin Mỹ gọi là “rocket” (hỏa tiễn), có nghĩa là một lời khiển trách. Bức điện tín được đọc như sau:

Chúng tôi nghe bạn say sưa trong mọi cuộc họp báo. Chấm. Yêu cầu giải thích. Chấm than. Hollos

Những chuyện điên rồ lúc 5 giờ chiều
Những chuyện điên rồ lúc 5 giờ chiều

Tôi đớ cả người. Lời tố cáo hoàn toàn bố láo này có thể kết thúc sự nghiệp phóng viên quốc tế của tôi như chơi. Cho dù tôi thích thưởng thức một ly Scotch hay Martini và bao giờ cũng uống rượu vang khi ăn tối nhưng tôi không hề đụng vào rượu mạnh trước khi trời tối, và với một lý do rất chính đáng: bằng chứng sự tác hại của rượu và ma túy trong một vùng chiến tranh nhiệt đới như Sài Gòn đầy rẫy cả ra. Tuy tôi không phải là một con người chín chắn lắm nhưng tôi không bao giờ có ý định tự sát cả. Hơn nữa, tôi ít khi tham dự “những chuyện điên rồ lúc 5 giờ chiều” (The Five O’clock Follies), tên mà chúng tôi đặt cho những buổi họp báo hằng ngày được tổ chức bởi chính quyền Nam Việt, tòa đại sứ Hoa Kỳ và quân đội Mỹ. Thế là tôi tức giận bắn lại:

Tiếp tục đọc

Quân đội Mỹ có cắt đầu đối phương không?

Việc này là có, như ký giả người Đức Uwe Siemon-Netto đã thuật lại trong quyển hồi ký của ông “Vinh quang của sự Phi Lý”: “… Đặc trưng là các kĩ thuật ám sát cán bộ Cộng sản trong lúc họ đang ngủ trong các ổ trú ẩn ban đêm. … Trang bị với một món đồ nghề gồm một sợi dây kẽm gắn vào hai đầu tay cầm bằng gỗ, họ lẻn vào lều của cán bộ Việt Cộng chỉ huy, vòng sợi dây kẽm quanh cổ nạn nhân đang ngủ, giựt mạnh và thế là cắt đầu kẻ địch.” Neil Sheehan trong “A Bright Shinning Lie” cũng nhắc tới một chuyện mổ bụng xác kẻ địch.

Bom nổ trước Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn vào ngày 30 tháng 3 năm 1965. Ảnh: AP/Horst Faas
Bom nổ trước Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn vào ngày 30 tháng 3 năm 1965. 22 người chết, 183 người bị thương. Ảnh: AP/Horst Faas

Tiếp tục đọc

Những nổ lực thiết lập Thiên Đàng trên Trái Đất luôn luôn sản sinh ra địa ngục

Vào đầu thế kỷ 20, có hai thế giới quan thắng thế ở châu Âu: Chủ nghĩa Mác và Chủ nghĩa Phát-xít. Cả hai chủ nghĩa này đều hứa hẹn thiên đường theo cách của nó và đều được Đệ nhất Thế chiến dọn đường để tiến đến thành công.

Thế nhưng sau cuộc cách mạng năm 1917, học thuyết về lần giải phóng tầng lớp lao động ra khỏi cái ách bóc lột và áp bức đã nhanh chóng thể hiện tính chất toàn trị của nó và dưới thời của Stalin thì cuối cùng đã trở thành một nền độc tài tuyệt đối. Lời hứa hẹn thiên đàng cho tất cả mọi người đủ là lý do để cho những người cộng sản tiêu diệt không thương xót những người nào không muốn đi theo họ.

NPG P370; Sir Karl Raimund Popper by Lucinda Douglas-Menzies
Enter a caption

Trong cùng thời gian đó, Chủ nghĩa Phát-xít trỗi dậy ở châu Âu. Nó có nhiều điểm tương tự như chủ nghĩa cộng sản, đặc biệt là yêu cầu toàn trị. Thế nhưng hình ảnh con người của nó là một hình ảnh khác. Chủ nghĩa Phát-xít xuất phát từ một cuộc đấu tranh giữa các chủng tộc và dân tộc mà phe mạnh hơn sẽ chiến thắng. Ý tưởng này được nhiều người ở châu Âu ủng hộ, những người cho rằng dân tộc mình chính là dân tộc mạnh hơn.

Sinh năm 1903 ở Wien, Karl Raimund Popper lớn lên trong thời kỳ phân cực đó. Lúc đầu, ông gia nhập phong trào công nhân cộng sản ngay từ lúc mới 16 tuổi. Nhưng một sự kiện sau đó đã làm thay đổi quan điểm chính trị của ông mãi mãi. Tham gia một cuộc biểu tình của Đảng Cộng sản trong tháng Sáu 1919, ông nhìn thấy nhiều người tham gia biểu tình bị cảnh sát bắn chết. Khi rồi các cán bộ cộng sản tuyên bố rằng các đồng chí đó của họ đã chết cho cuộc cách mạng thế giới mà không lâu nữa sẽ xảy ra, ông đánh mất niềm tin vào Chủ nghĩa Cộng sản vì cho rằng một ý tưởng sẵn sàng hy sinh mạng sống con người để đi đến thành công thì là một ý tưởng vô nhân đạo.

Ông theo học triết học và tâm lý học tại Đại học Wien, bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1928. Năm 1938, khi tình hình bắt đầu trở nên nguy hiểm cho người Do Thái ở Áo, ông nhận giảng dạy tại Đại học Christchurch ở  New Zeeland và bắt đầu viết tác phẩm nổi tiếng nhất của ông gồm hai tập: “Xã hội mở và những kẻ thù của nó”. Đây cũng là một trong những đóng góp quan trọng nhất cho triết học chính trị của thế kỷ 20.

Popper tiếp tục phát triển khái niệm “Xã hội mở” từ nhà triết học người Pháp Henri Bergson. Ông hiểu một “xã hội mở” không chỉ là một kết cấu nhà nước mà trong đó sự tự do lớn nhất có thể có của cá nhân được đảm bảo. Xã hội mở, khác với những hình thức chính phủ độc tài, lúc nào cũng phải có khả năng để thay đổi và vận dụng những đổi mới của xã hội, tức là “mở”, đặc biệt là mở đối với sự phê phán từ người dân của nó.

Theo Popper, tất cả các ý thức hệ đều là một mối đe dọa cho xã hội. Đóng kín, chúng không cho phép thay đổi bất cứ điều gì. Tất cả những ý thức hệ đó nhất định sẽ dẫn đến các mô hình nhà nước toàn trị, từ chính thể chuyên chế của các vua chúa qua Chủ nghĩa Phát-xít cho tới các biến thể của Chủ nghĩa Mác.

Ông viết trong tập II: “Trong tất cả các lý tưởng chính trị, niềm mong ước tạo hạnh phúc cho con người có lẽ là điều nguy hiểm nhất”, vì “các nổ lực thiết lập Thiên Đàng trên Trái Đất luôn luôn sản sinh ra địa ngục”. Đó là câu nói nổi tiếng nhất và được trích dẫn nhiều nhất của Popper.

 

Vinh Quang của sự Phi Lý (12)

Hồi tưởng 3

Nghề báo chí – Ơn gọi của Thiên Chúa

Bằng cách nào đó, qua nhiều năm dài, những người đã gắn bó với ngành báo chí thường tạo cho mình một hơi hám của sự bất kính. Có lẽ vì họ đã chứng kiến quá nhiều mặt trái vô vị của bản chất con người và cũng đã nhìn thấy những việc ô nhục trong các tôn giáo vốn có quy củ. Thật khó cho họ để giữ được niềm tin trong bất cứ tôn giáo nào. Thường thì sự bất kính này lại là lớp gai bao phủ để che dấu một sự cam kết sâu xa hơn đối với đấng trên cao và với các giá trị tôn giáo khác.

Alfred P. Klausner và John DeMott eds.

Sách nguyện của nhà báo

(Minneapolis: Nhà xuất bản Augsburg, 1972), trang 7.

Tiếp tục đọc