Nước Đức

Nước Đức, một chuyến đi

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

“Nước Đức, một chuyến đi” là tác phẩm bestseller thứ hai của Wolfgang Büscher. Ông đã khoác ba lô đi 3 tháng trời dọc theo 3500 km đường biên giới của Đức, đi bộ, đi xe buýt, đi nhờ xe hay đi tàu thủy. Cuộc hành trình như một giấc mơ, được thuật lại một cách rực rỡ, đầy những khám phá khó tin.

Nhà văn, nhà báo Wolfgang Büscher, sinh năm 1951, bắt đầu nổi tiếng qua quyển bestseller năm 2003 “Berlin-Moskau. Eine Reise zu Fuß” (“Berlin-Moscow. Một chuyến bộ hành”). Ông đã nhận được nhiều giải thưởng: Giải Theodor Wolff của báo chí Đức (2002), các giải thưởng văn học Giải Kurt Tucholsky (2003), Giải Wilhelm Müller (2003), Giải Johann Gottfried Seume (2003) và Giải Ludwig Börne (2006).

Nước Đức, một chuyến đi
Nước Đức, một chuyến đi

Vào một ngày nào đó tôi nhảy xuống sông Rhein lạnh buốt

Người ta nói rằng có một thứ ánh sáng huyền diệu trên hạ lưu sông Rhein. Hơi nước có màu xanh êm dịu như vậy, và sương mù được chiếu sáng từ bên trong, ngay cả vào một ngày mùa thu như thế này, ngày mà bầu trời hút tất cả màu sắc vào, như thể chúng là chất độc. Chân trời, những đồng cỏ sông Rhein, xà lan chở hàng trên sông – tất cả đều bơi trong cái phản ánh sáng giống như sữa đó. Cây cầu cao ở phía xuôi dòng sông chỉ là một ý tưởng mơ hồ trong hơi nước, thành phố ở bờ sông bên kia là một phác họa bằng bút chì từ một quyển sách đã bị bỏ quên.

            Chắc là tôi đã ngủ gật. Tôi mở mắt ra. Tôi ngồi trên một tảng đá ở bờ sông gần biên giới Hà Lan, ở km 852 của sông Rhein, nhìn dòng sông và những chiếc xà lan đang đi ngang qua, dài và thấp thành đoàn liền nhau, tôi đã ngồi ở đây cả ngày và chờ dấu hiệu của tôi – cho đến khi đoàn xà lan đứt đoạn. Đó là ngày đầu tiên trong chuyến đi của tôi.

            Một mình tôi trên những cánh đồng cỏ, chỉ có một vài con bò đứng ở đó. Ngay lúc này, những con bò gan dạ nhất đang rời bầy để uống nước sông Rhein. Nó cho phép chúng. Nó không còn màng đến những gì ở cạnh bờ của nó, nó chảy đến nơi tan rã của nó và rộng ra như một cái hồ ở phía kia.

            Cuối cùng – đoàn xà lan đứt đoạn. Không còn chiếc tàu nào sau chiếc này. Khoảng trống của tôi xuất hiện, lớn đủ để không sợ bị cày nát dưới chiếc xà lan kế tiếp chắc chắn sẽ đến. Sông Rhein cho tôi 20 phút, có thể nhiều hơn một ít.

            Tôi vội vã cởi bỏ, áo, quần, giày, và khi tôi chạy băng trên sỏi và mảnh vỡ sò ốc, tôi liếc nhìn thấy con bò vừa uống nước sông Rhein giật mình sợ hãi và phi nước đại một cách lố bịch trở về đàn.

            Nghẹt thở. Tôi chưa từng bơi trong cái lạnh buốt như băng như thế này, trong một dòng sông lớn như thế này. Tôi cảm nhận được sức mạnh của nó. Không phải sức mạnh máy móc của biển cả, ném ra từng làn sóng một ra với tính ương bướng của một nhà máy – nó là một lực kéo òng ọc, nhỏ nhẹ, nhưng không khoan nhượng.

Tôi không bơi, tôi quạt nước, tôi tê cóng đến như thế. Tôi quạt nước cho ấm người lên. 100 lần bơi cho đẹp, bây giờ mình cần bao nhiêu đó. Bơi và trượt đi và bơi. Và 100 lần nữa và một lần nữa, rồi mình sẽ qua được.

            Tôi bị cuốn đi. Tôi bị cuốn đi trên nước. Những làn sóng lạnh như băng mang tôi đi, như thể tôi đang nằm trên lưng của những con thú nhỏ trơn láng đang chạy thật nhanh. Chúng đã ngửi thấy mùi muối. Chúng không còn chờ đợi được nữa. Tôi tự ra lệnh cho mình đừng sợ. Không, không phải xuôi dòng – qua bên kia!

            Tôi tìm một điểm ở bờ bên kia để hướng đến, một điểm kéo tôi đến. Một trong 3 cái tháp của thành phố nhỏ: Cái tháp nhà thờ 8 cạnh bên phải, cái tháp cụt ở phía trước tôi hay cái ống khói cao mỏng mảnh tít bên trái. Có dòng chữ “Nhà máy dầu Germania[1]” ở trên đó.

            Cứ với mỗi nhịp bơi là tôi lại cảm thấy đôi cánh tay đã nặng trĩu: giống như một cái nam châm kỳ lạ đang làm tê liệt tứ chi trong một giấc mơ. Sắp hết thời gian, ý nghĩ vụt qua trong đầu tôi, khoảng trống sẽ đóng lại, dòng chảy sẽ đẩy mình xuống dưới chiếc xà lan chở hàng kế tiếp. Kết liễu.

            Tôi không biết mình đã quạt nước và trôi đi như thế được bao lâu, càng lúc càng lạnh hơn và tê cóng hơn. Có lẽ chỉ 1 phút. Tôi có cảm giác lâu hơn thế rất nhiều.

            Bất chợt tôi cảm thấy ấm hơn. Không phải, nóng. Cái nam châm đáng sợ ấy đã thả tôi ra. Cái lạnh vẫn còn đó, nhưng nó không còn ở trong tôi. Bây giờ con sông Rhein trở nên trơn nhẵn, gần như dầu, nắm nó tốt. Tôi lặn xuống từng nhịp bơi một, trượt theo, lại ngập vào – tôi bơi. Mấy chiếc tháp ở bờ sông trượt sang phải một đoạn dài, ở phía ngược dòng sông, không thể đến được cả hai cái tháp nhà thờ. Tôi chỉ còn có thể hướng đến Germania.

            Ngay trong khoảng khắc ấy nó cháy rực lên từ ở trên đỉnh. Ánh sáng lại đến, nó châm lửa đốt cháy, chẳng bao lâu sau đó cả cái ống khói đều cháy. Bầu trời cháy. Ánh sáng kéo lên thêm một lần nữa từ vùng châu thổ, từ những cảng Hà Lan to lớn ở cạnh biển – ánh sáng chiều mờ ảo ở phía tây dưới những lá cờ mây đỏ như lửa. Và màn đêm buông xuống dòng sông Rhein, một cánh buồm tối đen như mực. Nó làm đầy chân trời kia.

            Bây giờ mấy cái tháp kia cũng đã cháy, cả thành phố cháy. Bây giờ dòng sông cũng đang cháy rực.

            Tôi trôi đi trong vàng nguyên chất.

[1] Tiếng Latinh của “Đức”.

Cạnh biển xanh

Một thành phố cùng lứa tuổi với tôi

Tôi ngủ vài giờ trong một khách sạn rồi đi vào phố. Phải mất một lúc lâu tôi mới nhận ra: Có cái gì đó không ổn với Emmerich.

Một thành phố nhỏ nép mình cạnh dòng sông lớn, âm điệu những ngõ hẻm và đầu hồi cùa nó, con đường đi dạo cạnh sông Rhein – tôi đi hết con đường đó và đến khu vực dành riêng cho người đi bộ ở phía sau những căn nhà. Tôi thơ thẩn đi qua đi lại giữa những cánh cổng cổ xưa với tên cổ xưa cho đến khi tôi nhận ra điều đó: Chúng hoàn toàn không cổ xưa. Ở đây hầu như chẳng có gì cổ xưa cả. Con đường đi dạo dọc theo bờ sông không cổ xưa và những ngôi nhà cạnh nó cũng không. Các đầu hồi trong ngõ hẻm quanh co cũng không. Tất cả chúng đều mới. Không già hơn mình. Nhiều cái còn trẻ tuổi hơn.

Thành phố Emmerich. Hình: Wikipedia
Thành phố Emmerich. Hình: Wikipedia

Cửa hàng đồ sứ ở quảng trường trang hoàng để kỷ niệm 100 năm tồn tại, nhưng ngôi nhà nó nằm bên trong còn chưa tròn 50. Và trên đầu hồi hình bậc thang bằng gạch nung cách đó vài bước có một niên hiệu từ một thế kỷ xa xôi: 1650. Phía dưới còn một niên hiệu nữa, niên hiệu thật: 1957. Cái đầu hồi từ cuối thời Phục Hưng ở hạ lưu sông Rhein lâu đời như túi quà cho lần đầu tiên đến trường Tây Đức của tôi.

Bất chợt tôi nhớ lại một bài hát, một bài hát rất phổ biến lúc tôi còn nhỏ.

Cát nóng

và một đất nước đã mất đi

và một cuộc sống trong nguy hiểm.

Và một hình ảnh: một đứa bé trước cái radio. Bài hát dằn vặt đứa bé với những câu đố của nó. Ngay giữa ban ngày nó hát líu lo về một điều bí ẩn mà người lớn không chia sẻ với nó. Họ biết một cái gì đó mà nó không còn biết và sẽ không bao giờ biết được.

Cát nóng

và hồi tưởng

rằng đã từng tốt đẹp hơn.

Đã có một cái gì đó trước khi có tôi. Một cái gì đó đã mất đi. Một cái gì đó đã từng tốt đẹp. Câu đố: Đó là cái gì? Cát và nguy hiểm, những từ này làm cho thằng bé bứt rứt, và đến đoạn về đất nước đã mất đi thì nó chỉ muốn chui vào trong cái radio khốn kiếp đấy để nhìn cho bằng được.

Giờ đây, trong Emmerich tôi nhìn thấy nhiều người đang vội vã băng qua khu vực dành riêng cho người đi bộ đang về chiều, họ hướng đến Viện bảo tàng thành phố. Trước đó tôi đã nhìn thấy một tấm áp phích: Emmerich kỷ niệm 60 năm ngày bị tàn phá[i]. Tôi theo họ vào trong gian phòng đầy người. Đèn tắt, người ta chiếu phim, những tấm ảnh vỡ hạt, được chụp từ khoang chứa bom hay từ bùn phía dưới. Chúng chập chờn trên bức tường trắng, tất cả đều ngồi im lặng, những ai không tìm được chỗ ngồi đang đứng. Họ nhìn cái chập chờn trên tường một cách thành kính, thỉnh thoảng cùng thì thầm một cái tên, thì thầm nhắc lại như nhắc lại một kinh cầu nguyện, một amen. Tên của một tướng lĩnh, một con đường, một kiểu máy bay, một thành phố – vòng hoa hồng ở hạ lưu sông Rhein. Kleve biến mất. Wesel nát vụn. Rees thành tro, Rees thời Trung cổ. Đã từng có Goch? Emmerich ở đâu? Có ai nhìn thấy Emmerich không?

Đúng như vẻ ngoài – một buổi lễ cầu nguyện. Thành phố cử hành ngày kỷ niệm đen tối nhất, quan trọng nhất bằng một lễ cầu nguyện đen trắng. Tôi lặng lẽ lui ra và lại đứng cạnh sông.

Một chiếc thuyền sáng rực như trong ngày hội đang từ từ trôi qua, trở về nhà từ công việc du ngoạn. Những chiếc ghế đỏ không còn có ai ngồi, bàn trải khăn màu trắng vừa mới bị bỏ đi. Một phòng khiêu vũ trống vắng vẫn còn vương lại những âm thanh cuối cùng của giai điệu Bossa nova cuối cùng.

Rồi im lặng đến mức trong một giây hoang mang tôi nghĩ rằng mình bị điếc. Đến một chiếc ô tô muộn màng tôi cũng không nghe được. Tôi day tai của tôi, có nước ở trong, tôi thầm nói như thế, mình vừa ở dưới sông lên.

Nhưng sự im lặng vẫn còn đó. Nó ở trong mọi thứ, trong các ngõ hẻm, trong đất nước – không có tiếng vang, không có mơ mộng. Im lặng giống như sau khi một thiên thạch khổng lồ rơi xuống. Chân tay tê dại, cử động tê dại, vẫn còn như thế. Bụi vẫn còn từ từ, từ từ lắng xuống, bụi cần 100 năm và 100 lễ cầu nguyện và 100 bài hát. Nó cần 200 năm, chỉ có bụi mới biết nó cần gì. Cú va đập vẫn còn trong không khí. Nó hủy diệt tất cả những gì có trước đó. Nó xuyên qua tất cả, qua làn da, qua trí óc, qua toàn thể đất nước đã mất đi, qua bạn và tôi.

Sương mù biến mất vào ngày thứ hai của chuyến đi, và Emmerich là một thành phố tươi sáng cạnh sông Rhein gần biên giới Hà Lan. Đã có mùi hương Hà Lan. Mùi cà phê và thần học Calvin. Có bánh mì Hà Lan và thảm nhỏ trên bàn của những quán ăn nhanh, biển số xe màu vàng và gần như không còn màn che cửa sổ nữa.

Tôi đi ngang qua một cái thánh giá bằng đá. Trước đây 500 năm có một người đang trên đường đi bị giết chết ở đây, chiếc thánh giá xin hãy cầu nguyện hộ cho linh hồn xấu số của người đấy. Tôi không thể nói là điều gì làm cho tôi ngạc nhiên nhiều hơn – rằng đã có thời mà người ta đặt dấu mốc cho một kẻ xa lạ, một người bị đập chết duy nhất. Hay chiếc thánh giá của ông ta đứng ở đầu của một cuộc hành trình không có mục đích.

[i] Trong Đệ nhị thế chiến, thành phố Emmerich bị phá hủy gần như hoàn toàn trong lần ném bom vào ngày 7 tháng 10 năm 1944.

Xơ Swan từ Missouri

Nôn nóng cứ đẩy tôi lên phía bắc. Tôi muốn đi dọc theo biên giới, nhưng tôi cũng muốn đi cho nhanh, vì thế mà tôi đi bằng tàu hỏa. Nhưng chuyến tàu nào cũng rời xa biên giới. Không ai lại đi du lịch dọc theo biên giới. Nó không đi theo một dãy núi nổi tiếng, không dọc theo bờ biển hay thung lũng, dọc theo một con đường cũng không. Nó là một vạch vô hình xuyên qua những cánh đồng. Nước Đức biến mất ở đâu đó sau vùng đất thấp.

            Tôi lọt vào một đường chữ chi rối rắm. Giống như một con bọ cánh cứng muốn đi đến rìa và bị bàn tay của một đứa bé đang đùa nghịch đặt lại ngay giữa bàn, bất kỳ chuyến tàu hỏa nào cũng mang tôi rời xa biên giới và đưa tôi trở vào sâu trong nội địa, ở những nơi như Duisburg và Münster. Phòng chờ nhà ga. Nhiều giờ trong quán ăn trên tàu với trà túi âm ấm. Trên sàn tàu, một vỏ chai bia lăn qua lăn lại, lăn qua lăn lại.

Thành phố Münster (Westfallen)
Thành phố Münster (Westfallen)

Trong một chuyến tàu như thế tôi bất chợt ngước lên và nhìn vào mắt của xơ Swan. Xơ Swan từ Missouri và các thánh trẻ bên cạnh xơ, các thánh trẻ của Hội Thánh Ngày nay. Xơ Swan và sứ mệnh của xơ ở người Đức và mái tóc dài màu nâu của xơ. Cứ xõa và xõa xuống như trong một bài hát chậm rãi. It curls and falls down her breast[i].

            Tóc xơ xõa xuống chiếc áo trắng cài kín cổ, và chiếc váy dài đến gót chân được làm bằng một loại vải trinh trắng và cứng đến mức nó không thể bó sát vào thân hình của xơ Swan. Xơ chỉ cho phép thế giới nhìn thấy gương mặt trắng của một người con gái nông dân, đôi mắt xanh của xơ. Xơ thỉnh thoảng nhắm mắt lại trong giây lát, rồi một nụ cười xuất hiện, và hơi thở của xơ thổi một làn tóc mỏng sang bên. Hay xơ không đan tay lại với nhau nữa và viết một ý nghĩ vào trong quyển nhật ký màu đen có Chúa bị đóng đinh lên thánh giá ở trên đó, đỏ mặt như một người đang yêu. Xơ nhận ra điều đó, gập quyển nhật ký lại rồi nhìn xuống.

            Các thánh đến từ Missouri, Utah, Idaho. Họ đã đến Xanten, theo như xơ Swan thuật lại, vì xơ đã bắt chuyện với tôi, và từ đó đến Kleve và từ Kleve đến Wesel, nơi tất cả họ đã cùng nhau cầu nguyện. Xơ quyết định tiếp tục đi đến Duisburg trong lúc cầu nguyện. Và bây giờ chúng tôi ngồi đây, trong chuyến tàu đến Duisburg.

            Họ mang biển tên sáng loáng dễ nhìn thấy. Mụn vẫn còn nở trên những gương mặt của họ. Đó là những gương mặt trong những bức ảnh cũ. Họ nhìn người khác một cách rụt rè, để rồi lại nhìn xuống đất ngay trong khoảng khắc sau đó, giống như bị bắt quả tang khi đang làm một việc gì đó.

            Tôi chỉ cần bỏ bớt đi một ít trong trí tưởng tượng là có thể nhìn thấy ở họ dòng người di dân thời ông cố của tôi. Chỉ có điều là ngược lại, cháu chắt của những người di dân lại trở về. Họ ở đây, để mang về những gì mà dòng người kia đã mang theo qua đại dương. Những từ ngữ cổ xưa nghiêm khắc, những phong cách cổ xưa nghiêm khắc. Tôi nhìn họ, những người lính trẻ tuổi của Chúa Trời và không biết rằng mình nên ngạc nhiên hay tức giận về sự nghiêm trang thần thánh này, về tính táo bạo trẻ con của chuyến đi chinh phục của họ.

            Chuyện gì thế này, tôi tự nhủ, tất cả họ muốn gì ở đây với những tờ rơi của họ, những lời thiên khải của họ, những thánh thần của họ, họ nghĩ rằng họ đang ở đâu, ở một bộ lạc mới vừa được phát hiện chăng? Vì tôi đã còn nhìn thấy thêm nhiều nhà truyền giáo nữa. Một bà mẹ đầu quấn khăn từ Kazakhstan đứng cạnh một nhà ga khác đã chìa cho tôi một tờ giấy phục hồi đức tin. Đi về nhà nấu trà uống đi, mẹ bé nhỏ ơi, tôi lầm bầm lúc đi ngang qua, bằng tiếng Nga, để bà cũng hiểu tôi. Và bà không biết đó là tiếng nói của lòng nhân từ trong tôi, hay là tức giận, và đã làm dấu thánh giá. Nhưng đó là sự tức giận.

            Để tập nói tiếng Đức, xơ Swan và các thánh của xơ còn sử dụng cả thứ tiếng xa lạ để nói chuyện với nhau, nghe giống như là họ đang đóng vai đọc từ sách giáo khoa.

            “Chúng tôi bao giờ cũng mua nhiều bánh mì”, Elder Ernest nói, tay kẹp một túi bánh mì đã cắt thành lát.

            “Thế à?”, xơ Swan trả lời.

            “Và chúng tôi ăn cơm với thịt mỗi tuần một lần.”

            “Ồ, thật à?”

            Tôi ngồi đối diện với xơ Swan, và rồi tôi nói với xơ một ít bằng ngôn ngữ của xơ, một ít về Kleve và một chiếc thuyền do thiên nga kéo đi, và về một hiệp sĩ[ii].

Hiệp sĩ Lohengrin trên chiếc thuyến do thiên nga kéo đi, nhân vật trong vở opera cùng tên của Richard Wagner.
Hiệp sĩ Lohengrin trên chiếc thuyến do thiên nga kéo đi, nhân vật trong vở opera cùng tên của Richard Wagner.

            Xơ nói: “Wow, ông biết nói tiếng Anh?”

            “Một ít thôi.”

            “Ồ, không đâu. Rất tốt. Ông đã sang Mỹ lần nào chưa?”

            “Rồi, ở sa mạc. Trong Tucson.”

            “Wow. Tucson, Arizona.”

            Xơ Swan nói rằng xơ rất yêu thích nước Đức, rất xanh và con người tuyệt vời. Tôi có yêu nó không? Câu hỏi làm cho tôi bối rối. Có lẽ xơ Swan cũng làm cho tôi bối rối. Tôi nói: “I liked Arizona, the deserts.”[iii]

            Rồi xơ kể cho tôi nghe về golden plates, những bảng chữ vàng của tín ngưỡng của xơ, rằng chúng chứa đựng lời thiên khải Mỹ của Chúa Trời, vâng, đã có lời thiên khải thứ hai, vào thời Giêxu ở Mỹ, và những người đàn ông được truyền đạt đã ghi lại lời nói đó trên những bảng vàng đó, những tấm bảng được cất dấu qua bao nhiêu thế kỷ, cho đến khi đức cha thành lập đạo Mormon tìm thấy chúng cách đây sắp tròn 200 năm.

            Xơ tiếp tục nói về những nhà tiên tri và phép mầu nhiệm, và có thể hào hứng từng từ không quan trọng một mà tôi đã góp phần vào trong cuộc đối thoại, từ mà không có gì chống đối lại các bảng vàng của xơ. Rồi xơ lại nhớ đến sứ mệnh của mình. Xơ lôi nhanh ra một quyển sách đã được chuẩn bị sẵn cho những dịp như thế này để tặng cho tôi. Tôi từ chối.

            “Xơ xem, tôi đang đi du lịch. Tôi chỉ có hành lý nhẹ thôi, sách của xơ quá nặng đối với tôi.”

            Tôi chỉ cho xơ xem cái ba lô nhỏ bé của tôi, nhưng xơ không chấp thuận, xơ đi sâu vào trong tôi, niềm tin của tôi ra sao.

            “You must believe in something!”[iv]

            Ngay trong giây phút ấy đoàn tàu về đến nhà ga. Tôi đứng lên. Xơ vẫn kiên quyết nhìn tôi, xơ muốn có một câu trả lời. Trước khi đi, tôi nói: “Thưa xơ, tôi chỉ là một hiệp sĩ Đức rất bình thường.”

————————————————————————————————————————

[i] Nguyên văn bằng tiếng Anh: Tóc xoăn và xõa dài xuống ngực của cô.

[ii] Hiệp sĩ Lohengrin đi thuyền do thiên nga kéo là một hình tượng trong huyền thoại Đức. Swan tiếng Anh có nghĩa là thiên nga.

[iii] “Tôi thích Arizona, sa mạc.”

[iv] “Ông phải tin vào điều gì chứ!”

Chủ nhật trong những năm 70

Tôi đến Gronau và vào trong một khách sạn mà tôi cho rằng nó mang đặc tính vùng Westfalen nhiều nhất. Người chủ quán trọ nêu một giá thấp tới mức tôi phải nhắc lại con số để hỏi, nhưng ông ta chỉ đưa cho tôi chiếc chìa khóa và ra hiệu về hướng cầu thang.

Tôi mở cửa, bước vào và đứng trong một thế giới mà tôi đã bỏ đi từ trước đây lâu lắm rồi. Những cảm xúc ngày xưa, đã lắng xuống, lại trỗi dậy trong tôi. Trước đây một phút tôi vẫn còn cho rằng không thể còn tồn tại một căn phòng như thế này nữa. Và những cảm xúc như vậy.

Gronau vùng Westfalen
Gronau vùng Westfalen

Căn phòng đã từng sang trọng một thời. Bây giờ thì nó thực dụng. Một cái giường bằng gỗ dán màu sáng. Một bồn rửa mặt, đơn giản và trắng như có thể. Một cái tủ bình thường. Một tấm thảm mà người ta không thể nhớ lại được dù đã cố hết sức. Vật duy nhất mang nét đặc sắc nào đó là chiếc ghế bành để ngồi uống rượu màu xanh lá cây. Phòng có vị của rượu sâm banh ngọt.

Nó là căn phòng dành cho người chủ trại chăn nuôi. Ông ấy bao giờ cũng nhận căn phòng này và chai rượu sâm banh đặt trên bàn ngủ, ông vào thành phố mỗi năm hai lần, vào ngày sau Lễ Thăng thiên và vào thứ sáu trước ngày chủ nhật của lễ tưởng niệm những người đã chết. Lần nào ông cũng dùng bữa trưa với giám đốc ngân hàng và bàn bạc về nửa năm, bò nuôi lấy thịt một lần, vỗ béo một lần, rồi sau đó ông gặp người tình của ông. Cô ấy đi trên đường phố, ngừng lại trước những tủ kính bày hàng ở đây đó, chào hỏi và chờ, cho đến khi đèn ở phía sau bức màn cửa sổ được bật lên, nhìn quanh một lần cuối, thế rồi cô chạy vụt lên trên.

Nó là căn phòng dành cho người thầy giáo trẻ tuổi chưa vợ, người mà tối nào cũng cho mang lên phòng một chai rượu vang Herva mit Mosel, vì ông ấy che dấu việc mình là người đồng tính luyến ái và không chịu đựng được những lần làm mai mối trong phòng dành riêng cho thầy cô, những lời nói bóng gió của đồng nghiệp nam và những lần vô tình chạm phải của đồng nghiệp nữ – tiệc rượu Herva mit Mosel là cách thức của ông để tự rửa sạch những cái đó vào mỗi tối.

Nó là căn phòng dành cho người chơi trống gầy gò của ban nhạc rock Hà Lan. Vào đêm sau buổi biểu diễn trong hội trường của trường trung học thành phố, anh ấy đã đập tan tành nó, chỉ vì anh ấy đã đọc trong các tạp chí rằng tay trống của những ban nhạc rock đều làm như thế. Anh đứng cạnh bên mình, khi anh tự nhìn mình trong cái gương soi trên bồn rửa mặt, mớ tóc dài dính chặt vào nhau, mắt đờ đẫn, nhưng rồi anh ấy cũng quơ lấy chiếc ghế ngồi uống rượu và nện vỡ tấm gương ra và chỉ còn thấy được những mảnh hình của anh. Những mảnh của một ngôi sao nổi tiếng mà ngày xưa người ta thường cắt ra từ tạp chí để sưu tập và rồi dán lại với nhau.

Tôi nhìn thấy tấm ảnh dán đầu tiên ở trên tường trong phòng của Achim bạn tôi, trong trường nội trú. Achim mang quần màu trắng bó sát và đút tiền bừa vào túi làm cho nó cộm lên. Tôi thích thói quen ấy đến mức cũng làm theo. Và cũng chẳng biết được, có thể Achim sẽ sống trong căn phòng khách sạn này sau khi bị đuổi ra khỏi trường nội trú. Trước khi điều đó xảy ra với một người quen của anh, người này đã dùng một loại ma túy nào đó và rồi đã bóp cổ Achim cho đến chết.

Nó là căn phòng cho tất cả họ, cho những bóng ma quen thuộc trong thời tuổi trẻ của tôi. Tất cả họ đã sống trong đó. Tôi đã ngước lên nhìn những cái cửa sổ của nó khi đi ngang qua khách sạn trong thành phố nhỏ của tôi. Bây giờ lần đầu tiên tôi bước vào bên trong, và nó giống hệt như trong trí tưởng tượng của tôi.

Bên cạnh cái giường ngủ bằng gỗ dán nhẹ như lông mà tôi đang ngồi lên và không thể tin cậy được là một cái gạt tàn thuốc bằng thủy tinh trên bàn ngủ. Cũng không thể tin nó được. Nó to đến mức người ta có thể dùng nó để đập chết một người đàn ông. Và một người phụ nữ trẻ tuổi đã ngồi hút thuốc trong chiếc ghế uống rượu màu xanh, dạng chân ra làm dáng và đang mang hay cởi tất, cô đã xem phim trong rạp chiếu bóng như thế.

Nó là căn phòng chạy trốn của tôi. Tôi đã chạy trốn tất cả những gì ở bên trong đó. Chạy trốn những vui vẻ và ưu phiền lạnh lẽo ẩm ướt trên cái giường này. Chạy trốn thứ ánh sáng đục của thành phố nhỏ chiếu vào đôi chân trần của người con gái trên chiếc ghế màu xanh. Chạy trốn viễn cảnh đến một lúc nào đó, bằng con đường nào đó tôi sẽ lạc vào căn phòng này. Khi tôi nghiên người ra phía trước, gương mặt của tôi hiện lên ở góc trái phía bên dưới của tấm gương trên bồn rửa mặt.

Westfalen cực tiểu

Vẫn còn là cuối hè trong tháng 10 này. Mùa hè chần chừ không muốn ra đi, nó giữ con lắc đứng yên và xoa dịu nỗi bồn chồn của tôi. Tôi để cho tàu hỏa chạy đi và chuyển sang xe buýt. Cái thô lỗ của tuổi trẻ nhà quê, buổi trưa tốt bụng buổi tối nóng tính, khi có cơ hội và bia thì lại chuyển sang những cảnh đổ máu, thường ồn ào xô đẩy nhau ở bên trong xe. Người ta rất thích bàn tán về chuyện đó.

            “Tụi nó đập nhau vì gái!”

            Thành Bentheim xuất hiện với những chiếc tháp to nhỏ của nó. Một vùng đất màu mỡ với những con ngựa nâu hiền hòa dưới ánh nắng mặt trời và những nông trại xinh đẹp. Gạch nung vùng Westfalen, màu đỏ tươi, không sẫm màu như ở hạ lưu sông Rhein, góp phần làm cho bầu không khí trở nên thanh thản.

Thànnh Bentheim của Đức gần biên giới Hà Lan.
Thànnh Bentheim của Đức gần biên giới Hà Lan.

Bác tài lái xe buýt nghe radio, khi đến gần Georgsdorf có tin rằng một con bò đực đã thoát ra ngoài, cảnh sát của cả 3 huyện đang săn lùng nó, người ta kêu gọi hãy nên cẩn thận.

            Cứ với mỗi một chuyến buýt tôi lại đến gần Emsland hơn một chút. Bây giờ tôi xuống xe và tiếp tục đi bộ. Đường đi bắt đầu lầy lội hơn, nhà nông dân khiêm tốn hơn, con người, như tôi nhận thấy, Công giáo hơn. Làng mạc của họ trẻ tuổi hơn trong vùng Westfalen rất nhiều, con người mới bắt đầu định cư trong vùng đầm lầy này cách đây không lâu lắm. Đi dọc theo con kênh đào cũ dùng để chở than bùn, tôi đến Adorf rồi tiếp tục đến Twist, một ngôi làng cạnh biên giới. Trước nhà nào cũng có một cây thánh giá lớn, thường có một mảnh đất trồng hoa xung quanh. Có lần, một Magdalena[1] nông dân với mái tóc cắt ngắn thực dụng đang quỳ trước Đấng Cứu thế và dùng hoa cúc tây để thay những đóa hoa hướng dương đã héo tàn mà chiếc thánh giá của ngài mọc cao ra từ đó.

            Trong tủ kính của cửa tiệm bánh mì ở Twist chỉ còn một cái bánh mì phó mát cuối cùng, trong tủ lạnh là một thứ nước uống màu hồng có vị dâu tây, chắc chắn là rất ngọt. Cửa hàng yên lặng như ngôi làng. Tôi đã từng trải qua sự yên lặng này, cái vắng vẻ hiu quạnh vào buổi chiều. Chủ nhật ở miền quê, những ngày thức dậy một cách sáng sủa, với tiếng chuông, và trôi chậm chạp vào hiu quạnh. Bánh xe của những mùa trong năm. Nghỉ hè, bầu trời xanh nhạt trãi dài vô tận. Hành trình câm lặng của những tuần lễ mùa đông. Sự yên lặng của miền quê là vô tận, vô tận. Được dọn dẹp và quét tước cẩn thận như căn phòng của một bà già. Không khí đứng yên, bụi nhảy múa trong ánh nắng nghiên nghiên, chẳng ai nói, mi mắt sụp xuống một nửa, quyển sách mở ra đặt trong lòng, cái đánh dấu trang sách bằng len, chuông gõ đầu giờ, giây kêu tích tắc, giống như cứ mãi mãi như thế và không bao giờ chấm dứt, và sự thật là sẽ không bao giờ chấm dứt.

            Tôi bước ra khỏi tiệm bánh, ngồi ăn cái bánh mì phó mát trên một tảng đá lớn và uống phần màu hồng còn lại. Mùi lá cây mục, mùa thu và đầm lầy ở trong không khí. Tôi bước vào một khu đầm lầy. Nó kéo dài cạnh biên giới với kênh nước và rừng, với những cây sồi và và cây đỗ quyên. Đến một lúc nào đó tôi đứng trước những cánh đồng than bùn rộng lớn chồng chất đầy những con vịt ở trên. Giống như cánh đầm lầy là một con thú mà người đã lột lớp da dầy màu nâu sậm ra, và quẳng thành những đống khổng lồ. Và những cái mà nhìn từ xa giống như đầu ngựa đang gật gù chính là nhiều nhóm máy bơm. Cơn sốt dầu đã qua, nhưng những con ngựa dầu vẫn còn gật gù giống như chúng không thể nào tin vào chuyện đó được.

            Trời bắt đầu sụp tối. Trời sẽ mưa ngay khi gió bắt đầu lặng. Và còn một cái gì đó trong không khí, một tiếng ồn kỹ thuật the thé: Giống như những đoàn tàu hỏa ở xa xa đang lao vùn vụt qua giấc ngủ gật. Không, âm thanh cao hơn. Cũng từ ở phía trên cao hơn. Cánh quạt gió, bây giờ tôi mới nhìn thấy chúng. Dấu hiệu của chiến thắng, được cắm vào trong đầm lầy. Nhiều lắm – chiến thắng sự yên lặng đang được ca tụng.

            Khi trời tối, tôi đứng cạnh con đường trong một ngôi làng có vài cửa hàng vừa mới đóng cửa, không hy vọng có thể tiếp tục đi tới hay tìm được một chỗ ngủ qua đêm. Tôi đứng cạnh tấm biển báo hiệu ở đầu làng và thử dùng ngón cái, khi thấy sẽ không thành công, tôi đi theo con đường dẫn ra ngoài làng, đến đường lớn và giơ ngón tay cái lên trong gió đêm. Cho đến khi tôi biết rằng cũng sẽ hoài công. Tôi trở vào làng.

Trạm xăng vẫn còn mở cửa, và tôi nhờ người bán gọi cho một chiếc taxi. Rồi tôi ngồi trên băng ghế sau và thề rằng sẽ không bao giờ làm như thế nữa cho đến khi tôi trở lại sông Rhein, đúng chỗ đó, đúng hòn đá đó.

————————————————————————————————————————

[1] Magdalena: tên dùng đặt cho con gái. Maria Magdalena hay Maria Magdalene là một nữ tông đồ của Chúa Giê-xu.

Người sưu tập ma ở Leer

Đã có không khí biển khi tôi đến Leer. Thành phố rỉ nước vì ẩm ướt, đèn đường trong ngõ hẻm có hào quang như mặt trăng trong đêm đang bốc hơi, biển phải ở gần lắm.

Ngay khi tôi rời khỏi con đường chính có vài khách bộ hành và những ngọn đèn của nó, điều hiển nhiên, rằng vào một ngày của một năm nào đó tôi đã lạc bước vào trong những ngõ hẻm này, đã tan biến đi. Một khách về muộn thời Eichendorff[1] cũng đứng không khác nhiều hơn là bao trong cái yên lặng của những ngôi nhà thờ gạch nung tối đen. Thỉnh thoảng tôi nghe thấy tiếng người, bước chân. Ở bến cảng, một vài người đàn ông đang làm ồn ào cạnh chiếc thuyền của họ. Một tiếng chuông trong sáng ở phía trên làm cho tôi giật mình. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu như hơi thở có mùi thuốc lá nhai cay xè của một linh hồn người đi biển phà ra từ một góc phố, người không thể yên nghỉ được và bây giờ phải lang thang khắp nơi.

Tòa đô chính lịch sử của Leer. Hình: Wikipedia
Tòa đô chính lịch sử của Leer. Hình: Wikipedia

Ông ấy sẽ không cô độc. Dường như có rất nhiều hình bóng như ông ở trong Leer. Ma hiện về. Những người phụ nữ bất hạnh mà người ta phải cẩn thận khi gặp họ vào ban đêm trên đường đi. Những người ác độc muốn trả thù hay những người muốn cảnh báo người khác và lại làm họ sợ đến chết khiếp với sự xuất hiện kỳ lạ, trắng bệch, ướt đẫm của mình. Những hình bóng này và những câu chuyện về họ thuộc về nơi đây như sương mù và muối trên môi.

Vào cuối thế kỷ 19, một người con gái nông dân yêu anh đầy tớ trai. Cha của cô nói không. Ông cố đánh vào lòng tự hào của cô: Có ngày nào mà thằng đầy tớ lại lên làm nông dân sao? Cô mặc kệ. Người mẹ khẩn khoản sự kiêu ngạo: Con không thấy phiền vì người ta bàn ra tán vào à? Cô không thấy phiền. Người mẹ sắp xếp nhiều cuộc thăm viếng của những người cầu hôn thích hợp, con trai nhà nông. Không thành công. Người con gái tuyên bố rằng cô đã hứa hẹn với người đầy tớ và không muốn bỏ anh ấy.

Cô thuyết phục được anh cùng với cô đi sang Mỹ và bắt đầu một cuộc sống mới ở đó. Đôi trai gái đang yêu nhau bí mật rời bỏ nông trại. Bắt đầu ở Mỹ rất gian khổ. Nhưng cả hai người đều siêng năng, và chẳng bao lâu sau đó họ có được một nông trại.

Trong những năm đầu tiên họ ít khi nghĩ về quê hương, lao động là tất cả. Nhưng rồi người con gái nông dân miền Đông Friesland nhớ cha mẹ, cô luôn viết thư nhưng không bao giờ nhận được trả lời. Khi không còn cưỡng lại được lòng thương nhớ, cô nói với chồng rằng cô muốn gặp lại cha mẹ cô và đi tàu qua đại dương. Cô lên bờ, bước lên con tàu hỏa mang cô về quê hương và đi bộ đoạn đường cuối cùng. Sương mù xuất hiện. Cái cầu thân quen ở ngay phía trước, và một bà cụ tóc bạc trắng đi về phía cô. Cô giật mình.

“Mẹ?”

Bóng ma câm lặng chỉ về hướng ngôi nhà. Người con gái nông dân chạy vội về hướng đó, nhưng cô không thể đi xuyên qua làn sương mù dầy đặc được, giống như cô đang lao vào một bức tường. Cô quay trở lại cây cầu, nơi người đàn bà tóc bạc vẫn còn đứng đó. Chỉ khi có bà ấy đi cùng, người con gái mới về được đến nhà.

Cô nhìn thấy cha mẹ đã chết. Họ đã chết trước đây một giờ đồng hồ, người ta nói cho cô biết. Cô chôn cất cha mẹ và quay trở lại Mỹ, nhưng trong những năm tiếp theo sau đó cô luôn luôn trở về. Trong chuyến về thăm lần cuối cùng cô đi dạo trong rừng và rồi người ta không bao giờ nhìn thấy cô nữa.

“Người ta cho rằng thỉnh thoảng vẫn còn nghe thấy cô ấy gào khóc và ta thán ở ngoài đó.”

Tòa đô chính của Leer và bến cảng. Hình. Wikipedia
Tòa đô chính của Leer và bến cảng. Hình. Wikipedia

Người đàn ông vừa nói câu đấy đang ngồi đối diện với tôi. Ông ấy đã kể cho tôi nghe câu chuyện huyền thoại này. Hay đã tường thuật lại một sự việc? Đó là vào buổi sáng ngày hôm sau, trong ánh sáng ban ngày tươi đẹp nhất, trong một căn hộ trên con phố chính của Leer. Trong phòng làm việc của một học giả, người ta có thể nghĩ như vậy. Ông chính là một học giả. Một người đàn ông cao tuổi, có học thức, thân thiện, một sự xuất hiện hết sức bình dân, tuy có nét giống Schliemann[2]. Chúng tôi ngồi uống trà và bàn chuyện phiếm về ma và tiền ma, về người con gái nông dân vùng Đông Friesland từ Mỹ.

Ông kể về cô ấy như một bác sĩ về một ca bệnh nhân đặc biệt. Và cũng như một bác sĩ, việc làm của ông có liên quan đến những cái bí ẩn, kỳ lạ, chỉ có điều là ông bảo quản chúng trong sách thay vì trong formalin – ông Theo Schuster, người bán sách, nhà xuất bản ở Leer. Ông đã viết nhiều tác phẩm kinh điển về những chuyện đó.

Phòng làm việc của ông chất đầy sách và bản thảo. Khắp nơi đều có ghế bành cũ êm ái và đèn đọc sách. Ông sưu tập huyền thoại, nhưng cái tất bật Schliemann không dẫn ông đến Tiểu Á, mà đến những nơi ở cạnh bên: như thể Schliemann đã lao đến quê hương Mecklenburg của ông và khai quật ở đó.

Ông Theo Schuster khai quật những vị vua của Friesland, những nhân vật từ vùng biên giới, với mơ mộng và truyện kể, phù thủy, những bóng ma hiện về, những con thú ma quái, làm sạch chúng, so sánh và dán nhãn và sưu tập tất cả chúng vào trong những quyển sách dầy cộm của ông. Những huyền thoại thường hay xảy ra tại một địa điểm cụ thể và trong một thời điểm nhất định, nhiều nhân vật xuất hiện trong đó, những người mà ai cũng biết đến. Vùng đất có một gương mặt thứ hai, một bầu không khí thứ hai từ những huyền thoại được hít vào và tiếp tục kể lại. Chuyện ma đã là một đề tài thống trị trong phòng khách ở vùng Đông Friesland cho đến tận rìa của hiện tại, ông khẳng định.

Và vì trong chuyến thăm viếng một người sưu tập say mê như thế không thể nào thiếu được việc là đến một lúc nào đó ông ấy sẽ hé lộ cho người khách đến thăm xem những báu vật thật sự của ông ấy, nên bây giờ ông cũng cho tôi xem phát hiện có giá trị nhất và đẹp nhất của ông: câu chuyện cổ tích được dấu kín.

Ông đã phát hiện ra rằng chính người Đông Friesland không những thừa hưởng tài sản và tiền bạc mà đôi lúc còn cả một phần văn học riêng nữa. Câu chuyện cổ tích ông trình bày đã được lưu truyền qua nhiều thế kỷ như một bí mật của gia đình, từ thế hệ này sang thế hệ khác. “Vì thế mà anh em Grimm[3] đã không tìm thấy nó, tuy đó là một biến thể của ‘Hänsel và Gretel’.”

Chuyện như thế này. Jan Martje, tức là Jan nhỏ bé, sống trong căn nhà nghèo nàn nhất mà người ta có thể tưởng tượng ra được, trong một căn nhà bằng giấy. Nó chẳng có gì ngoài căn nhà đó. Hôm đó là ngày chủ nhật, và nó nhìn ra ngoài cái cửa sổ bằng giấy. Có một mụ phù thủy đi ngang qua và dụ Jan tò mò hãy mở cửa ra: Mụ có một món quà cho nó, mụ giơ cho nó xem một cái tẩu thuốc bằng bạc.

Nó mở cửa ra, mụ tóm lấy nó, bỏ vào trong một cái túi rồi mang nó về nhà. Đang trên đường đi, mụ sực nhớ rằng phải mua mận để ăn tráng miệng – tất nhiên là mụ muốn nấu Jan lên và ăn thịt nó. Mụ nhờ vài người đàn ông đang đào kênh trông hộ cái túi. Jan kêu to lên và rồi kể về sự rủi ro của nó. Mấy người đàn ông thả Jan ra rồi đổ đầy bùn vào trong túi.

Về đến nhà, mụ phù thủy rất tức giận khi thò tay vào túi và lôi bàn tay dơ bẩn và hôi thối ra, nhưng mụ không bỏ cuộc. Vào những ngày chủ nhật kế tiếp theo sau đó mụ cũng cố dụ dỗ Jan. Đầu tiên là với một cái ống điếu vàng, rồi với một cái ống điếu kim cương. Lần nào cánh cửa mụ yêu cầu cũng được mở ra, hẹp hơn, lần nào Jan cũng xiêu lòng. Lần nào Jan cũng bị cho vào túi.

Đến lần thứ ba thì mụ phù thủy cuối cùng cũng mang được mẻ lưới về nhà. Mụ đưa Jan cho người phụ tá và nói: “Mày biết là phải làm gì.” Bà ấy cầm lấy chiếc rìu, lôi Jan ra khỏi cái túi, đi cùng với nó ra sau nhà và bảo nó đặt đầu mình lên khúc gỗ dùng để chẻ củi. Jan giả vờ ngu ngốc và hỏi nó phải lấy cái đầu ra và đặt xuống đó như thế nào.

Nó yêu cầu mụ già làm trước. Và bà ta thật sự là đã làm chuyện đó. Jan với lấy cái rìu, chặt đầu bà ta, quẳng vào nồi nấu đang sôi sung sục và nấp kín. Mụ phù thủy về nhà, ngửi thấy bữa ăn thịt người, và khi mụ thèm thuồng chạy đến cái nồi nấu và mở nắp ra thì Jan đẩy luôn mụ ta vào nồi. Rồi nó chôn cả cái nồi với hai mụ già ở ngoài vườn.

Bây giờ, sau khi kết liễu mụ phù thủy theo đúng cách của phù thủy, nó dọn từ căn nhà giấy nhỏ của nó vào ngôi nhà xinh đẹp của mụ phù thủy và không còn phải lo lắng gì nữa. Từ đấy, người ta nhìn thấy nó hút cái ống điếu bằng bạc trong tuần, ống điếu vàng vào chủ nhật và ống điếu kim cương vào những ngày lễ đặc biệt.

Bây giờ thì tôi chỉ còn muốn biết một điều: Người đàn ông thân thiện trong cái ghế bành đối diện thật sự nghĩ gì về những chuyện này.

“Tôi có được phép trả lời bằng một câu chuyện cuối cùng không”, ông nói, “một câu chuyện rất ngắn?”

“Rất vui lòng.”

“Một hiệp sĩ từ xa đến ngồi cạnh bàn với đồng nghiệp và lái câu chuyện đến những việc này. Tất cả mọi người đều lắc đầu. Ma? Không đâu, chúng tôi không có những thứ đó ở đây. Nhóm người giải tán, cô hầu phòng chỉ cho chàng hiệp sĩ căn phòng của chàng. Trước khi bước ra cô nói: “Ông ơi, chúng tôi có những thứ đó ở đấy chứ. Nhưng chúng tôi chỉ không nói với người lạ về những chuyện đó thôi.”

————————————————————————————————————————

[1] Joseph von Eichendorff (1788-1857): nhà thơ, nhà văn nổi tiếng người Đức.

[2] Heinrich Schliemann (1822-1890): nhà tiên phong người Đức trong ngành khảo cổ.

[3] Jacob (1785-1863) và Wilhelm Grimm (1786-1859): 2 anh em sưu tập truyện cổ tích và cũng là 2 nhà ngôn ngữ học người Đức.

Helgoland

Lúc sang Helgoland thời tiết xấu hơn chuyến đi đến Borkum, gió mạnh cấp 8. Trên tàu có nhiều thiếu nữ hở bụng và nữ sinh Hồi giáo choàng khăn trùm đầu, một nhóm người Bayern đồng ca những bài hát của thủy thủ và một vài hành khách im lặng, chắc hẳn ra đảo vì khổ hình, và không phải là lần đầu tiên. Họ đứng cách biệt. Một người da đen cao lều nghều dùng một cái chìa khóa vặn ốc to tướng đóng kín khoang tàu lại. Sau một giờ chúng tôi ra đến biển khơi.

Helgoland, đảo xa bờ duy nhất của nước Đức
Helgoland, đảo xa bờ duy nhất của nước Đức

Khi cơn bão ập đến, tôi bước lên boong trên cùng và nép vào trong một góc để người thủy thủ sơ tán boong tàu không nhìn thấy. Tôi đứng một mình ở trên đó – dạng chân ra, tựa lưng vào một trong 2 cái ống khói ấm áp  –, và nhìn những thung lũng mở ra giữa hai làn sóng, nhìn chiếc “MS Helgoland” chúi xuống và sóng đập mạnh vào mũi tàu. Đó là khoảng khắc đẹp nhất. Nhiều cầu vồng nhỏ lóe sáng lên một vài giây trong bọt nước. Chiếc tàu lại giũ biển ra và tiến lên ngọn sóng kế tiếp.

 Ở dưới, trên boong lớn, các cô gái hở bụng bây giờ đang lạnh run rất đáng thương, và các nữ sinh Hồi giáo trong những tấm vải choàng mỏng manh của các cô cũng vậy. Một vài người cố vượt qua cơn bão bằng cách đứng sát lại gần nhau như những con thú, một vài người đã bỏ cuộc, mặt trắng bệch ra và chỉ còn biết gập mình qua hàng song sắt trên tàu. Nhóm người Bayern hát những bài ca thủy thủ ở bên trong. Vài hành khách uống bia và lắng nghe, những người khác yên lặng suy nghĩ miên man. Khi tiếng hát câm lặng được ít lâu thì có người lại bắt đầu một bài hát mới và cổ vũ giàn đồng ca cùng chuyển sang hát. Một người đàn ông đi qua đi lại, đu đưa một đứa bé trên tay.

Chiếc tàu chỉ hết chòng chành khi vào đến bến cảng của Helgoland, trông có vẻ mỏng mảnh trong biển động. Lên bờ vẫn còn theo lối cổ truyền. Hành khách chen lấn đến lối ra, trời mưa và giông bão to. Chiếc thuyền mà tất cả mọi người đều phải xuống cập dọc theo mạn tàu, nhiều người đàn ông mang bộ quần áo bằng vải dầu sậm màu đứng ở trên đó, cầm móc sắt, mũ trùm che khuất mặt, với những cái kính râm kỳ lạ giống như được sản xuất từ Bắc Hàn. Họ túm lấy chúng tôi, những người hành khách – nữ sinh choàng khăn trùm đầu đang run lẩy bẩy, người Bayern không say sóng, đàn ông, đàn bà, người nhẹ cân, người nặng cân – và nhấc lần lượt từng người một vào thuyền của họ, đẩy đi tới nếu như có người còn ngần ngại không muốn bước đến mạn thuyền đang bị bão quất vào. Chúng tôi ngồi chen chúc cạnh nhau, ép sát hành lý đã ướt đẫm vào người. Rồi chiếc thuyền mang chúng tôi vào bờ. Không đến năm phút, và bến tàu lại trống vắng như trước đó.

Tôi tìm một căn phòng ở ngay cạnh cảng, nó chật và nằm ngay dưới mái nhà, mưa đập vào cửa sổ. Tôi gọi trà và nghỉ ngơi một lúc, rồi mang áo mưa, đội mũ, đi thang máy lên vùng đất Oberland để dạo đêm trên cái lưng đầy hố của hòn đảo.

 Mưa không còn to nữa, bão dịu xuống, sau một lúc còn nhìn thấy cả mặt trăng, nhúng chìm cả hòn đảo vào trong ánh sáng studio nhiều phút liền. Vẫn còn nhận rõ được những cái  hố. Vào ngày 18 tháng 4 năm 1947, hai năm sau chiến tranh, trong một ý định điên rồ nhưng rất nghiêm chỉnh, người Anh đã cố cho nổ tung cả hòn đảo. Ngày tháng được lựa chọn mang tính biểu tượng – tròn đúng 2 năm sau lần hàng ngàn máy bay ném bom của quân đội Anh không kích Helgoland, lần ném bom rải thảm cuối cùng của Đệ nhị thế chiến.

Vào mùa xuân năm 1947 đó, hòn đảo chỉ là một núi đá vắng không một bóng người. Trong mùa hè năm 1945 người ta đã di tản toàn bộ họ, người dân Helgoland bị lưu đày lên đất liền, và bây giờ hòn đảo của họ sắp bị nổ tung. Trong suốt 9 tháng trời, người Anh đã lôi tất cả những gì chiến tranh còn để lại, đầu đạn ngư lôi, đạn đại bác, mìn, vào trong hầm tránh đạn, và bây giờ họ châm ngòi nổ, từ ngoài khơi. 6700 tấn chất nổ. Báo chí đưa tin: vụ nổ phi nguyên tử lớn nhất trong lịch sử thế giới.

Từ bờ biển, người dân Helgoland nghe rõ tiếng nổ, trong nước mắt, như người ta nói. Họ nhìn thấy một đám mây khổng lồ cất lên từ Biển Bắc. Người ta đo được trận động đất ở khắp nơi trong châu Âu. Khi big bang[i] tan biến đi và bụi lắng xuống, Helgoland vẫn còn đó. Sa thạch màu đỏ đặc trưng của nó hóa ra rất đàn hồi. Nó chịu đựng được. Chỉ phần phía nam của đảo chìm xuống biển. Helgoland rạn nứt nhưng vẫn còn sống sót.

Nhưng những người dân trước kia của nó chẳng được gì, vì bây giờ đến lượt Không quân Hoàng gia ra tay với những tảng đá núi màu đỏ cứng đầu cứng cổ kia. Bảy năm trời, từ khi chiến tranh chấm dứt cho đến những năm 50, phi công của họ tập ném bom trên đảo Helgoland. Trong những lần tạm ngưng, hòn đảo đột biến thành bãi khai thác lộ thiên, vì một công ty buôn bán sắt vụn tìm kiếm kim loại trên đảo để tái sử dụng.

Việc đó kéo dài cho đến Giáng Sinh năm 1950, khi hai sinh viên Heidelberg nhờ sự giúp đỡ của một ngư dân Helgoland mà lên được đảo một cách bất hợp pháp, trèo qua quang cảnh đổ nát, nậy tung cánh cửa sắt của cái tháp phòng không và chiếm giữ nó. Nó là công trình xây dựng duy nhất còn tồn tại trên hòn đảo. Rồi họ treo cờ Đức, cờ Helgoland và một lá cờ châu Âu nhỏ tự làm lấy. Trước đó, họ đã có kế hoạch để cho cả thế giới biết đến.

Hành động này đã dấy lên một làn sóng đồng tình. Ngay đến những người Helgoland vẫn còn được sinh ra là công dân Anh – trước khi Helgoland thuộc Anh trở thành Đức trong năm 1890 và ngược lại Đế chế Đức từ bỏ quyền hạn của nó trên đảo Sansibar – cũng thành lập một ủy ban và, cũng như nhiều người khác, kêu gọi London hãy dung thứ cho hòn đảo.

Sau một vài ngoại giao qua lại, Không quân Hoàng gia đã nhân nhượng, và năm 1952 người Helgoland được phép trở về hòn đảo đầy hố bom của họ, đã bị xóa bỏ mọi dấu tích của cuộc sống con người, để tái định cư và một lần nữa bắt đầu lại từ đầu.

Chuyến bay

Biển lặng và trời xanh vào buổi sáng ngày hôm sau. Chiếc thuyền mang tôi ra cồn cát, đến phi trường, tôi bước tránh qua vài vũng nước đến chiếc máy bay cánh quạt nhỏ. Rồi tôi ngồi ngạc nhiên nhìn hòn đảo đơn độc và dễ tổn thương nằm ở phía dưới. Mỗi lúc một xa hơn trong biển màu xanh xám.

            Nó dường như lúc nào cũng có một tác động đặc biệt lên những người đã đến đây. Trong những mô tả lâu đời nhất, nó đứng sừng sững như một hòn núi kỳ điệu, như một cánh rừng thần thánh ở giữa biển. Tacitus[1] đã gọi nó như vậy, ông đã nhìn  hòn đảo như vậy.

Đảo Helgoland
Đảo Helgoland

Đêm qua, trong ánh trăng tôi đã nhìn thấy một tấm bảng kín đáo tưởng niệm Werner Heisenberg[2]. Ngày xưa ông đã từ làm một việc trên Helgoland mà các linh mục thời Tacitus chắc hẳn cũng đã làm, khi ánh sáng trẻ trung dùng những ngón tay hồng xua đuổi bóng tối của màn đêm đi: “Vào một đêm nào đó tôi đã sẵn sàng, đã gần 3 giờ sáng. Phương trình năng lượng được chứng minh là đúng, và vì thế tôi không thể nào còn hoài nghi tính đúng đắn của cơ học lượng tử được dẫn ra từ đó được nữa. Tôi đi đến mũi đất ở phía nam của Oberland. Tôi leo lên được tảng đá đứng đơn độc nhô ra biển và tôi chờ mặt trời mọc ở mõm đá của nó.”

            Tảng đá đó không còn nữa. Tôi tự hỏi không hiểu trong số nhiều nghìn phi công lái máy bay ném bom đã mở khoang chứa bom một cách kiên định suốt 7 năm trời liệu có được vài người phải tự cấm mình những khoảng khắc Tacitus như thế hay không. Tôi chắc chắn rằng đã có vài người, những người nhìn được cái đó – hòn đảo chứ không phải mục tiêu. Bao giờ cũng có vài người.

            Ngoài tôi ra chỉ còn một đôi vợ chồng khoảng độ 50 trên máy bay. Sau chuyến ra đảo dữ dội, người vợ phải nhập viện vào ngày hôm qua vì đã ngất xỉu và không còn có thể thuyết phục bà ấy đặt chân lên tàu thủy thêm một lần nữa. Người chồng ôm chặt lấy vợ, nói trấn an, và chỉ cho vợ ngắm biển trong lúc máy bay đang ở cao độ thấp, làn da màu xám, lốm đốm, được trang điểm bằng nhiều dấu hiệu hàng hải, được vẽ nhiều vết tàu thủy màu trắng lên trên. Nó giúp cho bà vượt qua được.

            Lúc máy bay lượn để đáp xuống Bremerhaven tôi chưa từng nhìn thấy đất nước như thế bao giờ. Nhìn nó mở rộng và dòng sông Weser giăng các bờ sông ra. Tôi ao ước được bay tiếp. Nhưng chúng tôi hạ độ cao và rồi chúng tôi đáp xuống.

            Tôi đi tàu hỏa về Bremen. Ở đó, trong cửa hàng mà tôi thích nhất – một cửa hiệu bán hàng hóa từ những nước thuộc địa ngày xưa, chuyên về đồ may dệt, mà quần và bộ com lê được treo có trật tự theo màu sắc – tôi mua một chiếc áo khoác màu cát có thể mang đi du lịch được, bằng một loại vải bền có nhiều túi nổi mà có thể bỏ vừa quyển sổ ghi chép của tôi và cây bút bạc của tôi. Rồi tôi mua khuy măng sét bạc có nạm đá mang màu của quả mọng hoàng liên gai Ba Tư. Người ta có thể tìm thấy những vật như thế trong cửa hàng này, chuỗi đeo cổ, đá quý, những vật bằng vàng và gỗ mun, chúng nằm giống như tình cờ giữa những bộ áo váy, được mang về từ một chuyến đi không bao giờ chấm dứt. Một cửa hàng như vậy chỉ có thể có trong một thành phố ở cạnh biển, trong một thành phố cảng. Tôi nhét mấy chiếc khuy măng sét vào trong túi áo khoác và thỉnh thoảng lại sờ đến chúng.

Bremen
Bremen

  Tôi mang chiếc áo khoác đi xuyên qua Bremen, qua khu nội thành dường như rất nhộn nhịp đối với tôi, giống như hôm nay là một ngày đặc biệt – nhưng thật ra chỉ vì tôi vừa đến từ đảo, từ rìa. Cái mua sắm và đi loanh quanh này với ngày càng nhiều túi xách hơn, cái ăn-một-tí-vào-lúc-nghỉ-trưa, cái sau-khi-tan-học-đi-thành-nhóm-đầy-sức-sống-ồn-ào-vào-quán-kem, đoàn người dài và anh hùng của cả nhiều thế hệ đi qua những thành phố như thế với những khu phố cũ bị chiếm cứ và được kiên trì bảo vệ, với những rạp chiếu phim, chợ và quan hệ rắc rối của nó – tôi bơi ở trong đó như trong một bể nước nóng. Hiện tại nóng ấm thuần khiết.

            An tâm là có nó, tôi rời Bremen.

Dân híp pi ở Klanxbüll

Tôi thích chuyến bay đến mức tôi tiếp tục bay đến Husum. Từ đó, tôi chỉ muốn đi tàu thủy từ đảo này sang đảo khác, nhưng không thể được, giao thông trên những tuyến đường biển ngắn đã tạm ngưng cho đến mùa xuân năm tới. Tàu hỏa, nhà ga, trà túi. Thiếu nữ xỏ lỗ, thanh nam xăm mình. Những mẩu chuyện trong toa tàu mà chẳng có liên quan gì đến tôi cả. Trong một chuyến tàu, một thiếu nữ đẫy đà vùng Holstein tra hỏi một hoàng tử Ấn Độ mảnh khảng theo kiểu mẹ vợ.

“Ở chỗ cậu hiện đại hay là xưa cũ?”

Cậu thanh niên không hiểu ý cô gái. “Hiện đại?”

“Ừ thì bọn cậu đốt lửa để ngồi thành vòng tròn xung quanh, hay là có điện?”

Nó cười. “Lửa? Trước đây 20 năm thì có.”

“Bọn cậu có máy giặt không?”

Nó cuối đầu xuống. “Không.”

“Điện?”

Nó phủ nhận rất nhỏ giọng.

“Còn nước? Nóng, lạnh?”

Phần còn lại chìm vào trong tiếng rít ken két của đoàn tàu đang chạy vào một đường cong.

Tôi có một cái hẹn ở bờ biển, đối diện với đảo Sylt. Một họa sĩ sống ở đó với những bức tranh to lớn, trống rỗng của ông trong ngôi nhà to lớn, trống rỗng của ông, một ngôi nhà nông dân cũ. Tôi đến vào buổi chiều và nhìn thấy ông ấy đang đứng ở trước nhà từ hướng ngược sáng. Ông cao to như một người khổng lồ, không phải do ông, nhưng ông rất thích thú khi trở thành hình ảnh của một người Friesen bất trị như thế. Ông rất thích sống trong thân thể của ông.

Ông để mái tóc thưa bay quanh đầu như cỏ dại bờ biển được một vị thánh kỳ dị nhặt được lúc đang đi trên những đụn cát và quấn quanh đầu; một người tránh né những người khác khi đi qua làng và lầm bầm nói: Một thìa danh dự, một nắm cát cho các ông hoàng của những đụn cát.

Rồi tôi ngồi cạnh bàn của ông, ông mang thức ăn và rượu vang ra. Cái bàn ở trong một căn phòng có rất ít đồ đạc, và phòng bên cạnh, ngoại trừ một giá sách, cũng gần như trống rỗng. Và ngoại trừ tranh của ông trên tường. Rất dễ chịu. Còn dễ chịu hơn nữa khi ông vẫn cư xử y như thế trong lúc chuyện trò. Một gian phòng lớn mà trong đó chỉ có vài câu nói rời rạc, một vài câu chuyện kể, một vài suy nghĩ.

“Im lặng là sang trọng. Không gian. Thời gian. Đó là như vua chúa.”

Người chủ nhà đã từ đảo Sylt trở về lại đất liền. Ông đã từng quản lý một ngân hàng trên Sylt. Ông đã từ bỏ hòn đảo và cuộc sống đầu tiên của ông ở trên đó để trở thành họa sĩ ở đây. Đối với ông, điều đó có ý nghĩa như: là một người tự do. Hiếm khi tôi gặp được một ý tưởng tự do kiên định như vậy.

“Sylt cũng có một thứ tự do. Hỗn loạn lắm. Đường đi mất trật tự. Chuyện thời xa xưa về những người sống trong đụn cát, sống nhờ đi săn hải cẩu.” Trông ông giống như một người có nhiều khả năng như thế, săn hải cẩu sống trong đụn cát.

Ông rời ngân hàng vào thời nổi loạn, và có một thời gian mà dường như họ đã từng hợp với nhau, cái tự do nổi loạn trẻ đẹp và ông. Thế nhưng thiện cảm dịu dàng của ông đã nguội lạnh đi sau khi ông đọc trong “Kế hoạch làm việc” về việc “Công xã 1” tưởng tượng cuộc sống cách mạng sẽ ra sao, nếu như có quyền lực trong tay.

“Cộng hòa Xô viết! Tiền lương như nhau cho tất cả! Tôi nghĩ, Chúa ơi, cái này là chống lại tôi.”

Lúc đó có một cuộc biểu tình ở Westerland. Ông muốn tham gia, cuối cùng thì đó cũng là những người bạn của ông. Ông đã đứng ở cửa ra vào ngân hàng, sắp sửa khóa cửa và gia nhập vào đoàn biểu tình. Rồi ông nhìn thấy những người biểu tình đang đi đến từ cuối phố, những người đàn ông trẻ tuổi tóc dài mang áo khoác Thälmann[1], phụ nữ trong áo choàng lông thú của Afghanistan và váy ngắn. Đi qua quán cà phê Orth, đi qua những người khách đang kêu lên của Sylt vì tất cả mọi thứ từ những nơi họ đến, nổi loạn trong các thành phố, lại bắt kịp họ – bây giờ cuộc nổi loạn bất thình lình lại ở đây, ở cái nơi mà theo ý của ông nó không hề phù hợp, dứt khoát không.

Bạn bè của ông đi ở hàng đầu, đoàn biểu tình đến mỗi lúc một gần hơn. Vâng, ông sẽ đóng cửa ngân hàng và đi biểu tình, cũng tốt thôi, ông không hài lòng với một vài sự việc trên đảo. Ông vừa định rút chìa khóa ra thì nghe bạn bè ông hô to: “Hồ-Hồ-Hồ-Chí-Minh!”

“Lúc đó tôi nghĩ rằng ông ấy thì có liên can gì đến các bạn chứ? Chỉ là chuyện tầm phào. Tôi lại mở cửa ngân hàng và ngồi vào bàn làm việc của tôi.”

Đảo Sylt. Hình: Wikipedia
Đảo Sylt. Hình: Wikipedia

Câu chuyện tình với lần nổi loạn không gây nhiều nguy hiểm lắm cho ông. Ở đấy, thật ra ông chỉ cần phải tin vào một vài câu khẩu hiệu và những lời hoa mỹ trên giấy và phủ nhận một vài điều mà ông yêu quý, điều đó làm cho sự đồng tình của ông nhanh chóng nguội lạnh đi. Nhưng vẫn còn có một người khác theo đuổi ông và cố gắng lôi kéo ông. Một cựu tướng lĩnh SS[2] sống trong vùng đang mê tít ông, muốn tuyển mộ ông theo kiểu một người con, một người bạn hay như thế nào đó, ông ta muốn trói buộc người thanh niên tốt đẹp của vùng Friesland với ông ta. Nhà họa sĩ không cần phải học thuộc lòng những câu khẩu hiệu như ở bên cánh tả, vị tướng chỉ muốn ông là người mà ông ta đang nhìn thấy, tất cả mọi thứ khác rồi sẽ đến sau.

“Rồi thế nào?”

Ông phất tay theo một cách không thể nào hiểu lầm được. “Tôi sinh ra trước lúc bắt đầu cuộc triển lãm ‘Nghệ thuật suy đồi[3]‘ ở München chỉ 15 phút. Vào ngày 19 tháng 7 năm 1937. Tôi sinh ra vào lúc 9 giờ 15, triển lãm được khai mạc vào lúc 9 giờ 30.”

Ông chỉ tay vào một trong các bức tranh của ông: “Cái này là suy đồi ư?”

“Có thể đấy.”

“Nếu không phải bức tranh thì là chính tôi.”

Người ta nhìn thấy một màu sắc trên bức tranh và ngoài ra hoàn toàn không có gì khác, chỉ có dấu vết của những chuyển động tròn lúc ông tô màu lên tấm vải. Trước đây nhiều năm người ta còn nhận ra được nhiều thứ hơn trên những bức tranh của ông. Người ta có thể nghĩ đó là những đám mây xanh. Hay những hiện tượng màu sắc xuất hiện khi người ta nằm ngửa phơi nắng và nhắm mắt lại. Ông đã bỏ lại cái đó ở phía sau, cái phần giống như hình ảnh cuối cùng còn sót lại.

Bên ngoài trời vẫn còn sáng, chim di trú tập trung trên những cánh đồng đã thu hoạch. Một con mèo đi rón rén trong cỏ. Ngày xưa, nơi đây đã từng là một vùng đất khắc nghiệt. Đất của những người nuôi bò. Dân híp pi từ Sylt sang đây chỉ vì nhà nông dân ở đây rẻ tiền hơn rất nhiều so với trên hòn đảo đắt đỏ.

Người ta cần can đảm để đến đây và nhà họa sĩ thì thán phục lòng can đảm. Nông dân nuôi bò căm ghét dân híp pi, bởi vì thế mà ông đứng về phía họ. Không dễ xảy ra chuyện gì cho ai, nhưng khi người nông dân bàn với dân híp pi về việc thuê đất thì ông mang theo hai hòn đá, mỗi tay một hòn, chỉ thế thôi, ông đập nhẹ hai hòn đá vào nhau trong suốt thời gian đó. Cắc-cắc, cắc-cắc.

Tiếng động có một cái gì đó giống như tiếng lách cách do một người đánh bạc đang bồn chồn gây ra bằng những đồng jeton cuối cùng của ông ta. Đã có thời người ta ngồi chơi roulette ở Berlin và đặt bằng bò béo đang đứng cạnh bờ biển của vùng này. Bò béo có nghĩa là: Vào mùa thu người ta mua lại một con bê của nông dân, giá rẻ như cho, rồi đặt nó trên những đồng cỏ đẹp tuyệt vời ở cạnh biển này qua mùa hè. Qua một mùa hè như vậy con bê béo lên thêm 4 tạ[4], đó là lợi nhuận. Và dân híp pi đảo Sylt bước vào trong cái thế giới đó hay trong cái tranh sáng tranh tối của thế giới đó – cái càng làm cho sự việc thêm phần khó chịu – và mua lại những ngôi nhà nông dân cũ kỹ với giá rẻ. Có lẽ cũng vì thế mà họ bị người ta ghét. Cái nam tước bò béo giàu có nặng nề bị đào mồ chôn, và họ tổ chức một lễ hội hóa trang hài hước.

3, 4 khu híp pi thành hình, và sống trong ngôi nhà mà bây giờ chúng tôi đang ngồi ăn là người điên khùng nhất. Nhà họa sĩ cười nhẹ khi nói về ông ấy, lắc đầu như thể đang nói về người em trai rất đáng tiếc là hơi bị điên điên. Ông chắc hẳn đã yêu mến ông ấy. Ông cũng nhìn thấy một ít cái tự do riêng của ông ở ông ấy. Trong ánh mắt của ông ấy, trên gương mặt sạm nắng dưới mớ tóc cháy nắng.

Con người kỳ lạ ấy lúc nào cũng đỏ au vì cháy nắng, bởi vì ông ấy có thói quen đứng hằng giờ ngoài đồng và nhìn trừng trừng lên mặt trời, trong cái áo choàng của người chăn cừu nặng nề dài đến mắt cá chân và trong đôi ủng nặng nề mà ngay trong mùa hè nóng nực nhất ông ấy vẫn mang chúng. Ông ấy ít nói như nhà họa sĩ. Ông ấy cũng là một ông hoàng của những đụn cát. Ông ấy có tên là “Người chăn cừu” vì ông ấy đi lại giống như một người chăn cừu.

Điểm khác biệt là nhà họa sĩ biết mình muốn gì. Đóng cửa ngân hàng vào một ngày nào đó, không phải chỉ để đi biểu tình – mãi mãi. Để vẽ, để được tự do. Người chăn cừu cũng muốn được tự do, nhưng ông ta không cưỡi lên ý muốn của ông – vì ông ta là một người chăn cừu. Ông ấy cho nó gặm cỏ trên một cánh đồng ngập nước và nằm dưới một bụi cây. Ông ấy có 12 đứa con với nhiều người đàn bà khác nhau.

Tất nhiên là dân híp pi trồng cần sa riêng của họ, và tất nhiên là họ gọi nó là “cỏ cười vùng Friesland”. Khi RAF[5] lại khủng bố thêm một lần nữa thì bạn bè từ Berlin đang đến thăm viếng, và chủ nhà Friesland vừa mới thu hoạch xong. Họ hong khô cần sa trên vải bạt dưới mái nhà. Khách Berlin muốn chứng tỏ mình quan trọng và thuyết phục người Friesen tin rằng bất kỳ lúc nào cũng có thể xảy ra bố ráp – phải biến cần sa đi. Ngay bây giờ. Họ cũng đã có một ý tưởng để thực hiện việc đấy cho nhanh chóng, và người Friesen vui mừng hớn hở. Người ta lôi về nhiều cái nắp lớn để đậy nồi giặt quần áo, rắc cả mùa thu hoạch vào trong đó rồi đơn giản là nổi lửa đốt lên. Khói kinh khủng, chẳng bao lâu sau đó cả ngôi nhà chỉ còn là một phòng hun khói duy nhất, tất cả nhảy múa qua các gian phòng và bị say hoàn toàn. Cảnh sát thì chẳng thấy đâu.

Trời mưa như trút nước vào cái ngày mà nhà họa sĩ đến nông trại để mua nó lại từ người chăn cừu. Người ta vào nhà bằng cách bò từ chuồng gia súc qua một cái lỗ trên tường. Người chăn cừu không có bàn ghế, chỉ có cái ống điếu hút cần sa, một cây sáo, bộ y phục chăn cừu. Ông ta chỉ sống trong một căn phòng duy nhất của ngôi nhà nông dân rộng lớn mà ông ta chẳng biết làm gì với nó, ngoại trừ có những đêm ông ta trần truồng nhảy múa ở trong đó.

Rồi người chăn cừu và nhà họa sĩ bắt đầu thương lượng giá cả. Đó là một quy trình đơn giản nhưng cần thời gian của nó. Người chăn cừu mở cái cửa 2 cánh sang gian phòng kế cận, gian phòng mà bây giờ chúng tôi đang ngồi ăn tối, rồi đi qua đi lại ở bên trong đó, đi qua đi lại. Và thổi sáo. Cho đến khi người ta thỏa thuận xong. Kể từ đó, nhà họa sĩ sống ở đây.

Tôi hỏi ông có biết nhóm người híp pi đó bây giờ ra sao không.

“Một người thừa hưởng nhà cửa và đã treo cổ tự tử. Một người là thầy dạy nhảy eurithmy[6] đã về hưu ở miền nam. Một người là nữ doanh nhân, cứ vài tháng là có trong báo in trên giấy bóng láng với ngôi nhà riêng ở nông thôn của bà ta.”

“Còn người chăn cừu?”

“Ông ấy đã thật sự trở thành một người chăn cừu.”

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức

————————————————————————————————————————

[1] Ernst Thälmann (1886-1944): Chính khách của Đảng Cộng sản Đức.

[2] SS: Viết tắt của Schutzstaffel, xuất phát từ đội bảo vệ Hitler, trở thành một tổ chức độc lập của Đảng Quốc Xã Đức.

[3] Dưới thời Đức quốc xã, “Nghệ thuật suy đồi” là một khái niệm mang nhiều lập luận phân biệt chủng tộc nhằm để chỉ Nghệ thuật Hiện đại của thế kỷ 20. Cuộc triển lãm ‘Nghệ thuật suy đồi’ được khai trương năm 1937 nhằm để phỉ báng phong trào nghệ thuật này.

[4] Tạ Đức, khoảng 50 kg.

[5] Viết tắt của Rote Armee Fraktion, một tổ chức khủng bố ở CHLB Đức.

[6] Eurythmy là một nghệ thuật nhảy múa hình thành vào đầu thế kỷ 20 ở Đức và Thụy Sĩ.

Bánh ngọt Timmendorf

Tôi đến Timmendorf vào một ngày thứ bảy. Một người quen mà tôi đã gọi điện đến để nhận những chỉ dẫn đại khái nhất nói rằng: “Timmendorf, ở đó dân nhà giàu ngồi dưới lò sưởi trước quán cà phê để duyệt bánh ngọt.” Tôi rất vui vể chuyện đó. Nhưng lại càng thất vọng khi đứng trước những cái lò sưởi giống như một cây nấm to. Không có dân nhà giàu, không có bánh, không có duyệt binh. Mặc dù vậy tôi vẫn ngồi xuống.

Tôi nghe câu chuyện từ bàn bên cạnh. Khó có thể tránh được, vì ngồi bên đó là một người lãnh đạo công trình xây dựng, ông nói rất to. Ông kể về một sự việc ở Ả Rập Saudi. Một người của ông bị bắt gặp cùng với sách báo khiêu dâm. Người ta chặt cánh tay ông ấy để trừng phạt. Rồi cánh tay được đặt vào trong nước đá và cho bay đến Cairo, và người đàn ông thiếu cánh tay cũng vậy. Ở đó, người ta đã nối lại cho ông ta.

Thị trấn Timmerdorf
Thị trấn Timmerdorf

Tôi lại đến những cái lò sưởi hình cây nấm vào sáng ngày chủ nhật. Bây giờ thì cuối cùng họ cũng có ở đó, dân nhà giàu, nhưng mà những hình dạng nào vừa mới xuất hiện ở trảng Timmendorf thế này hở trời? Tất nhiên, cũng có một vài giản dị cổ điển trong màu trắng và xanh đậm, phù hợp với một bãi biển sang trọng. Nhưng chính họ lại nổi bật và rõ ràng thuộc về thiểu số trong nhóm người ở đó.

Điều ngạc nhiên ở những người kia là sự sốt sắng tự ghi chữ trên người. Nhiều người mang đầy chữ viết tắt và nhãn hiệu giống như những người lái xe đua được trả tiền, và nhiều người có gương mặt quá nâu – cũng là chữ. Gần như tất cả đều đội những cái mũ lưỡi trai sặc sỡ không thể thiếu được với ký hiệu nào đấy ở trên đó, đàn ông cũng như đàn bà, và những màu sắc chói chang, vàng hay đỏ chói. Chân trần tháng 10 của họ nhét vào trong những đôi giày đang kêu to lên: Tôi là chiếc Porsche Cayenne trong số những hiệu giày! Tôi là thể thao vĩ đại!

Tất cả vì thể thao. Tất nhiên không phải là thể thao thật sự. Người ta cố gắng tạo nên hơi hướng thể thao xung quanh mình, cung cách ăn nói cố thoải mái cũng nhằm phục vụ cho việc đó, được bày biện cùng với những cái kính râm nổi bật càng nhiều càng tốt. Cung cách phổ biến ở cạnh bàn là uể oải trong bầy đàn giống như sau một trận thi đấu mệt nhọc, ngồi tụ đội ngũ dưới cái lò sưởi hình nấm. Họ muốn tự do như thế, thoải mái như thế, một đội thể thao, không cổ lỗ, không Đức càng nhiều càng tốt. Và phải tốn từng ấy công sức. Kệ. Có một cái gì đó bắt buộc họ phải làm như vậy. Chắc có lẽ lại là Adolf Hitler.

Tôi lâm vào một trạng thái phê bình văn hóa, điều mà tôi thường cố tránh, vì tôi phát ốm lên vì chuyện đó. Sau khi tôi nhìn trừng trừng ra phía trước một lúc lâu, vào ngôi nhà đối diện, tôi mới nhận ra được có cái gì đó được viết trên đấy, bằng đèn neon xanh: “Belle et triste[1]“. Rồi lại mãi một lúc sau tôi mới biết rằng không phải như vậy. “Belletrist” ở trên đó. Đơn giản chỉ là tên của cửa hiệu sách Timmerdorf thôi, ngoài ra không phải là gì khác.

Mỗi ngày vào buổi trưa có một chuyến tàu thủy đi dọc theo bờ biển đến thị trấn tắm biển Boltenhagen trong vùng Mecklenburg. Tôi đứng đợi trên cầu tàu, nơi nó đáng ra phải cập bến, nhưng nó không đến. Nó sẽ không đến trong thời gian dài tới đây, chủ nhật này là ngày đầu tiên của mùa du lịch đông. Tôi quyết định đi bộ dọc theo bãi biển hướng về Lübeck. Tôi đi sát biển, nơi cát cứng và ẩm.

Được giải phóng khỏi tất cả những tính khí của mùa hè, Biển Baltic chỉ còn lại màu nâu nhạt và xanh. Đồi thấp. Cây thông. Vịnh nông và kéo dài ra. Bờ biển đua đưa trong những vòng cung từ mũi đất này sang mũi đất khác. Người ta không thể đoán được rằng cái từ “đáng yêu” lại có thể phù hợp cho bờ biển này, nhưng nó thật sự phù hợp. So với bờ biển của Biển Bắc thì bờ biển này đáng yêu.

Có lần có một con cá đuối bơi cạnh tôi, nhưng nó chỉ là bóng của con diều mà một đứa bé đang thả chơi ở bãi biển. Tôi hỏi một người phụ nữ đang đi dạo rằng bờ biển dốc ở phía bên kia có phải đã thuộc về Đông Đức hay không.

“Đúng rồi”, bà nói.

“Người ta có bơi trốn qua đây không, lúc trước?”

“Ở đây thì không. Ở đây là đường biên giới, đèn chiếu sáng rực vào ban đêm. Mấy chiếc đèn pha quét tìm dọc cả bãi.”

“Nhưng có người bơi qua chứ?”

“Có, nhưng từ Warnemünde về hướng Fehmarn. Họ hy vọng phà sẽ nhìn thấy và vớt họ lên.”

“Còn nếu không?”

Bà làm một cử chỉ thương hại. “Người ta chỉ biết đến những người được vớt lên tàu thôi. Không biết gì về những người khác.”

Đảo đang nhìn bạn

Tại cảng của Stralsund, tôi hỏi thăm một thủy thủ người Pommer về giờ khởi hành của phà đi Hiddensee, và ông ấy trả lời với một tiếng Đức và với một cách xưng hô đã từng được dùng cách đây lâu lắm rồi: “Khi ngài có ở đây 15 phút sau 5 giờ thì tốt. Ngài còn có thể uống cà phê.”

Nơi tàu cập bến có một quán trọ ở cảng, nó có thêm dòng chữ “từ 1332”. Tôi đã định bỏ chuyến phà, nhưng rồi lại bước lên. Biển lặng, mặt trời chìm vào trong bọt biển ở phía tây. Ở boong dưới khách đi phà xếp hàng mua khoai tây chiên và bia, boong trên biến thành một quán cà phê sinh viên. Những từ như “Tübingen”, “phản hồi tốt hay xấu”, “trải nghiệm biển Baltic của tôi” thoảng qua không khí và trộn lẫn vào trong mùi hắc của thuốc rê.

Có một nữ hành khách đẹp. Lông mi dài sẫm màu, áo choàng dài màu đen có thắt eo, mũ bê rê xám, và cô ấy hôn người bạn trai như thế đó. Giống như cái đẹp, phải chạm vào một vết thương để được cảm nhận, phải tạo một một nỗi đau nhẹ nhàng không cưỡng lại được. Một cái gì đó tạo ý muốn phải chạm vào nơi đấy ngay bây giờ. Ở cô ấy là cái gì? Những lọn tóc được nhét vào trong chiếc mũ? Một cái nhìn vuột ra khỏi cô và tìm một cái gì đấy ở nơi xa xôi? Có lẽ nó chỉ là nét xa lạ bí ẩn trong quán cà phê sinh viên quá quen thuộc. Nhưng cô ấy hôn người bạn trai không ngưng, và nó trở thành một loạt hôn kiêng ăn hoàn toàn không đau đớn. Tôi đi xuống boong dưới đến chỗ những người ăn khoai tây chiên.

Hải đăng trên đảo Hiddensee
Hải đăng trên đảo Hiddensee

Trời đã tối từ lâu khi phà cập bến. Tôi không nhìn thấy gì từ hòn đảo, nhưng chẳng bao lâu sau đó tôi cảm thấy nó vẫn chưa đủ khi được biển bao quanh. Nó còn có một sự bảo vệ bao quanh nó, một bầu không khí đặc biệt, kỳ lạ. Tôi tìm một quán trọ, xin thực đơn. Hòn đảo đặt Gerhart Hauptmann[1] trước thực đơn, câu Hiddensee của ông về “bãi tắm có tri thức nhất trong số các bãi tắm Đức.” Ông đã nói câu đó trong tháng 8 năm 1935, đứng ở đấy, nhân dịp kỷ niệm 50 năm “thuộc về đảo”. Bây giờ tôi biết rằng tôi đang ở trên một hòn đảo mà người ta có thể lắng nghe nó như lắng nghe một ngôi nhà thờ, một mục sư, một dòng tu.

Tôi nhìn ngắm ngôi nhà thờ vào sáng ngày hôm sau. Đó là một ngôi nhà thờ làng đáng yêu, vị mục sư có ở đó, và một vài người xa lạ đang chiêm ngưỡng trần vòm của nó, được một họa sĩ trên đảo của những năm 20 làm đẹp bằng những hình hoa hồng trang trí. Ông ấy cũng viết thơ. Ở cạnh cửa ra vào có treo một bài thơ về Hiddensee bằng tiếng địa phương plattdeutsch mà tôi đã đọc được ở nơi khác, rõ ràng là nó đã trở thành quốc ca của hòn đảo.

Hett di de Welt watt donn

Und ä di weh

Un will di nich verstohn,

Dann pack dien Leed un Krohm

Un goh noh Hiddensee,

Do warst du lich un free!

Trong tiếng Đức chuẩn có nghĩa là: “Nếu thế giới làm bạn điều gì / Và làm cho bạn đau buồn / Và không muốn hiểu bạn / Thì hãy xếp nỗi buồn và các thứ của bạn vào hành trang / Và hãy đến Hiddensee / Ở đó bạn sẽ được thanh thản và tự do.” Thanh thản và tự do, hay đấy. Một đất nước có nơi mà người ta được như thế hay sẽ được phép như thế thì không thể là một đất nước quá tệ.

“Sự yên lặng và thiên nhiên”, trong khi đó, vị mục sư giải thích cho những người khách tham quan, “đó là cái chúng tôi muốn, cái phù hợp với chúng tôi.” To tiếng và ồn ào đã có đủ ở nơi khác. Vâng, có lần có vài người đến đảo và muốn đốt pháo hoa và tổ chức ca nhạc ngoài trời. “Đảo đã ngăn cản điều đó.”

Tôi đi ra bãi biển và chạy ra xa. Câu nói của vị mục sư bám theo tôi. Thế tức là tôi đang ở trên một hòn đảo giống như một sinh vật. Nó có thể nghe và nhìn nhiều sự việc đang đến và còn có thể ngăn chận được chúng nữa.

Trời tối nhanh một cách bất thường. Ánh sáng xanh từ ngọn hải đăng quét trên đất. Trong hoàng hôn, các con cừu trắng trên đồng cỏ lại càng sáng trắng hơn nữa. Biển nằm hoàn toàn yên lặng, gió đã nhẹ nhàng trốn đi.

Tôi đi theo con đường cát về khách sạn, nó tỏa sáng lung linh trong hoàng hôn, dẫn tôi xuyên giữa những cánh đồng cỏ và thông, ngang qua 2 căn nhà gỗ tối đen. Gerhart Hauptmann đã sống bên trái, Markus Wolf[2] bên phải. Tôi chỉ nhắc thế thôi, tôi không quan tâm đến những ngôi nhà của thi sĩ, tôi cảm thấy chúng có mùi hôi, và có một cái gì đó thô tục khi dẫn những người hiếu kỳ đi dạo qua những chiếc ghế bành bọc da, hầm rượu của họ và những chiếc giường mà họ đã qua đời ở trên đó.

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức

————————————————————————————————————————

[1] Gerhart Hauptmann (1862-1946): nhà văn, viết bi kịch người Đức, đoạt Giải Nobel văn học năm 1912.

[2] Markus Wolf (1923-2006) lãnh đạo Cục tình báo của Cộng hòa Dân chủ Đức.

Cái nghiệp của tên lửa V 2

Tôi đi dọc theo bãi biển Usedom trong mưa, đi ngang qua những nơi tắm biển, mà với những hình nổi trát vữa chúng trông giống như Berlin ở cạnh biển. Lúc đến nơi tắm biển ở phía cực đông, tôi chuyển lên con đường đi dạo ở bên trên. Ở nơi nó chấm dứt có một cánh cửa mở của một ngôi biệt thự nhỏ, một tấm biển cho mướn phòng. Sau biệt thự chỉ còn rừng, và trong rừng là đường biên giới với Ba Lan.

Bãi biển Usedom. Hình Wikipedia
Bãi biển Usedom. Hình Wikipedia

Qua cửa sổ tôi nhìn thấy một người phụ nữ trong màu trắng đang tập yoga trong phòng khách. Tôi bước qua cửa mở đi vào trong, sực nhớ, quay lại, từ bên ngoài tôi nhìn bà đang vào thế trồng chuối ngược, tôi bấm chuông và nhìn bà đổ xuống. Ngay sau đó bà xuất hiện ở hành lang, nhanh chóng chỉ phòng cho tôi và đưa cho tôi chiếc chìa khóa. Bà chẳng muốn tiền mà cũng chẳng muốn biết tên tôi. Bà cũng không đưa tôi tờ giấy khai báo như thường lệ. Bây giờ bà phải tiếp tục, bà nói rồi biến mất. Khi tôi rời biệt thự vài phút sau đó, vẫn hình ảnh như thế: Phụ nữ trong màu trắng, yên không động đậy trong tư thế trồng chuối ngược.

            Trời tạnh mưa. Sương mù xuất hiện, dầy đặc và ẩm ướt. Tôi lại đi bộ qua những đụn cát ra đến biển và tiếp tục trên con đường đi dọc theo bãi biển của tôi. Không còn nhìn thấy được nhiều lắm. Phía sau tôi là một cái cầu tàu, được chiếu sáng đủ màu, mới trước đây tôi còn không nhận ra nó. Ánh sáng mờ ảo màu đỏ ở phía trước tôi, chắc phải là Swinemünde. Sóng tràn đến, trắng bọt biển và đen – như những con chó đang nhảy trên bãi biển.

            Sương mù càng đầy đặc hơn. Tôi gần như không còn nhìn thấy gì được nữa và định hướng bằng âm thanh của sóng biển. Sau khoảng một giờ đồng hồ, tôi nghe được tiếng Ba Lan và quay trở lại. Tôi đã ở trong Ba Lan từ lâu. Sau đó 10 phút tôi sa lưới biên giới, sa vào trong một hàng rào được căng ra mà tôi không nhận ra trước đó. Chắc là tôi đã đi quá sát biển và lưới biên giới không trải dài cho đến tận biển.

            Trong lúc còn đang suy nghĩ không hiểu nó chỉ được giăng ở bãi biển hay sâu tít vào trong rừng hay có thể bao khắp cả nước Ba Lan thì tôi nhìn thấy đèn nhiều màu chiếu sáng trên biển. Vào mùa này không còn du thuyền qua lại nữa, nhưng dường như vẫn còn một chiếc đang trên đường đi, với một đường dây hoa đèn nhiều màu. Tôi ước gì mình đang ở trên tàu. Tôi tưởng tượng một chuyến đi, tiếp tục dọc theo bờ biển về hướng đông bắc, một chuyến tàu ma vui vẻ đến Kolberg, Pillau, Memel, Hungerburg, Narva[1], với món trứng cá muối Ba Tư và một dàn nhạc Phần Lan đang say rượu.

            Nhưng ngày hôm nay thì tôi đến từ Peenermünde, và một chiếc tàu thủy say rượu mơ mộng có nghĩa lý gì khi so với giấc mơ về một chuyến bay của tên lửa? Những người mơ mộng đã nghĩ ra cái tên lửa đầu tiên được phóng lên theo chiều thẳng đứng của thế giới. Tên lửa V 2 là cả hai: vũ khí và giấc mơ. Tất nhiên, giấc mơ đã bị chôn vùi dưới những đống đổ nát mà V 2 đã để lại trong những thành phố như London, nơi nó đã gieo rắc kinh hoàng và chết chóc, và người dân London chạy trốn dưới trạm tàu điện ngầm vẫn còn an toàn vào thời đó. Và nó đã bị chôn vùi trong Mittelbau-Dora, nơi hàng ngàn người đã chết, những người đã phải sản xuất nó dưới mặt đất. Nhưng tuy vậy – trong những lúc ban đầu và trong chuyến bay qua nhiều thập niên của nó, chiếc tên lửa Đức, cái trước tiên là phải trở thành vũ khí trước khi nó có thể là Saturn[2] bay đến Mặt Trăng, không khác nhiều khi so với những phát minh to lớn khác, những cái cũng đồng thời là cả hai: vũ khí và nhạc pop.

            Berlin trong những năm cuối cùng của thập niên 1920 là nơi chốn của những kẻ mơ mộng, và cái tên lửa là một biểu tượng của thời đó. Tiểu thuyết nói về chuyến bay bằng tên lửa đến những châu lục xa lạ, một phim truyện về chuyến thám hiểm Mặt Trăng. Những người say mê tên lửa phân phát tờ rơi viễn tưởng trên đường phố và mời dân chúng đến dự những lần phóng thử ở những nơi tập bắn quanh Berlin – phải bỏ tiền mua vé vào xem, giấc mơ tên lửa phổ biến đến như thế đấy. Sự việc chỉ trở nên nghiêm trọng khi quân đội đang yếu thế nắm lấy nó và tuyển chọn những kẻ điên điên và những người mơ mộng có nhiều tài năng nhất. Những người như sinh viên khoa lý Wernher von Braun, ông cũng có một xưởng chế tạo tên lửa ở ngoại ô Berlin.

            Cái tên lửa! Nó là cái mà chiếc tàu thủy hơi nước đầu tiên đã là, chiếc tàu hỏa đầu tiên từ Nürnberg đến Fürth, những cái cánh của Daidalos[3], các bản vẽ kỹ thuật của Leonardo, cái cỗ máy bay được của Schneider ở Ulm. Một giấc mơ của con người về việc chu du qua thế giới và không gian.

Bảo tàng Lịch sử-Kỹ thuật Peenemuende
Bảo tàng Lịch sử-Kỹ thuật Peenemuende

            Ở Peenemünde người ta đã đặt một bản văn dưới giấc mơ của tên lửa, một âm thanh cảnh báo gây miễn dịch cho những người khách tham quan. Trích dẫn Goebbels được nhắc lại trong một vòng bất tận, những mảnh âm thanh được xé ra từ các bài diễn văn của Bộ trưởng Bộ tuyên truyền về V 2 và về một cái V 3 trong tương lai, còn mạnh hơn thế nữa. Một bầu không khí kỳ lạ thống trị ở đây, như trong một lớp học thời xưa, nơi người thầy nói một cách nghiêm khắc và những đứa học trò thì thào ở dưới băng ghế. Có tiếng nói to chế nhạo của Goebbels, luôn nhắc lại những lời đe dọa ấy như một con vẹt, có tiếng nói thì thầm của khách tham quan, nhận xét được thì thào trao đổi trước những bản vẽ, vật trưng bày, mô hình của V 2. Nước Đức, sau đó.

            Một người đàn ông trẻ đứng giải thích nhỏ nhẹ trước cái sơ đồ đang nhấp nháy của cơ sở thử nghiệm thuộc quân đội. Ông giải thích về những bình chứa nhiên liệu của tên lửa, bình nhiên liệu A của nó, bình nhiên liệu B của nó, nói về ôxy lỏng ở trong đó và về cồn 72 độ. Cả hai đều được sản xuất tại đây, ông nói, tại Peenemünde – cồn từ khoai tây trong vùng. Một người đang đứng nghe nói đùa. Vậy tức là V 2 đã bay với rượu vốtka của vùng Pommern. Người đàn ông trẻ chưng hửng nhìn ông ta, nói: “Đó là một trong các trung tâm công nghệ lớn nhất thời đó”, và một trong những người đang đứng quanh nói thì thầm: “… cái lớn nhất.”

            Mô hình bệ phóng tên lửa được xây trong một góc phòng: Bệ phóng, đường ray dẫn đến và kho chứa mà nhiều tên lửa đang chờ ở bên trong cho đến lượt được bắn đi – quả thật là kho chứa nghệ thuật. Chúng trông giống như lối đi có mái vòm. Một người đàn ông đứng trước đó, và trong một chốc lát, có vẻ như thế, ông đã quên mất thế giới ở xung quanh ông. Ông chỉ còn biết nhìn cái mô hình tên lửa nhỏ đó, giống như cái tên lửa nguyên thủy. Giống như con vật biểu tượng của một hiệp sĩ đồ chơi. Cũng giống như tên lửa hiệp sĩ, nếu như hiệp sĩ có tên lửa. Ông không thể quay nhìn nơi khác được, ông nói: “Lúc còn bé tôi đã nhìn thấy một cái V 2 đang bay. Ở gần Hamburg, với mẹ tôi. Tiếng hú lên, nó bay cao khoảng độ một cây số. Màu bạc. Và rất nhanh. Đúng vậy đó, nó bay đi xa trong màu bạc, không thể quên được.”

Biệt thự hoang vắng khi tôi trở về, cửa mở một nửa như trước đó. Đèn sáng. Tôi đi qua các gian phòng, bước lên cầu thang, tôi gõ cửa và gọi to, không có ai cả. Tôi ngồi xuống bậc cầu thang. Quả lắc của cái đồng hồ đứng kiểu Tân Nghệ thuật trong hành lang đứng yên. Tiếng động duy nhất là tiếng kêu rì rầm của cái máy phun nước màu vàng trên cái ghế thấp màu xanh nhạt ở trong phòng.

            Tất cả mọi vật trong ngôi biệt thự đều tạo cảm giác ngôi nhà không có người cư ngụ thường xuyên, được trang bị thích hợp cho những người khách tạm thời. Trong phòng khách chỉ có những bàn ghế cần thiết nhất, nhiều đĩa CD nằm trên một cái loa. Nhạc raga Ấn Độ. Không còn ai xuất hiện nữa. Không còn ai vào buổi tối này và vào sáng ngày hôm sau cũng không.

            Trong lúc chuẩn bị khởi hành và đang suy nghĩ không hiểu nên để tiền lại ở đâu và có nên đóng cửa nhà lại hay cứ để mở hé như cũ thì tôi phát hiện 2 tờ giấy viết tay, được treo trên tấm kính của cánh cửa giống như người ta treo nó khi chỉ đi vắng trong chốc lát.

            Trên một tờ là: “Chúng tôi ở ngoài biển.” Trên tờ kia: “Tôi ở trong biển.”

            Không còn nghi ngờ gì nữa, người phụ nữ trong màu trắng là một cư dân của biển.

————————————————————————————————————————

[1] Kolberg, Pillau, Memel, Hungerburg, Narva: Các thành phố trong lịch sử đã từng thuộc nước Đức.

[2] Saturn cũng là tên của loạt tên lửa trong chương trình Apollo, được chế tạo dưới sự lãnh đạo của Wernherr von Braun, người cũng đã lãnh đạo chương trình chế tạo tên lửa V 2.

[3] Một hình tượng trong thần thoại Hy Lạp, dùng lông chim và nến kết thành cánh cho mình và con trai để bay vượt ngục.

Cái quán cá ở tận cùng của thế giới

Tôi biết một làng trong Pommern, ở cực đông của đảo Usedom, một làng đánh cá ở cạnh Vịnh nước lợ Stettin với tên Kamminke, và tôi muốn gặp lại nó, chỉ vì cái tên thôi cũng đã đủ lý do[i]. Kamminke ở cạnh Vịnh nước lợ Stettin. Trước đây nhiều năm tôi đã đến đó. Tôi không thể nhớ là đã từng nhìn thấy một nơi hoang vắng hơn, xa vắng con người hơn như thế.

Xe buýt chạy qua làng mạc trong mưa, qua những con đường mà cứ ba đường thì có một đường tên là đường Hòa bình, qua những ngôi nhà thờ bằng đá và đài tưởng niệm Xô viết mà bây giờ người ta chỉ gọi đơn giản là “đài tưởng niệm”. Rồi nó dừng lại cạnh vịnh. Gió pha vào trong mưa và thổi nó lên thành bão. Một vài thuyền đánh cá đang giằng giật giây buộc, những người đàn ông càu nhàu trong bộ quần áo màu xanh, những người mà đã ra khơi từ sáng sớm và bây giờ đang đứng quanh mẻ lưới đã được phân loại của họ. Xô cá vược. Xô cá pecca. Lươn uốn lượn trong một cái chậu nước. Một người đàn ông tách ra khỏi nhóm, dạng chân đi đến bến tàu, loay hoay dưới cái tạp dề rồi tiểu một cách khó khăn xuống bến cảng. Tôi hỏi thăm một chuyến tàu qua vịnh, về đất liền. Có lẽ ngày mai. Có lẽ là hôm qua, chuyến cuối cùng. Có lẽ không còn chuyến nào trong năm nay.

Zum Themendienst-Bericht von Michael Zehender vom 17. Mai: Eine einzige Strandpromenade verbindet Bansin, Heringsdorf, Ahlbeck und Swinemünde auf Usedom. (Die Veröffentlichung ist für dpa-Themendienst-Bezieher honorarfrei. Das Bild darf nur in Zusammenhang mit dem genannten Text und nur bei Nennung der Bildquelle verwendet werden.) Foto: UTG/Labahn
Đảo Usedom

Ở bên cạnh nhà của những người đánh cá là cái quán cá của Kamminke. Bão thổi mưa vào dưới những mái nhà bằng sậy che chở cho bàn ghế. Tôi là người khách duy nhất và người chủ quán chỉ cho tôi một góc ngồi còn tương đối khô ráo. Tôi ngồi vừa vặn vào trong đó với cái ba lô của tôi, cà phê nóng của tôi và con cá bơn lưỡi ngựa hun khói của tôi. Cái đèn treo ở phía trên lung lay, cờ hiệu của hãng bia kêu răn rắc, loa hát những bản nhạc được ưa chuộng của thập niên 60. Tôi lại đi đến chỗ những người đánh cá.

Chúng tôi nói chuyện về thời tiết, rồi tôi mới biết rằng đúng ra chỉ còn có một người đánh cá thật sự, và ai đó nói về tận thế. Nó đã thật sự xảy ra, rất gần đây. Một người đàn bà sống trong làng đã có mặt trong lúc đó. Bà chỉ mới 10 tuổi khi thành phố Swinemünde bị hủy diệt vào ngày 12 tháng 3 năm 1945. “Đối với tôi cái ngày đó giống như ngày hôm qua”, bà nói, khi tôi đứng trước cửa, và mời tôi vào nhà.

Bà sống với bố mẹ trong Kamminke, chỉ đến thăm ông bà ở Swinemünde. Khi có báo động bà không kịp xuống hầm tránh bom. Điều đó đã cứu sống bà. Những người ở dưới hầm đã bị chôn vùi.

Bà là một đứa bé, bà không thể làm như người lớn, những người phải giúp cứu hộ ngay sau đó và nhờ vậy mà được lôi kéo vào việc khác. Bà không phải làm gì ngoài việc đứng nhìn. Đôi mắt bà ghi nhận, trí nhớ bà ghi nhận tất cả mọi việc như một cái máy ảnh. Những xác chết ở trên cây và những mảnh xác ngựa cũng bị hất văng lên trên đó. Bà mẹ của ông hàng thịt ở cạnh bên nằm trước cửa sổ. Chỉ còn nhìn thấy phần thân trên của bà ấy. Trong hành lang của nhà láng giềng, bụng và ngực bị xé nát. Xác chết, xác chết, trên đường phố. “Được đặt nằm như cá trích”, bà nói. Người tỵ nạn, người tỵ nạn. Đầy trên tàu hỏa, đầy trên tàu thủy[ii].

Cháu trai của người đàn bà láng giềng – áo nâu[iii], băng chữ thập ngoặc – mang quan tài và lao công nước ngoài đến và lôi xác bà của ông ta ra khỏi đống đổ nát.

Đến một lúc nào đó bố của bà đứng trước cửa và hét to: “Có ai còn sống không?” 2 người lính hỏi họ có thể giúp đỡ được gì không, rồi họ phát hiện ra cái bánh bông lan và lao vào nó. Cứu thương đến. Họ nhìn thấy người đàn ông chết trong hành lang, cuộn ông vào trong màn cửa sổ và mang đi. Ông của bà còn sống, nhưng đầy mảnh bom, họ cũng mang ông đi. Sau đó bà cùng bố và bà của bà đi tìm ông, cho đến khi có người nói: “Ông bà không biết sao, ông ấy đã nằm trên Golm từ lâu rồi.”

Golm là một ngọn đồi, phía dưới có một dòng sông, một điểm du ngoạn được người Swinemünde yêu thích. Trong thế kỷ 19, ở đó có một ngôi nhà mang hình dạng một đền thờ Hy Lạp nhỏ; sau đó, vào thời phóng khoáng hơn, có một cái quán, nó có tên là “Chòi của cậu Tom”. Điều dễ hiểu, lái những xe tải chở xác chết lên đồi, đào những mồ chôn lớn ở trên đó và đổ thành phố Swinemünde vào trong đó, cái phần đã chết của nó.

Golm, tôi đã biết nó. Tên, tên, tên, như trên những tảng đá của Seelow lần trước[iv]. Alberti. Arndt. Bloch. Blitz. Brecht. Brendel. Bröhan. Burckhardt. Busch. Louis Deslandes. Marino Delle Donne. Dutschke. Engels. Hesse. Krupp. Voldemars Lapskalus. Marx. Messerschmidt. Pape. Roth. Sütterlin. Thoma. Weber. Zorn[v].

Lúc từ giã, bà nói một câu mà trước nay tôi lúc nào cũng nghĩ nó là tuyên truyền, bà nói: “Không bao giờ chiến tranh nữa.” Và như sợ tôi có thể phớt lờ không nghe, bà nhắc lại: “Tôi thường hay nói, chẳng thà nghèo như chuột trong nhà thờ, nhưng không bao giờ chiến tranh nữa.”

Cuộc đời của bà ở trong một câu nói, nó không phải là tuyên truyền, không phải là nói theo. Bà đã nói về một ngày kinh hoàng mà so với nó, tất cả những ngày khác trong cuộc đời của bà chỉ là những ngày hết sức bình thường.

Bà ngồi cạnh chồng trong phòng khách, lưng thẳng, đặt tay trước bụng, với mái tóc ngắn của một người phụ nữ đã có tuổi ở thôn quê. Chắc là bà hay ngồi trên ghế như thế và nhìn ra cửa sổ hay xem truyền hình, giống như sau một ngày làm việc dài. Và chắc chắn cuộc đời bà là một ngày làm việc dài. Có một bộ ghế xa lông, đã từng là một lần mua sắm quan trọng, bộ sưu tập ly uống bia trong cái tủ kính ở phòng khách. Ngôi nhà của hai người là một ngôi nhà thấp vùng Pommern, cạnh con đường làng với một mảnh vườn hẹp ở phía sau, một nhà kho, một băng ghế cho những mùa hè nóng bức ngắn ngủi ở vùng trên đó.

Tôi nghĩ ông bà đang sống ấm cúng trong những ngày tháng còn lại – cái câu đa cảm này bất chợt xuất hiện trong đầu tôi. Tôi nhìn những cái khăn trải bàn nhỏ và cái tủ, những tấm ảnh đáng yêu, bé trai dễ thương tặng hoa cho bé gái dễ thương, sự im lặng đang kêu tích tắc trong phòng khách, niềm mơ ước hòa bình sâu đậm, và dường như trong khoảng khắc này tôi đã hiểu được tâm hồn Đức mới.

Cái sau đó. Sau cú va đập của thiên thạch. Cái thơ mộng vững chắc của những phòng khách và mảnh vườn, con hoẵng và người lùn và những thằng hề đang khóc của người này[vi]. Và những ký hiệu hòa bình và những quyển sách cũ của Erich Fromm[vii] và những tấm áp phích với đồng hồ Dalí sắp lỗi thời của người kia. Vì những khác biệt của hai người này rất nhỏ. Tất cả họ đều có ý muốn nói như nhau. Tất cả, tất cả, miễn đừng có chiến tranh nữa.

Nước Đức của cuộc đời tôi thay đổi rất nhiều từ thập niên này sang thập niên khác, nhưng điều này luôn luôn không thay đổi. Tất cả suy nghĩ, tất cả cảm nhận từ thời điểm thiên thạch. Đó là điều mà tôi tin rằng đã hiểu được từ Kamminke, rằng có sự hủy diệt mạnh đến mức nó làm tê dại cả một cuộc đời, cả một đất nước. Vâng, bụi vẫn còn đang lắng xuống. Tê dại vẫn còn đang từ từ giảm đi.

Cái quán cá vẫn còn mở cửa khi tôi trở về. Trời đã hết mưa. Ở đó có 3 người Pommern đang đứng, một người trong bọn họ với cái mũ kiểu Hoàng tử Heinrich. Bao giờ cũng có một người đội nó – dường như cho tất cả những người khác. Tôi gọi một ly rượu khoai tây, nhưng ông chủ quán lắc đầu và khuyên nên uống rượu vang đỏ vùng Baden. Tôi thật sự không thể đoán trước được là sẽ đứng cạnh đê chắn sóng của Kamminke trong một đêm thu, ly rượu vang Dornfelder trong tay, gió trong tai và sự im lặng Pommern.

Sáng ngày hôm sau tôi đi chuyến phà cuối cùng của mùa hè này qua Vịnh Stettin hướng về phía nam.

————————————————————————————————————————

[i] Kamminke bắt nguồn từ tiếng Xlavơ có nghĩa là hòn đá.

[ii] Vào cuối Đệ nhị thế chiến, trong thành phố Swinemünde có rất nhiều người tỵ nạn đang dừng chân tạm thời, chờ được tiếp tục chuyển đi tiếp. Con số người chết trong lần ném bom ngày 12 tháng 3 năm 1945 dao động từ 4.000 đến 20.000 người.

[iii] Màu của Đảng Quốc Xã Đức.

[iv] Trận đánh ở dãy đồi Seelow trước cửa ngõ Berlin trong tháng 4 năm 1945 là một trong những trận đánh lớn trong Đệ nhị thế chiến, hằng chục nghìn người của 2 bên đã tử thương. Ngày nay có một đài tưởng niệm ở đấy với nhiều bia đá.

[v] Zorn: (Sự) tức giận, cũng là một họ (tương đối hiếm) của người Đức.

[vi] …con hoẵng và người lùn và những thằng hề đang khóc: Người Đức hay dùng chúng để làm vật trang trí trong vườn.

[vii] Erich Fromm (1900-1980) nhà triết học, xã hội tâm lý học Đức-Mỹ.

Những bài hát từ góc không người

Ueckermünde nằm trong nắng thu khi tôi xuống tàu và cứ làm như thể ở đây vẫn còn thuộc Đức là một điều hết sức bình thường. Ngay cạnh cảng là “Rosi’s ốc đảo cá” với giá cả thân thiện và cái dấu phẩy nhỏ của sở hữu cách trong tiếng Anh không thể tránh khỏi. Một chiếc xe bán thức ăn, một cái lều ở trước đó. Ngọn gió lạnh từ phá giằng giật cạnh ốc đảo, làm cho mấy cái cột lều kêu ken két và những con mèo ăn cá mập mạp, lười biếng trốn càng sâu vào trong bộ lông của chúng.

Bãi biển Ueckermünde
Bãi biển Ueckermünde

Người giáo viên dạy lái ô tô của thành phố nhỏ này bao giờ cũng sắp xếp để nghỉ giải lao ở chỗ Rosi. Tôi vừa mới đến thì ông ấy đã dẫn người nữ học viên vào trong lều, một cô gái tóc vàng ngượng ngùng 18 tuổi. Và khi một trong số các công nhân đang đứng trong lều cạnh tách cà phê có đường và sữa nói rằng con gái ngày càng xinh hơn, thì cô đỏ mặt và người giáo viên hãnh diện nhìn cô học trò của ông ấy.

            Ngày ở đây trôi qua giống như trong Penny Lane[1], trong cái thế giới nhỏ bé làm việc bình thản, chào nhau nhã nhặn và chọc ghẹo nhau này. Nó không có liên quan gì đến những tấm ảnh trong quyển album của tôi. Ueckermünde không đen tối và xa lạ. Nó là một dòng từ bài hát của Beatles, một thành phố tươi sáng cạnh phá với nhà trát vữa tươi sáng và một lâu đài tươi sáng và một điểm thu hút chân thật, Viện bảo tàng nấm ở cạnh nhà ga xe buýt. Đã qua mùa, khách không còn nữa. Bây giờ chỉ còn người ta với nhau và sửa chữa, xây tường, sơn phết, hoàn thành những gì bị gác lại từ mùa hè.

            Tôi đi bộ đến Eggesin, thành phố kế cận, gió thu thổi trên đại lộ. Tôi đến đó vào buổi trưa. Xe buýt chở học sinh ngừng lại và khởi hành. Và còn một chiếc xe buýt nổ máy đỗ ở đấy. Chiếc duy nhất đi về miền quê. Tôi bước lên.

            Người lái xe buýt là một người đàn ông Pommer trẻ tuổi lịch sự, anh ấy mang cà vạt, một cái áo công sở màu xanh, một cái kính mắt gọng nhỏ đang thịnh hành. Tôi nói nơi muốn đến.

            “Đến Glashütte.”

            Anh ấy ngạc nhiên ngửng lên nhìn.

            “Có thật không?”

            “Tại sao không?”

            “Chưa bao giờ có. Không ai muốn đến đấy cả.”

            Anh ấy gõ địa danh vào máy tính tiền – nó không nhận. Nó không biết đến cái tên đó. Anh ấy cố thử thêm một lần nữa.

            “Nó đình công rồi. Tôi không thể bán vé đến Glashütte cho ông.”

            Anh ấy đề nghị đến một nơi khác. Hintersee. Cái máy tính tiền biết Hintersee.

            “Hai đồng mốt.”

            Chúng tôi chạy vào rừng và chẳng bao lâu sao đó qua một ngôi làng trông giống như chưa bao giờ có một miền Đông nghèo. Tôi không thể giải thích được sự giàu sang thịnh vượng Tây Đức của nó. Nhà riêng cho gia đình đã được tân trang trong những ngôi vườn được chăm chút với lò nướng. Rồi lại rừng.

            Một thanh niên ngồi trước tôi. Trên cái áo khoác của anh ấy có chữ “Tấn công”, “Mặt trận”, “Chiến tuyến chính”. Một thương hiệu Anh ở bên cạnh. Nhạc từ tai nghe của anh ấy to đến mức người ta nghe được. Những bài ca nhanh, được gào lên, với những từ ngữ cũng có trên cái áo khoác của anh ta. Rồi trở nên yên lặng, chàng thanh niên xuống xe. Còn lại một mình tôi với bác tài.

            Không còn làng nữa, chỉ còn những xóm dân cư nhỏ và nhà riêng lẻ. Tôi nhìn thấy một con ngựa trắng gầy qua cửa kính. Nó hất mạnh đầu lên bầu trời trông giống như muốn cắn lấy nó.

            Chiếc xe buýt đi càng lúc càng sâu vào trong hẻo lánh. Con đường chúng tôi đang đi không còn là một con đường bình thường nữa, nó là một con đường rừng nhỏ, gập ghềnh, chúng tôi lắc lư. Hintersee xuất hiện, bác tài xe buýt người Pommer quan sát tôi trong kính: Liệu tôi có định xuống xe chưa. Nhưng Hintersee chỉ là một cái xóm nửa đã đổ nát, nửa bị bỏ rơi. Tôi ra hiệu cho anh ấy đừng dừng lại.

            Trời mưa phùn. Bắt đầu đoạn đường mà anh lái xe nói rằng ngoài ra thì anh ấy luôn đi một mình. Khi chúng tôi đi ngang qua tấm biển “Biên giới quốc gia 4 km”, cảm giác đi trong một xe buýt từ A đến B dần dần biến mất. Bây giờ có thể cứ mãi mãi như thế này.

            Chúng tôi đi qua nhà của người quản lý rừng. Người ta đã đi săn. Thợ săn đứng ở đấy, một con hươu đang bị treo lên và đong đưa, bị kéo lên cao bằng tời ở chân sau, ngược đầu xuống. Môi của nó gần chạm đất ẩm. Nó đang đong đưa nhẹ nhàng.

            Chúng tôi chạy ngang một đống ô tô phế thải, rồi lại rừng và đến gần một ngôi nhà híp pi được vẽ màu sặc sỡ mà rõ ràng đã bị bỏ hoang từ lâu rồi. Tôi đã nhìn thấy nhiều ngôi nhà như vậy ngay từ trong những xóm nhà vừa rồi. Tôi xuống xe ở đây. Bác tài gọi với theo bảo đây chưa phải là Glashütte. Tôi đứng trong mưa phùn và loay hoay với cái ba lô cho đến khi chắc chắn rằng người lái xe buýt không còn nhìn thấy tôi trong kính chiếu hậu nữa. Rồi tôi bước qua cửa nhà.

            Tôi lục lạo 2, 3 phòng và chỉ tìm thấy một vài bàn ghế cũ và rác. Tôi hơi thất vọng và đã muốn bỏ đi, lúc đấy tôi nhìn thấy một cái máy cassette phủ một lớp sáp nến dầy trên cầu thang. Nó trông giống như tác phẩm của một người bắt chước ông Beuys[2]. Dây điện chạy ngược lên cầu thang, nhưng căn nhà không có vẻ như ở đây vẫn còn có điện. Mặc dù vậy tôi vẫm bấm phím nghe – vào thời cái máy cassette còn sống, chủ nhân của nó đã cạo sạch nó kỹ lưỡng –, và quả thật là có một cái gì đó bắt đầu than van cục cựa và chuyển động dưới lớp sáp. Tôi ngồi xuống cầu thang và đưa cái vật sáp nến đó kê sát tai. Rồi tôi nghe, rất yếu ớt, rất rỉ sét, rất xa xôi, tiếng hát của Neil Young. Một giọng rên rỉ giống như từ ngoài xa, trong thế giới không còn người sống nữa, và ông ấy hát bài ca của ông ấy. Where the eagle glides ascending, there’s an ancient river bending[3]

            Rồi bài hát bị cắt ngang, và một giọng khác, gần hơn, nói. “Khi anh nghe được những điều này thì em đã … Xin lỗi anh, nhưng … yêu anh, nhưng em không như anh, và … Không, không có gì sai cả, … tốt hơn là như thế, tin em đi … rất xa … một thế giới khác … đi ngay bây giờ…”

            Sáp nến đã mài vụn câu nói. Tất cả đều có thể: Một phụ nữ rời bỏ một người đàn ông ở trong rừng Pommer và quay trở về với thế giới quen thuộc, nơi người ta kiếm tiền, xây nhà, lập gia đình. Cô biết: Anh ấy là một người lập dị – anh ấy không thể sống ở nơi cô đi đến. Và nếu đó chỉ là một nhóm kịch diễn tập một vở chưa ai biết qua cả một mùa hè dưới ánh nến? Khi nến cháy hết thì mùa hè cũng đã qua, và họ lại đi tiếp. Họ bỏ lại chiếc máy thu âm vở kịch, trước sau gì thì cũng chẳng đi đến đâu với nó.

            Tôi quyết định chọn phiên bản này. Tôi đặt chiếc máy thu âm vào chỗ của nó, đi xuống cầu thang, lại đóng cửa đã đi vào và rời căn nhà của các giọng nói.

            Không nấn ná, tôi đi trong rừng tranh tối tranh sáng, ngang qua nhiều nơi, bỏ hoang và có người ở, đi dọc theo một hàng rào quân sự một lúc lâu. Trời về đêm khi tôi đến đường tàu hỏa, cái nhà ga bé tí trên tấm bản đồ của tôi. Còn một chuyến tàu đi đến Stettin.

            Vào buổi sáng ngày hôm sau, có một con tàu màu xanh với ghế da giả màu đỏ ở trên ga Stettin. Nó chạy theo hướng ngược dòng sông Oder về phía nam. Bóng dáng thành phố xuất hiện trong chốc lát – các cái tháp, cảng, lâu đài của các công tước Pommer. Nhân viên soát vé người Ba Lan[4] đi vào và yêu cầu trình vé một cách lịch sự đến nỗi tất cả mọi người trong toa đều cảm thấy mình quý phái trong giây lát. “Quý ông quý bà”, ông ấy gọi và ý muốn nói mấy người già mệt mõi với những bao và túi nhiều màu của họ và các thiếu niên đang ngủ gật hay hôn nhau với cái đầu cạo trọc và áo có mũ trùm đầu giống như ở mọi nơi khác. Họ ngồi thẳng người lên, như được kéo lên bằng một sợi dây. Khi ông rời toa, họ lại sụp xuống.

            Đường sắt màu xanh chấm dứt ở Greifenhagen. Ở đây, ở đầu cầu phía đông của sông Oder, tôi đi cắt tóc. Vì không ai hiểu tiếng nói của người kia nên tiệm yên lặng dễ chịu, chỉ có tiếng tách tách của kéo trong không khí.

            Rồi tôi đi qua sông Oder. 6 con thiên nga tự sắp thành hàng trên mặt nước và nhìn tôi chằm chằm, cho đến khi tôi biến mất ở phía sau sậy. Trên đường ra biển, sông Oder chia làm 2 nhánh lớn gần như nhau, bao bọc lấy một vùng đất trũng rộng lớn. Tức là tôi đã vượt sông Oder đông và sau một giờ đi bộ sẽ đến sông Oder tây.

            Một dây điện thoại cổ lổ đong đưa qua vùng đất trũng, một đường dây điện võng xuống từ cột gỗ mảnh khảnh thô sơ này sang cột khác. Tôi đi theo nó qua sậy cao ở hai bên đường. Đầy tiếng nói, thỉnh thoảng chúng lại ngưng ít lâu, rồi chỉ còn gió trong sậy và rì rào về những điều mà tôi không hiểu được.

            Tôi không thể tưởng tượng được một con đường nào bí mật hơn nữa để đi đến nước Đức. Tôi đến từ một góc đã bị lãng quên, tôi đến từ lau sậy. Tôi nghĩ đến sông Rhein: Nó khác biệt như thế đó. Nó bơm tất cả qua thung lũng chật hẹp của nó, hoàng đế, đạo quân, tàu thuyền, xe lửa, ý tưởng. Sông Rhein là trái tim và mạch máu. Sông Oder hoàn toàn không có gì như thế cả. Nó không lôi kéo con người và mơ mộng vào trong thung lũng bằng phẳng của nó. Nó hướng tầm nhìn qua bên kia, đi đến nơi xa xôi và luôn xa hơn nữa. Ở bờ sông của nó người ta mơ đến những đất nước chưa nhìn thấy, những chuyến phiêu lưu về phía đông.

Khi mặt trời lặn, có 2 người đàn ông đứng ở bờ sông gần Gartz, một người già và một người trẻ có bộ râu đen. Họ quay lưng lại với thành phố của họ. Gartz đã từng là một thành phố nhỏ ở tỉnh lẻ, có nhà dân giàu có, một cái kho, một cây cầu bắc qua sông, nhưng hai người này không có ký ức về việc đó. Họ đứng ở chân cây cầu bị giật sập ngay trước khi chiến tranh chấm dứt và không bao giờ được xây lại. Và vì không còn ai sống trong những ngôi nhà cạnh dòng sông nên cửa sổ của chúng vẫn còn mù. Không ai nhìn thấy màu đỏ thẫm của dòng sông đang chuyển sang màu bạc, trong yên lặng uy nghi. Vẻ đẹp toàn hảo của những ngọn đồi thoai thoải ở bờ sông bên kia trong ánh sáng cuối cùng. Trăng lưỡi liềm xuất hiện, được xử lý tuyệt đẹp, treo dưới bầu trời gần như thể với tới được, nhưng 2 người đàn ông ở cạnh bờ sông không buồn nhìn ngắm.

            Người già: “Có xem bóng đá không?”

            Râu đen: “Chuyện vớ vẫn.”

            Người già: “Có xem phim sex không?”

            Râu đen: “Vớ vẫn đến thế!”

            Người già: “Ừ, có bạn gái thì tự làm phim sex được đấy.”

            Râu đen: “Cứ toàn nói chuyện tầm phào.”

            Người già: “Phải nói cái gì chứ, còn biết làm gì bây giờ.”

            Rồi cả hai bước đến những lối vào tối tăm của những ngôi nhà tối tăm mà họ biến mất trong đó không hề ngoảnh lại. Cũng không có ánh đèn sau khoảng thời gian người ta cần để bước lên cầu thang và mở cửa và mò mẫm tìm công tắc.

            Thành phố nhỏ bé mù lòa với những căn phòng tối tăm của nó nằm ở đấy như đã chết. Tức chẳng có gì đặc biệt, lúc nào cũng cùng cái bài ca cũ kỹ, ngu ngốc. Chúc ngủ ngon, thành phố nhỏ cạnh sông, buona sera, kiss me goodnight[5].

————————————————————————————————————————

[1] Tên một đường phố trong Liverpool, tựa của một bài hát của ban The Beatles.

[2] Joseph Beuys (1921-1986) là một nghệ nhân người Đức, ông cũng là một nhà điêu khắc, lý thuyết gia về nghệ thuật và sư phạm học.

[3] Nơi chim đại bàng lướt lên cao, có một dòng sông cổ xưa uốn cong…

[4] Sau năm 1945 thành phố Stettin (Szczecin) thuộc Ba Lan.

[5] Buona sera (tiếng Ý): chào buổi tối, kiss me goodnight (tiếng Anh): hôn tôi, chúc ngủ ngon

Karl nhỏ

Tôi thức dậy trong một căn phòng trống rỗng và trên một cái giường đơn sơ đến mức tò mò muốn tìm hiểu cái thành phố tôi phiêu bạt đến. Tôi vén màn lên.

Những gì nhìn thấy từ Schwedt có thể làm cho người ta nghĩ rằng thành phố duy nhất chỉ là một trạm nghỉ chân khổng lồ ở cạnh đường cao tốc. Bây giờ tôi mới nhớ lại. Tối hôm qua, từ Gartz còn một chuyến buýt đến Schwedt, và người phụ nữ lái xe buýt hỏi tôi muốn xuống ở đâu. Ở trung tâm, tôi nói – đó là ở đâu? Ngưng một lúc bà ấy nói tôi nên ngồi lại trên xe. Rồi bà ấy lại chạy xe ra khỏi nơi mà tôi cho rằng đó là một thành phố, đến khu vực này của những xa lộ và trung tâm mua sắm bằng phẳng và bãi đỗ xe lớn có đèn cao chiếu sáng rực. “Trung tâm Schwedt”, bà ấy nói khi đỗ lại. Tôi nên xuống xe ở đây và tìm nơi qua đêm. Tôi đã làm điều đó.

Schwedt 2015
Schwedt 2015

Tôi vội vã thay đồ và bước xuống, ngang qua phòng ăn sáng, ra khỏi trung tâm vào thành phố mang nét Mỹ nhiều nhất trong chuyến đi của tôi. Con đường mua sắm với những cửa hàng giảm giá của nó. Những người chỉ đi lại bằng ô tô. Cái mà hôm qua trong bóng tối tôi cho là trung tâm thành phố thì chỉ là một phần nhỏ còn sót lại của khu phố cổ, một heritage walk[1] ngắn.

Tôi hỏi thăm đường ra sông và được chỉ qua một khu dân cư mới. Nhà riêng cho gia đình, vừa được xây xong. Gạch ngói óng ánh như lớp gelatin trên bánh trái cây, được mua trong cửa hàng lớn từ trên những tấm kim loại lớn. Xanh nước biển, đỏ, xanh lá cây. Việt quất xanh, mâm xôi đỏ, kiwi.

Dân cư tương lai của khu phố xúc đất vừa được chở đến, đổ lên những luống đất tương lai, cuốc và bóp vụn nó ra và nhét cây vào trong đó. Tôi đã vì tôi một thời gian dài và bất chợt nghĩ rằng sẽ như thế nào, khi bước đến một ngôi nhà như thế vào một chiều cuối thu, cặp hồ sơ và chìa khóa ô tô trong tay – đến những cửa sổ sáng ánh đèn của nó, phủi sạch tuyết đầu mùa ra khỏi những tấm gạch terracotta Tây Ban Nha trên tường cạnh cửa ra vào, ra khỏi số nhà được khắc trên đó bằng nét chữ uốn lượn trang trí. Tôi bước nhanh đi.

Còn một cây cầu gỗ cuối cùng nữa. Nhiều vòng cổ bằng giọt sương treo trên những mạng nhện của nó; rồi tôi đứng ở trên đê. Từ ở trên này tất cả đều không thể nhìn thấy được, không thể nhìn thấy được như chính tôi, và nó cứ như vậy. Tôi đi trong sương mù nhiều giờ liền, không nhìn được tôi đang ở đâu. Nó phủ dầy như bông trên dòng sông và trên đất, con đê là cái gờ giữa các vũ trụ. Cái của con người nằm bên phải, đôi lúc có một ô tô ở xa xa, thỉnh thoảng có chó sủa. Từ bên trái chỉ nghe được tiếng thú vật. Âm dài dẫn lời phàn nàn của bò. Tiếng thét khàn khàn của ngỗng trời.

Sương mù tan vào buổi trưa. Mặt trời làm cho nó tan chảy chậm chạp, bây giờ tôi nhìn thấy mình đang ở đâu. Bên phải là hình dạng của một ngôi làng. Một đại lộ dẫn đến đấy, chắc chắn là ở đó có những trang viên và vườn hoa nhà thờ thơ mộng, và cũng có công viên nào đó của Schinkel[2], nhưng tôi chỉ còn biết nhìn vũ trụ ở bên trái.

Màn kéo lên cho một đồng cỏ xavan Đức, một Serengeti[3] của miền Đông, được lưu lại trong một bức tranh phong cảnh của thế kỷ 19. Đồng cỏ và bụi rậm. Một vài cây đứng lẻ loi. Tất nhiên là cây sồi. Một đàn bò, đang đi dạo trong đội hình thưa thớt. Cừu, xúm xít xung quanh một gốc cây tần bì. Chúng đã qua đêm dưới tàn cây rộng lớn. Tôi bất chợt có cảm tình sinh vật với nơi qua đêm ở ngoài trời này.

Bây giờ tôi nhìn thấy ngỗng trời. Nhiều hơn là tôi nghĩ. Đen nghịt cả mấy  cánh đồng cỏ cạnh sông. Nhiều bầy khác bay đến liên tục, bay vòng qua nhau, kêu ồn ào, đáp xuống, bay lên. Tôi nằm trong nắng ở bờ sông và nhìn ngắm chúng.

Rồi tôi đứng lên và tiếp tục đi theo dòng sông về hướng nam. Khi khát hay đói, tôi sẽ đi ra đại lộ gần nhất, ở đấy chắc sẽ tìm được một quán, một vườn, một bàn, một ghế. Bao giờ cũng tìm thấy chúng trong cái ngày hạnh phúc này.

Tôi đến Bad Freienwalde cao hơn vùng Oderbruch, và trong cái quán mà tôi đang chờ bữa tối còn có một người khách nữa. Ông ấy đổ ly rượu mạnh vào ly bia đầy, ngồi một lúc trước cái ly mà không hề chạm đến nó, rồi cuối cùng ông ấy đẩy nó ra xa. Người phụ nữ trẻ tuổi sau quầy rượu, đầu trong đôi bàn tay, nhìn ông.

“Không nổi nữa phải không, Karlchen?”

Ông ấy càu nhàu và đứng lên một cách khó nhọc. Bây giờ tôi mới thấy ông ấy dùng nạng để đi lại. Ông ấy gầy, trên 70, áo gió màu đen và giày da mũi nhọn màu đen. Dây thun quần thể thao màu đen của ông ấy trượt lên trên một tí hé lộ 2 vạch tất trắng. Ông khập khiễng đi ra.

“Karlchen là ai vậy?”

Cô phục vụ nói cho tôi biết một cách vô tư như thể cô đã chờ đợi câu hỏi này, và điều tôi nghe được đã khiến tôi làm một việc mà tôi căm ghét. Tôi đi theo ông ấy. Cả hai chúng tôi không cần phải đi xa. Ông ấy hướng đến quán kế tiếp. Tôi nhìn thấy ông ấy ngay khi tôi bước ra đường, ông không đi nhanh bằng nạng được.

Tôi chờ cho đến khi ông chào hỏi xong bà chủ quán và những người khách quen và tìm được một bàn cho ông, rồi tôi bước đến và hỏi ông có đồng ý cho tôi ngồi xuống không.

Ông đưa tay mời. Tôi gọi 2 ly bia.

“Ông là trọng tài?”

Ông ấy nhìn tôi sửng sốt. Rồi ông thẳng người lên và nói bằng tiếng Đức chuẩn trong sáng:

“Tôi là người trọng tài Đức được tặng thưởng cao nhất. Một huyền thoại, nổi tiếng ai cũng biết.”

Ông nhìn xuống người ông. Gương mặt mang nét đau buồn.

“Chỉ xui xẻo đến mức tôi phải đi bằng nạng. Ừ, tôi không may bị xe đụng, tôi ngã xuống, đập đầu xuống.”

Chúng tôi nâng ly, và trong khi ông uống một ngụm dài và cẩn thận đặt ly xuống, tôi có cơ hội để quan sát gương mặt của ông. Ông chải tóc bạc ra phía sau, theo lối của những người đàn ông quanh Sepp Herberger[4], mang lại cho ông một nét sắc sảo, nghiêm khắc. Nét mặt trọng tài: cái mũi khoằm nhỏ, miệng là một đường thẳng nằm ngang, khóe môi là 2 đường rãnh thẳng đứng. Như những nét vạch trên tấm bìa lót ly bia của tôi, bà chủ quán vừa dùng bút bi cho nó thêm 2 vạch mới nữa[5].

“Chúc sức khỏe.”

“Cũng chúc sức khỏe.”

Ông luôn luôn mang gương mặt đó, cái mặt nạ 90 phút của uy thế về cơ bản là hoài nghi. Chỉ khi ông nói mới có chuyển động trên nét mặt. Thế nhưng ông nói không nhiều.

“49 năm trên sân! 4684 trận! Không có một ai khác trong toàn nước Đức.”

Ông nói ngắn gọn như một phóng viên thể thao, một phóng viên trong sân vận động của cuộc đời riêng của ông. Tên họ. Trận đấu. Bàn thắng. “Motor Pankow! Motor Babelsberg! Dynamo Hohenschönhausen!”

Ông nâng cái ly đã gần cạn lên và chăm chú nhìn nó, như thể nó đáng được thẻ vàng.

“Tôi đã thổi còi tất cả. Cuối tuần nào cũng đi, ngoại trừ Phục Sinh với Giáng Sinh.”

Bà chủ quán ân cần mang đến cho chúng tôi 2 ly bia mới.

“Thứ bảy giải bóng đá hạng ba, chủ nhật bóng đá hạng nhì. Năm 1988 danh hiệu Meister des Sports[6] trước 67 000 khán giả” – ông chuyển sang tiếng Đức chuẩn tinh khiết –, “đó là cái cao quý nhất.”

Chúng tôi cụng ly. “Không hơn được thế. Chúc sức khỏe!”

“Còn gia đình?”

“Không bao giờ có thời gian. Không vợ, không con.”

Câu trả lời nhanh nhẹn giống như ông đã phải tự trả lời câu hỏi này nhiều lần rồi.

“Tôi đã có nhiều cô bạn gái rất đẹp. Có lần tôi đã định đến thăm Dinh Friedrich với một cô. Đã đứng trong xe buýt rồi. Em trai tôi chạy tới nói: ‘Anh còn phải thổi còi cho Motor Eberswalde nữa!’ Thế là chấm dứt tình yêu.” Ông chuyển sang tiếng Đức chuẩn. “Bóng đá đã làm cho tôi ra như thế đó.”

“Còn Bern[7]?”

“Bern. Chúng tôi nghe radio trong quán của chúng tôi. Tiếp theo sau đó đã diễu hành trên đường phố.”

“Còn thống nhất?”

“Không. Trước kia thì tốt hơn.”

“Còn bây giờ?”

“Câu lạc bộ cổ động viên Bayern München Bad Freienwalde, tôi ở trong đó. Khi Bayern thua trận thì tôi thật muốn khóc òa lên.”

————————————————————————————————————————

[1] Chuyến đi bộ qua di sản.

[2] Karl Friedrich Schinkel (1781-1841) kiến trúc sư, nhà xây dựng, quy hoạch đô thị và họa sĩ người Phổ (Đức).

[3] Công viên quốc gia Serengeti (Tanzania) ở châu Phi.

[4] Sepp Herberger (1897-1977) huấn luyện viên đội tuyển bóng đá quốc gia Đức.

[5] Trong quán nhậu ở Đức thường người khách gọi/uống bao nhiêu ly thì người phục vụ sẽ lần lượt vạch từng ấy vạch lên tấm bìa lót ly bia.

[6] Meister des Sports (“Bậc thầy thể thao”) là danh hiệu do chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Đức trao tặng cho các cá nhân có nhiều công lao hay thành tích trong thể thao.

[7] Điều kỳ diệu ở Bern: Đội tuyển bóng đá Đức thắng Hungary trong trận chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới năm 1954.

Cái quán ở cạnh sông Neiße

Freienwalde thả tôi đi trong lúc vui tính nhất. Một cái xe buýt đi đến vùng Oderbruch, đi trong một ngày cho không, uể oải. Bướm đu đưa trong nắng, chim di trú quên cả cuộc hành trình, học trò rối rít xô đẩy nhau như trong tháng 5. Đi qua làng quê một lần nữa trong gió hè. Với những ngôi nhà và nhà thờ bằng gạch nung, với những cánh cửa nhỏ, cửa sổ nhỏ, vườn nhỏ, làng mạc trong vùng Oderbruch trông giống như những nơi trong thế giới của người Hobbit – lớn hơn người lùn nhỏ, nhỏ hơn con người lớn. Altfriedland và Gottesgabe và một lâu đài nhỏ ở đây đó.

Bad Freienwalde
Bad Freienwalde

Một nhà ga nằm ở đâu đấy trên những cánh đồng. Tôi tựa lưng vào nó, nhắm mắt lại và chờ đón cái tiếng động thành hình khi chuyến tàu hỏa từ thành phố lớn làm cho đường ray tỉnh lẻ kêu thét lên.

            Nó đi đến Eisenhüttenstadt, lại một thành phố trong lứa tuổi của tôi. Nhưng tuổi của nó thật, nó trẻ thật sự. Trước đây 60 năm, ở đây chỉ có ruộng và đồng cỏ; chẳng bao lâu nữa sẽ trở lại như vậy. Cái vũ trụ đã thành hình quanh nhà máy luyện kim và Thành phố Stalin, đã nở rộng ra trong một thời gian dài và có thêm nhiều vòng đai dân cư mà vào lúc cuối đã ngày càng trở nên không đáng yêu và tồi tàn hơn. Bây giờ nó đang co lại. Người ta đang giật sập những vành đai không còn ai cần đến nữa.

            Tôi đi qua một khu phố bị bỏ rơi như vậy. Nhiều khu nhà trống rỗng đứng ở đấy, bị trói lại, bị hôi của, đã sẵn sàng để được giật sập. Sau mỗi một cánh cửa là một tiếng động. Đập mạnh và vỡ tan. Kể lể và kêu rú. Một tiếng nổ to. Nghe giống như tiếng người. Tôi đứng trên quảng trường ngay trong đám cỏ dại giữa những ngôi nhà, một con ác là đậu trên thanh treo thảm, và trong một lúc lâu tôi tin rằng đã nghe được tiếng đánh nhau bằng những mảnh vỡ và thanh sắt và tiếng con gái đang cổ vũ ở phía sau những cánh cửa. Tôi nậy một cánh cửa ra và lần mò bước vào bên trong, nhưng không có bóng dáng con người ở trong những ngôi nhà đó.

            Chính là các khu nhà đổ nát đã tạo ra tiếng động đó, chúng kêu lạch cạch và lập cập. Các đồ vật cuối cùng còn lại ở trong đó đập vào nhau trong những hầm cầu thang và hộ ở. Dây điện lòng thòng. Đèn. Ống lắc lư. Cánh cửa bị đạp tung ra. Gió làm cho chúng chuyển động. Gió ở trong nhà, ngoài ra không có ai khác.

            Cối xay nhà đang chờ ở phía sau khu phố và nghiền nhỏ tất cả ra. Người ta đập nhà ra thành từng mảnh. Chúng nằm đó, bị đập tan thành từng đống. Chúng đi vào cối xay như thế. Và chúng trở thành đống bê tông bị nghiền nhỏ cao như một ngôi nhà khi trở ra.

Tôi nhìn thấy sông Neiße vào lúc hoàng hôn. Có một cái quán xinh đẹp ở đó, nơi nó chảy vào sông Oder, nhà một tầng với cửa gỗ ở giữa, nhìn ra sông. Tuy là chiều tối ngày thứ bảy nhưng quán chỉ có vài người khách. Ông chủ quán là một người đàn ông trẻ tuổi với mớ tóc vàng thắt đuôi ngựa. Ông có ác cảm với cây cầu biên giới chính thức ở tại Guben cách đây một đoạn theo hướng ngược sông. Vâng, ông nói, ngày xưa người tắm sông Neiße thỉnh thoảng đã bị bắn. Biên giới vẫn còn được canh phòng cẩn mật cho đến ngày nay. Nhưng tắm sông vào một tối hè nóng bức đơn giản là đẹp đến mức không thể không làm được.

Sông Neiße, biên giới Đức-Ba Lan
Sông Neiße, biên giới Đức-Ba Lan

            Ông lôi ra một quyển sách hướng dẫn du lịch của năm 1914. Làng có 2 quán, ở trong đó viết như thế, tuy vậy người ta phải ưu tiên cho quán này hơn. Trong vườn ngay cạnh nơi sông Neiße nhập lưu, người ta sẽ thích thú nhìn giao thông tàu thủy nhộn nhịp trên sông Oder. Cái đó cách đây đã lâu lắm rồi.

            “Ngày nay”, một người khách đã lắng nghe chúng tôi nói to, “họ thích thú cảnh buôn lậu nhộn nhịp. Thuốc lá, người, bất cứ cái gì anh muốn.” Lại vừa mới có 10 người lội qua sông Neiße.

            Ông có kiểu tóc giống như Rudi Dutschke[i] từ đến từ Guben, và ông chủ quán nói rằng người Guben thích đến quán cạnh sông Neiße, vì thật ra không có quán nào ở chỗ họ cả. Tôi không tin như thế, Guben là một thành phố, tôi biết như vậy.

            Người chủ quán trước ông chủ này suýt nữa thì đã nổi tiếng. Một người chuyên làm súng, kinh doanh cái quán cạnh nơi hợp lưu của sông Neiße từ những năm 30. Ông đã cưới con gái của gia đình chủ quán và vào năm 1933, lúc còn là một thanh niên trẻ tuổi, đã tiếp nhận cái quán lúc đó có tên là “Cái neo vàng”. Ông Willi Dohme này cũng là một vận động viên chèo thuyền có nhiều thành tích. Ông luyện tập ngay trước cửa nhà, trên sông Oder và Neiße. Năm 1932 ông vô địch nước Đức trong môn thuyền đơn.

            Sau chiến tranh, người vận động viên thể thao và chủ quán được ưa thích là một điều phiền nhiễu cho quyền lực mới. Không còn có thể nghĩ đến việc chèo thuyền trên sông Oder và Neiße nữa. Các con sông giờ đây là biên giới hòa bình, và hòa  bình ở sông là tuyệt đối. Người ta thật ra rất muốn quốc hữu hóa cái quán nằm ở một vị trí nhạy cảm như thế, nhưng ông vẫn giữ nó cho tới chừng nào ông còn giữ được. Người ta cho chỉ điểm bám sát lấy ông, người ta theo dõi ông, người ta sưu tập tài liệu chống ông nhiều năm liền và cố khích ông nói những điều nào đó có hại cho ông. “Do ông ta có quan hệ qua Tây Berlin”, theo như trong một bản báo cáo bí mật, “nên có khả năng ông ta là gián điệp.” Khi tất cả đều không thành công, người ta cố gắng thu nhận ông làm người chỉ điểm. Dohme chỉ đơn giản là không đi đến điểm hẹn.

            Những người chỉ điểm phần lớn đều là người trong làng, vài người có bí danh đẹp. “Vòi voi”, “Hoa đổng thảo”, “Linh lan”, “Gió”. Một người chỉ điểm có bí danh “Gió”, thật là tuyệt. Nhưng người có bí danh đẹp nhất, kỳ lạ nhất lại là “cộng tác viên không chính thức Hòa Bình”.

            Rồi có người khai báo rằng ông đã nhìn thấy dấu hiệu đèn pin nhấp nháy từ trong cái quán cạnh sông Neiße hướng sang nước Ba Lan, nhưng cũng không thành công, người ta không nắm bắt lấy được ông chủ quán. Cuối cùng, người ta buộc tội ông đã phá hoại việc chống nước lụt, vì ông đã không cho một người lính cứu hỏa dùng điện thoại riêng của ông. Will Dohme bị bắt ngay trên đường phố và bị tuyên xử nhiều tháng tù treo. Cuối cùng thì có thể tịch thu được cái quán của ông. Đó là trong tháng 7 năm 1958, và Dohme biết rằng sự tồn tại của ông ở cạnh biên giới hòa bình đã chấm dứt cùng với việc này. Chỉ một tháng sau đó ông đã chuẩn bị xong để bỏ trốn. Vào ngày 16 tháng 8 năm 1958, người chủ quán cạnh sông Neiße sang Tây Đức, mang theo gia đình và huy chương chèo thuyền của ông.

Trong lúc đó chỉ còn lại hai chúng tôi, người chủ quán kể chuyện của người chủ trước và tôi. Đã đến lúc phải đi. Tôi tìm đến quán trọ trong đêm tối như mực. Chó trong làng giúp tôi: Chúng chồm lên bờ rào và tạo thành một hàng rào danh dự hung dữ. Tôi mở cửa và không bật đèn mà lần mò bước lên cầu thang.

            Đôi bàn chân của tôi cảm nhận được gỗ lát sàn đang oằn xuống, đầu ngón tay sờ vào giấy dán tường, chúng dẫn qua cạnh cứng của cái kệ bằng kính, chạm phải máy truyền hình, bộ bàn ghế, màn treo cửa sổ. Tất cả đều thơm mùi mới. Không chỉ ở trong này: Cả làng đều mới. Trước đấy, tôi không nhìn thấy một cái đầu hồi nhà kho nào mà không vừa mới được sơn xong, không một ngôi nhà nào mà không vừa mới được trát vữa. Tôi chui vào trong tấm chăn giả da hổ, nó cũng thơm mùi mới – tất nhiên rồi, bây giờ tôi mới sực nhớ ra. Sông Oder đã đến đây, trận ngập lụt. Sau lần chìm đắm đấy tiền được gửi đến các làng mạc. Bởi vì thế mà Ratzdorf mới tinh.

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức

————————————————————————————————————————

[i] Alfred Willi Rudi Dutschke (1940-1979) nhà xã hội học người Đức, một trong những người phát ngôn nổi tiếng nhất của phong trào sinh viên Tây Đức trong thập niên 1960.

Thành phố tiền tuyến. Thành phố trong mơ

Tôi chui ra khỏi tấm giả da hổ, hôm đấy là ngày chủ nhật. Tôi bước xuống dưới nhà, đi về hướng có tiếng người nói. Bữa ăn sáng và một lời nói thân thiện đang chờ trong phòng bếp. Gia đình đã dùng xong bữa sáng, người chồng sắp sửa đi, đứa con trai cũng vậy, người vợ chuẩn bị bữa trưa.

            Làng quê vẫn như thời tôi còn bé – ngôi nhà có thể rộng lớn như nó muốn, người ta chỉ sống trong một gian phòng duy nhất. Các phòng khác được trang bị bàn ghế một cách vô lý và được lau chùi thường xuyên. Chúng không được sử dụng mà chỉ được để đó, thường ở tầng trên, nơi tôi vừa bước xuống.

            Thật ra, chủ nhân của những ngôi nhà được xây mở rộng, có tầng lầu với nhiều phòng mới, giống nhau, trước sau vẫn còn sống trong ngôi nhà nông dân nhỏ của tổ tiên họ, những người mơ ước có dư thừa chỗ trống. Bây giờ thì họ có nó. Họ xây thêm phòng, để lưu trữ không gian ở trong đó. Không phải vì những vật ở bên trong, người ta nhận ra ngay tức khắc điều đó trong các gian phòng. Người ta đặt nhiều đồ vật vào bên trong, chỉ để cho cái trống rỗng đừng lai vãng ở trong đó. Tôi đã ngủ trong giấc mơ của một người nông dân, đã được mơ cách đây một hay hai thế kỷ; những thứ bề bộn hết sức hiện đại bám vào trong đó như một con ruồi trên cái đập ruồi.

Sông Neiße đoạn phía Bắc. Hình: Wikipedia
Sông Neiße đoạn phía Bắc. Hình: Wikipedia

Tôi từ giã, người vợ tiễn tôi ra đến cổng và suỵt con chó, rồi tôi tiếp tục đi dọc theo sông Neiße. Nó hẹp hơn sông Oder rất nhiều – tôi có thể ném một hòn đá sang bờ bên kia mà chẳng khó nhọc gì –, và nó chảy và rì rầm nhanh hơn rất nhiều. Tôi phải tự nói với tôi rằng nó là biên giới và người ta không được phép băng ngang qua nó một cách đơn giản, không nhìn thấy được như vậy. Dòng sông có vẻ cạn đến mức ở một vài nơi tôi có thể cởi giày và quần ra và bước qua bên kia mà không bị ướt. Người buôn lậu cũng làm như thế về đêm. Bờ sông này cũng như bờ sông kia: một vùng đất thấp với cỏ và rừng ngập nước. Đồng cỏ, dẻ gai, sồi. Thỉnh thoảng tôi nghe thấy tiếng súng của một người thợ săn, tiếng kêu của chim di trú. Chúng đúng là bay dọc theo sông.

            Tôi phát hiện một nông trại đổ nát ở bờ sông bên kia gần Coschen. Mái của ngôi nhà chính đã phủ rêu, dầm nóc của chuồng nuôi gia súc là một cột sống đã biến dạng. Ngôi nhà nhỏ có lò nướng bên trong đứng xiêu vẹo xám xịt, các ống khói đã mục, gạch đã rớt hay bị đập ra từ ngôi nhà kho chứa rơm. Màu mưa xám của 60, 70 mùa đông treo ở bản lề cổng. Tiếng chó sủa.

            Rồi tôi đến Guben, và Guben đánh bại tất cả những gì tôi đã biết đến. Köln, Kiel, Kassel đã bị xóa sạch, bị đốt cháy và tan thành bụi, nhưng ở đấy vẫn còn một cái gì đó có tên là Köln, Kiel, Kassel, và nếu có vài ý tốt thì vẫn nhìn ra được Köln, Kiel, Kassel. Ở đây thì khác. Không phải như ông chủ quán nói tối hôm qua, rằng không có quán nào ở Guben cả. Mà chính là không có Guben.

            Tôi rất muốn uống một cái gì đó nong nóng và mua thứ gì đó để ăn, nhưng tôi không tìm thấy gì hết. Những con đường còn sống sót lạc lõng trong khu vực của thành phố trước đây. Trong cơn xúc cảm bướng bỉnh buồn cười, một con đường tự gọi mình là “trung tâm thành phố”, nhưng chỉ là một con đường đầy bụi rậm dẫn sang Ba Lan, hướng đến cây cầu qua sông Neiße.

            Tôi không biết phải đi đâu, và bước bộ quanh một vòng. Bất thình lình tôi đứng trước đống đổ nát khổng lồ của một nhà máy theo kiểu của cuối thế kỷ 19. Rồi tôi phát hiện thêm một cái và thêm một cái nữa và một ngôi nhà có cổng gợi nghĩ đến một ngôi biệt thự lộng lẫy của người chủ nhà máy – vâng tất nhiên rồi, các nhà máy mũ Guben.

            Vào đầu thế kỷ 19, đúng vào thời của cuộc cách mạng công nghiệp, có một người làm mũ từ thành phố Forst nhỏ ở kế cận dọn về Guben, ông ấy phát minh ra cách xử lý nỉ bằng cơ học và qua đó là phương thức sản xuất mũ công nghiệp cho quý ông và quý bà. Chẳng bao lâu sau, thành phố mà cho đến thời điểm đó vẫn còn hoàn toàn không quan trọng, có đến 7 nhà máy lớn chuyên sản xuất mũ. Trước Đệ nhất thế chiến, chúng cung cấp hằng năm nhiều triệu chiếc mũ cho châu Âu và bên kia đại dương. Guben cung ứng mũ cho toàn thế giới. Ngày nay, chỉ còn những di tích khảo cổ là vật chứng cho việc đó. Năm 1945 Guben đã là thành phố tiền tuyến, cũng như những thành phố khác cạnh sông Oder và Neiße, như Küstrin hay Frankfurt. Có thể còn sót lại một cái gì đó ở bên kia, Gubin, cái nửa kia của thành phố ở bên kia sông.

            Tôi đi qua cầu biên giới và lại ở trong Phnom Penh. Các thành phố sau chiến tranh ở khắp mọi nơi đều giống nhau. Một cái chợ hoang dã rồi có trật tự và có mái che. Một cái chợ trên mảnh đất bỏ hoang đã từng là trái tim của Guben. Những lối đi chật hẹp, được chia thành từng khu rất chính xác, nhét đầy quần áo lót rẻ tiền và thuốc lá, quần jean giả hiệu và những tấm trải bàn bằng nhựa trong màu sắc đang kêu thét lên. Dụng cụ câu cá, xoong nồi, dao, thánh giá dùng trong lễ ban thánh thể, bánh mì. Đồ dùng trong lúc nguy cấp. Hàng hóa để mà sống còn.

            Những chợ này có một cái gì đó thô và nguyên thủy và mang tính chữa trị ban sơ. Giống như một nghi thức của Beuys. Vì ở đây cũng giống như ở ông: đồ nỉ, mỡ, xe trượt tuyết, hàng được đóng dấu một cách thô sơ. Hàng hóa để mà sống còn.

            Và chính Beuys cũng như những thành phố này. Ông cũng trở về từ chiến tranh như chúng; ông mang một tấm kim loại trong đầu, cũng như chúng mang những bộ phận giả bằng tôn gợn sóng. Và huyền thoại của ông như vầy: Người Tatar đã tìm thấy và cứu sống ông trên bán đảo Crimea ra sao. Họ cuộn lại và bảo quản chiếc máy bay Stuka rơi xuống như thế nào, trong nỉ và mỡ. Ông đã hồi phục và tìm đường trở lại hàng ngũ ra sao. Trong lần gặp ông ở Kassel, tôi đã hỏi ông rằng điều đó có thật không.

            “Thật như cái này.”

            Ông chỉ tay đến một ngọn núi đá bazan, nằm ngay giữa Kassel, một đống đá bazan to lớn thô sơ mà ông đã tặng cho thành phố hay, theo cách nhìn của phần lớn người dân Kassel, đang đè nặng lên nó. Thêm vào đó là từng ấy cây sồi. Ông muốn chúng được trồng, phân tán khắp thành phố. Mỗi một cây sồi với một hòn đá núi lửa. Thành phố chống lại, nó rên lên dưới đá bazan – cái ngọn núi mới của những đống đổ nát này, cái mà ông Buyes của nó đã đổ vào ngay chính giữa đã bị đập nát ra, đã được làm sạch những đống đổ nát và đã được dọn dẹp một cách rất cẩn thận. Nhưng rồi cái đống trên Quảng trường Friedrich cũng vơi đi dần dần. Cuối cùng, nó biến mất trong thành phố, từng cột bia mộ một, từng cây sồi một.

            Tôi đi bộ vài phút qua chợ, rồi tôi quay trở lại cây cầu được kiểm soát bởi nhiều nhân viên hải quan, đang nghi ngờ vì có người lại nhanh chóng trình thẻ căn cước ra mà chẳng hề mua đến một tút thuốc lá.

            Nhưng tôi vẫn còn có một câu hỏi, một câu hỏi rất thực tế. Làm sao để mà có thể sống được ở đây? Tôi đặt câu hỏi đó cho một người đàn ông ở bàn bên cạnh trong quán bán bánh mà cuối cùng rồi tôi cũng tìm thấy. Tôi dám làm điều đấy, vì ông ấy bàn luận với hai người khác về Gottfried Benn[i].

            “Xin lỗi, ông có thể cho là trơ tráo, nhưng tôi phải hỏi ông là làm sao ông chịu đựng được cuộc sống ở đây mà không phát điên lên?”

            Ông ấy mang một cái áo khoác nhung màu sáng và một bộ râu cực nhỏ đang thời thượng và là một người tròn trịa, trông có vẻ bồn chồn. Ông không cười nhạo tôi và cũng không giận điên lên. Ông suy nghĩ không lâu lắm và trả lời một cách điềm tỉnh: “Người ta phải tìm một cái gì đó để sống sót trong nội tâm. Để đừng kết thúc trong rượu chè be bét. Tôi tìm hiểu về lịch sử, đó là phương pháp của tôi.”

Sông Oder
Sông Oder

Phương pháp của tôi là đi tiếp. Đã sang tháng 11 mà không nhận ra. Trời mưa lất phất khi tôi đến Görlitz. Và nếu như Guben chỉ cho tôi xem thành ngữ “finis Germaniae[ii]” có nghĩa là gì, thì Görlitz chỉ cho tôi xem cái đẹp, và nó giống như một cú đánh vào mắt. Đất nước đã từng đẹp đến dường nào. Chúng ta đã mất đi những gì. Tôi đi trong một thành phố còn nguyên vẹn đến mức không thể tưởng tượng được.

            Có đôi lúc những người tàn phá vĩ đại thích dung thứ cho một hình mẫu và bảo tồn nó toàn hảo, ở nơi tất cả đều đã chìm vào trong tro bụi: Hãy nhìn đi, dường như họ muốn gọi hậu thế, quyền lực của ta to lớn như thế đấy. Ta chiếm hữu quyền lực về cái đẹp của thế giới, ta có thể làm với nó bất cứ điều gì mà ta muốn.

            Từ trong một tính khí như thế của chiến tranh, Görlitz đã được dung thứ, và rồi thêm một lần nữa từ một tính khí của hòa bình. Mặt trận đang tiến về Berlin bước một bước dài và hướng hàng rào hỏa lực vòng qua thành phố thời Phục Hưng; 40 năm sau đó, các kế hoạch giật sập khu phố cổ đã có, hố chôn thuốc nổ đã được đào trên đường Heiliggrab, người ta chỉ còn phải đẩy những thanh thuốc nổ vào trong đó. Người ta đã không làm điều đấy. Görlitz vẫn còn tồn tại, ngược với tất cả những khả năng có thể xảy ra đến 2 lần.

            Những người Tây Đức đầu tiên xuất hiện ở đây sau tháng 11 kỳ diệu của năm 1989 không biết là họ phải ngạc nhiên về điều gì nhiều hơn – phát hiện một mảnh Phục Hưng bị bỏ quên nhưng vẫn còn toàn vẹn tuyệt diệu, giấc mơ ban ngày khó tin mà họ không hề đoán trước và bây giờ đang đi xuyên qua nó. Hay là giá của giấc mơ này rẻ đến như thế: Tất cả các ngôi nhà từ thời Columbus[iii] đều bị bỏ trống, người ta có thể mua chúng với giá ngang với giá của một chiếc ô tô rất, rất rẻ tiền đã qua sử dụng. Người Tây Đức hào hứng vì Görlitz, họ tháo cái tạp dề màu xám ra khỏi thành phố và tặng lại cho nó trang sức và màu sắc như nó đã từng mang trước kia.

            Trời đã về khuya, tôi đi dạo trong khu phố cổ. Ở Bắc Ý, tôi sẽ nghĩ như vậy nếu như được thả xuống đây mà không biết mình đang ở đâu. Tiếng phụ nữ thanh thanh trong quán rượu, tiếng kéo ghế nhỏ trên sàn nhà bằng đá không bằng phẳng, những cánh cổng gỗ, tiếng mở ra và đóng lại nặng nề của chúng. Những cái tên đầy ý nghĩa và hình dung mà chúng gợi lên. Ngõ Sáng. Ngõ Đen. Ngõ Người phản bội.

            Bước qua những con phố đó trong đêm, không phải là ngọt ngào hay đa cảm, đánh thức dậy một nỗi đau đã tê lặng lâu nay, cái mà người ta bất chợt lại cảm nhận được. Tôi đi ngang qua những ngôi nhà có sảnh lớn thời Trung cổ, có những người yêu Görlitz cuồng nhiệt đang ngồi bên trong cạnh ly rượu vang. Tôi làm quen với một vài người. Họ đến đây từ khắp mọi nơi, lúc ban đầu có nhiều kế hoạch khác, muốn chuyển sang sống trong vùng Toscana[iv] hay Provence[v], nhưng rồi họ bắt gặp Görlitz. Bây giờ họ đang ngồi trong những ngôi nhà 500 tuổi của họ ở cạnh sông Neiße. Vị giáo sư từ Hawaii với người vợ Ba Lan, kiến trúc sư từ Bremen, nữ họa sĩ từ Hamburg, nhà kinh doanh khách sạn từ Frankfurt. Một đôi vợ chồng từ Berlin, sau khi về hưu thật ra muốn sang sống ở miền nam nước Pháp, bây giờ ngắm sông Neiße thay cho hoa oải hương, họ ngồi dưới mái vòm mà ở phía dưới đó chuyến phiêu lưu của một đôi khác đã bắt đầu trước đây nửa thiên niên kỷ, hai người kể lại cho tôi nghe.

Thành phố Görlitz
Thành phố Görlitz

Ông ấy là một trong số những người giàu nhất trong thời của ông. Luther[vi] đã gọi ông ấy là ông vua của Görlitz. Thị trưởng, đại thương gia, đứng đầu trong danh sách thuế của thành phố, ông ấy trả gấp 3 lần người láng giềng, và người này là người giàu thứ nhì của thành phố. Georg Emmerich đã mua lại 14 làng, và rồi ông nghĩ đến việc cứu vớt cho linh hồn của ông và đến việc ghi tên mình vào trong lịch sử của thành phố. Ông sẽ đi đến Jerusalem, để được phong thành hiệp sĩ của Mộ Thánh[vii], và sau khi trở về, theo ý Chúa, sẽ hiến tặng cho thành phố của ông một bản sao của Ngôi Mộ Thánh. Nó vẫn còn đó cho đến ngày hôm nay.

            Bà ấy cũng giàu có, con gái của một người buôn bán vải. Một quyển biên niên sử gọi bà là “người có tấm lòng”, có vóc dáng đẹp, “và lông mày đen trên mặt”, Agnes Finger lấy chồng là một người buôn vải, chẳng bao lâu sau đó đã qua đời, để bà góa bụa ở lại.

            Görlitz trở nên giàu có nhờ buôn bán tùng lam, loại cây dùng để nhuộm vải xanh và đen thông dụng trong thời đó, trước khi có thuốc nhuộm màu chàm. Tùng lam mọc rất nhiều trong vùng Thüringen, và Görlitz có đặc quyền mua trước: Những người đi bán dạo phải ở lại thành phố trong một thời gian nhất định để chào bán hàng hóa của họ với giá phải chăng. Qua đó mà hình thành công nghiệp vải và giao thương xa cho đến tận bán đảo Balkan và Vương quốc Ottoman.

            Nhưng không có đường hành hương dẫn từ Görlitz qua bán đảo Balkan đi đến Jerusalem. Người ta phải đi vòng qua Ý, người Venice điều hành một dạng giống như tuyến giao thông đường thủy đi đến Đất Thánh. Và Agnes Finger cũng muốn đi đến đó. Bà không nghĩ đến việc tái giá sớm và từ bỏ sự độc lập có một không hai của một người đàn bà góa giàu có. Bà sẽ đi, trong thời của bà đó là một việc chưa từng có đối với một người phụ nữ trẻ sống đơn chiếc. Đi như Georg Emmerich, vị phú gia – không, không như Goerg. Với ông. Các nhà viết biên niên sử không biết chắc chắn, nhưng họ không chỉ ngụ ý, rằng chuyến đi đồng thời của hai người đến Jerusalem, bên cạnh tất cả những gì của nó – đường hành hương, bảo hiểm linh hồn, trang sử vinh quang phú gia –, cũng là một chuyến phiêu lưu của tình yêu.

            Tôi đứng cạnh cửa sổ trong phòng khách sạn của tôi. Trước tôi là quảng trường Untermarkt về đêm, đối diện là những mái nhà dốc đứng và một vài cửa sổ còn sáng đèn. Thành phố nằm ngủ. Nhưng tôi nhìn những chân mày cổng tò vò dương lên một nửa của nó, những mi mắt đầu hồi khép lại một nửa của nó. Đó là giấc ngủ không say của một nơi đã no thời gian. Tiếng người và bước chân về khuya, cười, nói thì thầm. Có một sự yên tịnh trong đêm như là âm nhạc, thái bình về đêm của những thành phố cổ xưa.

            Cái bài thơ cũ rích, tất cả đều có thật.

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức

————————————————————————————————————————

[i] Gottfried Benn (1886-1956): Bác sĩ, nhà thơ và nhà văn người Đức.

[ii] Tiếng La tinh trong nguyên bản, “tận cùng của nước Đức”.

[iii] Christopher Columbus (1451-1506) người khám phá ra châu Mỹ.

[iv] Toscana (tiếng Anh Tuscany): một vùng đất trong nước Ý, giáp với Biển Tyrrhenus.

[v] Provence: Một vùng đất ở miền nam nước Pháp, giáp với Địa Trung Hải.

[vi] Martin Luther (1483-1546) nhà thần học và học giả khởi đầu cho phong trào Cải cách Kháng cách

[vii] Mộ của Giêxu.

Người không chuyên

Trời lạnh buốt ở Zittau. Thời gian ấm áp, bây giờ nó đã qua rồi. Một mùa đông đến sớm xuống từ những ngọn núi, và những mặt tiền Baroque với màu sắc đã phai nhạt đứng quây quần quanh cả hai quảng trường ở phía nam, như thể muốn nhờ chúng mà sưởi ấm thân mình. Nhưng các quảng trường của Zittau đang nằm trong ánh sáng mệt mỏi, gần như là của mặt trời tháng 12. Tôi cũng đứng ở đó và cố tìm cách sưởi ấm. Tôi rét thảm thương đến mức phải mua găng tay len và quần lót dài trước khi bước vào ngôi nhà thờ trưng bày tấm màn mùa chay[1] nổi tiếng.

Toàn cảnh Zittau. Hình: Wikipedia
Toàn cảnh Zittau. Hình: Wikipedia

Nó được treo to lớn ở đó, sau tấm kính, nhưng đối với tôi dường như chuyến phiêu lưu của nó còn lớn hơn thế nữa. Những tấm màn mùa chay là những truyện tranh sùng đạo, chủ yếu là dễ đọc cho người dân bình thường trong ánh sáng nến yếu ớt của một ngôi nhà thờ tranh tối tranh sáng hơn là có tác động về nghệ thuật. Cái bức màn này gói gọn toàn bộ sự kiện cứu thế kể từ lúc Chúa Trời sáng tạo ra thế giới vào trong vài chục bức tranh, thô sơ nhiều hơn là đẹp.

            Nhưng các bức màn không chỉ đơn thuần phục vụ truyền đạo, chúng cũng là đồ dùng sân khấu đầy tác dụng trong nhà hát khổ hình. Trong mùa chay, từ Thứ Tư Lễ Tro[2] cho đến Phục Sinh, chúng che đậy chốn linh thiêng, và đồng thời cũng thể hiện một mùa chay tâm linh: 7 tuần không được gần gũi hình ảnh của Chúa đối với một con người thời đó cũng không kém phần hà khắc hơn là từ bỏ những món ăn thể xác. Tất cả mọi thứ trong nhà thờ qua đó đều trở nên đơn sơ hơn, nghiêm nghị hơn, lo âu hơn. Bức màn che dấu hình ảnh người con của Chúa Trời trên bệ thờ, cái hình ảnh mà các tín đồ đều nhìn và gửi lời cầu nguyện đến, qua đó mà nó hiện thực trước cái chết trên thánh giá, đêm đen Chúa Trời của thế giới, và làm tăng nỗi niềm mong đợi sự sống lại vào ngày Chủ Nhật Phục Sinh, khi cuối cùng rồi bài hát ca ngợi Chúa ngân vang lên và cả ngôi nhà thờ rực rỡ trong bông hoa trang hoàng. Giờ đây, bức màn cũng rơi xuống.

            Ở đây nó được treo thả xuống từ trên trần, được cởi bỏ ra khỏi vai trò tẩy rửa linh hồn, được trưng bày trong một ngôi nhà thờ đã trở thành viện bảo tàng. Biến mất, bị xé rách, lại được tìm thấy, đã phai màu và được vá lại. Nhưng bền chắc. Vì chính tấm màn mùa chay Zittau đã đi qua cõi chết và sống lại, và không chỉ một lần. Từ thế kỷ 17, người ta cho rằng nó đã bị đốt cháy, nó không còn tồn tại nữa. Nhưng trong thế kỷ 19 người ta đã tìm lại được tấm màn.

            Chuyến phiêu lưu cuối cùng của nó là chuyến phiêu lưu thô bạo nhất. Được mang đi cất dấu ở làng Oybin trong đồi núi Zittau, nó lọt vào tay quân nhân Xô viết trong những ngày cuối cùng của chiến tranh, những người đang cần một cái gì đó để che phòng tắm hơi tạm thời của họ, để giữ cho nó nóng và hơi nước không bay mất. Họ xé tấm giẻ tồi tàn đó ra làm bốn và buộc chúng lên trên những túp lều để toát mồ hôi của họ. Khi tiếp tục hành quân họ quẳng cái vật vô dụng đấy đi. Một người đàn ông nhìn thấy nó trong rừng, và vì, như sự tình cờ mong muốn, ông đã từng là người trông nom nhà thờ, nên ông hiểu được mình vừa mới lôi vật gì ra khỏi bụi rậm. Ông đặt tất cả 4 mảnh lên cái xe gỗ của ông, thắng ngựa và chở chúng về Zittau, nơi người ta vá nó lại với nhau.

            Người giải thích tấm màn mùa chay giải thích cho tôi tất cả những việc đó trước tấm màn, một người đàn ông có vẻ am hiểu vào khoảng 40 trong chiếc áo khoác trượt tuyết màu xanh nước biển, người rõ ràng là thích đi vào chi tiết thay vì đọc bài thuyết trình ngắn gọn của mình lần thứ một nghìn. Nhưng cái làm cho tôi mất tập trung trong khi ông ấy nói luôn là cái âm “R” giọng Mỹ của ông. Tôi đã biết điều này từ nhiều vùng nhất định của bang Hessen. Ai là người lạ đến đấy thì sẽ nghĩ rằng chỉ toàn là người Mỹ sống ở đó thôi, mặc dầu đó chỉ là một nét đặc trưng của tiếng địa phương.

            Nhưng người đàn ông ở vùng Oberlausitz này làm sao lại có được âm “R” của ông ấy? Ông ấy chắc chắn không từ Mỹ đến mà cũng không phải từ Hessen đến. Tôi muốn hỏi ông, nhưng lại thôi. Công việc của ông kết thúc, tôi là người khách tham quan cuối cùng; khi ông mời tôi đi cùng ô tô lên Jonsdorf, ở trên núi Zittau, tôi rất vui lòng nhận lời mời. Ông cũng đề nghị sẽ chỉ cho tôi xem biên giới Bohemia vào ngày hôm sau, ông rất quan tâm đến nó theo như ông nói với tôi. Tôi không biết phải quyết định ra sao nên không dứt khoát.

            Đó là một buổi tối yên tịnh ở Jonsdorf. Tôi chỉ nhìn thấy người chủ quán trọ ở nơi mà người tấm màn mùa chay cho tôi xuống – người này, ông nói, là nguyên bản và đi lang thang chăn cừu trong bộ lông cừu – trong những tấm ảnh trên tường chụp ông ấy trong bộ quần áo của ông ấy. Tôi đóng vai trò quen thuộc: Mãi mãi là người khách duy nhất.

Vào buổi sáng ngày hôm sau, các cánh đồng của Jonsdorf nằm dưới sương, mặt trời xuất hiện, và các quán trọ nằm cạnh đường lên núi có tên là “Yên Tịnh Rừng”, “Thái Bình Rừng” và “Heidelberg cổ xưa”. Rồi tôi nhìn thấy tuyết đầu mùa. Vào buổi trưa, khi tôi lên đến được trạm thuế quan lúc trước ở cạnh con đường đi dạo mang tên Kammweg, cũng là đường biên giới, tôi nhìn thấy 2 đài tưởng niệm, một cái ở bên phía Séc và một bên phía Đức, và người tấm vải màn mùa chay đang đứng cạnh đài tưởng niệm Séc trong cái áo khoác trượt tuyết của ông ấy.

            Ông đang chờ tôi, ông nói, ông thông thuộc lối đi nên có thể dễ dàng đoán trước được khi nào tôi sẽ lên đến đây. Nếu như tôi bắt đầu đi ngay sau khi ăn sáng ở Jonsdorf, ông thêm vào với một nụ cười hài lòng. Chúng tôi không có hẹn trước. Ông ấy muốn gì ở tôi?

Toàn cảnh Jonsdorf
Toàn cảnh Jonsdorf

            Tôi nhìn ngắm cả hai đài tưởng niệm. Chúng đứng đối diện chỉ cách nhau vài mét và đang buộc tội lẫn nhau. Đài tưởng niệm Séc nhắc nhở đầy tự hào về lần tập kích trạm thuế quan Đức 2 ngày sau Hiệp ước München[3], và đài tưởng niệm Đức nhắc nhở đầy cay đắng về việc xua đuổi người Đức vùng Sudetenland 7 năm sau đó cũng qua chính trạm thuế quan này.

            Một cuộc giao tranh nhỏ của các tưởng nhớ, không phải là cái duy nhất dọc theo đường biên dới dài ở Bohemia. Ngay từ bây giờ tôi đã có cảm giác nó lởm chởm hơn là biên giới Ba Lan nằm ở phía sau tôi. Ở bất cứ nơi nào cạnh sông Oder và Neiße, tôi không hề chạy lạc vào trong một cuộc đối đầu như thế này, vào một cuộc chiến hầm hào của các đài tưởng niệm như thế này. Tôi đã dự đoán nó phải ngược lại. Cuối cùng thì đường biên giới Ba Lan là đường biên giới mới và bị bắt buộc, cái đường biên giới này đây đã lâu đời và theo ý của thiên nhiên. Đỉnh núi và đường phân nước.

            Người tấm màn mùa chay đề nghị ông ấy sẽ đi cùng tôi một đoạn đường và chỉ cho tôi xem biên giới. Tôi nói, tại sao không? Chúng tôi đi dọc trên những đỉnh núi, một con đường mòn, một phần có nhiều đá, một phần lại lầy lội, dẫn qua một cánh rừng thấp trên núi. Đá và cây ở trên này được vẽ đầy những biểu tượng quốc gia xanh đỏ và đen đỏ vàng, trông có vẻ hơi trẻ con và vụng về, giống như một bài tập khéo tay. Người ta phải nhảy qua nhảy lại, từ Đức sang Bohemia và khứ hồi chỉ là một bước nhảy, một bước dài. Tôi thật sự đã nhảy cả một thời gian dài, tuyết tan, tuyết lầy bắt buộc tôi phải làm như thế.

            Nét trẻ con biến mất ngay khi tôi ngửng nhìn lên. Chúng tôi đi trên cao, phía dưới là một biển sương mù có những ngọn núi nhô ra ở đây đó, đi trên đỉnh núi, ngang qua nhiều đường rừng xuyên biên giới có đá tảng lớn chận lại. Để chống buôn lậu bằng ô tô, người tấm màn mùa chay nói.

            Tôi suy nghĩ về ông ấy. Tại sao ông ấy lại lên núi và chờ tôi? Tại sao ông ấy lại dành thời gian cho tôi? Để kể lại những gì ông ấy biết: Tôi không nghĩ ra một nguyên nhân nào khác, và ông ấy hoàn toàn không làm gì khác trong chuyến đi trên đỉnh núi của chúng tôi, sự dè dặt ban đầu của tôi không còn tìm thấy lý do nữa. Hằng ngày, ông ấy đứng cạnh tấm màn mùa chay và kể lại những gì cần thiết nhất. Mãi bây giờ ông ấy mới có thể phô bày được ông có kiến thức đến đâu. Ông đã tự học tất cả những điều đó, ông ấy nói. Ông đã học nghề thợ mộc, nếu tôi nhớ đúng.

            Dần dần tôi mới để mắt đến những người này, không phải ngẫu nhiên mà tôi thường hay gặp họ. Tuýp người này trở nên quen thuộc đối với tôi: người nghiên cứu nghiệp dư về lịch sử Đức, yêu thích công việc của mình, chìm đắm hoàn toàn vào trong đó. Và họ thật sự là những người say mê. Họ không có lý thuyết cho điều kiện đầu tiên của tình yêu. Nhưng họ biết rất rõ làn da của đất nước yêu dấu, mỗi một vết sẹo, mỗi một vết bỏng. Tấm màn mùa chay chỉ là một mảnh của làn da này.

            Những mảnh khác là các câu chuyện huyền thoại mà người sưu tập ma ở Leer đã nhặt được trên những cánh đồng lầy và căng chúng ra để phơi khô trong những quyển sách của ông. Nhà nghiên cứu tận thế trong cái quán bánh mì ở Guben lại sưu tập những cái khác. “Người ta phải tìm một cái gì đó để sống sót trong nội tâm.”

            Ở người tháp tùng của tôi thì không bi thảm như vậy. Rõ ràng là bây giờ tôi đã đến những vùng đất mà không gian của nó rộng lớn hơn, tự do hơn và chiến tranh không phải lúc nào cũng là một đề tài. Trong giây phút này ông ấy đang giải thích cho tôi nhiều chi tiết từ thời gian mà phía bên Bohemia của biên giới vẫn còn thuộc lãnh địa cai trị của dòng họ Habsburg[4]: Các công tước Liechtenstein đã ngồi ở phía dưới đó, ở sườn phía nam của dãy núi, cạnh họ là các hầu tước Kinsky[5], và vào đầu thế kỷ 19, Ferdl ngu ngốc, vị Hoàng đế Ferdinand[6] đáng thương, đã được mang đến một lâu đài nằm ở đằng sau đó trong sương mù để rồi Metternich[7] ở Wien đã lợi dụng sự vắng mặt của hoàng đế.

            Ông thuật lại một câu chuyện buồn cười nhưng có thật của thời Metternich. Ở phía bên Đức, trong một ngôi làng tên là Waltersdorf, có một ngôi nhà có con chim bồ câu trên lanh tô cửa bằng sa thạch. Đó là con chim bồ câu đưa thư, biểu hiện lòng biết ơn, vì chim bồ câu đã giúp nhiều người ở đây trở nên khá giả do nó nhanh hơn xe ngựa đưa thư. Đó là một câu chuyện về chơi xổ số và về một giấc mơ xưa cũ của con người: thuần phục sự ngẫu nhiên có tính khí bất thường, nhanh hơn may mắn.

            Một phần vì xổ số Áo thời đấy rẻ tiền hơn là xổ số ở Sachsen, nhưng cái quan trọng hơn là có những vùng đất Áo lọt vào giữa Sachsen, những ngôi làng Bohemia lạc lõng từ thời xa xưa mà không còn bên nào giành giật nữa. Người dân làng đi buôn lậu, gần như không nhà nào mà không có một cái kho đầy hàng hóa. Trong những làng được ban phúc lành này, và đây mới là điều cốt yếu, ai cũng được phép chơi xổ số Áo, đối thủ cạnh tranh rẻ tiền hơn này bị cấm trong Vương quốc Sachsen nằm bao quanh. Những con số mang lại lợi nhuận được lôi ra ở Prag, xe ngựa đưa thư mang chúng qua núi, mất cả một ngày. Những người chơi xổ số trong các vùng đất ở bên này núi có thêm một ngày để đặt số so với những người ở Bohemia bên kia – cho đến khi xe ngựa đến.

            Nếu biết được những con số trúng nhanh hơn và đặt nó ở đây, nơi mà một ngày sau đó chúng mới được công bố, trong khoảng khắc cuối cùng, thì người ta sẽ giàu có. Vì thế mà chỉ còn là câu hỏi của thời gian cho đến khi có người nảy ra ý tưởng dùng chim bồ câu đưa thư. Chúng mang những con số được xổ ở Prag bay qua núi, người ta chỉ còn phải đặt tiền vào những con số đó và thế là trúng ngay lập tức. Felix austria[8] đã tặng cho nhiều người trong những làng nghèo khổ ở trên núi cả một gia tài nho nhỏ. Một người dân đã tỏ lòng biết ơn bằng con chim bồ câu trên lanh tô cửa.

            Người tháp tùng tôi vừa kể lại như thế khi ông bất chợt hỏi tôi rằng cái âm “R” của ông ấy không làm cho tôi để ý đến hay sao. Tôi nói cho ông ấy biết suy nghĩ đầu tiên của tôi, giống như tiếng địa phương vùng Hessen. Ông ấy gật đầu, nhẹ nhỏm giống như một người mà người ta nhìn trừng trừng cả một lúc lâu và bây giờ cuối cùng mới nhận ra được. “Đúng rồi, tất nhiên. Đó là lần di dân của người Franken.”

            Đúng rồi, tất nhiên. Chỉ có điều là đã cách đây 1200 năm. Karl Đại đế và những người kế tục ông đã nhìn Oberlausitz như một vùng đất trống ở phía đông cần phải đưa người đến để định cư. Những người con trai nông dân Franken, những người mà ở quê hương phải phục vụ cho bố và anh cả như một người đầy tớ, đã vui mừng nhận lời đề nghị của hoàng đế, đi đến sinh sống ở đây như một người nông dân tự do. Và đã mang cái âm “R” từ Hessen đến đây. Voilà[9].

            Có lần tôi đã đi lang thang trong rừng Teutoburg cùng với một nhà khảo cổ học cũng mang nhiều nét của một người nghiệp dư. Ông ấy giận dữ hỏi tôi rằng tôi chẳng nhìn thấy gì hết hay sao, rừng đầy những dấu vết, ngay chỗ này, nơi chúng tôi đang đứng, đã rất nhộn nhịp trong thời Đồ đồng. Nhưng tôi chỉ nhìn thấy cây, đường rừng, đồi, chẳng có đến một cái dấu vết nào của dấu vết cả. Rồi tôi được ông mở mắt. Kia! Và kia! Và ở đằng trước! Con đường rừng này: một con đường cho xe chạy thời Đồ đồng, người ta nhìn thấy rõ chỗ trũng xuống vì bánh xe. Và kia: một ngã tư. Và kia: một đường song song, đường thứ nhất chắc hẳn đã quá lầy lội, xe không đi được. Và ngọn đồi ở đằng kia không phải là một ngọn đồi, đó là một cái mồ cạnh con đường hằng nghìn năm tuổi, người đi đường thời Đồ đồng đã chôn cất một người của họ ở đó, một người chết dọc đường.

            Bây giờ tôi cũng có cảm giác tương tự như thế với người đàn ông trong cái áo khoác trượt tuyết màu xanh nước biển và với cái âm “R” qua nhiều thế kỷ của ông ấy.

            Tôi đứng hơi chưng hửng trước những làn sóng dài của thời gian.

————————————————————————————————————————

[1] Tấm màn mùa chay hay tấm màn khổ hình là một bức màn dùng để che hình ảnh mô tả Chúa Giêxu, thường là chiếc thánh giá, vào mùa chay trong các nhà thờ Công giáo.

[2] Thứ Tư Lễ Tro là ngày thứ tư bắt đầu mùa chay trong Ki tô giáo.

[3] Hiệp ước München được Liên hiệp Anh, Pháp, Ý và Đức quốc xã ký kết tại München vào ngày 23 tháng 9 năm 1938, cắt phần đất Sudetenland của nước Tiệp Khắc trước đây, nơi có phần đông là người Đức sinh sống, giao về cho nước Đức quốc xã.

[4] Habsburg là một hoàng tộc ở châu Âu, đã cai trị Áo, Bohemia và Hungary qua nhiều thế kỷ.

[5] Kinsky của Wchinitz và Tettau là tên của một dòng họ quý tộc ở Bohemia.

[6] Ferdinand I (1793-1875): Hoànng đế Áo 1835-1848, Vua của Bohemia và Hungary.

[7] Metternich, tên đầy đủ là Klemens Wenzel Lothar von Metternich-Winneburg zu Belstein (1773-1859) là bộ trưởng Bộ Ngoại giao, thủ tướng của Đế quốc Áo, một trong các chính khách dẫn đầu của châu Âu.

[8] Felix austria (tiếng La tinh): “Nước Áo hạnh phúc” là một tục ngữ được trích dẫn từ một bài thơ cổ bằng tiếng La tinh.

[9] Voilà (tiếng Pháp): thế đấy.

Đứa bé gái trong cái ba lô

Biên giới trên những đỉnh núi cũng không thể tranh cãi được như đường chia cắt đất liền và biển cả. Thỉnh thoảng hai nước nhô vào nhau như vịnh và bán đảo, rồi tôi đi tắt, đi từ Sachsen đến Sachsen bằng cách qua Bohemia, lần nào cũng qua một điểm mua bán của người Việt sát cạnh thanh chắn biên giới ở phía bên Séc. Cái đó cũng giống như ở bờ biển, một bờ biển vàng giả xa xôi. Công ty Đông Ấn mới đang chào bán một loại hàng hóa thuộc địa mới, sát sau cột mốc biên giới. Lồng nuôi chim và thuốc lá, thiếu nữ và tượng người lùn để trang trí vườn. Nightclub “I love You”. Open 12-06.

Tại nơi đây, gần biên giới Áo-Hung, nhiều gia đình Đông Đức đã chạy sang được lãnh thổ Áo vào ngày 19 tháng Tám 1989
Tại nơi đây, gần biên giới Áo-Hung, nhiều gia đình Đông Đức đã chạy sang được lãnh thổ Áo vào ngày 19 tháng Tám 1989

         Tôi đến một quán trên núi ở bên phía Đức. Nó mang tên của một kẻ cướp người Bohemia, có tiếng ở trong vùng này ngày xưa: “Tên cướp Karasek”. Ông chủ quán đang mừng sinh nhật, người cha già của ông ấy cũng có mặt, bạn bè đến, cửa ra vào không đứng yên. Người con gái, một cô gái xinh đẹp khoảng 18 tuổi, phục vụ khách. Khi ông chủ quán ngắm nhìn cô, nhiều cảm xúc mạnh bộc lộ trên gương mặt của ông, như thể việc cô có mặt ở đây không phải là một điều hiển nhiên. Có lẽ tôi chỉ tưởng tượng ra như thế thôi, sau khi ông chủ quán đã kể lại cho tôi nghe về một đêm đã cách đây lâu gần bằng tuổi con gái của ông – cho tôi, một người khách hoàn toàn xa lạ mà ông đã ngồi xuống bên cạnh trong một lúc mềm yếu.

         Tháng 4 của năm 1989, ông nghe radio nói rằng đã có một người thành công, vượt biên giới Hungary sang Phương Tây, vào ban đêm, không gặp trở ngại. Ông chú ý lắng nghe và rồi quyết định. Ông rút sạch tiền trong tài khoản ở ngân hàng nhà nước, dần dần, từng khoản tiền không gây sự chú ý một, giấu biến thư từ của người quen bên Tây Đức để xóa mọi dấu vết dẫn đến bạn bè, và ngoài ra thì chỉ làm những việc của một người không hề có ý định thay đổi cuộc sống của mình. Ông phải cẩn trọng, ông dễ làm cho người ta nghi ngờ. Là người điều hành một cái quán lớn trong Zittau, câu lạc bộ của công nhân dệt, người ta để mắt đến ông.

         Trong mùa hè 89 hằng chục nghìn người, có lẽ là hằng trăm nghìn người Đông Đức đang ở Hungary, trong số đó là nhân viên an ninh và học viên sĩ quan, những người có nhiệm vụ ngăn chận việc mà nhiều người luôn nghĩ đến: chạy trốn sang Áo. Họ đi thành nhóm 15 người sang Hungary. Ở đấy, ông chủ quán nói với bạn bè rằng ông sẽ vượt biên. Không một ai đoán trước. Ông sắp tiếp nhận một quán mới, và đã đăng ký giữ chỗ cho lễ cưới, người ta trách ông. Đó chính là chứng cớ vắng mặt của ông, ông trả lời, nếu không thì ông đã không có thị thực như bây giờ.

         Đến đêm, giữa tháng 8, mọi việc đều không trôi chảy. Họ hàng Hungary của ông không thể giúp đỡ ông, tất cả đều được hoạch định quá ít thời gian. Họ đưa cho ông một cái la bàn, chỉ có thế. Và tháo biển số xe trước khi đi vào vùng biên giới, việc mà người ta đã khuyên ông, sẽ làm mất quá nhiều thời gian. Ông cứ lái đi tiếp, với vợ và đứa con gái 3 tuổi. Họ tiến gần đến biên giới. Pháo sáng bay vút lên. Tiếng chó sủa. Một chiếc ô tô bám sát phía sau họ cả một lúc lâu.

         Rồi chiếc ô tô kia biến mất. Họ bỏ chiếc xe của họ lại và đi bộ, trong màn đêm tối như mực và yên lặng, trên một con đường rừng có lát bê tông. Cứ mỗi lần có tiếng răng rắc là họ lại nghĩ rằng đó là lực lượng biên phòng, chúng mình đang bị thao dõi. Thường hay có tiếng răng rắc. Đến một lúc nào đó họ đứng trước cái hàng rào. Ông cắt nó ra, họ trượt xuống một cái dốc và đến một cột mốc biên giới với một chữ “Ö” như Österreich [1].

         Không thể thế được, ông nói thầm, không thể nào. Ông chỉ biết biên giới Đức-Đức, ở đó, sau hàng rào đầu tiên là đến dãy đất tử thần.

         Họ nấp trong một cánh đồng ngô cả một giờ đồng hồ và quan sát con đường có xe ô tô chạy qua lại. Họ không thể tin rằng đó đã là Áo rồi. Họ bò đi tiếp và tìm thấy báo, báo bằng tiếng Đức. Họ nghĩ đó là một cái bẫy. Cuối cùng, chỉ sau khi đánh liều đi vào làng và nhìn thấy biển số xe họ mới không còn sợ nữa.

         Ông rất sợ phải đi tù, ông nói. Ông đã nhìn thấy nhiều người rất tự tin, ra tù như những người đàn ông đã gẫy gục, những người bất thình lình im lìm trong xã hội và không còn nói nữa.

         Rồi vợ ông và ông mới tháo đứa bé ra. Đến đây, ông đứng bật lên và lấy cái ba lô màu xanh nhạt đã đập vào mắt tôi trước đó vì nó được treo ngay giữa tường của quán. Vải của nó dường như mỏng đến mức sẽ rách toạt ra ngay dưới vật nhẹ nhất. Có 2 cái lỗ nhỏ được cắt ra.

         “Cháu nó ở trong đó. Còn cái này”, ông chỉ vào hai cái lỗ, “là lỗ cho chân.”

         Ông nói rằng ông đã lo sợ cô bé sẽ khóc thét lên và làm lộ họ, và đã điên đầu để tìm một giải pháp không phải mang con theo. Không có. Nhưng nỗi lo ngại của ông không có lý do, cô bé không kêu lên, cô bé đã im lặng hoàn toàn.

         “Cháu nó không kêu đến một tiếng, trong rừng không, ở hàng rào cũng không, lúc trượt xuống dốc cũng không và cả giờ đồng hồ ở trong ruộng ngô cũng không.”

         Ông đã nhét một tấm sắt vào trong ba lô, ở phía sau đứa con gái của ông, giống như một cái để dựa lưng, cho con ông dễ chịu hơn.

         “Khi chúng tôi kéo cháu nó ra thì lưng của nó đang chảy máu, tấm sắt cạ vào con bé đến chảy máu. Và nó đã im lặng, cả đêm.”

——————————————————————————————————————

[1] Österreich: Áo.

Dresden, cái đó

Khi những chiếc xe buýt chở khách du lịch nằm cạnh nhau như những con thú lớn đang ngủ đứng về ban đêm, khi những người bồi bàn đếm tiền boa và một dòng chảy về nhà bắt đầu xuất hiện trong những ngõ hẻm quen thuộc thì đã nửa đêm. Gót giày gõ lách cách, chào và tạm biệt. Rồi trở nên yên lặng.

            Tôi đứng trong bóng tối của một cổng nhà. Trong hầm tránh đạn của pháo đài, buổi liên hoan toàn công ty trước Giáng Sinh của một thương hiệu rượu mạnh được ưa chuộng vừa chấm dứt, nhiều nhóm người vui vẻ trào ra, khoác vai nhau, quạ kêu trên cây trơ trụi, có lẽ chỉ là quạ Siberia đang trên đường đi, và trước một quán rượu mang vẻ Australia nhiều người Anh trẻ tuổi đang cãi nhau về khác biệt giữa những buổi tiệc ở Siberia và ở Moscow.

Dresden về đêm. Hình: Wikipedia
Dresden về đêm. Hình: Wikipedia

            Có một cái gì đó to lớn bất chợt đứng ở đấy, tách ra khỏi những khách sạn và quán rượu có đèn chiếu sáng, một cái đồ sộ to lớn hơn tất cả những cái khác ở đây. Ai mới bước ra từ nơi sáng đều không nhìn thấy nó ngay. Với sự chậm trễ mà đôi mắt cần để quen với bóng tối, nó bước ra cản đường người ấy, đột ngột vươn lên cao. Như một lần cướp.

            Hai người đàn ông trong bộ com lê sẫm màu và áo bành tô mở tung khuy áo đi ngang qua. Một người nhìn lên và nắm lấy cánh tay của người kia.

            “Nó đứng đấy kìa, cái đó, xem kìa.”

            Người kia đưa ngón tay cái vào bóng tối:

            “Nhà nước chi tiền hết đấy.”

            “Không phải, từ tiền quyên góp.”

            “Tiền quyên góp cái gì. Tớ tự bịp mình cũng đủ rồi.”

            Mặt trăng hiện ra từ một đám mây. Trong ánh trăng, cái đồ sộ không còn mang vẻ đáng sợ giống như cướp của nó nữa. Đá màu sáng lộ ra – loang lỗ, mang nhiều dấu cháy và tô đen – và đu đưa, âm điệu cao của một mái vòm bằng đá, rất oai nghiêm, rất gan dạ. Nó mang nét của lăng mộ Taj Mahal[1]. Nhưng cái đang hiện ra không phải là mặt trăng của đàn Sitar, cái đang chiếu sáng. Không có vũ nữ xuất hiện, không có bàn chân nhảy múa và trống. Một bài thánh ca bằng đá.

            Cách đấy vài bước, ở Altmarkt, vào một ngày mùa đông, tôi đã từng ngồi trong quán “Cà phê Prag”, bây giờ không còn nữa. Trời đã tranh tối tranh sáng, nhưng có một sự im lặng căng thẳng đang nằm ngoài đấy trên quảng trường, thống trị ở bên trong là một bầu không khí như bông của một quán cà phê cao cấp Đông Âu.

Nhà thờ Thánh giá Dresden
Nhà thờ Thánh giá Dresden

            Thỉnh thoảng tôi lại đứng lên và đẩy nhẹ bức màn nặng nề sang một bên, để nhìn xem có động tịnh gì ở bên ngoài trên quảng trường hay không. Chắc chắn sẽ có cái gì đó, như mọi năm vào ngày này của tháng 2. Rồi tôi bước xuống, đi qua quảng trường không người và bước vào Nhà thờ Thánh giá. Nó chưa từng đầy người như thế bao giờ. Có thể đặt câu hỏi, một mục sư sẽ trả lời. Vào thời đấy, đối với tất cả mọi người trong nhà thờ đó là một điều mang tính cách mạng, chưa từng có: Đàn ông và đàn bà đã trưởng thành ghi nguệch ngoạc trên giấy những câu hỏi mà không được phép đặt ra ở bất kỳ một nơi nào khác, được thu thập, mang lên phía trước, mở ra, đọc và một người nào đó nói về đề tài ấy.

            Rồi đoàn người như mọi năm bắt đầu xếp hàng tiến về ngọn núi đổ nát nổi tiếng nhất Đức, một đống đá khó coi màu xám xịt trong tuyết của tháng Hai, một đoàn người câm lặng. Hằng nghìn người nhập vào đoàn người đó, nhưng không có diễn văn mà cũng không có bài ca, cờ, biểu ngữ. Chỉ một vài chậu hoa được đặt lên trên các tảng đá màu đen, những hòn đá mà người ta vẫn để chúng nằm như trong cái đêm chúng sập xuống, khi Dresden bị thiêu sống[2]. Cuối cùng, đoàn người tản ra, và người ta đi về nhà.

            Cái đống đổ nát đáng thương đó cựa quậy và đứng lên vào một ngày nào đó, việc mà nó tìm lại được vóc dáng ngày xưa và có lại được nơi chốn của nó trong quang cảnh mờ nhạt của thành phố, là điều hoàn toàn không thể tưởng tượng được vào cái ngày mùa đông của năm 1984 đó. Tôi lái xe trở về Berlin và nguyền rủa những con đường khốn nạn của nông trường tập thể đang phá hỏng lốp và vòng bi, và tôi cố gắng về đến biên giới quân khu đúng vào lúc nửa đêm, vì lúc đó thị thực của tôi hết hạn.

Nửa đêm. Bây giờ tất cả chuông đều gióng lên, những âm tiếng nhỏ bé sáng sủa, kim loại đồng sậm màu, đầu tiên là cái chuông ở trên chỗ tôi đang đứng. Tôi đi qua cây cầu Elbe vào khu Neustadt, để uống một ly chúc mừng lòng can đảm của những chậu hoa. Một quán Jazz vẫn còn mở cửa, và khi tôi vừa định nâng ly lên thì người dẫn đầu của nhóm cũng vừa mới vào nói với tôi: “Thầy ơi, tôi không muốn làm phiền, nhưng chúng tôi có thể ngồi ở chỗ có bảng tên của chúng tôi được hay không?”

            Vâng, bây giờ tôi cũng nhìn thấy chúng, những tấm bảng đồng nhỏ hình chữ nhật của những người chơi nhạc Jazz đáng kính trọng của Dresden. Không làm gì khác được, tôi nhường lại bộ ghế nhà thờ nhạc Jazz đã chiếm cứ bất hợp pháp.

            Vì thế mà không có được một cử chỉ nhỏ bé, và vì thế mà có một người khách du lịch đãng trí nào đó, bị cho là say sưa bước ra từ buổi liên hoan rượu mạnh trong hầm tránh đạn, đã đập tan một chai rượu sâm banh mà ông ta đã tìm được vào đêm khuya trong một khách sạn nào đó vẫn còn mở cửa vào Nhà thờ Đức Bà Dresden như vào mũi của một chiếc tàu. Có một tiếng vang đẹp, giống như tiếng súng. Một tiếng súng từ thủy tinh.

Ánh sáng

Giống như có ai đó đã nắm lấy dãy núi Erzgebirge ở nếp gấp giữa và giũ nó ra như một tấm khăn trải bàn, rồi những mẩu vụn của cuộc sống đã rơi về bên mặt nam và ông già Noel cùng với tất cả dây kim tuyến và tất cả quà tặng nằm ở mặt kia, dãy núi cũng đối xử như thế với mặt bên Bohemia và mặt bên Séc của nó. Có thể cảm nhận điều đó cho đến tận trong ngôn ngữ: Không một nơi nào khác trong chuyến đi của tôi mà tôi lại gặp gỡ từ “quê hương” nhiều như trong vùng núi Erzgebirge của Sachsen. Có cảm giác như tôi chỉ gặp quê hương ở đây, trong ngữ điệu vùng Erzgebirge: “Haamit”.

            Trước khi tôi đi qua Zinnwald đến Dubí, tôi đã sưởi ấm thêm một lần nữa trong cái quán Đức cuối cùng. Nó được trang hoàng bằng vô số thứ mang chủ đề Erzgebirge và lời bài hát quê hương. “Chúng tôi muốn là Đức và được tự do, vì chúng tôi là người Erzgebirge.” Chen chúc nhau trên các bệ cửa sổ và trên bàn là những vòng cung ánh sáng, bé trai vùng núi mang ánh sáng và thiên thần mang ánh sáng hầm mỏ, những nhà thờ nhỏ, máng thức ăn nhỏ, nhà nhỏ được điêu khắc bằng tay và những cái bàn tí hon được bày biện với một thùng rượu vang nhỏ bé. Khắp mọi nơi đều như thế. Quê hương và ánh sáng được yêu thương nồng nàn và thề thốt trong những ngôi làng trên núi mà tôi đi ngang qua.

Chợ Giáng Sinh trong vùng Erzgebirge ở miền nam nước Đức
Chợ Giáng Sinh trong vùng Erzgebirge ở miền nam nước Đức

            Dễ hiểu được sự tôn sùng ánh sáng, vì có một đối thủ đen tối, ngọn núi. Tất cả những cây nến và ánh sáng trong cái tối tăm, tất cả những tổ ấm trung thành được điêu khắc, tất cả những tôn sùng cho cái máng thức ăn an lành, sáng sủa trong cái tối tăm của đêm dài nhất – đó là ngôn ngữ dễ hiểu trong một vùng đất mà người dân của nó đã phải chui vào đêm tối của núi đồi qua nhiều thế hệ để đào bạc và những loại quặng khác.

            Nhưng tại sao lại có sự tôn sùng quê hương? Vì quê hương cũng có một đối thủ đen tối. Nằm ở phía bên kia của biên giới là mặt đã quay lưng lại với ánh sáng của cuộc sống. Tất cả những gì không phải là một phần của trò chơi máng thức ăn đang trú ngụ và rình rập ở đó. Dubí và cướp giật. Có lẽ quê hương chỉ là một từ khác cho ánh sáng.

            Nếu như có ai đó trong quán chơi đàn zither thì tôi đã để yên. Tôi sẽ ngồi yên lặng ở đó, múc từng thìa từ chén xúp cây cơm cháy nóng bốc hơi và sẽ ra đi trong yên bình. Nhưng không có ai chơi đàn zither hết. Thay vào đó là âm nhạc quê hương mà không phải thật như vậy, và nhiều hơn một vòng quay. Những bài hát giả trang thành bài ca quê hương được phát ra ầm ỉ từ những cái loa, và nhạc Đức ngày nay, phải nói thật, vì tôi đã chịu đựng nó qua nhiều tháng trời từ lúc ăn sáng cho đến bữa tối, quả thật là kinh khiếp. Quê hương, cái đó không xứng đáng với quê hương. Vội vã ăn món xúp, bỏng lưỡi, quẳng tiền ra, giật lấy quần áo trên lò sưởi, lại tròng vào và đi ra, đi ra đến cái giá lạnh giải thoát.

Bây giờ tôi lại đi trên núi, lần này từ phía nam. Tôi đã bỏ lại Dubí và thảo nguyên công nghiệp màu nâu ở phía sau tôi – cái waste land[i] của Brüx có những đường ống lốm đốm vàng bò ngoằn nghèo như thú ác độc –, vượt qua đỉnh núi và trở về bên mặt của ông già Noel, ở đó, nơi quê hương cư ngụ. Các làng mạc đầu tiên sau biên giới có tên là Deutschneudorf, Deutscheinsiedel, Deutschkatharinenberg.

            Trong Deutscheinsiedel, một người khắc gỗ chỉ tôi vào một hầm mỏ cũ, tôi phải đi đến đấy, người ta tìm Căn phòng hổ phách[ii] ở trong đó. Thông tin này làm cho tôi nãn lòng. Căn phòng hổ phách có ở khắp mọi nơi trong đất nước. Nhưng trời mưa to, và người điêu khắc nói rằng đi bộ đến hầm chỉ mất 1 giờ, cứ theo đường biên giới, tôi có thể dừng lại nghỉ ngơi ở đó và có được thức nóng, vì thế nên tôi đi đến đấy.

            Một người trong bộ đồng phục thợ mỏ tiếp đón tôi, một người đàn ông rất thân thiện. Ông ấy mở ngay cửa vào hầm, đưa cho tôi một cái áo khoác báo hiệu màu vàng và một cái mũ của công nhân mỏ và nói rằng ông sẽ giải thích tất cả cho tôi. Tôi nhanh chóng nhận ra rằng tôi không cần sợ lại phải nghe về một điên rồ nào đó của Căn phòng hổ phách. Ông ấy không nói nhiều. Vừa mới bắt đầu một lời giải thích, ông lại tự cắt ngang, phẩy tay và gọi: “Đi thôi!”

            Ông ấy dẫn tôi đi sâu hơn và sâu hơn vào trong hầm mỏ cũ, cho đến khi chúng tôi ở dưới mặt đất 15 m, nơi có nước nhỏ giọt và rỉ xuống. Thợ mỏ ngày xưa đã chui vào trong cái chật chội này, nhưng tất nhiên là chẳng nhìn thấy một tí hổ phách nào cả, ngoại trừ một giỏ đựng nhiều chai rượu nhỏ có dòng chữ “Giọt hổ phách” ở trên. Một phần thưởng nhỏ đền bù cho sự sợ hãi của nhóm khách tham quan – ai có can đảm đi cho đến tận đây thì được phép lấy một chai rượu nhỏ. Người dẫn đường thân thiện của tôi cũng dúi cho tôi một chai. Tôi đã mang nó về đến tận sông Rhein ở Hà Lan, như là vật may mắn.

            Vụ Căn phòng hổ phách dường như chỉ là ý tưởng của một thị trưởng khôn khéo. Một người Mỹ gốc Đức đã xuất hiện vào một lúc nào đó, một người chuyên săn tìm kho báu, và đã bắt đầu tìm kiếm ở bên kia trong vùng Bohemia. Thế rồi người thị trưởng nhận được một cú gọi điện nặc danh đã bắt đầu tất cả. Người gọi tự nhận là người của lực lượng SS, đã có mặt khi người ta chôn báu vật trong hầm ở đây, ngay trước khi chiến tranh chấm dứt. “Ông thị trưởng”, ông ta nói, “ông phải tìm ở phía bên Sachsen.” Kể từ đó người ta cho khách tham quan nghe đoạn băng ghi âm này. Và cuối cùng, cộng thêm vào đấy là đất sụp. Một cái hố sâu thành hình, và khi xuống hố người ta đã tìm thấy con đường hầm ngày xưa, đã bị lãng quên lâu nay mà chúng tôi đang dò dẫm đi ở bên trong.

            Có cái khác tốt hơn Căn phòng hổ phách. Bánh bơ sữa, một loại bánh nướng lò có trứng và thịt mỡ. Người thợ mỏ cầm lấy một cái, và ngay khi chúng tôi lại ở trên mặt đất, ông ấy bắt đầu ăn một cách ngon lành. Rồi ông ấy nhìn thấy ánh mắt của tôi, đứng bật dậy, lấy một cái bánh thứ hai, dự trữ của ông ấy, và đặt nó xuống bàn cho tôi. Vừa khi tôi định ăn miếng đầu tiên thì ông lại bật dậy thêm một lần nữa, giống như sực nhớ ra một cái gì đó quan trọng. Ông tìm lửa và đốt nến, ánh sáng Erzgebirge. Khi không còn thức ăn trên đĩa, ông chỉ tay về hướng núi. “Bây giờ phải đi đến Seiffen. Trời tối rất nhanh. Và anh biết đấy”, ông cười, “khi trời tối thì người ta nói về người chết nhiều hơn là nói về người sống.”

——————————————————————————————————————

[i] Đất hoang

[ii] Căn phòng hổ phách: Căn phòng được dát toàn bằng hổ phách là quà của vua Phổ tặng cho Nga hoàng Peter Đại đế. Gian phòng bị Đức quốc xã cướp đi trong Đệ nhị thế chiến và biến mất sau đó.

Số 5 – 7 đại lộ Tưởng nhớ

Tôi đến Neustadt an der Waldnaab và hỏi mướn phòng trong một quán có tên là “Cây sồi Đức”. Mấy người đàn ông đang ngồi cạnh cái bàn dành riêng cho họ ngưng câu chuyện đang bàn tán sôi nổi khi tôi vừa bước vào, nhìn tôi một thoáng, rồi họ lại tiếp tục câu chuyện của họ và không màng đến tôi nữa. Họ đang nói chuyện gì trong tiếng địa phương vùng Franken của họ và họ đang cười về cái gì thì tôi chẳng hiểu đến một từ.

            Trong hành lang của nhà trọ mà họ chỉ tôi đến có treo bức chân dung của một người lính Đức trẻ tuổi, chân dung vẽ rất thật. Đầu trần, cổ áo mở, ánh mắt cởi mở, nghiêm trang. Tương phản giữa màu xanh xám tươi sáng của bộ quân phục và mái tóc dầy sậm màu. Đó không phải là lần đầu tiên tôi nhìn vào một gương mặt của những năm 40 và có cảm giác một người ở đây và hôm nay đang nhìn tôi.

Neustadt an der Waldnaab
Neustadt an der Waldnaab

            Tôi hỏi bà chủ quán trọ về bức chân dung. Vâng, người nhà. Một đồng đội đã vẽ ông ấy sau chiến tranh, ông đã từ Nga trở về, nhưng với vết thương trong phổi thì ông ấy không bao giờ hồi phục lại được nữa. Qua đời năm 54 tuổi, vâng. Tôi không hỏi thêm nữa, tôi sẽ từng ấy tuổi vào sinh nhật tới đây.

            Vào lúc sáng sớm tôi đi xe buýt đến trại tập trung Flossenbürg, địa chỉ số 5 – 7 đại lộ Tưởng nhớ. Có thể cảm nhận rõ là nơi này nằm trên cao hơn, gió thổi lạnh buốt, tuyết có hạt nhỏ và cứng quất vào mặt tôi.

            Nhà tiếp đón của trại là một tòa nhà hành chính vững chắc trong phong cách của những năm 30. Không còn có hình nổi đắp vữa như những công trình xây dựng cuối thế kỷ 19 với mặt tiền giống như biệt thự của chúng, cũng không sáng sủa và rộng rãi như phong cách mới sau Đệ nhất thế chiến, và nhất là không Mỹ. Các công trình xây dựng của Đế chế thứ ba không chọc thủng bầu trời, ngay các công trình đồ sộ cũng không. Chúng đi theo chiều ngang, vào không gian, và chúng thường che dấu tính mạnh mẽ và kỹ thuật tinh vi nửa ở dưới đất. Prora[1] trên đảo Rügen. Sân bay Tempelhof ở Berlin. Bộ Hàng không của Göring với bãi đỗ xe ngầm đầu tiên trên thế giới.

            Các tòa nhà khác biệt với những tòa nhà thời hoàng đế Đức như giới tinh hoa trẻ, theo thuyết hư vô của Đức Quốc Xã, khác với những học viên sĩ quan trung thành của Wilhelm[2]. Lạng lùng hơn. Cứng rắn hơn. Trống rỗng hơn. Hàng chào danh dự, đứng xếp hàng trong đá thiên nhiên. Hiện đại, màu xanh xám[3]. Chủ thuyết tiên phong của những người đàn ông trẻ này và những ngôi nhà của họ dựa hoàn toàn vào kỹ thuật, và nhìn về mặt kỹ thuật thì chúng hiện đại. Gương mẫu bí mật cho những tòa nhà chung cư thời cuối thế kỷ 19 là cái lâu đài phô trương. Gương mẫu hoàn toàn không bí mật cho các công trình xây dựng phô trương thời Quốc xã là những doanh trại và công sự. Ở bên trong là tính thực tế nặng nề. Ở đây cũng vậy. Lớp bọc ngoài của lò sưởi đập vào mắt tôi, được làm tốt, ấm cúng, bằng gỗ sẫm màu.

            Bây giờ các văn phòng làm việc của khu tưởng niệm được đặt trong tòa nhà này. Nếu như phong cách Quốc xã là một đoạn tuyệt với nước Đức trước đấy thì rạn nứt giữa hiện tại Đức với tất cả thời gian trước đó cũng to không kém. Trong khi đó thì nó chẳng có gì là đặc biệt cả. Chỉ có điều là phong cách Đức mới, thoải mái, có khuynh hướng xưng hô thân mật và mang áo sơ mi dành cho thời gian rảnh rỗi đã dọn vào trong ngôi nhà đầu của trại tập trung Flossenbürg. Các nhân viên, tất cả đều trẻ, đã mang nó theo cùng từ những viện lịch sử. Có cây trong văn phòng, tách văn phòng và chuyện tếu lâm văn phòng trên tường. Không thể lúc nào cũng nghĩ đến trại tập trung, ngay khi người ta có văn phòng trong một trại tập trung. Ngay cả khi cái văn phòng đó là một văn phòng tưởng niệm. Một phong cách chỉ cố gắng để total recall, tưởng nhớ toàn bộ, phải như thế nào thì tôi không thể và cũng không muốn tưởng tượng ra.

Nhưng trại tập trung là cái gì? Nó là một nơi của tự do. Tự do phạm tội tuyệt đối, không có công ước, không có tôn trọng đạo đức kìm hãm. Tự do lựa chọn vật thể. Tự do lựa chọn phương pháp. Tự do sáng sủa cho cái thường thở hổn hển và co giật trong bóng tối. Tự do của bàn tay ở cò súng, ở dây treo, tự do của bàn tay ở điếu thuốc lá, rượu và trong nhà thổ của trại. Một trại tập trung là một nơi bảo tồn ma quỷ. Không phải là có ma quỷ thật, là cái ghê gớm, lúc nào cũng có nó. Ghê gớm là “Lãnh tụ”[4] đã cho chúng một nơi chốn tự do.

            Ma quỷ có ở trong hồ sơ lưu trữ. Trong những bản sao tồi tàn, thỉnh thoảng gần như không thể đọc được của những tờ giấy ghi chép chi chít, trong từng câu và từng cảnh tượng và từng tên họ đã được những người thẩm vấn của phe Đồng Minh gõ vào máy đánh chữ của họ ở Neaples trong tháng 5 năm 1945. Ngồi đối diện với họ là những tù nhân từ Flossenbürg đã được giải thoát.

            Con quỷ của Flossenbürg – chỉ một trong số đó, nhưng chính là con quỷ mà không một người còn sống sót nào lại có thể quên được – là một Karl Weihe từ vùng gần Magdeburg. Do tù nhân gần như không bao giờ gọi tên của hắn, nên chỉ như vầy: Weihe, tên đao phủ của Flossenbürg.

            Một vài người, biết đến hắn ở đó, có mơ cũng không thấy được điều đấy một năm trước. Vì Flossenbürg có một bí mật: Có nhiều tù nhân đặc biệt đã bị giam giữ trong ngôi nhà quản thúc, một nhà tù riêng rẽ, một nhóm chọn lọc bao gồm nhiều nhân vật nổi tiếng của Đức và châu Âu. Lãnh đạo và bộ trưởng của nhiều chính phủ châu Âu. Người của nhà thờ. Tình báo Đan Mạch. Tướng lĩnh Đức và Hungary. Quý tộc. Người kế vị ngai vàng Bayern Hoàng tử nối ngôi Franz của Bayern, Hoàng tử Philipp của Hessen, Hoàng tử Friedrich Leopold của Phổ. Nhưng sân trong của ngôi nhà quản thúc họ – phần ở phía sau có mái che của nó – là nơi chốn tự do của Weihe vào mỗi buổi sáng. Hắn bắn vào gáy ở đây, móc được treo ở đây, móc có treo dây mà hắn đặt quanh cổ của người bị hắn ra lệnh.

            Tướng Georg Thomas đã bày tỏ nỗi nghi ngại về chiến dịch xâm lược Nga, về “Chiến dịch Barbarossa” của Hitler. Người cựu lãnh đạo của sở quân trang và kinh tế quân đội trong Bộ tổng chỉ huy quân đội cho rằng sẽ rất khó có thể thành công trong việc về mặt quân sự là một điều bắt buộc nhưng đã thất bại trong những lần xâm lược nước Nga trước đây: Cung cấp lương thực cho đạo quân khổng lồ từ đất nước bị chiếm đóng. Quan hệ với những người đồng mưu quanh Graf von Stauffenberg[5] đã trở thành tai họa cho vị tướng lúc đó đã về hưu. Ông lại tìm thấy mình trong thế giới dưới hầm của Gestapo[6] trong dinh Hoàng tử Albrecht ở Berlin.

            Vào ngày 7 tháng 2 năm 1945, sau khi trụ sở chính của Gestapo bị hư hại nặng trong một lần không kích, ông được mang ra khỏi đó và được đẩy lên một chiếc xe buýt cùng với những người mưu đảo chính khác. Đô đốc Wilhelm Canaris, sếp tình báo quân đội Đức ngồi ở trong đó. Và người cộng sự và người bạn và người đồng mưu lâu nay thúc dục hành động tướng Hans Oster. Đại úy Theodor Strünck, cũng thuộc tình báo quân đội. Đại tướng Franz Halder, cho đến năm 1942 là sếp của Bộ tổng tham mưu Lục quân. Karl Sack, chánh án và sếp của tòa án lục quân. Hjalmar Schacht, cựu thống đốc Ngân hàng Đế chế.

            Rồi còn có một nguyên thủ quốc gia cũng ngồi ở trong đó. Thủ tướng Áo Kurt von Schuschnigg theo khuynh hướng quân chủ đã bị Đức Quốc xã bắt giam sau khi hành quân xâm nhập. Vera vợ của ông, sinh ra là nữ bá tước Czernin-Gugger, cũng ở bên cạnh ông, bà tình nguyện đi cùng ông qua các trại tập trung đã nhiều năm. Và một đứa bé 3 tuổi cũng ở trong xe buýt, Maria Dolores, con gái của vợ chồng Schuschnigg, được cha mẹ gọi là “Cissy”. Cô bé không hề biết gì khác. Cô bé ra đời trong một trại tập trung.

            Chuyến đi bắt đầu từ Berlin-Mitte về hướng tây, đi ngang qua căn hộ của tướng Oster trong Wilmersdorf và của tướng Thomas trong khu Grunewald quý phái, và chấm dứt sau 14 giờ tại trại tập trung Flossenbürg trước một ngôi nhà dài với 40 phòng giam, nhà quản thúc của trại tập trung. Vào lúc đầu, Tướng Thomas bị biệt giam và chỉ sau một thời gian mới hiểu được những gì đã xảy ra hằng ngày trên sân trước phòng giam của ông.

            “Đó là một trại hủy diệt thuộc loại ghê tởm nhất”, ông viết lại sau này trong hồi ký, “hằng ngày, ngay trước phòng giam của chúng tôi, nhiều đàn ông và phụ nữ phải tự lột trần truồng ra để rồi bị bắn chết hay bị treo cổ và xác chết được khuân ngang qua trước mắt của chúng tôi để mang đi thiêu. Sau công việc vào buổi sáng của chúng, những kẻ giết người này, đồng thời cũng là những người canh tù của chúng tôi, ngồi uống cà phê và uống cà phê buổi sáng của chúng một cách vui vẻ.”

            Sân của Weihe. Đã có một vài người canh tù, vị tướng ghi chú, phải cố chịu đựng việc này, nhưng họ quá yếu đuối để có thể chống lại công việc giết người của họ. Weihe không thuộc trong số những người yếu đuối. Ngược lại, hắn rất thích treo cổ và thích nhìn thân thể trần truồng trong lúc đó. Khi tòa án quân sự dã chiến của SS ở trại tập trung nhóm họp và xét xử xong, và nó nhóm họp không ngừng nghỉ, hắn chuẩn bị làm việc.

            Có lần hắn đã khoe khoang với một lính SS rằng hắn đã bắn vào gáy liên tiếp nhau nhiều đến mức nòng súng nóng bỏng lên – hắn đã phải thay súng. Trong khi đấy, bắn vào gáy hoàn toàn không phải là “chuyên môn” của hắn. Weihe chính là đao phủ, kẻ tích cực nhất trong trại, và hắn đã đi xa hơn những gì mà hắn phải làm rất nhiều.

            Hắn thưởng thức việc đó. Hắn biến việc đó thành một sự kiện. Hắn có thể giết chết nạn nhân của hắn lạnh lùng như một bác sĩ. Nhưng hắn lại thưởng thức việc đó, làm mất nhân phẩm của họ, hạ nhục họ ngay cả trong cái chết. Hắn sử dụng họ. Như Armand Mottet, một người Pháp của Résistance[7], đã giải thích cho những người thẩm vấn ở Neaples: “Đầu tiên, nạn nhân được dẫn đến phòng tắm, ở đó hạ sĩ quan Weihe hạ lệnh cho họ phải cởi bỏ y phục ra. Rồi hắn trói tay họ ra phía sau lưng bằng một đoạn dây, giật bỏ tất cả nhẫn và tất cả dấu hiệu đạo giáo mà họ mang trên người, xé nát ảnh gia đình của họ trước mặt họ và cuối cùng dẫn họ đi xử tử. Weihe tự tay mình treo cổ họ.”

            Mỗi ngày Weihe treo cổ ít nhất là một chục nạn nhân, thỉnh thoảng còn nhiều hơn. Vào ngày 8 tháng 1 năm 1945 hắn treo cổ 3 người phụ nữ của tổ chức kháng chiến Ba Lan, một người trong số đó đang mang thai đến tháng thứ 8. Vào ngày 11 tháng 1, 3 ngày sau đó, hắn treo cổ 2 bé gái người Ba Lan, 12 và 13 tuổi, và vì họ quá nhẹ cân nên hắn đu lên chân của hai em và giật cho đến khi đủ mới thôi.

Ông Weihe nhỏ người từ Wormsdorf gần Eisleben trong Magdeburger Börde, 53 tuổi, cao chưa đến 1 m70, vai khỏe, lưng cong, tuýp người miền quê. Không thông minh, những người tù nhân có học thức của hắn nói. Khó có thể tưởng tượng được rằng hắn đã không thưởng thức thêm việc nhiều quý ông và quý bà cao sang bây giờ lại nằm trong quyền hạn của hắn. Vào chủ nhật, theo như lời thuật lại, Weihe thư giãn trong nhà thổ của trại.

Cũng theo nhà ngoại giao Mogensen, Weihe đã đóng vai trò chủ chốt. Là phó lãnh sự Đan Mạch tại Danzig, Mogensen đã tham dự nhiều hoạt động phá hoại của một tổ kháng chiến Ba Lan, bị lộ và bị bắt giam tại Flossenbürg, trước khi ông cùng với những tù nhân đặc biệt khác về Dachau[8]. Trong bộ ma quỷ học nhỏ của ông về những đội canh gác, ông xếp Weihe vào loại người ác dâm. “Có một lần tôi ở trong sân sau một loạt vụ xử tử hình và đi ngang qua phòng canh gác, qua cánh cửa đang mở hé tôi nhìn thấy Weihe đang nhảy tưng tưng và thủ dâm.”

Tự do lựa chọn vật thể, tự do lựa chọn phương pháp.

Vào đêm Giáng Sinh, Mogensen nhận được một gói quà nhỏ từ vợ ông. Một cái bánh nhỏ, được làm từ quả cây sồi đỏ đã được lột vỏ và một ít bột mì, có một cành thông nằm cạnh bên. “Tôi ăn cái bánh trước rồi đến cành thông sau.” Lúc đó người ta đã dựng cây Giáng Sinh lớn ở bên ngoài, để cho tất cả mọi người đều nhìn thấy. “Nó được trang hoàng bằng một cái giá treo cổ và 2 người tù bị treo trên đó. Họ đội túi giấy lớn có màu sặc sỡ ở trên đầu. Vào buổi tối, dàn nhạc tù nhân chơi những bài hát Giáng Sinh. Trên quảng trường giữa nhà tù và nhà thổ họ cất tiếng hát ‘Hãy vui mừng, hãy vui mừng, thế giới Kitô giáo’. Đó là đêm Giáng Sinh điên rồ và đáng sợ nhất trong cuộc đời tôi.”

Điên rồ và báng bổ cho tất cả, đó là quà tặng của ngày 24 tháng 12 năm 1944. Đó là Giáng Sinh ma quỷ cuối cùng của Flossenbürg.

Trước chiến tranh, trại này là một nơi xa mặt trận và nằm ở vị trí trung tâm, hẻo lánh như dễ đến. Giết người hằng ngày và thái quá đã có thể bộc lộ một cách tự do và không bị quấy nhiễu ở đây, mỏ đá granite trong vùng là cơ hội để cưỡng bức lao động có quy mô lớn. Giờ đây, trong tháng 4 năm 1945, khi mặt trận ngày càng nhích đến gần, Flossenbürg cũng không còn có thể giữ được nữa. Nó được sơ tán.

            Con số tù nhân đã tăng lên gấp nhiều lần trong thời gian cuối, từ 4000 lên đến 15.000. Người Do Thái từ Ba Lan và Hungary, sau khi các trại hủy diệt ở phía đông được giải phóng. Những người bị đàn áp, vì chính trị hay những việc khác. Tất cả những người lọt vào tay của chế độ trong những lần đi xâm chiếm. Bây giờ họ, những người vừa mới bị mang đến đây từ những trại khác, lại bị đẩy đi về hướng nam, đến Dachau, phải đi bộ mà rất nhiều người đã chết trên đường đi. Họ bị bắt buộc phải đi thành nhiều đoàn, mỗi đoàn hằng ngàn người – ngang qua những đại lộ và làng mạc của vùng Bayern. Nhiều người đã nằm lại hay đã bị bắn chết. Sau chiến tranh người ta tìm thấy trên 5000 người chết trên các tuyến đường của những chuyến đi bộ man rợ này.

            Lực lượng SS cũng đã nghĩ ra một vai trò đặc biệt cho các tù nhân đặc biệt của họ trong giai đoạn kết thúc: Họ cần phải đóng vai trò con tin cho những cuộc thương lượng hão huyền của Himmler[9] với quân đội Đồng Minh. Vua Bỉ Leopold III, tướng lĩnh Pháp, dòng họ Wittelsbach – tất cả những gì có thể có giá trị đều được gom chung lại với nhau. Một hệ thống riêng bao gồm nhiều trại giam đặc biệt dành cho những người nổi tiếng đã thành hình trong nhiều lâu đài và khách sạn, không chỉ trong vùng Tirol mà còn ở trong Sudetenland, trong Sachsen và miền nam Đức. Con tin trong những trại tập trung và trại quân đội bị đưa lên xe và mang đi. Người ta muốn mang họ về thành trì trú ẩn cuối cùng, được gọi là Pháo đài Alps. Quần đảo Himmler, đã trải rộng khắp cả châu Âu, bây giờ lui về miền nam, trên núi, như trong cơn co giật cuối cùng.

            Nhưng ý tưởng Pháo đài Alps đã chết trước khi nó bắt đầu có hình dạng, mà cái tốt là nhờ vào phản bội. Kẻ lãnh đạo SS tối cao ở Ý, tướng Karl Wolff của Waffen-SS[10], đã bí mật thương lượng với quân đội Đồng Minh từ lâu, hắn đầu hàng và giao ra sườn phía nam của cái pháo đài ma.

            Vào ngày 9 tháng 4, các con tin trong Flossenbürg bị đưa lên xe tải và mang về phía nam. Hoàng tử của Hessen đã ngất xỉu trong chuyến đi; trên người của phó lãnh sự Mogensen là người đồng xứ Hans Lunding, một sĩ quan tình báo Đan Mạch. Do phòng giam của ông nằm kế cận phòng giam của Canaris, Lunding cũng vừa mới là nhân chứng cho những ngày cuối cùng của vị đô đốc.

            Từ khi hai người biết rằng họ nằm cạnh nhau, Canaris và Lunding đã dùng tín hiệu Morse để liên lạc. Trong những đêm cuối cùng họ đã nói, nói, gõ, gõ. Cuối ngày 8 tháng 4, Canaris trở về từ tòa án dã chiến. Những người hành hạ ông đã biết rõ tất cả, mặc dù vậy ông vẫn đấu tranh với họ cho đến cuối cùng. Vâng, ông đã tham gia âm mưu đảo chính, nhưng chỉ để phá hỏng nó vào giây phút cuối cùng, đó chính là nhiệm vụ của ông, sếp của tình báo quân đội.

            Chỉ đến khi họ mang người bạn của ông ra để đối chất, tướng Oster, người đã khai báo tất cả, ông mới chịu đầu hàng. Đã có một cuộc đối thoại gay gắt cuối cùng giữa hai người.

            “Hãy để tôi giải thích, tôi chỉ giả vờ làm như thế thôi!” – “Không, không đúng. Tôi không thể khai những gì khác hơn những điều tôi biết. Tôi không phải là một tên vô lại.”

            Trong đêm đó, Lunding nghe Canaris được mang trở về phòng giam. Cánh cửa, ổ khóa, tiếng loảng xoảng của dây xích chân. Ông chờ cho đến khi im lặng rồi ông gõ. Mãi một lúc lâu sau đó ông mới nhận được trả lời. Và những gì ông dịch lại từ tiếng gõ ở phía bên kia của bức tường là một tờ di chúc.

            “Thời gian của tôi đã hết.

              Không phải là kẻ phản bội tổ quốc.

              Đã thi hành nhiệm vụ như một người Đức.

              Nếu ông sống sót, xin ông chuyển lời thăm đến vợ tôi.”

            Rồi hình ảnh cuối cùng. Lunding được đánh thức dậy bởi những tiếng động quá quen thuộc ở bên ngoài trên lối đi vào buổi sáng sớm. Bước chân. Mệnh lệnh. Leng keng. Còn chưa đến 6 giờ. Ông đứng dậy và nhìn qua một kẻ hở trên cửa. Một thân thể trắng, trần truồng, gần như chỉ là đường nét của một thân thể – và đi mất, đi qua. Đô đốc Canaris trên đường đi tử hình.

            Tất cả những việc đó theo đuổi ông trên chuyến đi đêm trong chiếc xe tải nhét đầy người. Rồi buổi sáng đến và những người trên xe nhận ra phong cảnh và đoán được sẽ đi đến đâu: Dachau. Ở đó, nhiều hình ảnh mới ập đến. Những cảnh dã man cực cùng. Ở Dachau, năng suất giết người giờ đây không còn được thông báo bằng con số của xác chết nữa, mà được đo bằng con số xe cút kít chở tro ra từ lò thiêu. Người ta cho là 2 tá xe cút kít trong những ngày cuối cùng này.

            Ngay giữa sự man rợ cũng có những khoảng khắc kỳ lạ. Khi người ta đứng xếp hàng cùng với một hoàng tử Đức ở trước nơi tiểu tiện thì phải cố gắng không nhìn chằm chằm vào vị tướng nổi tiếng, mang đầy đủ quân phục, trên cổ là cái huy chương Đức “Pour le Mérite[11]” cao quý nhất, đang ngồi đại tiện cùng với những tù nhân khác.

            Dachau là điểm tập họp của nhóm con tin cuối cùng. Tù nhân đặc biệt từ nhiều trại khác nhau về đây, không chỉ từ Flossenbürg. Thành viên nhóm mưu đảo chính của ngày 20 tháng 7, gia đình của Graf von Stauffenberg và những người khác. Và Hoàng tử của Bourbon-Parma, người đã là tù nhân bình thường của Dachau trước đó một thời gian khá lâu, giờ đây cũng được dẫn sang nhà thổ của trại tập trung mới được vội vàng dọn trống, đến với những người nổi tiếng khác. Cũng như Hoàng tử Leopold của Phổ, người được tù nhân Dachau rất quý mến. Họ bắt tay để từ giã, một hàng chào bắt tay danh dự.

            Thời gian thúc giục. Mặt trận giờ đây cũng nhích đến gần Dachau một cách đầy nguy hiểm. Chỉ sau 2 tuần, cả nhóm lại được chất lên xe buýt và xe tải, vào ngày 24 tháng 4 được mang đi trong đêm về hướng Innsbruck và nhốt trong một trại trung chuyển ở gần thành phố. Các tù nhân không thể không nhìn thấy rằng những người canh giữ họ ngày càng bồn chồn hơn. Những người đàn ông, trong số đó có không ít người đã từng chiến đấu trong chiến tranh và là sĩ quan chuyên nghiệp, đang chờ đợi khoảng khắc họ có thể tự quyết định lấy số phận của họ. Cuối cùng thì người ta phải dự tính cho tất cả mọi việc có thể xảy ra. Trên chuyến đi qua quần đảo Himmler, họ đã nhìn thấy các nhà máy giết người lại tăng “sản xuất” của chúng lên thêm một lần nữa, ở thời điểm bắt đầu đi đến kết thúc. Cũng đã có những vụ tử hình bởi những kẻ cuồng tín tuyệt vọng trong phút cuối cùng.

            Tướng Thomas nhận thấy những người canh giữ giống như rắn mất đầu. “Do chúng tôi không có vũ khí và nhóm áp giải của chúng tôi thì lại được trang bị vũ khí đầy đủ, nên chúng tôi phải tạm thời gác lại ý tưởng dùng vũ lực để giải thoát.” Nhưng có một rạn nứt đi xuyên qua đội canh gác, và cái đó làm cho ông hy vọng. “Các nhân tố tử tế giúp đỡ chúng tôi bằng mọi cách, các nhân tố xấu ngày càng cứng rắn hơn trong mối bất an của chúng.”

            Các nhân tố xấu, đó là một nhóm người của SD[12] trông có vẻ lụn bại, được trang bị vũ khí đến tận răng có chỉ huy riêng, đã tăng cường cho nhóm canh gác trong thời gian vừa qua. Các tù nhân lo ngại đây chính là những đao phủ của họ. Và thật sự là trong lúc say sưa, một vài người thuộc SD đã bộc lộ lời đe dọa rằng họ ở đây để bắn chết ít nhất là một phần của nhóm con tin nổi tiếng.

            Sau 2 ngày, nhóm người lại được đưa lên xe. Tiếp tục đi, lên đèo Brenner về hướng Pustertal. Vào lúc giữa đêm, đoàn vận tải phải dừng lại nhiều giờ vì quân đội Đức Quốc xã chặn đường. Một hình ảnh quân đội hỗn loạn xuất hiện, đồng thời người ta cũng biết được điểm đến của đoàn xe tải – khách sạn nghỉ mát thơ mộng “Pragser Wildsee”. Trung úy SS Stiller lãnh đạo nhóm con tin đã thương lượng được việc đó. Các con tin mô tả ông ta trong hồi ký của họ như một người cố gắng tạo hoàn cảnh tử tế.

            Nhưng hóa ra một bộ tham mưu quân đội đã đóng quân trong khách sạn. Tiếp theo sau đó là giằng co giữa Stiller và các cơ sở quân đội. Vào sáng ngày 28 tháng 4, một ngày thứ bảy mưa mù âm u, nhóm người đi đến Niederdorf trong vùng Nam Tirol. Stiller cho dừng lại ở đấy, cách làng không xa. Không một ai, kể cả ông ta, biết được sẽ tiếp tục như thế nào. Mệt mỏi, đói, thiếu ngủ, run lập cập vì lạnh, các con tin đứng ngồi cạnh đường. Nhưng không phải tất cả. Bộc lộ việc đội cai quản đã không còn có khả năng canh giữ được toàn bộ tù nhân. “Đội canh giữ chúng tôi”, tướng Thomas nhận định, “ngày càng bối rối hơn, chúng tôi càng can đảm hơn.” Vào buổi tối có quyết định: tất cả đi vào làng. Vào nhà, trên nệm rơm, trên giường ngủ đàng hoàng.

            Sau một đêm giữa phấn chấn, đau khóc, giấc ngủ nặng nề, ngắn ngủi và sợ hãi, nhiều sự kiện xảy ra dồn dập vào ngày chủ nhật. Thêm vững tâm qua sự tiếp đón nồng hậu mà họ nhận được từ người dân Nam Tirol – đặc biệt là khi biết được có cả thủ tướng Schuschnigg trong số họ – các tù nhân họp lại sau buổi lễ nhà thờ mà Stiller đã cho phép họ và lập một ủy ban. Chính người trung úy SS cũng chỉ nói như một trong số những người phát biểu. Ai đã từng trải qua trại tập trung và nhìn thấy cảnh này thì không còn có thể nghi ngờ gì được nữa: Đã đến lúc sắp chấm dứt.

            Người hùng trong ngày là 2 sĩ quan, một từ trại tập trung và một từ quân đội: Bogislav von Bonin và Wichard von Alvensleben. Đại tá von Bonin tự đi tìm một điện thoại và bí mật gọi điện cho bộ tham mưu của Đại tướng Vietinghoff, tổng chỉ huy mặt trận tây-nam, đang đóng quân ở gần đó. Quả thật là ông đã tìm thấy một trạm thông tin quân đội, và sau nhiều cố gắng ông cũng đạt được điều không thể tin được. Ông, tù nhân của trại tập trung, liên lạc được với bộ tham mưu của Vietinghoff và xin vị đại tướng giải phóng cho họ. Rất cấp bách, không thể lường trước SS và SD được.

            Tướng Thomas cũng không để cho ai cấm đoán mình điều gì nữa và đã đi vào làng. “Khi tôi vừa đến đầu làng thì bạn của tôi, tướng Höpfner, bất thình lình đứng trước mặt và ôm choàng lấy tôi.” Đó là tín hiệu cho các tù nhân ngoại quốc, rằng những người canh giữ họ chẳng còn quyền hạn gì nữa và những người đồng cam chịu với họ, các sĩ quan Đức, đã liên lạc được với quân đội Đức.

            Cuộc gọi điện của Bonis thành công. Alvensleben, chỉ huy tổng hành dinh của Vietingshoff và là sĩ quan từ một gia đình Phổ nổi tiếng, nhận nhiệm vụ giải phóng. Ông đi vào chiều tối ngày chủ nhật, đến Niederdorf vào lúc nửa đêm, gặp Stiller trên đường phố, tra hỏi ông ta và biết được rằng những người lính SS của ông ấy và nhóm SD, tổng cộng 86 người, đang canh giữ trên 180 con tin trong làng. Rồi Alvensleben tức tốc quay trở về, lại đến vào sáng ngày thứ hai và giải thích cho một chỉ huy SS khác rằng kể từ giờ phút này các tù nhân đứng dưới sự bảo vệ của quân đội: Hắn phải sẵn sàng nhận mệnh lệnh. Ông yêu cầu tăng cường lực lượng, và chẳng bao lâu sau 15 hạ sĩ quan xuất hiện trong làng, nhận lệnh của ông bao vây phòng nghỉ tạm thời của đội SS. Tình hình căng thẳng và không có gì là đã ngã ngũ. Chỉ khi Avensleben lại xin tăng cường lực lượng thêm một lần nữa và một đại đội 150 người của quân đội xuất hiện thì câu hỏi lực lượng mới có lời giải đáp. Ông cho mang 60 chai rượu Cognac đến và phân chia ra cho các tù nhân.

            Vào buổi sáng này trong vùng Nam Tirol, với lần cứu thoát toàn bộ nhóm con tin như một huyền thoại nhờ hành động của 2 người sĩ quan, việc mà những người mưu đảo chính trong tháng 7 trước đó đã hy vọng, việc mà họ đã hy sinh tính mạng cho nó và đã thất bại, cuối cùng đã trở thành hiện thực: Quân đội, lực lượng đã tuân lệnh Hitler và Himmler lâu như thế, giới quân sự như Tướng Thomas, những người đã tổ chức và lãnh đạo cuộc chiến của Hitler – họ đã giật lấy quyền chủ động từ đội lính màu đen[13], nhờ sự giúp đỡ của những người mà tình yêu tổ quốc đã lớn hơn nỗi lo sợ phải trở thành và phải chết như kẻ phản bội. Đấy là một khoảng khắc buồn, lớn vô tận. Như để gọi to với người đã bị treo cổ: Có thể chứ, có thể được! Như để chế giễu: Muộn rồi, muộn rồi!

            Đã ngã ngũ. Họ được tự do, giải phóng bởi quân đội. Hồi ức cuối cùng của Tướng Thomas trong ngày này: “Ngay sau đấy, du kích quân người Ý xuất hiện và đề nghị sẽ bảo vệ chúng tôi. Kẻ trưởng nhóm Gestapo (ông ấy muốn nói trưởng nhóm SD, Wolfgang Büscher) bị bắt và giải thích, ngay cả sau khi bị bắt giữ, rằng họ đã nhận lệnh trong mọi trường hợp phải bắn chết 5 người trong số chúng tôi, trong đó có tôi, và họ đã dự định thi hành vào ngày 29.” Ngày 29 tháng 4, đó là ngày hôm trước.

            Còn Weihe? Hạ sĩ quan Weihe, đao phủ của Flossenbürg ra sao? Hắn biến mất không để lại một dấu vết. Hắn ở lại trại cho đến cuối cùng rồi chui rút vĩnh viễn vào trong bí mật.

            Cô bé Cissy thỉnh thoảng đã chạy theo hắn, khi hắn hét gọi những người sắp bị tử hình ra khỏi phòng giam của họ, để dẫn họ đến sợi dây treo cổ. Cô bé chạy theo sau hắn và bắt chước hắn. Tiếng hét của hắn. “Đi ra đây!” của hắn, khi hắn bắt buộc người nào đó bước ra khỏi phòng giam và cởi bỏ quần áo. Rồi người ta nghe một tiếng vang sau cái mệnh lệnh thô lỗ của Weiher trong hành lang của nhà tù. Đi xuyên qua xương tủy. Tiếng thanh cao của trẻ con.

            Nếu Karl Weihe có lần nào đó bật dậy trong một đêm đen nào đó, ở đâu đó gần Magdeburg hay ở Nam Mỹ dưới một cái tên giả hay trong một thế giới hoàn toàn khác, và nếu như hắn có nghe được một cái gì đó trong khoảng khắc ấy, cho hắn biết rằng bàn tay trắng của sự điên rồ đang với đến hắn, ngay bây giờ và cho mãi mãi, thì đấy phải là tiếng nói thanh cao, đã ở đằng sau hắn vào nhiều buổi sáng và đã gọi hắn.

            “Đi ra đây!”

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức

—————————————————————————————————————————————————

[1] Prora là tên một tòa nhà đồ sộ trên đảo Rügen, trên kế hoạch có đủ chỗ cho 20.000 người đến nghỉ mát.

[2] Wilhelm I và Wilhelm II: vua Phổ, hoàng đế Đức.

[3] Màu quân phục của quân đội Đức từ đầu thế kỷ 20 cho đến 1945.

[4] Nguyên văn “Führer”, trong Đức quốc xã là từ dùng để chỉ Adolf Hitler.

[5] Claus Philipp Maria Graf von Stauffenberg là sĩ quan quân đội Đức quốc xã, người đóng vai trò chủ chốt trong vụ mưu sát Hitler vào ngày 20 tháng 7 năm 1944.

[6] Gestapo: viết tắt của Geheime Staatspolizei (Cảnh sát bí mật quốc gia), cảnh sát chính trị và hình sự trong thời Đức quốc xã.

[7] Résistance: Từ dùng chung để chỉ phong trào kháng chiến tại Pháp chống lại Đức quốc xã đang chiếm đóng trong Đệ nhị thế chiến.

[8] Trại tập trung Dachau gần München là trại tập trung đầu tiên của Đức quốc xã.

[9] Heinrich Himmler (1900-1945) tổng chỉ huy lực lượng SS, từ 1943 đến 1945 đồng thời cũng là Bộ trưởng Bộ Nội vụ của Đức quốc xã.

[10] Waffen-SS: lực lượng được trang bị vũ khí và tham gia chiến đấu như quân đội của SS.

[11] Tiếng Pháp: “Vì công lao”

[12] SD: Viết tắt của Sicherheitsdienst, lực lượng an ninh và tình báo của SS và của Đảng Quốc xã

[13] Màu đen là màu quân phục của SS.

Siberia Bayern

Có điều kỳ lạ là tôi càng đi về phía nam thì tất cả lại càng an lành hơn. Và đó không phải là vùng miền nam giàu có quanh München. Vùng đất cạnh biên giới với Bohemia là một vùng đất nghèo. Đã như thế, vẫn như thế. Nhưng nó cũng giàu. Ở đây một làng là một làng, và một thành phố nhỏ là một thành phố nhỏ, không có cái đã từng là một làng và không có trích dẫn khu phố cổ. Một quán là một quán và không phải là một tiệm rượu lãng mạn cổ xưa dành cho weekend. Và một cái quán xập xệ cạnh biên giới vẫn là một cái quán xập xệ.

Làng Georgenberg thuộc huyện Neustadt an der Waldnaab trong vùng Bayern
Làng Georgenberg thuộc huyện Neustadt an der Waldnaab trong vùng Bayern

Cái quán mà bây giờ tôi bước vào nhìn thoạt qua cũng giống như vậy. Cái kệ thường đặt những chai rượu mạnh ở phía sau quầy rượu trống rỗng, như thể nó không phải để tiếp đãi khách và tất cả chỉ là một hậu cảnh được duy trì một cách chiếu lệ. Hay người chủ quán đã đi vắng một thời gian dài và chỉ vừa mới trở về cách đây không lâu. Khả năng này dường như hợp lý hơn đối với tôi, vì cái quán tạo đúng ấn tượng đấy. Nói chung là không sẵn sàng tiếp đón khách đến, lạnh lẽo, đã không được sử dụng từ lâu rồi.

Chính ông chủ quán, như ông ta ngồi cạnh một trong những bàn vắng khách, trước mặt là một đĩa khoai tây rán, cũng mang nét xa lạ trong chính ngôi nhà của mình.

Một người đàn ông khỏe mạnh, thở phì phò, ông đang dùng tay ăn khoai tây rán. Ít ra thì ông ta cũng chào hỏi, trong khi ấy có thể thấy rõ rằng người khách đến đang làm phiền ông.

            Người đàn ông trẻ hơn, ngồi cạnh ông như đứa đày tớ, còn chẳng thèm chào hỏi. Khách đối với anh ta còn khó chịu hơn cả đối với người chủ, anh ta có một cái gì đó không thành thật trên gương mặt và dáng điệu rình rập của một con cáo đang bò đến chuồng gà. Anh ta không hề ngửng nhìn lên một lần và biến mất ngay trong cơ hội đầu tiên. Nhưng mà người ta đã vui chơi trong cái quán không hiếu khách này, nằm trên một cái bàn là 3 cây đàn xếp và 1 cây kèn tuba.

            Ông chủ quán bắt đầu một cuộc chuyện trò mà sau vài câu đã biến thành một cuộc tra hỏi. Anh từ đâu đến? Ai đã chở anh đến Georgenberg? Thằng đó hả, vậy à. Anh ngủ qua đêm ở đâu trong Neustadt, ở chỗ thằng Schorsch hả? Ông ta cười. Chỗ thằng đó rẻ tiền mà, thằng Schorsch đó. Cái gì, không ở chỗ thằng Schorsch hả!? Anh trả bao nhiêu tiền phòng? Vậy hả, coi đó. Rồi ông ta muốn biết tôi có ở trong một cái quán trọ nào không, ở nơi mà tôi xuất phát để đến đây. Tôi bảo không, và ông ta gật đầu an tâm theo như tôi cảm nhận.

            Tôi hỏi ông về biên giới.

            “Ngày xưa là một cái hàng rào điện, anh mà tới đó là chết liền.”

            “Còn buôn lậu?”

            “Không có buôn lậu.”

            Ông nói câu đó với một vẻ tiếc rẻ thông thạo.

            Ngay sau cái quán trọ của ông, tôi bước qua biên giới không còn được canh gác nữa, rẽ sang phải và đi bộ dọc theo nó cho đến chiều tối. Sau một lúc lâu, tôi gặp nhiều bức tường đã đổ nát trong rừng, rồi tôi nhìn thấy cây cối ở đây trẻ như thế nào. Tôi hiểu được là mình đang đứng trên những bức tường còn lại của các căn nhà đã bị giật sập của một ngôi làng đã biến mất. Một tượng đài kỷ niệm chiến tranh trong rừng, hội độc thân của làng đã hiến tặng nó sau Đệ nhất thế chiến, hé lộ tên của nó: Neulosimthal.

            Có một hòm thư to như tổ chim treo trên cây, một dây hoa nhựa quấn xung quanh, ở trong là một tờ giấy viết tay: Người dán áp phích Hans và người dán áp phích Resi đã ở đây và gửi lời chào đến bất kỳ người nào tìm thấy tờ giấy này. Sau một đoạn dài trong rừng, thỉnh thoảng có khoảng trống, đường bắt đầu lên dốc một ít, và một hòn đá đứng ở trên đó, có gắn một tấm biển kim loại. “Các Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Genscher và Dienstbier đã cắt đứt Tấm màn sắt tại đây vào ngày 23/12/1989. Cộng hòa Séc – Đức.”

            Tôi phát hiện một ngôi nhà thờ trong rừng. Người ta đã xây tường bít kín, rồi đã phá ra và lấy đi tất cả nội tạng. Vì mái nhà đã đổ sập xuống nên tất cả đã hư hỏng. Mắt của những năm 20 nhìn tôi trên nghĩa trang – ảnh của những người chết, được gắn trên thánh giá của những ngôi mộ. Những gương mặt có nhiều mạch máu nhỏ màu xanh. Đấy là những ngôi làng đã bị phá hủy của những người mà người ta đã mang qua biên giới sau chiến tranh. Tôi đi qua nhiều làng như vậy.

Vào buổi chiều tôi lại đi đến đường biên giới và có được sự lựa chọn giữa “Cohiba Bar”, một cái quán màu đất nung nằm quanh một cái sân trong kiểu Mexico, và “Mephisto Bar”, giữa những quầy hàng của người Ukraina và của người Việt, giữa dùi cui bằng sắt và đồ trang trí cây Giáng Sinh hay tượng người lùn đặt trong vườn. Tôi đi đến một quầy bán hàng hóa Nga và bắt chuyện với một người trong số họ bằng tiếng của anh ta:

            “Từ đâu đến?”

            “Từ Moscow.”

            “Tôi cũng thế.”

            Cười.

            “Okay, tôi đến từ Berlin.”

            “Okay, tôi đến từ Kiev.”

            “Dosvidanje[1].”

            “Tạm biệt.”

            Tôi đi cho đến chiều tối, qua đêm trong một quán trọ của làng và nhìn thấy thế giới trắng xóa vào buổi sáng của ngày hôm sau. Tuyết đã rơi rất nhiều, trời cũng lạnh hơn, nhưng tôi thích những con đường trong rừng, qua lại biên giới, tôi tiếp tục đi.

            Đất bây giờ đã đóng băng, và người ta dễ mất định hướng trong tuyết. Lúc đầu, tôi đi theo một con đường rừng rộng. Tôi sắp phải rẽ, chỉ có điều là chính xác ở đâu? Có nhiều đường đi, nhưng khi ở dưới tuyết chúng không khác gì những con đường mòn chấm dứt sau 100 m.

            Một chiếc ô tô bé nhỏ, xấu xí đang chạy lên trên con đường rừng, và khi tôi chặn nó lại, tôi nhìn thấy người lái xe là một người đàn ông bé nhỏ, xấu xí. Ông ta cũng có một trái tim bé nhỏ, xấu xí. Ông ta không trả lời câu hỏi thăm đường đi của tôi. Trước khi đạp ga và tiếp tục trượt đi, ông ta càu nhàu qua cửa kính ô tô: “Ông có bản đồ chứ? Cứ nhìn vào bản đồ thì biết liền đấy mà.”

            Tôi lạc đường, bước vào trong tuyết dầy, khó nhọc quay trở lại, tiếp tục đi trong rừng đầy tuyết, rồi lên dốc qua đồng trống, gió lạnh thổi vào mặt tôi, tôi đã đi vòng qua ngọn núi có tên Eulenberg được một nửa, rồi lại quay lại, vì tôi nghĩ rằng đi lên núi có lẽ tốt hơn, leo lên núi rồi lại đi xuống ở phía bên kia và sau một đoạn ngắn thì đến được cái thôn cạnh biên giới mà tôi đã tìm nó. Một vài ngôi nhà gỗ nằm quạnh hiu, nhà kho, chó sủa, không một bóng người. Người ta nói với tôi rằng ở trên đấy có cái quán kỳ lạ nhất trong vùng, nhưng phải chuẩn bị trước vì quán không được sưởi ấm, lò sưởi không hoạt động và bà chủ quán đã già lắm rồi, bà sống ở đó một mình, tôi chỉ cần gõ cửa rồi bà sẽ mở cho tôi vào.

            Tôi gõ cửa, và trong một cửa sổ của tầng trên xuất hiện gương mặt của một người đàn bà già nua đội khăn trùm đầu. Bà sẽ xuống ngay, bà gọi to, tôi cứ vào đi, cửa mở.

            “Con chó không làm gì đâu.”

            Nó cũng không làm gì thật. Nó chỉ nằm dài trên hành lang, đưa chân trước ra cho tôi và sủa. Rồi bà chủ quán xuất hiện trong chiếc quần đàn ông màu xanh đậm được là thẳng nếp, bà khoác chồng lên một cái áo choàng của phụ nữ ở thôn quê có vạch xanh trắng, chồng lên một cái áo len dầy và chồng lên một cái áo gi lê lông thú dầy, hơi rộng cho bà tuy là đã có cái áo len. Bà chăm chú nhìn tôi. Tôi nhận thấy bà ngần ngại, và nói vài lời thân thiện để xóa tan nghi ngại của bà. Điều đó không khó đối với tôi. Bà có một gương mặt trong sáng và đôi mắt xanh thẳm, và mặc dù bà đã già và sống một mình, xa cách con người, tôi không thể tưởng tượng được rằng bà sống buông thả. Tôi cũng thích quán của bà ngay lập tức, nó đơn giản như có thể đơn giản được. Bàn gỗ cũ bóng láng, sàn nhà bóng láng, gỗ ốp tường cao xung quanh. Một cái ống lò sưởi chạy ngang qua gian phòng như một dòng suy nghĩ bằng bạc. Tôi ngồi xuống, và sau khi nấu cho tôi thức uống nóng bà cũng ngồi xuống, trên chiếc ghế của bà chủ ở rìa của cái quán, và nói :”Vâng, chồng chết rồi.”

            Bà không nói “Mann[2]“, bà bỏ âm “n” và kéo dài “a” được làm câm tối thành “o”: “Vâng, chồng chết rồi.” Và đứa con gái cũng đã đi rồi, đi lấy chồng ở nơi khác. Nhưng sau đó thì tôi mới biết là cô ấy sống cách đây chỉ vài kilômét, trong một làng lân cận, nhưng nghe có vẻ như cô ấy đã bỏ trốn qua bên kia đại dương.

            “Chỉ còn con Susi ở lại đây thôi.”

            Đó là con chó. Tôi hỏi bà bao nhiêu tuổi, và ngạc nhiên khi bà nói: “Tám mươi.”

            Bà thấy tôi nhìn bức ảnh ở trên tường chỗ tôi ngồi.

            “Hai người ngồi đúng chỗ này, đúng chỗ ông đang ngồi bây giờ.”

            Hai người ở phía trên chỗ tôi ngồi, đó là Franz Josef Strauß[3] và vợ của ông trong những sắc màu đỏ của ảnh những năm 70. Tôi còn nghe bà chủ quán nói, đây là một vùng đất bị lãng quên, vùng đất ở phía sau tuyết, Siberia của Bayern, nhưng ở đấy vẫn còn cái gì đó treo trên tường, tôi chưa từng đọc được một cái gì tuyệt vời như vậy.

            Trong vùng Bohemia ở bên kia, ngay sau biên giới, đã từng có một ngôi làng mà bây giờ không còn nữa, và bên cạnh tấm bản đồ của ngôi làng ma này có danh sách tên của những bóng ma đã từng cư ngụ trong làng – tên hiệu đứng trong ngoặc sau mỗi tên chính thức. Mỗi người đều có một tên hiệu, và chúng nghe có vẻ như thiên thần bảo hộ ngôi làng đã hút hết cả một ống điếu Afganistan và đã nghĩ ra tất cả chúng, tên này tuyệt vời hơn tên khác. Michl lông mày. Jakl thợ dệt. Nhóc tì Phục Sinh và Resl ô dù. Báp tít chòi và Girgl nhà thợ mộc. Nhóc tì Nga. Peppi cứt sắt, Seppl Đức, Michl chơi và Girgl cây sồi. Girgl ốc vặn. Michl ván che. Nông dân hoàng đế và Báp tít ngọt.

            Còn một bức ảnh treo trên tường. Bà chủ quán hất đầu về hướng đó.

            “Đã 50 năm rồi. Chồng tôi đấy.” Bà mỉm cười. “Ông ấy là một người đàn ông đẹp có phải không? Đó là trong thời khó khăn.” Ngưng một ít rồi bà nói: “Chúng tôi đã đi từ thời khó khăn sang thời tốt lành. Tôi nói với cháu tôi, các cháu đi từ thời tốt lành sang thời khó khăn.”

            Tôi bước ra ngoài đi vào trong tuyết đang che phủ mọi vật và đi xuống đồng bằng ở phía dưới, và thỉnh thoảng tuyết lại xoáy lên và chuyển động trước tôi như những cây cột bằng khói trắng.

Vào chiều tối, cách đó vài làng, tôi biết được lời giải đáp cho câu đố của cái quán xập xệ cạnh biên giới, của cái kệ trống rỗng, của những nhạc cụ nằm quanh, của người chủ quán không mến khách. Một ông chủ quán khác kể cho tôi nghe rằng ông ấy vừa mới ra tù cách đây vài ngày và đã ăn mừng nhân dịp này. Có nhạc sĩ.

            “Sao ông ta lại ngồi tù?”

            “Dính dáng với gái Séc, biên giới ở ngay bên cạnh mà. Nhưng tôi không biết chính xác, tôi không nói gì hết, tôi không muốn đổ tội cho ông ta bất cứ điều gì hết.”

            Sau đấy một vài làng tôi hỏi thăm thêm lần nữa, lần này là ở một bà chủ quán. Bà hỏi với vẻ rất thông cảm: “À, ông ấy về rồi à. Rồi sao – ông ấy có đặng không?”

            Bà dùng từ theo ngữ cổ. Ông ấy có vui vẻ, khỏe mạnh, ông ấy có khỏe không?

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức


[1] Tiếng Nga: Tạm biệt.

[2] Tiếng Đức: chồng.

[3] Franz Josef Strauß (1915-1988) Bộ trưởng Cộng hòa Liên bang Đức (1953-1962, 1966-1969), thủ hiến bang Bayern (1978-1988).

 Nét điên rồ duyên dáng của Girgl

Tôi đến Lam, một thành phố nhỏ ở trên cao mà chỉ riêng cái tên một âm của nó thôi cũng đã làm cho tôi thấy thích thú, nó vang như hợp âm cuối đang tắt dần của một bài hát trong tiếng vỗ tay khen ngợi ầm ỉ. Đứng ở nơi họp chợ phủ đầy tuyết, tôi suy nghĩ không hiểu tên này nghe có hay hơn không với một Al của tiếng Ả Rập hay một âm L đôi của tiếng Tây Ban Nha hay một âm Sankt Công giáo ở đằng trước. Al-Lam. Llam. St. Lam. Không, cứ như vậy thì tốt hơn.

Ngôi làng tên Lam trong vùng Bayern
Ngôi làng tên Lam trong vùng Bayern

            Tôi bước qua đi vào quán. Nó được sơn phết bằng màu sặc sỡ ở mặt ngoài và sáng như một cây Giáng Sinh trong đêm, từ bên trong vang ra tiếng người và tiếng ồn ào vui vẻ. Người ta treo đầy trên tường của cái quán chật chội, không một góc nào còn trống cả. Bộ gạc với ngày tháng và tên của người bắn, ảnh chó của chủ quán Zampert Xari, bảng tên của hội thợ săn và giấy khen thưởng, tranh hình trái xoan của Vua Ludwig, cờ Vua Ludwig nặng nề, tục ngữ bàn nhậu được vẽ trên miếng gỗ hình tròn, một cây thánh giá và tất nhiên là một máy truyền hình – tất cả trông có vẻ như đã mọc rễ vào quán và cũng phủ bụi một ít như cái quán. Nhưng ở cạnh cái quầy rượu to đùng có treo vài cây đàn guitar, chúng không mọc rễ và cũng không phủ bụi, chúng đã bập bung do được sử dụng thường xuyên.

            Nửa tá đàn ông đang làm ầm ỉ. Họ ngồi quanh cái bàn của họ ở giữa quán, uống và gào thét đòi chơi nhạc. Người mà họ thúc giục vẫn còn làm bộ làm tịch.

            “Không, tôi không có hứng.”

            Ông cựa quậy trên chiếc ghế và nhìn đi nơi khác, một người khắc khổ, gầy, độ 50 trong áo len màu xanh. Ông ra vẻ hoàn toàn không tham dự, và cái đó lại làm cho những người đàn ông càng điên lên trong lúc chờ đợi cho đến khi bắt đầu.

            “Đi, Girgl, chơi đi mà!”

            Nhưng Girgl có rất nhiều thời gian. Ông lờ mờ ngắm ly bia đã cạn một nửa, nhưng cái đó đã thuộc vào phần trình diễn, và ông nói với bà chủ quán: “Tôi già lắm rồi, tôi ngu lắm rồi, đi đi, Maria, đi lấy cho tôi thêm một ly bia nữa đi.”

            Và người điên khùng nhất trong những người đàn ông hét liên tục:

            “Thằng Girgl, thằng Girgl, nó tán chuyện nhiều hơn là chơi đàn.”

            Rồi cuối cùng ông cũng đứng lên trong tiếng reo hò của cả bàn và với lấy một cây đàn guitar. Girgl chơi hợp âm đầu, và người mà lúc nào cũng hét vang: “Nó tán chuyện nhiều hơn là chơi đàn”, trở nên yên lặng và chỉ còn kêu cục cục và bây giờ nhắc đi nhắc lại: “Tuyệt vời, tuyệt vời.”

            Girgl gẩy một điệu nhạc đơn giản và hát một bài hát thô tục.

            Có lần tôi ngồi trên tường của tu viện

            Rình rập với cây chổi của tôi…

Thế rồi họ lũ lượt chạy vào trong bài hát của ông, các nữ tu sĩ đã chịu nhiều thiếu thốn. Họ tốc váy lên và trình diễn cho Girgl và cây chổi của ông những vần thơ dữ dội nhất.

            Xơ Marie là người đầu tiên,

            Mà chổi của tôi phải quét.

            Nhưng lỗ của xơ đầy bồ hóng,

            Nên phải quét đến ba lần.

Những người đàn ông ngồi ở cạnh bàn phát cuồng lên. Girgl vẫn cứ thản nhiên tiếp tục hát nói, cứ như ông đang thuật lại giá của lợn con ở chợ gia súc vừa rồi, cái lại càng làm cho khán giả thêm phần khoái chí. Bây giờ ông lao vào chính trị.

            Xơ Lisbeth rất cá tính,

            Đòi xem ngay cây chổi,

            Dùng tay nắm lấy nó,

            Và đút vào vì tổ quốc.

Rồi đến điệp khúc, nó ngắn gọn và đơn giản và chỉ cách một lời nói tục trong đường tơ kẻ tóc, đến mức tất cả mọi người trong quán đều thích thú cuồng nhiệt hét to lên:

            Hôm nay quét nhà! Hôm nay quét nhà!

Girgl hát lời ca nghiêm túc, và những người khác làm những gì mà họ muốn. Chữ “e” trọng âm được nhích sang “i” và “g” thành “ck”[1], và thế là nó trở thành một trò chơi tục tĩu – con heo xuất hiện trong bài hát. Tất cả mọi người đều gào lên, dậm chân, làm đổ cả ly bia của tôi.

            Chỉ có bà chủ quán là ngồi tách ra. Bà mang đồ đan len ra và nhìn sự việc như một người mẹ đang dõi theo trò chơi ngịch ngợm của những đứa con trai, nửa thích thú nửa lắc đầu.

            Nhưng Girgl, người chỉ là láng giềng, một người đàn ông bình thường của Lam, thỉnh thoảng lại vào quán ca hát để uống bia không mất tiền, đang ở một nơi hoàn toàn khác. Ông trình diễn như một ca sĩ khôn khéo trong phòng trà, ông đổi tốc độ và sắc diện. Một nụ cười xuất hiện trên gương mặt của ông, đôi mắt sáng rực lên, cái mà một người ngoài cuộc có lẽ sẽ cho đó là điều báo hiệu cho sự điên khùng.

            Và khi tôi đi chơi

Girgl hát,

            Thì tôi sẽ mua một con gà mái.

Cả bàn nhậu nhắc lại trong cơn khoái chí ngạc nhiên.

            “Con gà mái, con gà mái! Nó mua một con gà mái!”

            Con gà mái cũng làm cho tôi phát điên lên. Nó được thì thầm nói ra, hoàn toàn điên rồ đến như thế, sáng tỏ đến như thế.

            Girgl hát:

            Cả thế giới không cần phải biết,

            Con gà mái của tôi tên gì…

Cho đến đây thì nó chỉ là một trò tiêu khiển, nhưng bắt đầu từ bây giờ thì khác. Bây giờ có một ảo giác duyên dáng đến và nhập vào trong Girgl. Ông chìm đắm hoàn toàn vào trong ca khúc, với một nụ cười say mê, ông vuốt ve cây đàn guitar, và rồi nó xảy ra, nó lan đi, những người đàn ông nặng nề đầy mồ hôi không còn gào lên nữa, họ rên rĩ, thổn thức và phấn khởi như trong đêm tân hôn, và tôi cũng nghe được âm thanh cao vút đang dâng trào ra từ cuống họng của tôi, ông ấy hát, tôi nhảy múa và kêu gào lên thêm vào đấy.

            Nhưng Girlg vẫn còn chưa lên đến đỉnh điểm của bài hát, ông còn làm cho nó tuyệt diệu hơn và thì thào vào trong bầu không khí điên rồ đầy khói của quán cái tên mà cả thế giới không cần biết đến:

            Con gà mái của tôi tên là Súng.

Đó là một niềm vui chiến thắng dịu dàng, sâu thẳm, yêu thương nồng thắm đến mức không thể nào là một con gà được, cái mà ông bí mật gọi là cây súng của ông. Ông hát về một người đàn bà, một người còn lý trí sẽ nói như vậy, như những ca sĩ blues da đen trong trang trại hát về baby[2] của họ, cruel[3], tàn nhẫn với họ, và lại ám chỉ chủ nhân của họ, người mà họ không được phép lên án trong những bài hát của họ, chứ nếu không thì họ đã bị hành hình.

            Nhưng ở đây chẳng có ai còn lý trí cả. Girgl đang ở đây, và ông đang để cho khẩu súng của ông bay trong không khí một cách tùy thích. Girgl là một người đã được sáng tỏ. Tôi chạy ra ngoài, lao người vào trong tuyết và làm dịu thần kinh đang bốc cháy khắp trên người.

            Qua cửa sổ mở, tôi nghe ông tiếp tục hát. Bài hát có nhiều đoạn, và cứ mỗi lần như thế Girgl lại mua một con vật khác, khi ông “đi chơi”, và cho nó một cái tên khác, nhưng không có tên nào mà ông lại thổ lộ và âu yếm với niềm tha thiết như cái tên đầu tiên.

            Tôi nằm trong tuyết đầu mùa của Lam và tru lên như một con sói đang yêu.

 


[1] Gefegt – (đã) quét (nhà) biến thành gefickt – giao hợp (từ tục).

[2] Baby. Tiếng Anh, tiếng lóng gọi người yêu.

[3] Tiếng Anh: tàn nhẫn, phủ phàng

Tự do rừng

Huy hiệu trong lịch sử của Bohemia

Có những ngày mà tôi không gặp một ai. Những ngày sương mù âm ỉ. Đi ngang qua mặt tiền thời tiết của những căn nhà kho to lớn, những bức tường bằng ván gỗ có màu đen của mưa gió, tôi đến cái tối tăm của những ngôi làng không có một ánh sáng giải thoát, không có trong bất kỳ một cái cửa sổ nào. Khi ngôi làng nằm ở phía sau tôi, sự yên lặng nhỏ giọt của nó, tôi thở phào. Tôi đang ở trong rừng.

            Có người nói với tôi rằng 150 năm trước đây không thể nào vào Rừng Bayern và Rừng Bohemia được, chỉ những người đốn gỗ mới dám vào, để chặt thông cho người chủ sở hữu rừng, to đến mức 2 người đàn ông biến mất ở phía sau và chỉ tái xuất hiện khi cái cây khổng lồ đổ xuống.

            Vật và người nhích lại sát gần nhau trong những quán như quán của Lam như thế nào thì tất cả ở ngoài này lại xa vắng như thế đó. Tôi có cảm giác như những quán trọ càng chan hòa và ầm ỉ hơn khi thế giới xung quanh càng yên lặng hơn. Sự ghét bỏ trống vắng của Baroque Bayern, thánh giá ở khắp nơi, trang trí, điêu khắc, hình ảnh, thà nhiều hơn một cái chứ không thể ít hơn một cái, bích họa trên tường nhà, chăm chút từng chi tiết một trong lúc trang trí mỗi một đầu hồi, mỗi một góc – tất cả đều là những lời cầu khẩn của người bản xứ trong một thế giới mà nhận thức rằng ở ngoài đấy hoàn toàn không ấm cúng tí nào vẫn đang còn nằm trong xương tủy. Đam mê hình ảnh Bayern tương tự như các ngôi vườn trong những đất nước sa mạc, phải bù đắp lại cho tất cả sa mạc.

            Vào một ngày như thế, một ngày không muốn sáng lên, tôi ngồi trong một làng gần Cham, trong gian phòng khách và nghe đồng hồ kêu tíc tắc và tiếng nói của một người phụ nữ, to hơn mức cần thiết, giống như những người khiếm thính. Nếu như tôi không thể nhớ lại được gương mặt của bà thì tôi có thể nói rằng đó là do bóng tối của căn phòng – người ta cũng không bật đèn trong gian phòng này – nhưng thật ra đó là vì tôi nhắm mắt đi theo tiếng nói. Người đàn bà kể về một thế giới mờ ảo, kỳ lạ, bà kể về cuộc sống trong những khu rừng, và tên của bà giống như một bụi cây hiếm quý đang nở hoa, sâu thẳm ở bên trong chúng. Rosa Tahedl. Bụi cây Tadedl đang nở hoa màu hồng.

            Bà ra đời vào cuối Đệ nhất thế chiến, trong một ngôi làng ở phía bên Bohemia của biên giới, thuộc trong số những ngôi làng mà khoảng năm 1800 hầu tước Schwarzenberg đã lập nên cho những người đốn gỗ trong Rừng Bohemia của ông. Thời đấy có 79 số nhà, vào khoảng 600 người dân và cũng từng ấy bò, ngựa, bò cái và bò thiến. Người ta đã dạy cho bé Rosa phải chạy đến khi nghe tiếng gọi “Hầu tước đến!”, dạy cho bé vẫy tay khi chiếc xe tứ mã chạy xuyên qua làng, và phải thưa với hầu tước là “điện hạ”, nhưng phải thưa nữ hầu tước là “công chúa”, vì bà là công chúa của Liechtenstein. Trời vào thu khi tiếng gọi vang lên. Hầu tước khởi hành từ một trong các lâu đài của ông ở Bohemia để đi săn.

            Nhiều năm sau đó, cô Rosa thi đỗ trung học hạng xuất sắc và được gửi đi học trường sư phạm tại Budweis[1]. Nhưng khi cô vừa tốt nghiệp thì thế sự xoay vần. Cuộc sống bắt đầu khó khăn hơn cho nhóm dân thiểu số của cô, trường lớp tiếng Đức bị giải tán, giáo viên người Đức bị cho nghỉ việc. Nhiều người trở thành nhạc sĩ để kiếm sống hay đi theo gánh xiếc. Cô có thể cũng phải làm như vậy, cô chơi đàn vĩ cầm, kéo đàn để kiếm sống, nhưng cô gặp may và được nhận làm gia sư trong một gia đình giàu có.

            Khi bị sáp nhập vào Đế chế[2], thế sự lại xoay vần, bây giờ người Đức được ưu đãi. Cô đi dạy trong một trường được vài năm. Rồi chiến tranh chấm dứt, và thế sự lại xoay vần lần thứ ba.

            Cuộc xua đuổi bắt đầu bằng cách đơn giản nhất mà người ta có thể tưởng tượng được. Vào lúc 5 giờ sáng, cảnh sát đập cửa và thông báo rằng người ta có 2 giờ đồng hồ để tụ tập trên quảng trường của làng, với hành lý tối đa là 50 kg. Nhà nào cũng bị đập cửa – cả làng đều là người Đức, chỉ có duy nhất một người Séc sống ở đó. Từ quảng trường làng đi đến trại do Cơ quan Lao động Đế chế[3] để lại.

            Xe bò chờ ở đấy 14 ngày sau đó, nó đầy ắp khi sang biên giới Bayern và trống rỗng khi quay trở lại. Làng trở nên hoang vắng, nhưng không yên lặng. Bò vô chủ rống lên vì đói. Nhà nào trong số 79 căn nhà cũng đều có một con chó và một chuồng nuôi gia súc, nhưng đến chó cũng không được phép mang theo. Tất cả súc vật đều bị nhà nước tịch thu, nhưng không có ai ở đó để vắt sữa và cho chúng ăn.

Chỉ còn một vài người ở lại trong làng, thợ chuyên môn không thể thiếu được. Họ cho súc vật của láng giềng họ ăn cỏ khô còn lại. Khi hết sạch, họ giật rơm đã mục trên những mái nhà cũ kỹ. Được một thời gian. Nhưng bò vẫn tiếp tục rống lên ở ngoài làng, trong những trang trại hiu quạnh.

            Ai vào làng mà thích gà thì cứ bắt một con và ai cảm thấy thích ăn món ngỗng quay thì chỉ cần chộp lấy. “Thời gian của những người đào vàng”, chính người Séc đã gọi mùa hè đầu tiên sau chiến tranh như thế. Sau một thời gian, có người đã phát ớn gà và ngỗng quay. Khi làng còn dân cư, nhiều người từ nội địa đã đến đây, đi dạo một vòng qua làng, chọn một căn nhà và ra công sở xin cấp giấy, họ giơ nó ra cho người đang cư trú xem: Các người phải đi ra, nhà này bây giờ là của tôi.

            Bây giờ thì gần như tất cả đã đi khỏi, và người ta giật tung cửa được niêm phong bằng những dải giấy màu vàng và mang đi những gì người ta cần. Đồ sứ. Bàn ghế. Đồ thủy tinh, thủy tinh nổi tiếng của Bohemia. Tất cả đồ vật quá nặng hay quá đẹp cho 50 kg hành lý mang theo người và một chỗ đứng trên xe bò. Vì thế mà nhiều cửa trong làng bị mở tung và gió chơi đùa với chúng. Chúng đập mạnh và kêu lạch cạnh cả ngày lẫn đêm.

            “Tiếng cạnh cạch đấy là một tiếng động khủng khiếp”, giọng nói trong nơi tranh tối tranh sáng kể lại. “Cha tôi lúc nào cũng đi ra để đóng cửa lại, cha không thể chịu đựng được nó.”

            Đó là thời gian mà 3 gia đình cuối cùng, không thể thiếu được, còn sống trong làng. Gia đình của Rosa là một trong số đó, cha của bà là công nhân đường sắt. Nhưng chẳng mấy chốc thì không còn gì để hôi của nữa, ngoại trừ chính những căn nhà. Bây giờ mà ai đi qua làng thì người đấy đang tìm cửa sổ, ngói lợp và thanh xà nhà. Người ta phải cẩn thận và báo hiệu cho biết chứ nếu không thì mái nhà trên đầu có thể bị giật sập. Đã xảy ra. Không lâu sau đó ngôi làng giống như vừa mới qua cơn hỏa  hoạn. Tường không mái. Lò sưởi trơ trụi. Cuối cùng thì quân đội đã chấm dứt chuyện đó. Họ mang máy móc đến và san bằng cái làng ma của Hầu tước Schwarzenberg.

            Trong lúc đấy phòng khách gần như đã tối đen. Gần như không còn đoán ra được chiếc thánh giá trên tường nữa, thủy tinh Bohemia cháy đỏ sẫm trong tủ, nhiều quyển sách nằm ở đấy, bà viết hồi ký, thơ, chỉ còn chiếc radio to màu đen là còn tối  hơn cái ngày mùa đông sắp tàn này. Tôi chợt nhớ đến những ngôi làng biến mất đã nhìn thấy trong rừng cách đây vài ngày. Tôi hỏi có gì còn sót lại từ làng của bà hay không.

            “Mấy bụi cây phúc bồn tử và cây cơm cháy. Chúng ở ngoài vườn, chúng sống dai lắm. Ngoài ra không còn gì cả.”

            Bà không thù hận. Trong mùa hè thứ 3 sau Đệ nhị thế chiến, 1947, bà là một người phụ nữ trẻ, 29 tuổi, sống nhờ vào lao động cực nhọc và khôn khéo trong buôn bán chợ đen. “Tôi đi buôn cực khéo.” Một vài năm sau đó bà cùng nhìn thấy chính những người Séc có nông trại đã mất tất cả vì sở hữu của họ bị quốc hữu hóa. Bà không còn những nỗi lo âu như thế nữa, bà không còn gì để mất, tất cả đã bị mang đi, kể cả trong nhà của bà cũng vậy. Bà đã lớn lên ở trong làng, đã sống trong thành phố, trong một ngôi nhà quý phái. Giữa nhiều người, giữa những người cuối cùng, và cuối cùng là giữa những đống đổ nát. Bắt đầu từ bây giờ bà sẽ sống trong rừng.

            Bà không hề có một tưởng tượng nào về công việc trong rừng, bà là cô giáo, nhưng người ta nói với bà rằng bà sẽ học được thôi. Và vì bà biết tiếng Séc – những người làm rừng đều là người Đức, họ chỉ biết tiếng mẹ đẻ của họ  –, bà có nhiệm vụ đánh dấu cây và làm công việc ghi chép.

            “Rồi tôi bắt đầu đi vào rừng với đàn ông.”

            Bà nói về rừng như về một niềm hạnh phúc lớn lao, bí mật. Có một cái gì đó như tôn giáo kèm theo khi bà kể về nó. Một cái gì đó mà người ta tìm được khi đã bị lấy đi tất cả mọi thứ. Trong những khoảng khắc đó có một vài khoảng khắc, không nhiều lắm, mang vẻ giống như nhẹ nhỏm. Bà tự làm mình thanh thản. Bà không chọn con đường của tức giận, tuyệt vọng hay trả thù mà tất cả đều thúc đẩy đến đó; thay vào đấy bà đi đâu đó, có thể là đi vào rừng. Lần đầu tiên trong câu chuyện dài kể về cuộc đời của mình bà dùng từ “tự do”.

            “Tất cả những gì đè nặng tôi và những gì làm cho tôi có cảm giác tội lỗi của một người hùa theo – không mang tính cá nhân, tôi không làm hại ai cả –, tôi đã mang bỏ vào trong rừng. Tôi luôn tìm cách chạy trốn trong nó, ở trong rừng, khi có nguy hiểm. Tôi có cảm giác tự do ở đó, tôi đã tìm thấy tự do nội tâm hoàn toàn ở đó.”

            Có lần cái chết đã sượt qua cái đầu mơ mộng những ý nghĩ như thế trong đường tơ kẻ tóc. Họ đốn cây trong một cánh rừng tạp và đang cưa một cây thông, một trong những cây to đến mức người ta không nhìn thấy người thứ hai phía sau thân cây. Họ dùng tay ra dấu cho nhau biết vết cưa đã sâu đến đâu: còn 4 ngón tay nữa, 3, 2. Một người dùng nêm chèn để cây ngã theo đúng hướng. Rồi nó ngã xuống, ban đầu còn từ từ, và làm gẫy một nhánh của cây sồi ở cạnh đó.

            Rosa Tahedl chỉ còn có thể nhớ lại một tiếng động xào xạc màu xanh, rồi không còn biết gì nữa. Bà tỉnh lại trong xe cấp cứu với thương tích trầm trọng. “Tôi không oán giận rừng”, tôi nghe bà nói, “đó thật ra là một cái chết đẹp.”

            Trong rừng, gần biên giới như vậy, thường có an ninh đi tuần. Một trong số các cảnh sát quan tâm đến bà. Một cô giáo làm sao có thể sống được ở trong rừng? Ông ấy tìm cách tiếp xúc với bà. Có lần, lúc đấy đã chiều tối, ông ấy đến trong chiếc xe chạy trên mọi địa hình, mang cho bà một quyển sách của Hermann Hesse[4] và chở bà về nhà.

            Bây giờ tôi nghe được một tiếng cười nhỏ.

            “Tôi thích lắm, mang cái quần đầy nhựa thông ngồi trong chiếc xe sang trọng của ông ấy.”

            Cuối cùng bà nói về những loài hoa hiếm mà người ta chỉ tìm thấy sâu trong rừng, nơi những người bình thường không đến. Tôi có biết rằng cây rừng có hoa hay không?

            Trên đường qua những ngôi làng tối đen về Cham, hoa rừng cứ ở mãi trong đầu tôi. Có 2 từ mà tôi chưa từng nghe bao giờ: “hoa vân sam”, “hoa sồi”. Cây sồi nở hoa màu cá hồi dịu dàng, và hoa của cây vân sam, chỉ xuất hiện 6 năm một lần, đỏ như hồng ngọc. Có lần Rosa Tahedl đã cất lại một cành cây vân sam đang nở hoa, nhưng vào lúc chiều tối khi bà định mang nó về thì nó đã héo.

Từ Cham tôi đi tàu hỏa về hướng nam. Một người đàn ông bước vào, ông mang một cái ba lô cũ, đôi giày ủng bẩn và nói chuyện với con chó của ông. “Mình ngồi ở đâu bây giờ? Mày muốn ngồi ở đó hả? Ừ, tốt thôi. Cứ tìm chỗ ở đó đi. Còn tao ngồi ở đâu? Ừ thì thôi tao ngồi ở đây. Mày cũng mệt hả? Cả ngày rồi phải không? Mày rượt con mèo như vậy mà, mày săn nó vậy mà. Mình mệt rồi phải không Waldi.” Ông ngáp và dịch qua dịch lại trên ghế, cho đến khi tìm được vị trí thích hợp rồi gật gà ngủ. Con chó chồn nằm cạnh ông trên đệm. Bây giờ nó đặt cái đầu dài của nó lên chân và chớp chớp mắt vẻ buồn ngủ.


[1] Từ năm 1946 có tên chính thức là České Budějovice.

[2] Đế chế: Ý nói Đức quốc xã (Đế chế thứ ba).

[3] Cơ quan Lao động Đế chế: Reichsarbeitsdienst  là một tổ chức của Đức quốc xã trong thời gian 1933-1945. Từ năm 1935, tất cả nam thanh niên đều phải thi hành nghĩa vụ lao động 6 tháng trước khi nhập ngũ. Nữ thanh niên từ khi Đệ nhị thế chiến bắt đầu.

[4] Hermann Hesse (1877-1962) nhà văn, nhà thơ người Đức-Thụy Sĩ, nhận Giải Nobel văn học.

Đi trên núi

Một cuộc đời ở Passau

Tôi đã ở đây từ một giờ qua và mang một tâm trạng phấn khởi kỳ lạ. Passau là thành phố đầu tiên kể từ Chemnitz, và cuộc hành trình xuyên rừng của những ngày vừa qua – ban đầu đi trong băng và tuyết ở trên cao, rồi đi trong mưa to dọc theo sông Ilz đang sủi bọt, mang nước từ băng tuyết tan ra dọc theo thung lũng chật hẹp của nó và trào lên bờ, làm cho con đường đi cạnh sông chìm trong bùn lầy, chỉ còn cách lép bép lội nước – chuyến bộ hành này đang đòi hỏi phải thưởng công cho nó. Không khác chi một nông dân trước đây 200 năm, người từ trong rừng ra, bước vào ánh sáng của các dinh thự và nhà thờ và quán xá, tôi rất muốn mang một cái áo sạch, cạo bỏ bùn bẩn ra khỏi giày ủng và đi dạo phố.

Passau, Nhà thờ Thánh Stefan và khu phố cổ
Passau, Nhà thờ Thánh Stefan và khu phố cổ

            Vào buổi sáng ngày hôm sau, cái tôi nhìn thấy đầu tiên là cái mái vòm màu xanh của Nhà thờ Thánh Stefan mà ở trên đấy mặt trời đang làm sương tan chảy. Đó là một ngày xanh biếc, ấm áp như tháng 3 và không thể tin được rằng chỉ còn vài tuần nữa là đến Giáng Sinh. Tôi ngồi mơ mộng cả buổi trưa trên một băng ghế đầy nắng ở mủi nhọn của thành phố, nơi hợp lưu của sông Donau và sông Inn.

            Bắt đầu từ đây sông Donau là sông biên giới. Tôi ước ao mình được ở trên boong của một chiếc thuyền sông Donau, nhưng mùa du thuyền cũng đã chấm dứt ở Passau. Ngồi ở đấy, trong ảo tưởng đang đi trên một dòng sông rộng lớn, đền bù cho tôi. Đến một lúc nào đó tôi rời cái ghế trên boong tàu và đi dạo dọc theo bờ sông Inn. Từ cửa sổ được mở toang ra ở phía trên cao tôi nghe được một đội đồng ca học trò, chắc phải là trường Trung học Leopoldinum[1]. Lần đầu tiên tôi nghe được cái tên này là vào tối hôm qua, trong một ngôi nhà cổ xưa hằng nhiều thế kỷ ở cạnh bờ sông Donau, trong một văn phòng đầy tranh.

            Chuyện về một họa sĩ, một họa sĩ hiện đại, lại chính ở trong Passau. Ông Georg Philipp Wörlen này đã hành nghề kiếm sống sau những cánh cửa sổ ở trên đó của trường trung học vào những năm 20. Cha vợ của ông đã bắt buộc ông phải làm điều đó, ông ấy đã dọa sẽ không cho cưới con gái của ông ấy nếu như ông không thể nuôi dưỡng cô ấy được, thế là ông đã khuất phục và chịu để cho đào tạo thành thầy giáo.

            Con trai của ông đã kể lại cho tôi nghe. Ông đã gần 90, một người đàn ông mảnh dẻ có tóc trắng mịn, một cái áo sơ mi màu cam và một cái cà vạt thon thả màu đen của thuyết hiện sinh nhìn ra từ bên trong của chiếc áo len màu xám của ông. Ai đó đã nhắc đến ông, và tôi đã gọi điện cho ông. Nó bất ngờ đã trở thành một buổi tối dài.

            Văn phòng kiến trúc sư của ông đã vắng lặng từ lâu, nhân viên của ông đã tắt đèn trong phòng của họ và nhẹ nhàng ra về. Chiếc áo bành tô và cái mũ ca rô của ông vẫn chờ ở giá treo áo như những con thú trung thành, chờ chủ nhân ra về. Nhưng ông không hề nghĩ đến điều đó. Ông đang kể chuyện. Ông ngồi dưới cây đèn trắng và nói về Passau, cuộc đấu tranh kéo dài cả đời ông với thành phố này, sự kháng cự dai dẳng chống lại cha của ông và những bức tranh của ông ấy, những bức tranh mà nó không hiểu được.

            “Passau đen kịt, phủ bồ hóng, đen như vậy đấy. Thành phố của giám mục. Nhiều nghệ sĩ sân khấu đã phải cắn răng khi khởi đầu ở đây. Và cha tôi là một tuýp người quý phái. Chiều chiều đi vào quán cà phê hạng sang, với kính một mắt. Thật ra là quá quý phái cho một thành phố nhỏ đen kịt. Người ta chỉ tay vào ông và tranh của ông – thằng dở hơi.” Ông ngừng lại. “Nhưng về mặt khác, Passau đã giúp ông như thành phố lập phương.”

            Passau có cái gì là lập phương? Tôi tin rằng đã hiểu được ông muốn nói gì. Cái còn nguyên vẹn, cái được xây dựng qua nhiều thế hệ, gần như là vật thể. Nhưng cũng là tinh thần đã trở thành vật thể. Cái lập phương ở Passau là cái lập phương ở Công giáo. Tôi có thể tưởng tượng được rằng thành phố đã dễ dàng kích động những tinh thần nổi loạn của thành phố cắn bập vào nó như thế nào. Nghĩ đến cái màu đen bồ hóng Passau, tôi chợt nhớ đến những biếm họa mà người ta đã chuyền nhau xem ở phía bắc của đường biên giới La Mã ngày xưa, một tiếng vang muộn màng của cảm nhận thắng thế Luther[2] chống lại miền nam giáo hoàng cổ lỗ.

            Trên làn nước sơn Tin Lành thời trẻ của tôi có một vài dấu khảm Công giáo. Những thành phố nhỏ tổ chức lễ hội hóa trang và trong đó có nhiều người đàn ông và đàn bà diễu hành trong áo thầy tu màu đen và nâu. Mãi cho đến nay, sợ hãi và ghê tởm của những người già vẫn còn ở trước mắt tôi, khi họ nói về các tu sĩ nam nữ này. Và những tường thuật về các con rồng già trong bệnh viện Công giáo hành hạ bệnh nhân theo đạo Tin Lành đã đủ để làm cho tôi phục tùng, khi một ngày nào đó tôi được đưa vào đấy trong cơn sốt cao với ruột thừa đang có mủ và rơi vào tay các xơ có trái tim sắt đá.

            Khi tôi tỉnh dậy, đã có một dấu may còn mới ở trên bụng của tôi, và từ đầu tiên của tôi là “nước”. Từ đầu tiên mà người xơ già nua có hình dáng dai nhách, giống giấy da đang dần dần lột ra từ trong cơn mê thuốc của tôi nói với tôi là: “Đứng dậy đi, con trai, hãy làm việc có ích đi.” Bà chỉ tay vào chiếc giường ở bên cạnh. Có một đứa bé trai nằm ở đấy, trẻ tuổi hơn tôi. Em bị tai nạn xe đạp nặng, bây giờ đang nằm trắng bệch và rên rĩ cạnh túi nước biển đang được truyền vào. Xơ rồng – tôi thật sự là đã đứng dậy – ấn túi nước biển vào tay tôi, nói “Cầm lấy!” và biến mất.

            Tôi không biết là đã đứng yên ở đấy bao lâu với cái ống truyền nước biển trong tay. Tôi vẫn còn đứng không vững, thỉnh thoảng mắt lại tối sầm, cái ruột thừa suýt tí nữa thì đã hạ độc tôi, đó là một ca mổ trong giây phút cuối cùng. Nhưng vào thời điểm đó tôi vẫn còn chưa biết được chuyện đấy. Tôi cố không ngã quỵ xuống. Tôi tin chắc rằng mình đang thực hiện một nhiệm vụ quan trọng, và cố hết sức mình, cuối cùng thì đứa bé mà tôi đang cầm cuộc sống của nó ở trong tay còn nhỏ tuổi hơn cả tôi. Chắc chắn là thời đó đã có quy định tuyệt đối cấm không cho sử dụng trẻ vị thành niên trong bệnh viện. Nhưng dường như điều đó đã giúp cho tôi bình phục, giúp một người mới vừa được mổ mà bệnh tình còn nặng hơn cả tôi. Tôi khỏe lại nhanh chóng.

            Cái phong cách hà khắc này thật ra hẳn phải làm vừa lòng những người theo đạo Tin Lành ở quê tôi, cứng đầu và trọng công việc cực nhọc. Nhưng tôi giữ kín trải nghiệm của tôi. Chẳng ai biết được là tôi có lại lọt vào tay bà xơ giấy da đó thêm một lần nữa hay không, và có lẽ là tôi cũng đã mường tượng được một cái gì đó từ sự thông thái của những phương pháp của xơ. Dù thế nào đi nữa thì tôi vẫn nín thinh khi cái miệng đời Luther bàn về các con rồng già nua và những điều giả dối ngoan đạo rộn rã của những người theo Công giáo.

            Và tuy là vậy. Và tuy là vậy, các bình chứa của Công giáo đều to hơn, lâu đời hơn, cũng đẹp hơn. Một phép mầu tỏa ra từ những ngôi nhà thờ lớn và chức vụ cao quý đó, cảm nhận được một làn gió thoảng, từ phía nam. Vâng, chúng tôi có Gothic gạch nung của chúng tôi và Bach của chúng tôi và ngôn từ. Họ cần phải để yên cho ngôn từ. Ngôn từ và thánh ca, chúng tôi lớn lao ở trong đấy. Nó có thể tỏa hương, nó có thể làm cho no. Và nếu như chúng tôi có may mắn, thì chúng tôi có tổng thiên thần trên những bục giảng đạo đơn sơ của chúng tôi, những người con xương xẩu cao lớn của Chúa Trời với gương mặt đầy sẹo, trong áo choàng màu đen. Tôi biết điều đó, tôi đã có may mắn như thế.

Thành phố Passau, nơi hợp lưu của ba con sông
Thành phố Passau, nơi hợp lưu của ba con sông

            Và tuy là vậy. Tôi đã ở trong Nhà thờ lớn Passau. Cái đến và đi trong những dinh thự bảo hòa mùi nhang này. Các cánh đồng nến trước những Maria, các bức tranh đang bong ra. Các vết thương được đánh phấn đến chói mắt của các thánh, các khăn tay ướt đẫm nước mắt của những người đàn bà đang quỳ trước họ.

            Là họa sĩ quý phái thì tất nhiên là người ta nhìn sự vật một cách khác đi, cái rộn rã ngoan đạo trong nhà thờ lớn và bồ hóng đen phủ lên trên tất cả – nó không chỉ là lớp gỉ đồng an ủi, người ta có thể chết ngạt vì nó. Nhà họa sĩ thích Venice hơn. Ông mang người con trai theo, 1931, để người con có thể học được ở đấy cung cách cư xử và đi lại trong thế giới to lớn.

            Ở nhà tại Passau, người con trai sống vì gian xưởng vẽ. Trên thực tế ông là người phụ việc trong xưởng vẽ của cha ông, người thường làm việc đến khuya, ông lắp khung và đặt mua màu cho cha. Ông thích làm việc đó, ông nói. Việc ông được quen biết với các nhà văn, nghệ sĩ và họa sĩ lui tới xưởng vẽ đã đủ là phần thưởng cho công lao của ông rồi.

            Thật ra thì sự việc đã dừng lại ở đó. Ở sự phục vụ. Sự phục vụ trong xưởng vẽ của người con cho cha đã chuyển thành sự phục vụ của một người đàn ông trưởng thành cho nghệ thuật, ông trở thành nhà sưu tập. Và ông sưu tập họa sĩ, không chỉ tranh của họ. Ông khuyến khích họ và kéo họ vào nhóm nghệ sĩ của ông, cái mà ông gọi là Nhóm Rừng Donau.

            “Ông thấy đó”, ông nói, “tôi không có gia đình, không có con cái, không có du thuyền trên hồ Chiem, không có chuồng nuôi ngựa đua, không có bạn gái đắt tiền ở khắp nơi. Chỉ có tranh. Chỉ có cô bạn gái nhỏ bé ở Budapest.” Ông mỉm cười. “Không phải một người như vậy đâu.”

            Ông kể về những lần hội hè vui vẻ của nghệ sĩ ở trong rừng. Một họa sĩ từ Pommern sống ở đó, Heinz Theuerjahr, người thời trẻ đã đi lang thang qua khắp châu Âu. Ông ở một thời gian tại nơi của những công nhân làm rừng trong Rừng Bayern, họ yêu thích ông và đề nghị ông hãy định cư tại đó, trong một thị trấn nhỏ có tên là Waldhäuser. Ông đã đồng ý. Từ nơi đó ông thường hay đi du lịch sang châu Phi.

            Vào lúc cuối, khi người đàn ông từ Pommern phải ngồi trên xe lăn, người sưu tập của ông đã có thể phục vụ cho ông lần cuối cùng. Người này vừa chiến thắng cuộc đấu tranh to lớn nhất của cuộc đời ông ấy, cuộc đấu tranh vì viện bảo tàng của ông ngay trong Passau – ông đã đưa tác phẩm của cha ông vào đền thờ cho thành phố, cái thành phố đã từng đào thải nhà họa sĩ như một vật lạ. Và tác phẩm của bạn bè ông. Người con trai đã sưu tập 2500 bức tranh. Ông đẩy Theuerjahr lúc đấy đã mang bệnh không chữa được lăn trong viện bảo tàng mới, ngang qua các tác phẩm của chính ông ấy. Ông, người sưu tập, nhìn người bạn họa sĩ ngắm lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng cuộc sống tiếp theo của chính ông ấy sau cái chết.

            Tôi chưa từng bao giờ hiểu được những người sưu tập, bây giờ thì tôi hiểu họ tốt hơn. Chúng tôi vẫn còn ngồi dưới cây đèn màu trắng, ông ấy vẫn còn kể về cuộc đời của ông. Ông vừa đúc kết lại, ngắn gọn như một người La Mã. “Tôi đã có một cuộc đời thú vị, một cuộc đời có nhiều sự kiện. Tôi tin rằng tôi đã sống không uổng công. Tôi đã cứu thoát được tranh của cha tôi và của bạn ông khỏi cảnh bị lãng quên. Tôi đã cho chúng một quê hương. Một căn nhà cho chúng, chỉ được tạo thành từ ý muốn của tôi. Đã làm việc nhiều, đã sống khiêm tốn. Khi người ta mang tôi đi mai táng thì cái túi rỗng như mà căn nhà đầy.”

Đêm đã khuya. Các bức tranh trên tường, các bức tranh được cứu thoát, được yêu thích của ông, chìm vào trong bóng tối. Trước đây vài giờ, có một bức tranh sáng rực xuất hiện ở phía sau ông, trong cửa sổ hướng ra sông Donau, một phong cảnh về chiều có tựa đề “Bờ sông ở Passau”. Hoàng hôn đã làm nó tối đi nhanh chóng. Bây giờ nó tối đen. Không có tựa đề.

            Chẳng mấy chốc nữa tôi sẽ ra đi, chắc là chúng tôi sẽ không gặp lại, và chưa từng gặp nhau trước đó. Ông đã nói với tôi, nhưng cũng xuyên qua tôi đến một người khác. Cứ hãy tạm gọi là nói với một người bạn già. Một người đàn ông ăn mặc lịch sự, người nghiên nghiên đầu lắng nghe ông nói và mỉm cười, khi ông nghe đến những mưu mẹo nhỏ mà người sưu tập đã tiến hành để ép buộc thành phố cha của ông đi đến hạnh phúc của nó. Một người đàn ông mà từ “thanh lịch” hoàn toàn phù hợp. Tay trái của ông ấy đang đùa nghịch cái kính một mắt, nó tung ra nhiều tia chớp khi ánh sáng của cái đèn trắng bị khúc xạ trong ở đó.

            Người sưu tập đứng lên, tắt đèn và bước cẩn thận xuống cầu thang, người con trai gần 90 tuổi của nhà họa sĩ trong mũ ca rô và áo bành tô. Ông còn nói: “Người ta đi tìm biểu hiện. Không phải bức tranh mà ở phía dưới có dòng chữ: Vô đề.”

            Rồi Hanns Egon Wörlen biến mất trong những ngõ hẻm của thành phố, cái thành phố đen đến mức có bồ hóng, cái thành phố mà ông yêu nó đến mức đã đánh vật với nó cả một cuộc đời.

            Người ta tìm biểu hiện, nói hoàn toàn theo cách của Passau, cái đối nghịch Công giáo với những ý định của người họa sĩ ở Sylt. Ở đâu có biểu hiện thì ở đó có hình tượng. Ở nơi nào có một bức tranh thì ở đó có một cái gì đó tiếp tục. Nơi người họa sĩ biến mất trong bức tranh vô đề của ông ấy thì lại khác. Hiển linh hay ngộ. Xuất hiện hay tiêu tan. Passau và Sylt, hai đầu của cái parabol Đức.


[1] Trung học Leopoldinum ở Passau là một trong những trường lâu đời nhất ở Đức, được thành lập từ trước thế kỷ thứ 9 như là trường của nhà thờ.

[2] Martin Luther (1483-1546) nhà thần học người Đức, khởi xướng phong trào tôn giáo.

Trà trong Braunau

Passau là một cái bản lề. Nó uốn cong chuyến đi của tôi về hướng tây. Zittau cũng đã làm điều đó, nhưng mà cho đến bây giờ tôi không thể nói được là tôi đã về đến Phương Tây. Tôi rời thành phố vào sáng ngày chủ nhật đầu tiên của Mùa Vọng[i] lúc trời có sương mù nhưng vẫn còn ấm áp và đi ngược theo dòng sông Inn. Nó có màu như lá cây liễu đang rơi xuống ở bờ sông của nó.

Nhà Kehlstein (Kehlsteinhaus) trên đỉnh núi Kehlstein, trước đây là nhà của Hitler, bây giờ là một quán trọ.
Nhà Kehlstein (Kehlsteinhaus) trên đỉnh núi Kehlstein, trước đây là nhà của Hitler, bây giờ là một quán trọ.

            Tôi dùng xúp tỏi với bánh mì và nước ở thành Mautburg cổ xưa gần Wernstein, và vì là ngày chủ nhật nên tôi ngồi hoàn toàn xa lạ chủ nhật trong quán ăn, xung quanh chỉ là gia đình trưa ngày chủ nhật. Ở bàn cạnh cửa sổ, sau món chính, người con trai hôn nhẹ nhàng vào sau dái tai của cô vợ chưa cưới có đôi tay gầy và thánh giá bằng bạc trên ngực, cha mẹ mỉm cười, kỷ niệm ngọt ngào. Khi câu hỏi tráng miệng cất lên, tất cả đều gọi món bánh kếp, chỉ cô vợ chưa cưới mảnh mai là không. Tôi cũng không, bây giờ tôi không còn cần thứ gì ngọt ngào nữa.

            Tôi tiếp tục đi dọc theo sông Inn, thung lũng của nó bắt đầu có vách đá, nước của nó giống như dầu, lá liễu lật ngữa trôi dạt ở trên, mặt sáng quay lên trên, như những con cá mảnh khảnh đã chết. Một con chó mực bé tí rình rập tôi và vừa sủa vừa chạy về chỗ tôi, tôi làm một cử động giật mạnh, nó chạy đi và tiếp tục sủa từ một khoảng cách an toàn. Ngày rút lui về trên đỉnh núi. Vào lúc chiều tối tôi đến Braunau.

            Nhiều quỹ tín dụng danh tiếng có trụ sở trên quảng trường, trên các cửa hàng cạnh chúng là những cái tên quen thuộc cho quần áo, thể thao và trang bị nội thất. Chúa Cứu thế với quả địa cầu ở ngay giữa quảng trường chìm vào trong một vòng hoa Mùa Vọng khổng lồ, ghế ngồi trong quán cà phê ở chợ đã hóa trang, chúng đội mũ của ông già Noel trông giống như một cái bị ở trên lưng ghế, to đến mức có thể nhét vừa 2 đứa bé vào trong đó. Đa số khách đều cố phớt lờ. Chỉ có một người cố tìm cách dùng mũi chạm vào cái búp trắng của cái mũ ông già Noel, vì mũ khổng lồ không chỉ được treo trên ghế, chúng cũng được treo trên trần nhà.

            Phía trên một người đàn ông, người vừa gọi thêm một ly rượu vang đỏ Zweigelt và chăm chú nhìn tôi không ngưng –một người mang giày đầy bùn vào quán uống ly trà và có thể là đang mang theo trên người tất cả những gì mà ông ta sở hữu – phía trên người đàn ông đó và ly Zweigelt của ông có treo bức tranh của một người đàn ông trẻ. Gầy, tóc sẫm màu rẽ ngôi, nét mặt trang nghiêm cương quyết.

            Không phải đâu. Chỉ là tổ tiên của gia đình làm bánh thật thà mà thôi.

Sau đó 2 ngày, tôi đi từ Berchtesgaden đến Obersalzberg. Tôi leo theo con đường mòn dốc đứng đóng băng dầy lên Nhà Kehlstein một đoạn, con đường rẽ từ đường chính, nhưng tôi không có trang bị phù hợp, chẳng bao lâu sau đó tôi quay lại. Không những là không thể đi lên. Còn bị cấm đi nữa.

            Nói chung là bị cấm nhiều thứ. Ngọn núi mà Hermann Göring và Martin Bormann[ii] đã xây nhà ở trên đó là một công trình xây dựng khách sạn 5 sao được canh gác. Và khi tôi đang tìm cách từ rìa của cái quảng trường đã từng có doanh trại của lính SS băng xuyên qua bụi rậm đi tắt con đường chính thức trải nhựa nhưng xa hơn rất nhiều để đến khách sạn “Zum Türken” thì một chiếc xe cảnh sát xuất hiện, và người ta cấm tôi đi tiếp. Sắp cho nổ một quả bom máy bay, cả khu vực đang bị phong tỏa.

            Nơi buồn cười. Đóng băng tuyết, bị cấm, ậm à ậm ừ. Chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành sang trọng – ngay giữa khu đất được rào kín của lãnh tụ[iii], công việc xây dựng khách sạn sang trọng mới sắp hoàn thành. Ở đây người ta đang trình diễn một vũ điệu trên băng mỏng đã được đồng ý. Những cái tên làm cho người ta khó xử đơn giản là không hề được nhắc đến trên lịch trình xe buýt và bản đồ du lịch, người ta phải biết đó thật ra đã là gì: Nhà Kehlstein[iv]. Quán trọ Platterhof[v]. Khách sạn “Zum Türken”[vi]. Và tất nhiên là người ta biết điều đó khi người ta đặt chuyến đi du lịch đến Obersalzberg.

            Rõ ràng là hoạt động rất tốt. Nhiều người đã từ nơi xa xôi đi du lịch đến cái ngọn núi Đức này, từ Mỹ, Nhật, Úc. Cái khách sạn sang trọng mới xây trông có vẻ lạnh lùng, khách quan, quốc tế. Ngay đến tên địa hình ở trên đó cũng song ngữ. Một vài chỗ đã nhập tịch tên thứ nhì bằng tiếng Anh. General Walker. Eagle’s Nest.

            Trong chuyến đi này, tôi chưa từng đến một nơi không những không cho tôi vào mà còn không cho phép tôi đi ngang qua nữa, cái nơi duy nhất chỉ là một lời yêu cầu quay trở lại một cách thô lỗ. Tôi đi trên con đường vòng trải nhựa, rồi tôi ngồi trên tường của “Zum Türken”, ngắm chim sẻ ngô xanh và chú sóc đang rất khéo léo giữ thăng bằng trên một thanh gỗ, và muỗi đang nhảy múa trong mùa đông, vì đó là một ngày đẹp trời êm dịu.

            Tôi tự nói với mình rằng nếu người ta xây lên được thì tại sao tôi lại không mặc kệ nó được? Cái ngọn núi có đặc quyền ngoại giao như khu đất của một đại sứ quán xa lạ thì có động chạm gì đến tôi? Một cách không tệ để vứt bỏ H. nhỏ người có tóc rẽ ngôi[vii] ra khỏi Braunau, có lẽ đó còn là cách duy nhất. Cứ lấy nó đi, lấy nó đi như một vật lưu niệm đi. Bác tài xe buýt hiểu biết ở Berchtesgaden chở tôi đến đây nói như thế nào nhỉ?

            “Bây giờ người Ấn cũng đã đến đây rồi.”


[i] Mùa Vọng: thời gian 4 tuần lễ trước ngày Giáng Sinh.

[ii] Hermann Göring (1893-1946) là tổng tư lệnh không quân của Đức Quốc xã, Martin Bormann (1900-1945) giữ chức Chánh văn phòng của Đảng Quốc xã Đức, tương đương với bộ trưởng.

[iii] Lãnh tụ: Ý nói Adolf Hitler. Năm 1933 Hitler đã mua lại ngôi nhà nghỉ mát trên núi và đổi tên thành Berghof. Sau đấy, nhà của Martin Bormann, Hermann Göring, Albert Speer (Bộ trưởng Bộ Vũ trang) và nhiều doanh trại của lực lượng SS được xây dựng xung quanh đó, tạo thành một khu liên hợp

[iv] Nhà Kehlstein, trong các quốc gia nói tiếng Anh thường gọi là “Eagle’s Nest  – Tổ đại bàng” là ngôi nhà trên đỉnh núi Kehlstein do Đảng Quốc xả Đức xây và tặng cho Adolf Hitler nhân dịp sinh nhật lần thứ 50.

[v] Quán trọ Platterhof nằm trong khu liên hợp được xây từ thời Đức quốc xã, sau Đệ nhị thế chiến được đổi tên thành “Khách sạn Tướng Walker”. Quân đội Mỹ đã sử dụng khách sạn này cho đến những năm 1990, sau đó trao trả về cho nước Đức.

[vi] Trong thời Đức quốc xã đây là một doanh trại của SD, lực lượng an ninh và tình báo của SS và của Đảng Quốc xã.

[vii] H. nhỏ người có tóc rẽ ngôi: Ý nói Hitler.

Maria đã cứu giúp

Nhìn đường Nhà ga của Altötting thì không thể nhận ra được rằng không phải tôi đến một thành phố nhỏ nào đó của vùng Bayern xưa cũ mà đến một chốn linh thiêng. Thêm một nơi mà lần đầu tiên tôi nhìn thấy. Nhịp độ mà tôi nói điều đó với mình trong những tuần này chứng minh rằng tôi biết đất nước tôi tệ đến mức nào.

Altötting ủng hộ cho nhận thức này bằng một cách mà tôi có nằm mơ cũng không nhìn thấy được, khi tôi đi ngang qua quỹ tín dụng và những cái thông thường khác tiến thẳng đến nhà thờ. Tôi bước vào và những gì mà tôi nhìn thấy ở hành lang bọc theo sân trong đã làm cho tôi ngẹt thở. Một người đàn bà đang nói với Đức Mẹ Đồng Trinh Maria. Không phải như người ta thường thấy những người lặng lẽ cầu nguyện trong nhà thờ. Bà ấy thật sự nói với Bà. Bà thổn thức, khóc lóc, sờ vào Maria đang khoanh tay, khẩn cầu giúp đỡ, ôm lấy Bà và nói chuyện với Bà như với một người bằng xương bằng thịt. Như một đứa bé ôm chặt lấy mẹ và than van và khẩn cầu và muốn Bà cứu giúp và an ủi, ngay bây giờ.

Nhà nguyện Đức Mẹ ở Altöttingen
Nhà nguyện Đức Mẹ ở Altöttingen

Trong tiếng địa phương vùng Bayern, bà to tiếng cầu nguyện kinh Kính Mừng Maria. Kính mừng Maria, đầy ơn phước. Thiên Chúa ở cùng Bà. Bà có phước lạ hơn mọi người nữ và Giêxu con lòng Bà đầy phước lạ. Bà lập đi lập lại không ngừng nghỉ, người run lên vì khóc thổn thức, xúc động và ôm choàng lấy vai của Maria, tay của Maria, ngã vào ngực Bà.

Người con trai đã trưởng thành đứng bên cạnh bà, tay đút túi quần, hoàn toàn bất lực, vụng về và cứng đơ. Tóc của anh ấy dựng lên lởm chởm, anh ấy có một cái trán vồ. Thỉnh thoảng bà lại thoi vào sườn anh, hãy cùng làm và đừng có đứng ngốc nghếc và vô dụng như thế.

Dần dần bà bình tỉnh lại, bà lau nước mắt, quỳ xuống và huých người con trai cùng quỳ xuống. Vẻ ngoài thực dụng trong cuộc sống của bà cũng phù hợp với phong cách của bà: Quần ống túm sẫm màu dưới cái áo khoác sẫm màu, tất trắng sạch sẽ, mũ sẫm màu trên mái tóc bắt đầu bạc. Một người phụ nữ miền quê bình thường, hiểu biết nhưng cũng sùng đạo và cương quyết.

Nếu như tôi nhìn thấy một cảnh như thế ở Berlin, tôi sẽ đoan chắc trước mắt tôi là một người điên, cả thành phố đều biết đến, có lẽ thế, bà điên vì Maria. Có lẽ tôi đã biết bà từ chương trình thời sự của Đài truyền hình Berlin. Cho đến giờ phút này, chỉ trong những đất nước xa xôi tôi mới trải qua cách đi đến Chúa Trời một cách trực tiếp, sùng đạo không gì kiềm chế nỗi như thế.

Ở đâu đó trên đường từ Gujarat về Bombay có một hình dáng hãnh diện, tươi sáng đứng dưới một cây đa cổ thụ có khỉ đang đu đưa trên rễ. Một người phụ nữ già nua gân guốc, tựa nhẹ vào cái liềm hái có cán dài của bà. Cổ tay bà chỉ to như 2 ngón tay cái, làn da quanh mắt nhăn nheo như da voi. Người Rajput từ cái nhìn đầu tiên, thuộc giai cấp chiến binh. Khi tôi hỏi bà rằng bà chờ đợi gì trong cuộc sống, bà nói, và vẻ mặt bà lại càng rạng rỡ hơn, mắt của bà reo mừng: “Hari Bhavan.” Nhà Trời. Bà mong đợi chẳng bao lâu nữa sẽ đi vào Nhà Trời. Bà nói về Người như một cô gái nói về mối tình đầu tiên và duy nhất. Nhưng mà ở đây? Ở đây là Đức kia mà, ở đây không có gì đang reo mừng cả. Đúng vậy, nhưng ở đây là Altötting.

Tôi bước qua Nhà nguyện Đức Mẹ[1], một ngôi nhà thờ nhỏ sơn trắng với hai tháp nhọn màu xanh, một tháp nhỏ và một tháp to hơn một tí. Tất cả đều xoay quanh nó, toàn bộ khu nội thành đều quay quần quanh nó, và cả nhà nguyện lại chỉ là lớp vỏ bọc dầy của tấm tranh Đức Mẹ cổ xưa trong góc cổ xưa nhất, tối tăm nhất.

Maria, đã bị tô đen bởi khói nến của 7 thế kỷ, được tôn sùng bởi nhiều vua chúa, giáo hoàng, hầu tước, nhiều người đã từ rất xa hành hương đến đây. Và vô số người dân bình thường đã mang những nỗi lo âu của họ, hy vọng của họ, người tàn tật của họ, người điên khùng của họ qua những cuộc hành trình dài dằng dặc, để quỳ xuống những hòn đá này, đã được vô số đế giày và đầu gối nhào mềm ra và thì thầm những câu mà bây giờ tôi lại nghe được. Kính mừng Maria, đầy ơn phước…

Về ơn phước. Về những việc rất cụ thể, chữa lành xương cốt và con cái. Treo trong hành lang nửa mở có mái che của nhà nguyện là hằng nghìn tấm bảng về phép mầu và những tấm bảng nhỏ từ 5 thế kỷ hành hương, trong số đó có không ít bảng từ thời của Martin Luther. Có một tấm mang hình của một cô con gái, tóc dài xõa xuống, chân trần mang xích sắt, bị nhốt. Ở phía dưới tôi đọc được phần kết sùng đạo về câu chuyện của cô: “Margret con gái của Hann Eyseleis từ Mundraching đã không bình thường từ lúc 4 tuổi. Anh của cô đã hát kinh cầu nguyện Đức Mẹ. Trong vòng vài giờ nhờ Đức Mẹ đầy ơn phước cứu giúp cô đã trở lại bình thường.”

Một bộ sưu tập truyện huyền thoại sùng đạo, một nơi lưu trữ tranh tràn ngập những cái không thể minh họa được, của nước mắt và nước mắt của niềm vui. Maria đã cứu giúp, câu này luôn luôn và luôn luôn có ở đó, trong kiểu chữ Gothic hay được một đứa trẻ thời chúng ta viết nguệch ngoạc. Mỗi một tấm giấy, mỗi một tấm bảng minh chứng cho một phép mầu.

Tôi không thể cứu giúp tôi, tôi có cảm giác lại nhớ đến Ấn Độ. Các bức tranh sặc sỡ, đơn giản, mạnh mẽ. Bạc tràn đầy trong nhà nguyện. Cái đen tối giống như trong hang động của nó. Màu đen của Đức Mẹ, làm cho Bà xa lạ và làm cho lối đi đến Bà trở nên nghiêm trang và phải sùng kính.

Tôn giáo ở đây không có gì cụ thể như ở những người theo đạo Tin Lành và cũng không có gì ngọt ngào như Giáng Sinh. Nó là cái khác, cái bí mật, cái bụi gai đang cháy[2], cuộc vận lộn của Giacóp trong đêm[3]. Cái dơ bẩn, thể xác, máu me của tục lệ tôn giáo là cái làm cho tôi nhớ đến Ấn Độ, trái tim hầu tước được mai táng trong quách bằng bạc, nghi lễ trong đền thờ, đồ cúng lễ được chất thành đống, xô đẩy của những người hành hương, người đàn bà già nua, chậm chạp từng bước một mang chiếc thánh giá to bằng gỗ đi quanh nhà nguyện. Có mùi nhang và mồ hôi.

Nhà nguyện Đức Mẹ
Nhà nguyện Đức Mẹ

Vài giờ sau đó tôi cũng nhìn thấy mặt kia, mặt trí thức lạnh lùng gần như sầu muộn của Công giáo. Điều đó không khó ở Altötting, toàn thể vũ trụ Công giáo có ở đây, người ta chỉ cần phải đi một vài bước từ Nhà nguyện Đức Mẹ vào quán trọ.

Tôi tìm chỗ ngồi và ngay lập tức bị thu hút bởi vẻ ngoài của 2 người đàn ông trẻ tuổi mang áo thầy tu màu đen đang ngồi ở bàn bên cạnh. Họ dùng bữa với khách ngoại quốc và gần như không thể nào khác biệt nhau nhiều hơn được nữa. Một người cục mịch và khỏe mạnh, một anh nhà quê có má hồng. Ông thích cười và không bỏ qua cơ hội nào để làm điều đó cả. Như thể tất cả đều hơi mệt nhọc đối với ông, các phép tắc xã giao đã thuần hóa, cái vui vẻ quán xá bị ép vào khuôn phép, các thứ tiếng nói xa lạ, và ông lúc nào cũng tìm lối nhỏ thoát ra đến tính quần chúng, cái mà rõ ràng là ông xuất thân từ đó. Như thể ông cười trước trong niềm vui rằng cuối cùng rồi sẽ có người kể một câu chuyện đùa thô tục. Điều đó sẽ không xảy ra tại cái bàn này.

Người kia cao, gầy và trắng bệch seminar, ông có một cái trán cao và một khuôn mặt hẹp đập ngay vào mắt. Những cử chỉ khoan thai mà đôi tay của ông diễn đạt một cách chắc chắn và cứ như là tiện thể, chúng dường như là bẫm sinh. Thức ăn được mang ra, ông quan sát nó. Giống như ông quan sát một cách thích thú chiếc khăn ăn sặc sỡ màu Giáng Sinh một lúc lâu, trước khi ông cho phép nó chấm nhẹ vào môi của ông, bằng bên mặt trắng không được in. Tất cả cử động của ông đều như vậy. Làm chậm đi. Ở trong đó có một cách biệt đã trở thành hữu hình đối với tốc độ đáng sợ của thế giới. Người anh em linh mục của ông rõ ràng là sắp chết đói; chính ông lại chỉ ăn như chim sẻ. Ông thích nói hơn, và ông nói rất nhanh. Ông cùng với khách chuyển sang tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha không hề khó nhọc. Khi nói, ông chuyển sang nhịp điệu nhanh, và chỉ lúc đó. Suy nghĩ của ông phóng nhanh như tia chớp vào những câu nói chính xác, đôi tay đặt lên nhau, trong tư thế của một giáo sĩ đang nhẹ nhàng khinh thường thế giới, cái mang lại cho ông sắc thái chế giễu đó, ngay cả khi ông không hề chế giễu. Ông không bao giờ cười to. Ông chỉ thỉnh thoảng mỉm cười.

Bây giờ họ đứng lên. Khi ông đi ngang qua chỗ tôi người ta không hề nghe được một tiếng động, chỉ cảm nhận được một luồng gió nhẹ do chiếc áo thầy tu gây ra. Thêm vào đó là nhạc Giáng Sinh hỗn hợp, một thứ rì rầm hết sức khó chịu, cả thời gian vừa rồi, và ở bên ngoài trên chợ Giáng Sinh cũng rì rầm nữa.

Tôi mướn phòng trong một khách sạn hành hương đơn giản. Khắp mọi nơi đều có nhiều mảnh giấy dán lên cửa. “Nhóm hành hương Freiburg”, “Nhóm hành hương Würzburg”. Và nhắc nhở. “Xin tất cả mọi người lưu ý! Cấm hút thuốc trên hành lang và trong phòng vệ sinh!”

Vào lúc chiều tối tôi đi vào nhà nguyện thêm một lần nữa. Lễ cuối cùng đã chấm dứt, chỉ còn nhìn thấy vài người đang cầu nguyện trong cái nửa tròn quanh bức tranh ơn phước. Bây giờ rất yên lặng, nhà nguyện nằm tối tăm hơn nữa ở đấy, bạc và vàng của nó vẫn còn sáng rực. Một tấm hình xưa nhiều thế kỷ bây giờ đang thu vào trong nó tất cả mọi thứ, cả những người đàn bà mặc đồ đen bất động trong những góc nhà gần như đen thui. Tôi lui ra, tôi không muốn quấy rầy, họ đang trở thành những nhân vật của tấm hình cổ xưa.

Người đàn bà tôi nhìn thấy vào ban trưa cũng ở trong số đó. Bà ngồi chìm đắm trong băng ghế, chìm đắm và kiệt sức. Bất cứ chuyện gì đã xảy ra cho bà, bất cứ điều gì mà bà muốn được khuyên can từ Bà trong lần cướp giật sùng đạo của bà vào trưa ngày hôm nay ở hành lang sân trong – Maria đã ban cho bà yên bình trong đêm nay.

Rồi tôi nằm thao thức và cố ngủ trên cái giường đôi trong phòng của tôi mà tất cả những người hành hương đã nằm lên. Tất cả mọi thứ xung quanh tôi đều như vậy. Không tô vẽ như vậy. Đã qua sử dụng và hao mòn như vậy, giống như quần áo cũ. Cái tủ sau chiến tranh nghiên qua một bên, cái bàn không vững ở chân giường, cái mặt bàn bằng gỗ ép mỏng manh của nó được dán đồ giả gỗ, bức tranh Maria và Giêxu rẻ tiền, hình trái xoan to được treo ở phía trên giường, cái máy vô tuyến truyền hình rẻ tiền trên cánh tay sắt mọc ra từ giấy dán tường. Bao nhiêu nước mắt và nước mũi đã chảy trôi đi trong cái bồn rửa mặt đã ố vàng này, bao nhiêu bàn chân đã đi trên tấm thảm tồi tàn này, bao nhiêu lần cầu nguyện dưới bức tranh này?

Cũng được thôi. Đến lúc nào đó tôi sẽ ngủ.


[1] Nhà nguyện Đức Mẹ (tiếng Đức Gnadenkapelle) ở Altötting, trong tiếng Việt còn gọi là Đền Thánh Đức Mẹ, là một điểm hành hương nổi tiếng thế giới.

[2] Bụi gai đang cháy: chuyện về Môi-se gặp Chúa Trời phán từ trên một bụi gai đang cháy

[3] Truyện trong Sách Sáng Thế của Cựu ước. Giacóp (Jacob) đã vật lộn với một người cho đến lúc rạng đông. Trước khi bỏ đi người đó nói “Người ta sẽ không gọi tên ngươi là Giacóp nữa, nhưng là Ítraen (Israel), vì ngươi đã đấu với Thiên Chúa và với người ta, và ngươi đã thắng.”

Nữ hoàng băng tuyết

Vua Maximilian II của Bayern

Một cây đoạn đứng ở giữa Bayrischzell, Vua Max đã trồng nó để kỷ niệm một chuyến đi. Trong mùa hè năm 1858 ông đã đi dạo dọc theo biên giới núi non ở phía nam vương quốc của ông, vị vua trầm lặng mà thời trị vì của ông đã lọt vào giữa thời của hai vị vua điên rồ và nổi tiếng vì những việc khác nhau: Ông là người kế vị cha ông, Ludwig I, người phải thoái vị vì Lola Montez, tình nhân thèm khát quyền lực của ông ấy, và người tiền nhiệm của Ludwig II, con trai ông.

            Trong mùa hè năm ấy ông đã đi 5 tuần từ Lindau ở Hồ Constance đến Berchtesgaden ở Hồ König. Ông đi bộ hay cưỡi ngựa tùy theo địa hình, chỉ có một đoàn tùy tùng khiêm tốn và vài người tháp tùng ở bên cạnh. Ông thích có người uyên bác ở quanh mình, vì thế mà ông cho một nhà khoáng vật học tháp tùng, một vị tướng và một nhà thơ đã đi chu du khắp nơi. Ông gọi từng người một đến bên cạnh, để có thể chuyện trò với họ mà không bị quấy rầy, về những cải tiến mới của khoa học hay đặc thù của vùng đất, hay vị vua kể lại những câu chuyện từ cuộc đời của ông.

            Ông không dấu tên trong lúc đi, nhưng thỉnh thoảng, khi ông xuất hiện trong một ngôi làng, nhếch nhác như một kẻ lang thang không nhà trong lúc có mưa to hay bão tuyết, trông giống như ông đang cải trang. Ông không quan tâm đến những lần xuất hiện trang trọng hay tiếp đãi nồng hậu. Ông muốn nhìn đất nước của ông. Nhưng thần dân của ông không muốn trao ông ra, một khi họ có ông ở chỗ họ. Ở nơi ông xuất hiện, để leo núi và thưởng thức sự yên lặng của đỉnh núi và phong cảnh, họ đã chuẩn bị sẵn cho ông bữa ăn ngoài trời và cho nhiều nhạc sĩ đứng cạnh đường đi.

           Họ tôn sùng ông với những đội đồng ca trẻ em, dàn nhạc và pháo nổ, giới có địa vị ở địa phương dẫn dụ ông vào trong những cạm bẫy niềm nở và lắm điều, đến những bàn ăn đã dọn sẵn và sau đó là đến tất cả mọi thứ mà họ nhất định muốn chỉ cho ông xem. Thường thì ông vẫn kiên nhẫn chịu đựng những lần bắt cóc trung thành với nhà vua này, chỉ đôi lúc, khi lòng yêu vua của người dân Bayern đe dọa phá vỡ toàn bộ kế hoạch của ông, ông mới dứt ra để leo lên một đỉnh núi hay cưỡi ngựa trong một thung lũng trên cao.

            Ông đã đi đến Bayrischzell trên tuyến đường gần trùng với con đường mà ngày mai tôi muốn đi – theo hướng ngược lại. Qua Sonnwendjoch lên núi đến Valepp, tên của một con sông và sau đó là ngôi nhà của người trông rừng mà vua Max đã từng viếng thăm. Rồi tiếp tục đến hồ Spitzing và đến Kreuth. Nhưng trước tiên là tôi phải lùng sục trong Bayrischzell để tìm một cái giường ngủ qua đêm.

            Có một quy luật cho việc này: gian khổ sẽ được đền bù. Khi rơi vào trong một căn phòng buồn tẻ vào cuối một ngày cực nhọc và tự tìm thấy mình trong phòng ăn sáng được sưởi quá nóng sau một đêm trên chiếc giường đơn sơ, trước một quả trứng ăn sáng đã nguội lạnh, bị tấn công bởi nhạc radio thật kinh khiếp và một người nữ dẫn chương trình điên rồ đang muốn mang lại phấn khởi cho tôi, cho một ngày mới tuyệt vời trong vùng phát sóng của cô ấy – thì rất có thể là vào buổi tối tôi sẽ rơi vào trong một cái gì đó tốt đẹp. Tôi cũng đã gặp may trong Bayrischzell, một đền bù cho Altötting: Chỉ có một khách sạn duy nhất mở cửa, khách sạn đẹp nhất. Và nó còn một phòng trống, một phòng duy nhất.

            Ở đó có một ban công bằng gỗ, tôi ngồi ở đó và đọc quyển du ký của nhà thơ và giáo sư ngôn ngữ học Friedrich Bodenstedt, một người từ miền bắc nước Đức về đây sinh sống và đã tháp tùng vua Max trong mùa hè 1858. Khi ngước lên, tôi nhìn thấy cây đoạn do vua Max trồng. Nó đứng trước ban công của tôi.

            Quầy rượu khách sạn yên lặng, vào mùa này chỉ còn người bản địa ở đây. Họ bàn về bão gió phơn. Chắc phải là bão rất lớn và đến thật bất ngờ. Vào một buổi sáng cách đây hai năm, người bán ở quầy rượu nói, cha của ông đã nói với ông rằng thời tiết không làm ông ấy hài lòng. Ông chẳng nói thêm gì. “Rồi chúng tôi mất điện 30 giờ.” Cơn bão đã quật ngã cây cối như que diêm. “Và mái nhà nông trại to lớn bay đi cứ như là nắp bằng giấy.” Chỉ riêng gió phơn thôi thì ở đây người ta thích, ông nói, nó thổi không khí ấm áp qua núi. Nhưng khi nó gặp không khí lạnh ở miền bắc thì sẽ hình thành một cơn bão hiểm độc, cuồng dại. “Trong lúc đó thì trời có thể rất sáng sủa và ấm áp và trời xanh biếc.”

            Ngày hôm sau đúng như thế, xanh và trong, chỉ không ấm áp thôi. Trời lạnh như băng. Tôi đi qua thung lũng, và trước khi bắt đầu đoạn đường lên Đồng Cỏ Khốn Khổ, tôi hỏi ông chủ của cái quán nằm ngay chỗ rẽ, tại sao cánh đồng cỏ trên núi lại có tên như thế. Ông ấy nhe răng cười.

            “Bởi vì đi lên đấy khốn khổ lắm, cả một con đường dài khốn khổ.”

            Ông đã không đi con đường này nhiều năm rồi nên không thể nói cho tôi biết tình trạng tuyết ở trên đó như thế nào.

            Nhưng cái khốn khổ đầu tiên là tôi có cảm giác như vừa bước vào trong một phòng băng. Giống như có một cánh cửa vừa đóng lại ở phía sau tôi, thung lũng dốc thoai thoải mà tôi bước vào yên lặng như thế đó. Không có ánh nắng mặt trời ở đây. Nó ở trên đỉnh.

            Tất cả đều nằm dưới một lớp tuyết đã đóng lại thành băng, có tinh thể tuyết ở phía trên. Tôi đi ngang qua núi lửa mùa đông, tổ kiến trắng như tuyết, sau đó là nhà của những người chăn bò. Tất nhiên là chúng không có người ở và được đóng kín vào mùa này. Thung lũng bắt đầu hẹp hơn. Nó chấm dứt không còn là một thung lũng nữa, nó trở thành một khe núi, có một con suối chảy ở trong đó, rãnh khốn khổ. Tôi vượt nó nhiều lần, con đường đi đã trở thành một con đường mòn, tôi nhảy qua nhảy lại cái rãnh khốn khổ ấy. Cho đến bây giờ tôi đã đi theo dấu vết của một người, nó chấm dứt ở đây. Tôi tìm dấu của thú.

            Sự yên lặng trắng và toàn hảo, tôi ở trong đó một mình. Thỉnh thoảng tôi đứng lại và hít sâu nó vào, nó làm đau mũi, co giật nhỏ.

            Cuối cùng, khi gần đến Đồng cỏ khốn khổ, tôi nhìn thấy căn nhà của người chăn bò từ xa, một căn nhà bằng gỗ đã bị thời tiết tô đen, và chẳng bao lâu sau đó, khi tôi đứng tựa lưng vào tường của nó, tôi có cảm giác những mảnh gỗ to, nứt nẻ vẫn còn lưu trữ được một ít hơi ấm, một phần còn lại của mùa hè. Một đài phun nước kêu róc rách trong băng tuyết, tôi uống nước ở đó và ăn bánh mì trên băng ghế ở cạnh nhà. Bây giờ tôi mới nhìn thấy nhiều cây đinh sắt cũ ở trong gỗ, bức tường đầy đinh, hằng trăm vật đã được treo trên đó qua nhiều thế hệ. Ai có gì phải treo lên thì đóng một cây đinh.

            Tôi không được phép ngồi lâu, ngày ngắn ngủi, và nhiều tiếng đồng hồ trước và sau tôi đều không có người, không một căn nhà có người ở. Tôi đứng dậy và leo lên đường yên ngựa khốn khổ. Ở đó, cạnh một cây thông, có một tấm bảng tưởng niệm một phụ nữ chăn bò. Trước đây 50 năm một cái cây đã đè chết bà ấy – “một cái cây ngã xuống”.

            Đường đi lên xuyên qua vực dốc đứng, bây giờ đi xuống. Tôi đi theo con đường mà tôi cho là đường tắt. Chẳng bao lâu sau đó con đường mòn chấm dứt, con đường mà tôi cho rằng đã nhận ra được ở dưới tuyết, và biến mất vào trong bụi rậm. Tôi chìm xuống, ngã, xước tay vì gai nhọn trong lúc cố nắm lấy bụi cây để giữ thăng bằng và đáp xuống vài mét ở dưới đó, trên những hòn đá của một con suối đã khô cạn. Tôi lại leo lên và đi theo dấu vết của chính mình, có thêm một vài vết xước và vết thâm tím.

            Bất thình lình, sau một khúc quanh, tôi đứng trong ánh nắng. Từ mùa đông sang tháng 3 chỉ là một bước chân. Tôi giật cái mũ len màu đen trên đầu xuống, đưa mặt vào trong những tia nắng ấm áp và nhắm mắt nghe băng kêu răn rắc.

            Bây giờ tôi đã ở rất gần biên giới Áo. Ở phía trên tôi Sonnwendjoch nổi bật trên bầu trời xanh màu băng tuyết, trước tôi là một cánh đồng cỏ, mặt trời làm tuyết tan chảy thành những mẫu hình có màu nâu đất ở trong đó: một tấm da bò khổng lồ màu nâu trắng. Sông Valepp rì rào ở phía dưới, chắc phải là Valepp đỏ, sông Valepp trắng chảy trong một thung lũng khác đến Kreuth. Rồi tôi nhìn thấy căn nhà của người trông rừng.

            Khi Vua Max còn cưỡi ngựa ở đây, ông đã có thể chuẩn bị tinh thần cho một đêm hè khiêu vũ thoải mái. Người tháp tùng ông Bodenstedt biết nơi này – “một khoảng đất trống giữa hoang dã của núi rừng hùng vĩ với duy nhất một nơi có người ở dưới dạng một căn nhà to lớn của người trông rừng”. Với dây thường xuân leo, ban công có trồng hoa chạy bọc quanh và bộ gạc hươu to đùng ở phía trên cửa, ngôi nhà đã tạo cho ông một ấn tượng sâu sắc nhưng ấm cúng, theo như ông ghi chú.

            Vào một buổi tối như vậy, khi những người đày tớ đốn gỗ từ trên núi đá bước xuống và nam nữ chăn bò đến từ những căn nhà chăn bò của họ và giới trẻ từ dưới thung lũng lên đây, “để giậm châm nhảy múa, hò reo và ca hát thỏa chí ở  Valepp”, như nhà thơ diễn đạt, lúc đấy những tự cao tự đại về giai cấp đã tan chảy đi. Rồi người ta chỉ còn là một con người trẻ trung và muốn nhảy múa. Và ở tại cái trảng này, trong thế kỷ 19 xa xưa, đã xảy ra một cái gì đấy mà lẽ ra chỉ xảy ra trong thế kỷ vô giai cấp kế tiếp theo sau đó. Nhà thơ từ miền bắc chắc hẳn đã đứng đó với đôi mắt sáng ngời, người ta nhận ra được điều ấy từ trong quyển du ký của ông: “Vì thế nên ở Valepp, nơi tôi thường hay đến thăm từ Rottach và Schliersee, tôi đã nhìn thấy hoàng tử và bá tước nhảy múa với những cô gái chăn bò và công chúa và nữ bá tước với đày tớ đốn gỗ.” Và tất cả những điều đó đã diễn ra mà “không hề thiếu một chút nào phép lịch sự đặc trưng của những người sống trên vùng cao trong Bayern.”

            Mơ mộng. Mộng thật của một người Phổ nhập cư yêu Bayern về một đất nước Đức hạnh phúc hơn, được ban phúc lành với thiên nhiên của nó, với một vị vua thông thái nghiên về khoa học, thêm vào đó là những thần dân đáng yêu, chân thật và lại thông thạo thế giới một cách đáng ngạc nhiên. Bodenstedt mô tả người Bayern như thế nào thì hằng trăm năm sau đó những người khác đã mô tả người Provence, người Hy Lạp trên đảo, người Nicaragua, người Thái như thế đó.

            Tôi gấp quyển du ký của Bodenstedt lại và lên đường, trời đã tranh tối tranh sáng từ lâu.

Xe lửa đi trên núi gần Bayrischzell
Xe lửa đi trên núi gần Bayrischzell

Trời về đêm khi cuối cùng rồi tôi bước vào ngôi nhà cạnh hồ Spitzing, một ngôi nhà gỗ to có khách chen chúc nhau trong căn phòng khách lớn. Tôi e rằng không còn có giường trống. Trong lúc đang đợi chủ quán trọ, tôi nghe câu chuyện của một người đàn ông già trong chiếc áo khoác thô bằng len đan và nón của người đi săn với hai người phụ nữ già. Họ bàn tán về bộ ngực của cô bồi bàn.

            Ông ấy: “Cô ta quả thật là có khối gỗ trước nhà đấy.”

            Người đàn bà thứ nhất, sau một lúc: “To quá cũng không đẹp đâu.”

            Người đàn bà thứ nhì, cũng sau một lúc: “To quá cũng nặng lắm.”

            Chủ quán trọ đến và là một bà chủ. Một người đàn bà đẹp. Bà có mái tóc dài mượt mà và mang quần jeans bó sát người; nhân vật nhiều màu trên chiếc áo thun màu xanh da trời của bà, cái mà tôi cho là một vị thần Hindu đang nhảy múa, lại là Vua Ludwig, người con trai cải lương của Vua Max tốt bụng. Bà còn một phòng trống. Sau khi giải quyết xong chuyện ấy, bà lại trở về bàn của bà và tôi tìm một bàn ở gần đấy. Tôi ngồi ở đấy cả buổi tối và cố không nhìn chằm chằm bà ấy, nhưng không được.

            Bà đang ngự triều. Bà đang ngồi trọng thể ở đầu một cái bàn dài to lớn ồn ào mà tất cả đều chen nhau đến đấy. Một người dạy trượt tuyết ngồi bên trái bà, một người thứ hai bên phải bà. Đó là bàn của bà, và bà là vị nữ hoàng của Valepp. Nữ hoàng không phải làm gì cả, họ chỉ phải là nữ hoàng thôi. Tất cả mọi người xung quanh bà đều đang cố tìm cách để làm bà hài lòng, họ cố thu nhỏ mình lại và kể chuyện đùa cho hay, tất cả đều là những chàng trai trưởng thành trẻ trung hay không còn hoàn toàn trẻ trung nữa, nhưng luôn có vóc dáng thể thao. Bà ngồi thẳng người ở đấy. Không một điều gì thoát được bà.

            Bà tặng nụ cười cho một người, nghiên mình về phía một người khác, bà không cần phải làm gì nhiều hơn thế. Khi bà thích ai, có một nụ cười lấp lánh, thỉnh thoảng mang vẻ chế nhạo nhẹ nhàng, xuất hiện trên gương mặt thon với cái mũi Phục Hưng Ý của bà. Bà chỉ huy cả bàn và cả căn nhà bằng một cử chỉ, một lời gọi trong tiếng địa phương nặng nề của vùng này.

            Sông Valepp là một vương quốc của những nữ hoàng được bầu chọn, và ngôi nhà là lâu đài. Giống như các ngôi nhà nông dân ở đây có tên gọi và không có số nhà, những người ngồi ở đây cũng không phải là khách trả tiền – ngồi ở đây là Hanni, Michi, Sepp. Tất cả họ đã quen nhau từ lúc còn bé. Những người đàn ông đã đọ sức với nhau qua những lần vật lộn trẻ con, thi đua diễn tập cứu hỏa, trượt tuyết. Người thợ vào quán trong bộ quần áo lao động, thước đo vẫn còn trong túi quần, ngồi xuống bên cạnh bàn của nữ hoàng với sự tự tin như người bạn học cùng trường ngày xưa, người dạy trượt tuyết với cái kính râm đắt tiền và tóc vuốt gel.

            Vào buổi tối này tôi hiểu nhà thơ nhập cư Bodenstedt tốt hơn. Thiếu cái ít nói của miền bắc, cái im lặng ở cạnh bàn. Ở đây tất cả đều tròn trĩnh và hiện tại. Thô sơ và dồi dào. Thô sơ là căn nhà to lớn, thô sơ là những tấm gỗ, ghế đẩu, bàn, dồi dào là những đĩa ăn và vại bia và kho chuyện đùa. Ở miền bắc cũng như ở miền đông người ta thường bàn về những việc nghiêm chỉnh nhiều hơn và cũng im lặng nhiều hơn, cạnh những bàn nhậu ở đó thường là đề tài, ý kiến, vấn đề. Ở đây tuyệt không có vấn đề, ở đây là chơi đùa. Toàn những màn trình diễn nhỏ, người ta chọc ghẹo chế diễu nhau và tán tỉnh các cô bồi bàn trong chiếc áo truyền thống khoét cổ sâu.

            Căn nhà thô sơ này chỉ duy nhất là một sân khấu quần chúng kéo dài cả buổi tối, và cũng như trong nhà hát, nó cũng có một vài nét hấp dẫn khi nhìn xem các diễn viên quần chúng biết cách chế nhạo những người cạnh tranh của họ, những người đàn ông khác, và đùa cợt với phụ nữ như thế nào mà không gây ra thù oán. Chỉ là một trò chơi thôi, người ta phải làm chủ nó. Ở miền bắc người ta chân thật. Ở miền đông người ta thật thà.

            Có lẽ là vì đồi núi. Một căn nhà ở giữa nơi hoang dã có một cái gì đó giống như lửa trại mà tất cả đều chen chúc nhau ở xung quanh đó, vì ở bên ngoài, trong vực sâu và trên đỉnh núi đều lạnh giá, và màn đêm thì tối tăm và không phải là không có nguy hiểm.

            Tôi ngủ một giấc say sưa trong ngôi nhà và thức dậy vào sáng ngày chủ nhật thứ hai của Mùa Vọng.