Ngoài Tầm Kiểm Soát

Nhật Bản - Ngoài tầm kiểm soát
Nhật Bản – Ngoài tầm kiểm soát

Vào ngày 11 tháng Ba năm 2011, trận động đất cho tới nay là lớn nhất trong lịch sử của Nhật Bản đã xảy ra ở gần thành phố Sendai trong miền Đông Bắc của đất nước này. Ngay sau đó, một con sóng thần đã tàn phá nhiều thị trấn và gây ra vụ tai nạn trong nhà máy điện nguyên tử Fukushima. Tổng cộng có tròn hai mươi ngàn người chết và mất tích. Hàng chục ngàn người khác phải sống tạm bợ trong những tháng và năm tiếp theo sau đó, cho tới khi thành phố của họ được tái xây dựng. 

Ngày 3 tháng 11 có thay đổi xã hội Nhật Bản về lâu dài hay không? Judith Brandner đi tìm trả lời cho câu hỏi này. Bà đến gặp những người già hoạt động chống điện nguyên tử muốn cắm lều trong khu phố chính phủ cho tới chừng nào mà nước Nhật từ bỏ công nghệ nguyên tử, cố gắng đến thăm người dân của một ngôi làng đã được di tản ra khỏi vùng cấm, và làm quen với một nữ nhà báo trẻ tuổi, người với cuộc điều tra của mình đã lật tẩy tính dối trá của những thông tin chính thức. Bà tháp tùng những người hoạt động tình nguyện đến chăm sóc cho người già cô đơn và đến thăm một ngôi đền ở miền Bắc mà vị thầy tu ở đó lo lắng cho các tâm hồn của trẻ em. Và bà thảo luận với các sinh viên của bà ở Nagoya về những tác động của 3/11, những người mà đối với họ thì sự việc dường như ở rất xa.

Quyển “Nhật Bản – Ngoài tầm kiểm soát” bao gồm loạt bài phóng sự so bà Judith Brander thực hiện, được Phan Ba chuyển ngữ sang tiếng Việt. Các bạn có thể tải về không mất tiền quyển sách này tại đây:

Sẽ không bao giờ trở lại như xưa nữa

Về những cánh đồng ruộng lúa, củ cải và bù nhìn ở một nơi không còn có thể sinh sống được nữa

“Đó là những sự việc nhỏ bé, những cái khiến cho chúng tôi buồn đến như thế khi chúng không còn nữa”, Katsuhiro Ichikawa nói, khi anh quay lại nhìn tôi lúc phim của anh chấm dứt. Nhìn nỗi buồn của tôi.

Anh cẩn thận đưa tay ra cho tôi và nắm lấy tay tôi trong một khoảng khắc; một vài giây mà trong đó tất cả đã được nói ra không cần lời.

Ichikawa nhất định muốn trình chiếu đặc biệt cuốn phim ngắn của anh, chỉ cho một mình tôi, vào buổi chiều mưa này, tại một cái quán ở dưới hầm trong khu phố Minami-Aoyama sang trọng của Tokyo. Đó là lần chuyển thể phim các bức ảnh chụp của anh, kèm theo những lời bình luận ngắn và nhạc của Toshimi Watanabe sinh năm 1966 ở Fukushima, người từ những ngày tháng Ba 2011 đang cố gắng tạo can đảm cho những con người trong thành phố quê hương của anh qua âm nhạc.

Tám phút “ngày thường”. Ngày thường, bao gồm những từ tiếng Nhật cho ngày và bình thường. “Tôi không phô bày đất nước tươi đẹp”, Ichikawa nói, “mà là cuộc sống bình thường ở miền quê.”

Chúng tôi ngồi trong CAY, một nhà hàng với bầu không khí của một quán rượu. CAY thuộc “Xoắn Ốc”, một nơi chốn của nghệ thuật, của thời trang và của sự gặp gỡ sáng tạo. Ảnh của Katsuhiro Ichikawa treo trên tường. Ichikawa sinh năm 1955 ở Shizuoka và học đại học về luật. Năm 1986, anh trở thành nhiếp ảnh gia hoạt động tự do và ngày nay sống ở Tokyo.

“Ngày thường” là những bức ảnh chụp từ miền quê của nước Nhật, từ thị trấn nhỏ bé Naraha trong quận Futaba, tỉnh Fukushima, cách lò số 1 của nhà máy điện nguyên tử Fukushima mười sáu kilômét. Đó là những nơi như nơi này, không có nét thu hút khách du lịch, không có điểm đáng tham quan nào hết, những nơi mà không có gì ngoài đất đai và con người sống nhờ vào đất mà các nhà máy điện nguyên tử đã được xây lên ở cạnh đó. Những nơi này đã được cố tình chọn lựa, Ichikawa nói. Nhà máy điện nguyên tử đã tạo ra việc làm. Làng mạc đã hưởng lợi từ đó. Hạ tầng cơ sở được xây dựng. Đã có tài trợ. Và lời bảo đảm: nhà máy điện nguyên tử không nguy hiểm.

Vợ anh quê ở Naraha. Cho tới ngày 11 tháng Ba năm 2011, cha mẹ vợ của anh cũng đã sống ở đó. Bây giờ họ đang ở trong một chỗ tạm trú tại Tokyo. Họ xây dựng một cuộc sống mới khi nào và ở đâu, họ không biết điều đó. Trên bức ảnh Ichikawa chụp họ, họ đứng trên một con đường làng nhỏ, hơi lạc lõng trong phong cảnh, trước những cánh đồng ruộng lúa.

Từ 1998 cho tới 2006, Ichikawa đã chụp ảnh cuộc sống hoàn toàn bình thường, cuộc sống của những người nông dân, màu sắc biến đổi trong năm, mùa thu hoạch, thành quả, những sự việc nhỏ bé.

Bức ảnh làm tựa cho cuộc triển lãm “Ngày Thường”: một cánh đồng lúa vàng no nê, bông lúa căng tròn. Mây ti trên bầu trời xanh nhạt. Ở phía sau là những người nông dân đang thu hoạch vụ mùa theo lối thủ công. Người nữ nông dân với chiếc nón rơm và giày ủng cao su. Lúa đã tạo nên sự giàu có cho vùng đất này, rất lâu trước khi có nhà máy.

Ruộng lúa, xanh mượt mà, trong mùa Xuân. Cỗ máy bóc vỏ lúa đơn giản trong ngôi nhà nông dân. Lúa, lúc nào cũng là lúa trên những bức ảnh. Toàn bộ vùng Tohoku là “vựa lúa” hay “chén cơm” của Nhật Bản. (Tiêu thụ gạo trên đầu người ở Nhật là tròn sáu mươi kí lô hàng năm.) Nông nghiệp sẽ không còn có nữa trong thời gian có thể nhìn thấy trước được, trong phạm vi ba mươi kilômét quanh nhà máy điện nguyên tử.

Khi Ichikawa chụp những bức ảnh của anh, lúc đó, thế giới ở đây trong miền Bắc của nước Nhật vẫn còn lành lặn, rơm rạ sau khi thu hoạch và đập lấy lúa được cột lại với nhau thành những hình người rơm có tai thỏ. Vùng này đầy những hình người rơm đó trong mùa Thu. Có thể nhìn thấy chúng đứng đơn độc hay thành từng nhóm trên những bức ảnh. Và ở phía sau một nhóm hình người rơm đó, trong khoảng khắc anh bấm máy, có một chiếc xe buýt màu trắng chạy ngang qua, với vạch màu cam ở giữa. Ichikawa thích sự tương phản. Mãi sau này người anh vợ của anh mới nói rằng đó là chiếc xe buýt của nhà máy, chở công nhân trong vùng tới nhà máy. Chiếc xe buýt chạy ra khỏi bức ảnh, lúa đã được thu hoạch. Sau ngày 11 tháng Ba năm 2011, bức ảnh có một ý nghĩa mới.

Bắp cải xanh. Bắp cải trắng. Củ cải, vừa mới được lôi ra khỏi đất. Bí.

Người phụ nữ già ở lối vào nhà, với cái lưng còng gần chín mươi độ, người đã làm việc cả đời mình trên ruộng lúa. Người mẹ già của vợ Ichikawa. Từ nhiều tháng nay, bà, tám mươi tám tuổi, sống trong một chỗ tạm trú ở Tokyo. Ngồi ở đó, tôi tưởng tượng ra như thế, và chờ cho ngày qua đi, hết ngày này đến ngày khác. Nhìn ra cửa sổ của bà, thỉnh thoảng, xuống sa mạc thành phố, và khi bà đi ra khỏi cửa, thì không có ruộng lúa ở đó, ruộng lúa mà bà có thể làm việc một chút, như bà đã rất thích làm, để tiêu khiển. Không có một vườn rau nhỏ mà bà có thể lấy bữa ăn tối của bà từ đó. Bà ngồi đó và chờ đợi và suy nghĩ và biết rằng bà không còn được phép trở về nữa, ngay cả khi bà muốn, vì bà nghĩ rằng bà có thể mặc kệ tia phóng xạ, với tuổi tác của bà.

Bà sẽ còn phải đợi lâu; không có kế hoạch tái xây dựng ngôi làng của bà ở nơi nào cả, và nếu như rồi sẽ có một ngôi làng như vậy, một lúc nào đó, khi sự quan liêu ra được một quyết định, thì rồi sẽ không bao giờ trở lại được như xưa nữa.

Và liệu là bà có trải nghiệm được điều đó không, nói chung.

Những chiếc ủng cao su màu vàng, những chiếc ủng mà người nông dân trở về từ công việc đồng áng đã tháo ra và để ngay ngắn trước lối vào, trước khi họ bước vào gian phòng khách của họ trên tất thô, như thường lệ ở Nhật.

Ichikawa đã giữ lại những chiếc ủng đó trong các bức ảnh của anh, cũng như người phụ nữ trẻ ngồi trong ngôi nhà nông dân trên chiếc chiếu tatami ở trên sàn, ôm một đứa bé sơ sinh. Ở phía sau là một cái tủ com mốt rẻ tiền bằng nhựa, như có thể mua được chúng ở khắp nơi trong nước Nhật, chất đầy đồ đạt cho tới tận trên cao. Đó cũng là một bức ảnh, không thể nào đặc trưng hơn nữa cho ngày thường của nước Nhật.

Không chỉ bà mẹ già, toàn bộ gia đình vợ anh, tổng cộng sáu người, đã chạy trốn ra khỏi vùng cấm. Và ngay từ đầu đã không nhận được thông tin cụ thể nào hết, Ichikawa nói. Nhiều cư dân cũ muốn quay trở về, ít nhất là ở gần những căn nhà đã bị bỏ trống của họ. Bất an và lo âu ở những người có con nhỏ. Lo sợ cho những đứa bé. Vì tương lai của chúng. Tia phóng xạ – người ta không nhìn thấy nó, người ta không ngửi thấy nó. Nó có ở đó, và không ai có thể nói được rằng nó có tác động như thế nào trong một vài năm tới đây, Ichikawa thuật lại tinh thần của những người dân làng đã di tản.

Và thêm vào đó là nỗi lo về tài chính. Nhiều người không biết họ sẽ sống tiếp như thế nào. Một năm tiền bồi thường của chính phủ Nhật Bản, thời gian đầu, một vài tháng, tròn một ngàn euro mỗi tháng, rồi năm trăm euro, và sau đó? Bồi thường từ Tepco? Ichikawa nhún vai: “Chúng tôi không nói về việc đó.”

“Chúng tôi phải thay đổi lối sống của chúng tôi”, anh nói, chống năng lượng nguyên tử là chưa đủ. Hiện bây giờ thì tất cả những người mà anh có quan hệ với họ đều cũng như vậy. Nhất là giới nghệ sĩ, trí thức. Trong mùa Hè 2011, với những biện pháp và chiến dịch tiết kiệm năng lượng mà qua đó nước Nhật đã tiêu thụ năng lượng ít hơn ba mươi phần trăm, người ta đã nhìn thấy rằng điều đó là có thể mà hoàn toàn không có vấn đề. Không một ai phải chấp nhận những hạn chế cá nhân. Phung phí mới là vấn đề lớn và nhiều người đặt ra câu hỏi, liệu điều đó có thật hay không, cái mà chính phủ và ngành công nghiệp nguyên tử Nhật nói cho tới nay: rằng Nhật bản cần những nhà máy nguyên tử của nó, để mà tồn tại.

Ở lại trong ngôi làng quê hương Naraha cũng là tổ tiên trong những ngôi mộ của họ. Không ai được phép viếng thăm họ nữa. Những người sống không có nơi chốn để cầu nguyện cho họ. Người mẹ già, được cấy ghép vào thành phố lớn từ những cánh đồng lúa của bà, suy nghĩ về việc rồi thì bà có thể tìm thấy nơi an nghỉ cuối cùng ở đâu.

Đánh trống và hy vọng

“Chúng tôi không bỏ cuộc!” Thông điệp của người dân từ Rikuzentakata

Khách sạn dành cho thanh thiều niên đã đổ nát và cây thông duy nhất còn sống sót của khoảng 70.000 cây thông tại Takata-Matsubara, Rikuzentakata. Hình: Wikipedia
Khách sạn dành cho thanh thiều niên đã đổ nát và cây thông duy nhất còn sống sót của khoảng 70.000 cây thông tại Takata-Matsubara, Rikuzentakata. Hình: Wikipedia

Khi những tiếng trống đầu tiên vang lên, người phụ nữ trẻ ở cạnh tôi bắt đầu khóc. Lặng lẽ. Tôi liếc nhìn cô lục lọi lấy ra một cái khăn tay và chậm mắt liên tục. Đó là Mao. Cô hai mươi bảy tuổi và sắp tới đây sẽ sinh hạ đứa con thứ hai của mình. Đó là một đứa con trai, như cô tiết lộ cho tôi biết sau đó.

Và bây giờ thì cô ngồi đó, trong sân vận động trống rỗng đau buồn của Nagoya, một nơi tổ chức sự kiện mà ngoài ra thì có những trận đấu bóng rổ hay biểu diễn nhạc Pop. Và lắng nghe những người đánh trống Taiko.

Lần đầu tiên kể từ tròn hai mươi lăm năm nay, lễ hội trống nổi tiếng khắp nước của Rikuzentakata trong tỉnh Iwate ở miền Bắc nước Nhật phải được tiến hành ở nơi khác. Vì ngôi làng ngư dân ở cạnh bờ biển Thái Bình Dương của nước Nhật không còn nữa. Làn sóng thần sau cơn động đất đạt tới độ cao mười bốn mét khi tới đó. Hơn hai ngàn người, khoảng mười phần trăm dân số, đã chết. Một cây thông cô độc cạnh bờ biển đã chống chọi lại với cơn sóng thần; được biểu hiện qua nhiều bức ảnh chụp hay trên những cái áo thun, nó đã trở thành biểu tượng cho Rikuzentakata, trở thành biểu tượng của niềm hy vọng, cũng với một câu nói thêm: Chúng tôi không bỏ cuộc.

Mao đã mang theo một quyển album ảnh của gia đình đến nơi tụ họp của những người đánh trống, nơi mà chúng tôi quen nhau: mẹ của cô khi còn trẻ, bà của cô, những bức ảnh của lễ cưới, bản thân cô trong vòng gia đình và bạn bè ở Rikuzentakata. Cô có quyển album này ở bên cạnh mình vào ngày 11 tháng 3 năm 2011, trong căn hộ hiện giờ của cô ở gần Nayoga. May mắn, cô nói, vì tất cả những thứ khác đã không còn nữa.

Mao nhìn thấy cha mẹ cô lần cuối vào ngày lễ hội O-Bon tưởng nhớ người chết, giữa tháng Tám. O-Bon trong năm nay 2011 có một tầm quan trọng đặc biệt. Cần phải an ủi linh hồn của bao nhiêu người chết đó. Cả Mao cũng mất bạn bè và họ hàng. Ánh mắt của cô đi vào chốn hư không khi cô kể lại điều đó. Cha mẹ của cô thoát nạn và sống ở một nơi tạm trú.

Chính Mao đã cùng biểu diễn một vài năm trong nhóm Taiko như là người thổi sáo. Đó là khi cô còn đi học trung học ở Rikuzentakata. Cô quen biết với tất cả những người ngày hôm nay đang đứng ở đây trên sân khấu. Nhóm này giống như một gia đình lớn; người trẻ nhất đang có mặt đứng chỉ vừa nhìn qua được cái trống của mình. Em phải giơ hai cánh tay lên thật cao, để có thể dùng dùi đánh trúng vào trống.

Mao có mang theo một tạp chí. Hình ảnh từ Rikuzentakata. Ảnh chụp sự tàn phá từ trên cao, được phát  hành bởi nhà xuất bản báo Tokai Shimbunsha từ thành phố Ofunato ở gần đó và cũng bị thiệt hại nặng. Ảnh bìa là cây thông đơn độc. Mao chỉ vào một nơi trong cái sa mạc đổ nát đó: nhà cha mẹ tôi đã ở đây.

Đó là những bài ca từ quê hương, những cái xuyên thấu vào trái tim của họ.

Sau màn trình diễn, cô lao ngay lập tức vào hậu trường, để nói chuyện với những người chơi trống “của cô”. Cuộc tái ngộ là một lời chào nhau thật to.

“Tôi rất hạnh phúc về buổi biểu diễn của ngày hôm nay”, cô nói với tôi sau đó, “nó đã mang lại can đảm cho tất cả mọi người!”

Đó là tháng Mười năm 2011, bảy tháng sau ngày 3 tháng 11 và tất cả đều chờ có một cái gì đó chuyển động. Chờ thành phố của họ được tái xây dựng. Nhưng cả ở đây cũng không có một kế hoạch tổng thể. Có một điều mang tính cơ bản cần phải được quyết định: Lại xây ở gần biển hay ở nơi cao hơn, trên núi?

Người dân được quyền tham gia vào trong quyết định này, một người đàn ông từ Rikuzentakata, Otomo Shigetaka, giám đốc của một đài truyền hình địa phương nhỏ thuật lại. Đó là một quá trình thảo luận sôi nổi, tất cả đều kéo dài quá lâu.

Rikuzentakata, 17 tháng Ba 2011
Rikuzentakata, 17 tháng Ba 2011

“May mắn là cha mẹ tôi có một bảo hiểm động đất, hầu như không có ai có cả, vì rất đắt tiền”, Mao nói.

Điều này cũng được một nghiên cứu của nhà kinh tế học và Nhật học Franz Waldenberger của Đại học München, hiện đang nghiên cứu và giảng dạy tại các trường đại học Nhật, xác nhận. Theo đó, trên toàn nước chỉ có hai mươi ba phần trăm hộ tư nhân là có một bảo hiểm động đất; trong các tỉnh đặc biệt bị thiệt hại nặng vì thảm họa Iwate và Fukushima còn chỉ là mười lăm phần trăm. Lý do cho việc này được diễn đạt theo hai cách: Rủi ro động đất được đánh giá quá thấp, hay tiền đóng bảo hiểm quá cao. Một điểm đặc biệt ở Nhật: Nhà nước đóng vai nhà tái bảo hiểm, không có cạnh tranh trong số những người chào mời và vì thế mà cuối cùng thì người đóng thuế phải trả tiền. Để hãng bảo hiểm nói chung là trả tiền cho một hư hại vì động đất thì căn nhà phải bị phá hủy ít nhất là năm mươi phần trăm.

Cha mẹ cô dự tính, Mao nói, rằng nhờ bảo hiểm và trợ giúp của nhà nước cho tái xây dựng, nếu như chúng đến, mà khoảng bảy mươi phần trăm chi phí cần thiết để xây một ngôi nhà mới sẽ được bảo đảm.

Thành phố Nagoya, có tầm quan trọng trước hết là bởi các nhà máy của Toyota ở gần đó, hỗ trợ cho Rikuzentakata, nơi không còn có tòa đô chính, không có trạm cảnh sát, không có bệnh viện, không có trường học. Nayoga giúp tái thiết lập nền hành chính và luôn gửi nhân viên nhà nước tới. Vì cùng với tòa đô chính, tất cả các văn kiện cũng biến mất. Không có ghi nhận về sinh đẻ, kết hôn, không có sổ gia đình, không có sổ điền thổ. Mực đất đã hạ xuống tám mươi xăngtimét. Phải đo đạc lại.

Người ta cho rằng đã phát hiện ra vật liệu nhiễm phóng xạ trong đống đổ nát khi đang tiến hành dọn dẹp, Mao thuật lại. Rikuzentakata nằm cách nhà máy Fukushima bị tai nạn tròn hai trăm kilômét. Nhưng cũng có thể đó là một tin đồn, cũng như nhiều tin đồn khác hiện nay, Mao nhanh chóng thêm vào: “Khi tôi ở đó vào mùa Hè, cha mẹ tôi lo lắng trước hết là cho tôi, vì tôi đang có thai.”

Mặc dù vậy, không ai ở đó muốn bỏ đi, Mao nói: “Phần lớn đều sinh ra ở đó và luôn sống ở đó. Mọi người đều quen biết nhau.”

Trong số nhiều người tình nguyện đi tới vùng này để giúp đỡ từ khi có thảm họa có một người đặc biệt hăng hái: Shoma Okamoto, anh em của Mao. Anh phản ứng ngay tức khắc, gọi bạn bè tụ họp lại, những người cũng có quê ở Rikuzentakata như anh và sống ở Tokyo, thành lập một nhóm và đi về phương Bắc, Vài giờ sau động đất và sóng thần, những con người trẻ tuổi đó đã đến nơi với những hiện vật giúp đỡ đầu tiên. Okamoto đã ở lại cho tới ngày hôm nay. Anh thành lập tổ chức từ thiện “Save Takata”. Anh đã bỏ việc làm của anh ở Tokyo cho điều này. Anh bắt đầu thiếu tiền và rồi sắp tới đây, tổ chức phi chính phủ hình thành từ tiền viện trợ ngay tức khắc này cần phải được chuyển sang một nền tảng chuyên nghiệp, để các thành viên của “Save Takata” có thể tiếp tục làm việc.

Mao cũng cố gắng hết sức để giúp tôi và cả cô cũng là một nhà hoạt động tích cực.

Chỉ vài ngày sau Lễ hội Taiko ở Nagoya, tôi nhận được một thư điện tử và một cuộc gọi điện thoại đầy háo hức: Lại có một sự kiện từ thiện ở Nagoya cho Tohoku, một cuộc gặp gỡ của các tổ chức phi chính phủ, và lần này thì người từ Rikuzentakata đến với những sản phẩm địa phương, tổ chức phi chính phủ trong vùng, và những người đánh trống của Tanabata-Matsuri, một trong số các lễ hội quan trọng nhất trong vùng, cũng sẽ  biểu diễn.

Mao, chồng cô và Tanyu nhỏ bé lại đón tôi từ ở nhà bằng ô tô. Đứa bé ngủ say sưa ở ghế trước. Mao và tôi ngồi ở băng sau, và không lâu sau đó, cô đã lục lọi lôi ra từ túi xách của cô đủ mọi thứ mà cô đã chuẩn bị cho tôi. Đầu tiên là một tấm bản đồ, chỉ đường về cho tôi từ nơi tổ chức sự kiện. Cô đã tìm kiếm tuyến đường của tôi trong Internet và đã in ra cho tôi, kể cả bảng thời gian và cước phí. Trên tấm bản đồ, cô đã khoanh tròn các trạm tàu điện ngầm mà tôi phải chuyển tàu ở đó. Ngoài ra, cô còn làm một tấm bản đồ nhỏ của khu vực xung quanh căn hộ của tôi mà trên đó tất cả các cửa hàng tôi có thể quan tâm tới đều được đánh dấu: một cửa hàng sang trọng cho kimono (tôi không biết là từ đâu mà cô biết được tôi có thể thích điều đó!) , một cửa hàng bán kẹo bánh Nhật, cũng như hai cửa hàng bánh mì Tây Âu. Các cửa hàng và căn hộ của tôi được đánh dấu bằng một cây bút đỏ và được ghi số với hình vẽ nhỏ. Hình chiếc bánh mì nhỏ, kimono, một quả cầu với ba dấu chấm (đó là biểu tượng của Mao cho kẹo bánh Nhật). Có ghi chú ở dưới theo những con số đó.

À vâng, còn nữa, rồi cô nói: “Chúng em đã đến Nagano, em có một omiyage cho chị (một món quà nhỏ mà người ta mang về từ một chuyến đi), một loại kẹo từ hạt dẻ.” Tôi ngồi ở đó với đôi bàn tay không và lại thêm một lần nữa, như thường hay xảy ra ở Nhật Bản, không biết điều gì đang xảy ra với tôi.

Sự kiện được tổ chức ở ngôi nhà Triển lãm thế giới trước đây của tỉnh Aichi, xa ở ngoài, khoảng một giờ ô tô. Ngay khi chúng tôi còn tìm nơi đỗ ô tô, Mao đã nhìn thấy người quen từ Rikuzentakata và hồi hộp chỉ ra ngoài ô tô.

Ở trong đó đang náo nhiệt, và từng nhóm nhạc, đại diện cho các tổ chức phi chính phủ, người tại các quầy hàng bán cá chiên, mì và cá thu đang cố nói to hơn người khác. Ngay trong cái nhìn đầu tiên, Mao đã thấy những người từ Rikuzentakata. Chúng mình phải tới đó!, cô nói và bước đi – mang thai sắp đến ngày sinh nở như cô, đeo chiếc túi xách to và cái máy ảnh – thẳng tới đó.

Họ đã đến, một lần nữa với những cái trống khổng lồ của họ và lần này thì trong trang phục cổ truyền, với món arare, một thức ăn ngon có nhân đậu ngọt, với nước nho và rượu táo và với áo thun. Tôi mua một cái với cây thông cô độc, là cây duy nhất ngay cạnh bờ biển đã chống chọi lại được với con sóng thần. (Trong tháng Mười Hai 2011 sẽ có tin cây này chết. Rễ của nó đã bị thối vì quá nhiều nước biển.)

Tôi nói chuyện với các nam nữ bán sản phẩm địa phương, với những người thành lập các tổ chức giúp đỡ, với những người tình nguyện từ những nơi khác, đã đi lên miền Bắc sau thảm họa để giúp đỡ và vẫn còn làm cho tới ngày hôm nay.

Nước Nhật đã nhích lại gần nhau, dường như là vậy, từ ngày 3 tháng 11.

Hầu như tất cả mọi người ở đây đều là những ngưởi bị ảnh hưởng, nạn nhân của con sóng thần. Nhiều người mất họ hàng và bạn bè, nhà của họ, tài sản của họ. Nhiều người sống ở những nơi ở tạm bợ và chuẩn bị tinh thần sống ở đó thêm nhiều tháng và nhiều năm nữa. Và tuy vậy, họ vẫn cố gắng tỏ ra lạc quan. Chỉ khi nói chuyện riêng, trong một cuộc trao đổi dài hơn, mới nghe được một nỗi đau buồn sâu lắng thoát ra ngoài từ ở những người nào đó. Toshio Fukuda, một trong những người đánh trống, kể về lễ hội truyền thống Tanabata-Matsuri, được tổ chức hàng năm vào giữa tháng Tám, đồng thời với lễ vong hồn O-Bon. Tất cả sức lực được tập trung lại tại Rikuzentakata, để nó có thể được tiến hành chính trong năm 2011. Anh vui mừng, vì anh đã có thể an ủi được linh hồn của những người đã chết, Fukuda nói, nó không làm cho anh buồn rầu mà làm cho anh vui tươi. Cha mẹ anh và một vài người bạn đã chết trong cơn sóng thần.

Tất cả đều hết sức vui mừng về sự quan tâm của một nữ nhà báo người nước ngoài đến tình cảnh của họ. Một làn sóng thiện cảm ập đến với tôi. Tôi hầu như không thể dứt mình ra được. Xin cô hãy đến Rikuzentakata, Shigetaka Otomo nói, sếp của một đài truyền hình nhỏ ở địa phương, bây giờ cũng lại có một nhà hàng rồi! Nhà của tôi vẫn còn đó, nó nằm ngoài Rikuzentakata một chút, có một phòng dành cho khách mà cô có thể sử dụng nó.

Thông điệp của những người công dân đang lo lắng

Cựu chiến binh tập nổi dậy trong căn lều chống nhà máy điện nguyên tử

Tôi đi tìm những người đang biểu tình tuyệt thực, được cho là đã kiên trì chịu đựng từ nhiều ngày nay ở Kasumigaseki. Một nhóm nhỏ sinh viên, tôi đọc được như vậy trong một đoạn ngắn trên báo, phản đối chính sách năng lượng nguyên tử của chính phủ bằng cách này. Tại một quán nhỏ ở dưới mặt đất của tàu điện ngầm, tôi mua một tờ báo và hỏi người bán, liệu ông ấy có thể nói cho tôi biết rằng tìm những người đang phản đối đó ở tại lối ra nào không. Ông nhìn tôi hết sức ngạc nhiên và tôi cho rằng đã nhìn thấy một cái gì đó giống như sự thông hiểu lóe sáng lên trong đôi mắt của ông. Trong lúc lục lọi tìm tiền thối lại, ông hạ thấp giọng nói với tôi: “Tôi không thể nói cho cô biết. Nhưng cô phải biết rằng ở đây là Kasumigaseki!”.

Ở Kasumigaseki là giới quan liêu. Kasumigaseki là khu nhà chính phủ của Tokyo. Ở đây, cơ quan của bộ này nối tiếp với bộ kia. Ở cạnh nhau trong một khu phố là Tòa án Tối cao, Tòa Trung thẩm, Tòa án Gia đình và Tòa án chuyên cho những vụ án xử nhanh. Không thể không nhìn thấy sự hiện diện của cảnh sát. Tất cả nhân viên, những người vừa trở lại sau khi nghỉ trưa, phải trình thẻ của họ ra cho những người đang đứng canh gác ở lối vào các bộ. Vật chướng ngại có sẵn sàng trên vỉa hè, những cái mà người ta có thể dùng chúng vào bất cứ lúc nào để chận đường đi lại.

Trước khi thật sự rời khu vực tàu điện ngầm và bước lên từ thế giới ở phía dưới, người ta có thể xem thông tin trên những tấm bảng màu vàng, lối ra nào – được đánh dấu với chữ cái trong bảng mẫu tự và số – dẫn tới bộ nào. A11 và A12 dường như chính xác là những lối ra cho tôi. Chúng chấm dứt trước METI, Ministry of Economy, Trade and Indutry [Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp].

Và tôi cũng nhìn thấy chiếc lều nhỏ màu trắng với nhiều lá cờ chống nhà máy điện nguyên tử ở đó. Nhưng thật là ngạc nhiên. Tôi không tìm thấy sinh viên gẩy gò hốc hác nào ở đó cả, mà là một nhóm người cao tuổi vui vẻ bao gồm hai người đàn ông và một người phụ nữ đã có tuổi, tươi cười đón tiếp tôi như thể họ chỉ chờ có tôi thôi. Tôi chìa tấm danh thiếp ra và người phụ nữ, người sau đó tự giới thiệu mình là Tani sáu mươi mốt tuổi, sung sướng kêu lên: “Còn chưa có tới một nhà báo người Nhật duy nhất đến chỗ chúng tôi. Cô tới đây thật là hay!”

Lều cắm trước nhà văn phòng của Bộ Công nghiệp là tụ điểm của những người chống năng lượng hạt nhân. Hình: Satoru Ogawa
Lều cắm trước nhà văn phòng của Bộ Công nghiệp là tụ điểm của những người chống năng lượng hạt nhân. Hình: Satoru Ogawa

Minamoto Katayama và Taichi Masakiyo, cả hai người đều trong trang phục bình thường – Katayama với chiếc nón che nắng –, là hai người đàn ông cao tuổi ở đây. Masakiyo bộc lộ rõ sự uy quyền và có tiếng nói chính ở đây. Ít nhất thì trước đây nhiều năm ông cũng đã từng là dân biểu trong hội đồng quận của khu phố Nerima trong Tokyo, cho Đảng Dân chủ–Xã hội, khi đảng này còn có một quy mô có thể cảm nhận ra được. Ông là một người đàn ông to cao, tóc bạc, người thích cười và hay cười, và người ta hầu như không nhận ra được số tuổi bảy mươi ba của ông.

Người bạn thân của ông, Katayama, chịu trách nhiệm bán những tấm dán chống nhà máy điện nguyên tử và ghi nhận tên họ của những người quan tâm, được ông viết tay vào trong một danh sách. Vừa mới cầm lấy tấm danh thiếp của tôi là ông cũng đã ghi tên tôi vào rồi. Cho tới khi về hưu trước đây mười năm, ông là một sarariman đặc trưng, một nhân viên trong một công ty máy tính, nhưng sau đó, khi tôi xin ông gửi cho tôi qua thư điện tử những bức ảnh ông đã chụp trong cuộc phỏng vấn của tôi thì điều đó đã khiến cho ông hết sức lúng túng.

Bà Tani chịu trách nhiệm trước hết là về việc trao đổi thông tin ở trước chiếc lều, bà phân phát tờ rơi và nói chuyện với khách bộ hành. Tôi chui vào bên trong lều. Trông có vẻ ấm cúng, gần giống như một phòng khách Nhật. Một góc lều chất đầy nệm và chiếu, đủ chỗ cho mười người mảnh dẻ. Có bình thủy và một bếp nấu ga, một cây đàn guitar, nhiều túi nhựa và đồ linh tinh. Nhìn theo ánh mắt của tôi, người cựu dân biểu giải thích. “Đây là một vụ biểu tình ngồi. Suốt ngày đêm lúc nào cũng có ai đó ở đây. Cuối cùng thì chúng tôi muốn ở lại đây cho tới chừng nào mà nhà máy điện nguyên tử cuối cùng chấm dứt hoạt động. Vui nhất là vào buổi tối, khi giới trẻ đến với chúng tôi, những người mà phải đi làm vào lúc ban ngày, rồi chúng tôi bàn chuyện, hát và uống.”

Vào ngày 11 tháng Chín năm 2011, đúng nửa năm sau trận động đất, sóng thần và tai nạn ở Fukushima, họ bắt đầu cuộc biểu tình ngồi của họ. Đó là ngày mà hàng trăm người ở Tokyo đã tạo thành một hàng người để chống lại chính sách hạt nhân của đất nước họ.

Đó là những người nhiều kinh nghiệm, những người tụ họp lại ở đây.

“Khu đất chúng tôi đang ở đây là thuộc về Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp. Hàng ngày đều có một nhân viên nhà nước đến đây và nhắc nhở chúng tôi rằng chúng tôi ở đây là vi phạm luật pháp. Người ta vẫn còn chưa nói tới việc giải tỏa, nhưng chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng rồi”, Taichi Masakiyo thuật lại câu chuyện của ông, câu chuyện mà chính ông cũng thích nó cho tới mức ông luôn cười to lên một cách tinh nghịch. “Vào ngày 3 tháng Chín, chúng tôi đã gửi đơn xin phép bộ cho chúng tôi được thuê lại khu đất này cho các hoạt động của chúng tôi, để dựng lều của chúng tôi ở đây. Chúng tôi cũng báo cho họ biết rằng tất nhiên là chúng tôi cũng sẽ trả tiền thuê đất. Trước đây ba ngày có câu trả lời từ chối: không thể chấp thuận việc này được.”

Các nhà hoạt động nhiều kinh nghiệm biết cách đánh bại sự quan liêu bằng chính những phương pháp của nó.

Masakiyo tiếp tục kể: “Sau đó, chúng tôi nói rằng chúng tôi thấy thật là kỳ lạ khi không thể mướn được khu đất này. Vì chúng tôi có khả năng bác bỏ quyết định này trong vòng sáu mươi ngày nên chúng tôi đã gửi đi một thỉnh cầu tương ứng. Chúng tôi giữ đúng con đường quan liêu.” Masakiyo càng lúc càng thích thú hơn. “Rồi như là câu kết, chúng tôi còn viết vào đó lời chú thích, rằng đây là đất đai công cộng thuộc người dân, những người ít ra thì cũng đã trả tiền thuế, và rằng chúng tôi muốn tạo một nơi mà cả người ủng hộ lẫn người chống năng lượng nguyên tử đều có thể phát biểu ý kiến một cách tự do.”

Nếu cần thì người ta cũng có sẵn một nghị sĩ Dân chủ–Xã hội ở Quốc hội, người mà người ta cũng có thể thỉnh cầu ông ấy cộng tác, Masakiyo nói, và trở nên nghiêm trang hơn một chút. Ở đây họ tất nhiên không phải là những người đấu tranh đơn độc, mà sẽ cộng tác với tất cả những người hiện giờ đang đấu tranh chống lại các nhà máy điện nguyên tử. Ví dụ như những người trẻ tuổi đã tuyệt thực trong tháng Chín chẳng hạn, những người này cũng liên kết với họ. Lúc đầu là bốn, và gần đây nhất là mười. Một trong số họ, một người quen cũ, trước kia đã hoạt động trong công đoàn công nhân đường sắt chống tại việc tư nhân hóa đường sắt nhà nước, Taichi Masakiyo thuật lại, bây giờ thì thích thú thấy rõ, “ông ấy nói với tôi – những người trẻ tuổi kia có khả năng làm những gì thì tôi cũng có khả năng làm những việc đó. Và rồi đã tuyệt thực bốn mươi tám tiếng đồng hồ!”

Các nhà hoạt động chống năng lượng nguyên tử. Taro Fuchigami (phải), Taichi Masakiyo (giữa) và một tu sĩ Phật giáo đang tuyệt thực trong một căn lều trước Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản. Hình: Shizuo Kambayashi/AP
Các nhà hoạt động chống năng lượng nguyên tử. Taro Fuchigami (phải), Taichi Masakiyo (giữa) và một tu sĩ Phật giáo đang tuyệt thực trong một căn lều trước Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản. Hình: Shizuo Kambayashi/AP

Không ai ở đây xa lạ với các hoạt động xã hội. Họ đến từ phong trào chống bãi bỏ điều 9 Hiến pháp Nhật. Điều 9 là “điều khoản hòa bình” trong Hiến pháp của nước Nhật sau chiến tranh từ năm 1947, đã hình thành với sự trợ giúp to lớn của lực lượng Mỹ đang chiếm đóng. Trong điều 9, Nhật Bản tuyên bố từ bỏ chiến tranh cũng như từ bỏ các lực lượng hải lục không quân riêng, ngắn gọn là từ bỏ quân đội riêng. Jieitai, Lực lượng Tự vệ Nhật Bản, Japanese Self Defense Forces – JSDF, chỉ là lực lượng chuyên về tự vệ. Vì thế mà theo Hiến pháp, nước Nhật cũng bị cấm không được tham gia vào trong các hoạt động quân sự ở nước ngoài. Chi phí cho các lực lượng tự vệ không được phép vượt quá một phần trăm của tổng sản phẩm quốc gia, việc tại một cường quốc kinh tế như Nhật Bản thì vẫn là một con số đáng kể. Từ những năm chín mươi, nước Nhật bị áp lực quốc tế, phải tham gia vào trong các hoạt động quốc tế hay nhiệm vụ gìn giữ hòa bình. Năm 2006, việc tham gia được đặt trên một nền tảng pháp luật, và quân đội Nhật, cái thật ra không phải là quân đội, tham gia vào trong các nhiệm vụ của Liên Hiệp Quốc ở Campuchia, Ruanda, Mozambique, Đông Timor, Afghanistan và Iraq. Những cuộc phản đối việc đào rỗng Điều 9 và phản đối các cố gắng của giới chính trị, bãi bỏ cả Điều 9 và cho phép có quân đội riêng, diễn ra tiếp ngay theo sau đó.

Phong trào dân sự chống bãi bỏ Điều 9, phong trào mà nhà nhận giải Nobel năm 1994, Kenzaburo Oe, và các trí thức khác của đất nước đã tham gia dẫn đầu, là một trong những nòng cốt của phong trào chống đối của người dân Nhật Bản. Một trong mối quan tâm của họ cũng là cuộc đấu tranh bãi bỏ vũ khí nguyên tử trên toàn thế giới.

Kenzaburo Oe, người thường xuyên xuất hiện như là lương tâm của đất nước, là người đồng thành lập và là một trong những người dẫn đầu của nhóm chống nguyên tử “sayonara genpatsu”, mang lời từ biệt năng lượng nguyên tử trong tên của mình. Họ đã thành công trong việc tập hợp được tròn sáu mươi ngàn người tại công viên Meiji ngay trong trung tâm của Tokyo vào ngày 19 tháng 9 năm 2011 để trở thành cuộc biểu tình lớn nhất chống năng lượng nguyên tử và công nghiệp nguyên tử. Sáu mươi ngàn người, đó là một con số lớn trong một đất nước không có văn hóa biểu tình rõ nét. Cảnh sát cũng hạ thấp con số người tham gia xuống còn hai mươi ngàn. “Chúng ta, các nhà hoạt động, phải để cho lãnh tụ các đảng lớn và các doanh nghiệp biết rằng chúng ta sẽ chống lại!”, trong cuộc biểu tình đó, Oe bộc lộ tinh thần sẵn sàng đấu tranh và thêm vào: ở Nhật vẫn còn những thế lực ủng hộ điện nguyên tử. Những người chống lại có thể ngăn chận họ qua biểu tình và tụ họp công khai.

Trong giới truyền thông chính của Nhật, sự kiện này hầu như không được tường thuật. Các tờ báo lớn, nhưng cả các truyển thông điện tử như đài truyền hình nhà nước NHK tường thuật quá ít về vấn đề năng lượng nguyên tử hay về việc thực phẩm bị nhiễm phóng xạ, Taichi Masakiyo nói. Có một loạt lý do cho việc đó: “Có lẽ vì các doanh nghiệp lớn của Nhật đăng nhiều quảng cáo trong truyền thông và là những người tài trợ chính của họ. Sự phụ thuộc qua lại là rất lớn!”

Cả bà Tani cũng đến từ phong trào giữ lại Điều 9.  Cho tới mới đây, bà cũng đã đứng ở trong hàng ngũ các nhà nam nữ hoạt động chống căn cứ quân sự Mỹ trên Okinawa.

Okinawa là một điểm nóng khác của phong trào dân quyền Nhật. Vì thống trị ở miền cực Nam của Nhật Bản là lính thủy quân lục chiến. Trên đảo Okinawa, nơi nước Mỹ chiếm đóng từ sau Đệ nhị thế Chiến cho tới 1972, có hơn phân nửa số bốn mươi bày ngàn lính Mỹ ở Nhật. Nền tảng cho các căn cứ quân sự Mỹ là Hiệp ước An ninh Nhật-Mỹ của năm 1960. Cho tới ngày nay, Okinawa là căn cứ quân sự quan trọng nhất của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương. Từ đây, lính thủy quân lục chiến đã bay vào cuộc Chiến tranh Triều Tiên, ở đây, họ quan sát thật kỹ tình hình ở trong Bắc Triều Tiên cộng sản và trong Trung Quốc. Từ nhiều thập niên, người dân ở Okinawa cảm thấy bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tiếng ồn máy bay liên tục, bởi những lần tập bắn đạn thật và việc chiếm đóng nhiều phần rộng lớn của không gian sống của họ. Thêm vào đó là thường có tội phạm từ những người thuộc quân đội Mỹ. Năm 1995, một em gái ở địa phương đã bị ba người trong quân đội Mỹ bắt cóc và hãm hiếp, việc đã dẫn tới một tiếng thét vang của người dân và dẫn tới lời yêu cầu đóng tất cả các căn cứ quân sự Mỹ. Năm 1996, trong một trưng cầu dân ý, gần chín mươi phần trăm người dân đã ủng hộ việc giảm bớt sự hiện diện của quân đội Mỹ; một ý muốn mà chính phủ ở Tokyo xa xôi đã phớt lời. Cho tới ngày nay vẫn vậy.

Sau 3/11 bà đã nhận ra, bà Tani nói, rằng hiện giờ thì mối nguy hiểm lớn nhất xuất phát từ các nhà máy điện nguyên tử. Bà thấy rằng bây giờ là đã đến lúc phải hoạt động ở đây, vì cuối cùng thì bà cũng cùng chịu trách nhiệm cho các thế hệ tương lai, ngay cả khi bà không có con, bà nói. Hàng người, nửa năm sau thảm họa, cuối cùng đã trở thành lần kích hoạt khởi đầu: “Và bây giờ thì tôi tiếp tục, cho tới khi tất cả các nhà máy điện nguyên tử ngừng hoạt động.” Bà không ở lại về đêm, mà thừa nhận, những người trẻ tuổi cần nên làm việc này, nhưng bà thường đến vào buổi sáng và rồi ở lại cho tới chiều.

Cũng như hai đồng nghiệp của bà, bà Tani cũng không tin vào chính phủ và những lời nói trấn an của họ. Thật ra thì người ta chẳng biết gì cụ thể cả, về mối nguy hiểm cho con người qua nhiễm tia phóng xạ, về an toàn thực phẩm hay nguy hại cho sức khỏe của trẻ em. Các biện pháp của chính phủ ngay từ đầu là đã không đủ rồi – ví dụ như về việc sơ tán ra khỏi các thị trấn nằm chung quanh lò phản ứng bị hỏng. Trước sau gì thì người ta cũng không tiến hành đủ những biện pháp để loại trừ những vật liệu bị nhiễm phóng xạ, bà và hai ông quở trách.

“Thế nào đi chăng nữa thì chúng tôi cũng muốn tạo nên một nơi tự do trao đổi ý kiến ở đây”, họ bày tỏ ý định của cuộc biểu tình ngồi của họ. Và mục đích cuối cùng tất nhiên phải là việc từ bỏ năng lượng nguyên tử.

Cuối cùng, họ còn nhất định muốn tôi xem một quyển sách mà họ vừa mang về từ chuyến đến thăm Fukushima. Đó là một quyển sách mỏng với những bức tranh của trẻ em từ một nhà trẻ trong thành phố Fukushima. Trong “Hãy hành động – Ánh sáng của hy vọng”, nhà thiết kế đồ họa, nghệ sĩ và nhà giáo Makoto Ishiyama đã tường thuật và vẽ lại từ góc nhìn của trẻ em câu chuyện về tai nạn trong nhà máy điện nguyên tử và về những trận mưa nhiễm phóng xạ đã làm khiến cho các em không thể sử dụng sân chơi của các em được nữa. Và cuối cùng là về việc tất cả mọi người đã cùng nhau giúp đào đất đó và chôn vào một hố sâu, để các em lại có thể chơi đùa ở ngoài trời được. Trong một cảnh chôn cất, trẻ em đã xin lỗi vì các em đã làm bẩn đất.

Khi tôi muốn mua quyển sách đó, tôi lại làm cho các nhà hoạt động lâm vào cảnh lúng túng. Đó là quyển duy nhất mà họ có, họ nhẹ nhàng xin lỗi và bắt đầu bàn thảo và thương lượng khá lâu.

Cuối cùng, họ thống nhất rằng họ sẽ đặt thêm sách mới ở Fukushima và tôi được phép mang quyển sách này về.

Tội phạm của băng nhóm điện nguyên tử

Hiroaki Koide
Hiroaki Koide

Những lời nói mạnh dạn của chuyên gia nguyên tử Hiroaki Koide và những lời cảnh báo của ông đã bị chính quyền và các tập đoàn năng lượng phớt lờ như thế nào

“Tôi hiện giờ đang ở trong tình trạng chiến tranh. Tôi không có đến một giây phút rảnh!”, Hiroaki Koide thông báo qua thư điện tử, khi tôi nhờ sự giúp đỡ của cô bạn gái Mihoko mà có thể liên lạc được với ông. Rồi ông viết một dòng tiếp theo sau đó: “Nhưng nếu như cô không ngại đường xa thì tôi xin cô hãy đến viện gặp tôi vào ngày đó ngày đó. Tôi có thể dành cho cô một giờ đồng hồ, rất đáng tiếc là không lâu hơn được. Xin cô cho tôi biết giờ nào thuận tiện cho cô nhất.”

Tôi đã nghe được về Hiroaki Koide lần đầu tiên ngay trước khi sang Nhật, trong vườn của nhà hàng Prilisauer ở Wien. Tôi ngồi cùng với những người bạn Nhật. Chúng tôi nói về “nước Nhật sau 3 tháng 11”, và thảo luận về việc các cơ hội cho sự từ bỏ năng lượng nguyên tử của nước Nhật đang đứng ở đâu. Bạn tôi hoài nghi và nhắc tới Hiroaki Koide và những lời cảnh báo của ông như một ví dụ. Tại sao, họ lý luận, tại sao Koide, mặc dù chỉ còn vài năm nữa trước khi về hưu, vẫn còn là một giáo sư phụ tá nhỏ ở Đại học Kyoto và chưa từng bao giờ có được một cơ hội trên con đường sự nghiệp?

Tôi muốn làm quen với con người này.

Và bây giờ thì tôi có lời mời thân thiện của ông ở trước mặt tôi.

Đường đi đến chỗ ông quả thật là xa và hoàn toàn không thể kết nối với một chuyến viếng thăm Kyoto xinh đẹp được. Còn ngược lại nữa, Mihoko, người cứ nhất định đi cùng với tôi, phải khởi hành từ đó. Vì Viện Nghiên cứu Lò phản ứng, KURRI, mà Hiroaki làm việc ở đó, tuy thuộc về Đại học Kyoto, nhưng lại ở Kumatori, phần cuối cùng ở phía Nam của tỉnh Osaka, trong một vùng mà ngoài ra thì chẳng có gì nhiều ngoài Kansai International Airport. Lúc đến Kumatori, chúng tôi có cảm giác như đã lạc tới một nơi dùng để lưu đày. Thị trấn về cơ bản bao gồm một nhà ga, một tiệm McDonald’s, một cửa hàng nhỏ thường gặp của Covenience Strore, một nhà ga xe buýt và một nơi đỗ taxi. Taxi ở đây hết sức cần thiết, vì còn vài kilômét nữa mới tới viện. Chúng tôi chạy xuyên qua một sự pha trộn giữa nông thôn và thành thị, có ở nhiều nơi trong nước Nhật khi các thành phố lớn ra đến nông thôn. Rồi có những khối nhà ở giống như những ngôi nhà chung cư của CHDC Đức đứng sát cạnh những cánh đồng lúa hay vườn rau nhỏ còn lại, có lúc thì có một trạm xăng, một cửa hàng bán thức ăn nhanh, một căn nhà riêng khoe khoang với chiếc Toyota thường có ở trước cửa ra vào, có thể là một Love-Hotel, bắt chước theo kiểu một lâu đài ở châu Âu, hay một nhóm nhà ở bé tí bằng tôn mà cũng có thể nhìn thấy ở châu Mỹ La tinh hay Đông Nam Á.

Hiroaki Koide bước tới với chúng tôi ở ngay lối vào viện của ông, để đích thân đón chúng tôi, Có lẽ là ông đã nhìn thấy chúng tôi đến qua cửa sổ. Ông có một nụ cười thật tươi trên mặt và chào đón chúng tôi với sự nồng nhiệt, cứ giống như chúng tôi là những người khách duy nhất đã ghé qua đây từ nhiều năm nay. Điều tất nhiên là không đúng. Trong thời gian của câu chuyện tới đây, chiếc điện thoại sẽ reo lên nhiều lần, các giới truyền thông như đài truyền hình nổi tiếng TV Asahi sẽ xin phép được phỏng vấn. (Asahi có được nửa giờ!) Ý kiến của Hiroaki Koide, bốn mươi năm qua không đi vào được giới công khai, trải qua thời nở rộ kể từ 3/11.

Qua các lối đi tối tăm có trần thấp, ngang qua những cánh cửa với tấm biển cảnh báo màu vàng “Cấm vào, vật liệu phóng xạ!”, chúng tôi bước vào phòng làm việc tối tăm của ông ở tầng trệt. Ngay khi người ta đã quen với tình trạng cũ kỹ của các trường đại học công ở Nhật, viện này giống như một ngục tối. Koide dường như là không có một thư ký hay một người cộng sự. Ngoài chúng tôi ra thì không nhìn thấy ai cả. Phòng làm việc bé tới mức chúng tôi phải suy nghĩ làm sao mà cả ba người chúng tôi đều có chỗ ngồi ở đây.

Đối với chính phủ và các tập đoàn năng lượng, Hiroaki Koide có thể là một persona non grata [người không được chấp nhận] – tôi biết ông ấy như là một con người đáng quý, lịch sự và lỗi lạc. Ông thuật lại ngay lập tức về hội nghị chuyên gia quốc tế ở Wien mà ông đã tham dự sau tai nạn lò phản ứng ở Chernobyl, và ấn vào tay tôi một trong những bài viết mới nhất của ông mà trong đó ông đã nhắc tới lần trưng cầu dân ý ở Áo để chống không cho nhà máy điện nguyên tử Zwentendorf hoạt động như là một ví dụ tốt cho việc đối xử với năng lượng nguyên tử.

Hiroaki Koide sinh năm 1949 ở Tokyo là một người đàn ông gầy gò, trầm tĩnh và điềm đạm, diễn đạt và lý luận một cách rõ ràng và chính xác. Một người đàn ông tự tin, người, hết sức khác thường ở Nhật, nói tương đối rõ ràng những gì mà ông nghĩ mà không tạo nên ấn tượng của một người cuồng tín trong lúc đó. Trong những quyển sách như “Tội phạm của băng nhóm điện nguyên tử”, cũng nói về “mafia nguyên tử Nhật” ở trong đó, “Lời nói dối của các nhà máy điện nguyên tử” (theo bản thảo của tôi, chuyển ngữ các tác phẩm được xuất bản bằng tiếng Nhật) hay trong các bài diễn văn, ông cũng không hề e ngại khi nói: “Các tên tội phạm đang cố che đậy những hành động phạm tội của chúng!”

Trong tất cả những sự nghiêm trang đó, ông cũng là một người hay cười, và qua đó đã trung hòa sự cay đắng hay lộ ra qua những lời nói của ông. Sự phê phán của ông về chính sách nguyên tử của Nhật xuất phát từ nỗi lo lắng thật sự cho trẻ em Nhật, cho tương lai của nước Nhật, và nó đến từ quan điểm cá nhân của một người biết mình đang nói gì.

Sau khi học xong trung học, ông học nguyên tử học tại khoa Kỹ thuật của Đại học Tohoku ở Sendai. Nhiều người cho rằng, ông nói vào lúc đầu, đây là nơi sẽ nghiên cứu tiếp tục phát triển năng lượng nguyên tử. Nhưng không phải vậy. Ở đây người ta tiến hành nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực Vật lý, Y khoa hay Sinh học: “Ở đây không có ai quan tâm tới điện nguyên tử hay muốn tiếp tục phát triển nó.” Tự ông đã đưa ra nhiệm vụ cho ông, tiếp tục nghiên cứu về cách hoạt động phức tạp của các nhà máy điện nguyên tử và trước hết là tính dễ bị trục trặc và tai nạn của chúng. Để có thể tiếp tục cảnh báo về những mối nguy hiểm.

Điều để cho luận điểm của Hiroaki Koide mang tính thuyết phục như vậy cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng chính là con đường sự nghiệp của ông trong vấn đề năng lượng nguyên tử. Khi ông bắt đầu học đại học năm 1968, ông kể lại, ở Nhật vẫn còn thịnh hành giấc mơ về điện nguyên tử như là nguồn tài nguyên năng lượng tương lai của loài người. Chính ông cũng đã tin như vậy. Vì vậy mà ông đã trở thành nhà khoa học nguyên tử: “Tôi nhất định muốn tiếp tục phát triển năng lượng nguyên tử.” Chẳng bao lâu sao đó, ông biết rõ rằng con người không có khả năng kiểm soát được tia phóng xạ, và quyết định của ông là sai: “Tôi đã biến đổi một trăm tám mươi độ và kể từ đó, là người chống năng lượng nguyên tử, ủng hộ bãi bỏ các nhà máy điện nguyên tử.”

Tai nạn trong nhà máy điện nguyên tử Fukushima đã để cho những mối lo ngại tệ hại nhất của ông trở thành hiện thực. Rất đáng tiếc là ông đã đúng, ông thở dài: “Tất nhiên là tôi đã nghĩ rằng việc như thế là có thể xảy ra. Vì vậy mà tôi luôn nói rằng người ta phải từ bỏ năng lượng nguyên tử, và trước đây hàng chục năm đã cảnh báo rằng các nhà máy điện nguyên tử của chúng tôi nguy hiểm cho tới đâu.” Thảm kịch bây giờ đối với ông vẫn giống như một cơn ác mộng. Và thật ra, Koide buồn bã nói, trong tình trạng của ngày hôm nay thì ông phải tự nói với chính mình rằng cuộc sống cho tới nay của ông là vô nghĩa, tất cả những lời cảnh báo của ông đã tắt dần đi mà không được lắng nghe. Nghe có vẻ rất bi quan. Nhưng không thể nói là bỏ cuộc được. Chỉ riêng trong năm 2011, Koide đã xuất bản nhiều quyền sách và ở khắp nơi mà những người chống lại đang tụ họp, ông là nhà chuyên gia được cần tới: “Một cuộc sống riêng tư bình thường đối với tôi đã trở nên không thể; tôi không còn có thời gian cho những gì tạo niềm vui cho tôi nữa – đi nghe hòa nhạc, nghe nhạc hay đi du lịch. Hiện giờ thì tôi chỉ có một mục đích: phải kiểm soát cho được tai nạn của Fukushima. Phải ngăn chận không cho con người nhiễm phóng xạ nhiều hơn nữa. Tôi chỉ sử dụng thời gian của tôi cho việc đó!”.

Mặc cho những lời nói mạnh mẽ của ông và sự phê phán khe khắc của ông về đường lối chính trị trong đất nước này – Koide luôn luôn nói nước Nhật là “đất nước này” – chính phủ Nhật Bản đã nhiều lần liên hệ với ông sau tai nạn trong lò phàn ứng I của nhà máy điện nguyên tử Fukushima. Nhưng: “Tôi đã từ chối. Tôi không ưa chính trị gia, đặc biệt là chính trị gia người Nhật. Tôi nói với họ từ bốn mươi năm nay, rằng họ làm một việc sai và hành động phạm tội, và ngày nay tôi vẫn còn nói như thế!”

Tuy vậy, một lần, vào ngày 23 tháng 5 năm 2011, ông vẫn để cho người ta thuyết phục mình, nhận lời mời vào trong một ủy ban đối phó với cuộc khủng hoảng trong Thượng Viện Nhật Bản: “Thảm họa Fukushima lớn cho tới mức tôi nhìn việc đi tới đó như là trách nhiệm của tôi. Vì tôi cho rằng tôi mang một trách nhiệm hết sức đặc biệt. Thế là tôi đi tới đó, nói những gì tôi nghĩ. Xong.”

Ngoài ra còn có nhiều lời mời và yêu cầu ông tham gia các ủy ban trong Quốc Hội, Một lần, (nguyên) bộ trưởng đầy quyền lực của METI, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp, Banri Kaieda, còn muốn gặp ông: “Tôi đã từ chối dứt khoát!”

Còn công ty điều hành nhà máy bị tai nạn, Tepco? Koide cười tiếng cười khô khan của ông: “Tepco phớt lờ tôi hoàn toàn. Họ còn chẳng thèm cố gắng liên lạc với tôi nữa!”

Ở Nhật có hệ thống của cộng đồng các nhà máy điện nguyên tử, Koide nói, và dùng khái niệm mura – làng – mà với nó người ta liên tưởng tới một cộng đồng ở nông thôn đứng sát cạnh nhau. Ngôi làng nguyên tử Nhật bao gồm chính trị gia, các hội liên hiệp kinh tế, kinh tế điện, các tập đoàn công nghiệp chế tạo nhà máy điện nguyên tử, các khoa học gia muốn mở rộng năng lượng nguyên tử, cũng như các truyền thông đại chúng. Tất cả họ đều ăn ý với nhau. Các tập đoàn năng lượng, có một vị trí độc quyền ở Nhật, cũng hưởng lợi từ nhà máy điện nguyên tử như các tập đoàn lớn xây dựng chúng: Hitachi, Mitsubishi hay Toshiba.

Cuộc phỏng vấn Hiroaki Koide diễn ra vào giữa tháng Mười 2011. Đã hơn bảy tháng kể từ tai nạn lò phản ứng ở Fukushima. Những nước như Đức, Ý và Thụy Sĩ đã quyết định từ bỏ năng lượng hạt nhân từ lâu và đã góp phần trấn an người dân của họ. Qua đó, sau đợt rầm rộ của tháng Ba 2011, cả các giới truyền thông ở châu Âu cũng không còn quan tâm tới nước Nhật đã bất chợt dậy sóng nữa, và thích hướng đến những điểm nóng khác ở Cận Đông hơn. Thế nhưng tình hình trong nhà máy điện nguyên tử Fukushima trước sau vẫn còn chưa kiểm soát được, khi tôi gặp Hiroaki Koide.

Hiroaki Koide
Hiroaki Koide

Vào ngày 11 tháng 9 năm 2011, Tepco đưa ra một tuyên bố trên trang mạng của họ. Người ta hiện giờ đang làm việc ở bước hai của kế hoạch khắc phục thảm họa: “Mục đích là để kiểm soát việc thất thoát các vật chất phóng xạ và giữ cho các trị phóng xạ ở mức thật thấp. Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để cho những người sống chung quanh nhà máy điện có thể trở về nhà của họ càng nhanh càng tốt.”

Trong tháng Tám 2011, Tepco thông báo rằng việc dừng lạnh lò phản ứng bị trì hoãn và không thể đạt tới vào cuối 2011 như dự định được. Quá trình “cold shutdown” này được đạt tới khi nhiệt độ nước trong lò phản ứng giảm lâu dài xuống dưới một trăm độ Celsius dưới áp suất không khí. Như là lý do, Tepco nêu ra việc các thiết bị hấp thu Caesium thường xuyên hư hỏng.

Vào ngày 16 tháng 12 năm 2011, thủ tướng Yoishihiko Noda bất ngờ tuyên bố rằng “cold shutdown” và qua đó là bước hai của kế hoạch khắc phục thảm họa, đã hoàn thành và cuộc khủng hoảng hạt nhân đã được giải quyết. Các chuyên gia bày tỏ sự hoài nghi.

Trong cuộc gặp gỡ, Hiroaki Koide, người làm việc suốt ngày đêm để có được một cái nhìn bao quát về tình hình, không hề ngạc nhiên về những tin xấu và các thông báo khác nhau, một phần mâu thuẫn với nhau, đang được lan truyền đi: “Không ai biết tình hình hiện giờ như thế nào cả. Thứ nhất là bởi vì những người chịu trách nhiệm, tức chính phủ Nhật và tepco, che dấu thông tin. Vì vậy mà tôi mới gọi họ là những kẻ phạm tội, những người muốn phô bày  tội phạm của họ dưới một ánh sáng tốt lành. Thứ nhì là bởi vì họ không có khả năng tự rút ra được một bài học từ những thông tin đang có.” Điều chắc chắn là tình hình trước sau vẫn cực kỳ nguy hiểm.

Ngay sau thảm họa, dựa trên thông tin về nước rò rỉ và làm mát không đủ cho nguyên liệu, ông đã kết luận rằng lõi đã tan chảy vào ngày 11 hay 12 tháng Ba. Thế nhưng Tepco, theo Koide, đã cố che đậy việc này, và mãi đến ngày 12 tháng Năm mới thừa nhận: “Tôi thấy thật là hết sức đáng sợ!”

Koide thấy việc ấn định các giá trị giới hạn cho phóng xạ trong các loại thực phẩm khác nhau, như chính phủ đã thực hiện qua luật lệ, cũng là vô trách nhiệm. Điều đó hoàn toàn không mang lại sự an toàn, đặc biệt là cho trẻ em, nhà khoa học nguyên tử nhấn mạnh. Thay vì ấn định trị giới hạn, theo Koide, thì hợp lý hơn là nên công bố loại thực phẩm nào bị nhiễm phóng xạ nặng cho tới chừng nào. Thế thì cha mẹ có thể đưa cho con của họ những loại thực phẩm không bị nhiễm phóng xạ: “Ở những trị phóng cạ cao như vậy, như chúng tôi đang có hiện giờ, thì phác thảo một chương trình để bảo vệ trẻ em của chúng tôi là hết sức cần thiết!” Về cơ bản, nước Nhật đang đứng trước nhiệm vụ khổng lồ, đo phóng xạ trong hàng trăm, hàng ngàn loại thực phẩm tại những nơi khác nhau mà để thực hiện nó thì phải cần vô số chuyên gia và thiết bị đo chính xác. Nhưng trong số những người chịu trách nhiệm thì không có ai thật sự chấp nhận siêu tai nạn này, vì vậy mà không đủ năng lực. Và thế là tia phóng xạ tiếp tục lan rộng đi trên toàn nước Nhật mà không bị cản trở nào. Trong những năm và thập niên tới đây, Koide tin chắc là vậy, tỷ lệ ung thư sẽ tăng lên cực cao.

Các biện pháp khử nhiễm phóng xạ bây giờ là một nguồn lợi nhuận mới cho giới vận động hành lang hạt nhân. Thật sự thì toàn bộ tỉnh Fukushina phải được khử nhiễm phóng xạ. Nhưng mang vật liệu nhiễm phóng xạ đi dâu?

Và còn một điều nữa mà ông rất muốn nói. “Cô có biết không, chính phủ Nhật hiện giờ và hôm nay còn phạm tội nặng hơn là tôi đã từng nghĩ tới nữa: họ gởi thực phẩm phóng xạ trong khuôn khổ cộng tác của họ đi ra nước ngoài!”

Koide không chừa một đề tài nhạy cảm nào cả. Nhưng ông không sợ. “Hiện giờ có nhiều người rất lo lắng cho tôi”, ông nói. “Là tôi có thể bị nhà nước theo dõi bởi những điều mà tôi đã nói ra. Nhưng tôi không tin.”

Một trong những đề tài nhạy cảm là câu hỏi về tiền đền bù. Những người bắt buộc phải di tản khỏi vùng cấm quanh nhà máy điện nguyên tử Fukushima, phải rời bỏ nhà cửa và làng mạc của họ, để bắt đầu một cuộc sống mới ở đâu đó, được nhà nước đền bù. Thế nhưng những người chỉ sống ngoài vùng cấm một kilômét và tự nguyện rời bỏ nơi đó ra đi thì không nhận được gì. Vì vậy mà đã có đơn kiện nhà nước rồi.

Koide lại lo lắng cho trẻ em. “Tôi muốn”, ông nói, “tôi muốn trước hết là trẻ em phải được di tản ra khỏi các vùng nguy hiểm. Nhưng làm sao được khi cha mẹ các em không có cơ hội nhận được tiền trợ cấp? Người ta không thể nào mà chia cắt con cái với cha mẹ được!”

Chính nước Nhật, cho tới nay là đất nước duy nhất đã có những trải nghiệm thật kinh khiếp của hai vụ ném bom nguyên tử, lại dựa vào công nghệ nguyên tử! Có năm mươi bốn nhà máy điện nguyên tử ở trong đất nước này (vào đầu năm 2012 chỉ còn có năm trong số đó là đang hoạt động) – mặc cho Hiroshima và Nagasaki. Một mâu thuẫn thật là khó hiểu.

Vâng, điều đó cũng thật là kỳ lạ đối với ông, Koide gật đầu và bắt đầu một lời giải thích dài, ngược lại lịch sử sau chiến tranh của Nhật Bản một đoạn dài. “Tất nhiên là người dân nhận thức được sự tàn phá khổng lồ của các quả bom nguyên tử và sự đau thương do chúng gây ra. Nhưng tới một lúc nào đó, cùng với câu khẩu hiệu về việc ‘sử dụng hòa bình năng lượng hạt nhân’, người ta đã quay ngược trở lại. Theo nghĩa: khi năng lực nguyên tử khổng lồ đó có thể được sử dụng để đáp ứng nhu cầu năng lượng của loài người trong tương lai thì chúng ta có thể hưởng lợi từ việc đó!” Vì vậy mà ở Nhật có sự phân biệt giữa những “trái bom nguyên tử xấu” và các “nhà máy điện nguyên tử tốt”. Ngay nạn nhân của Hiroshima và Nagasaki, những người từ nhiều thập niên nay đã ủng hộ việc bãi bỏ vũ khí nguyên tử trên khắp thế giới, cho tới nay cũng đứng ở quan điểm: nếu như năng lực nguyên tử có thể được sử dụng cho các mục đích hòa bình thì cần phải đánh giá tốt điều đó. Tất nhiên là từ lúc xảy ra tai nạn nguyên tử ở Fukushima, có những người nào đó trong số họ đã suy nghĩ lại.

Sự phân chia này đi tới mức nó đã đi vào trong ngôn ngữ và dẫn tới một cách điễn đạt không chính thức đã thắng thế trong xã hội. Và qua đó, Hiroaki Koide bắt đầu nói tới những lý do về chính trị, những cái mà theo phân tích của ông đang nằm ở phía sau việc cố bám lấy vào công nghệ nguyên tử.

Khác với trong tiếng Anh hay tiếng Đức, khái niệm “nguyên tử” trong tiếng Nhật có thể được diễn đạt qua hai cách: một cách với từ kaku, bất cứ lúc nào  nói về “nguyên tử xấu”. Như về vũ khí nguyên tử – kakuheiki. Năng lực nguyên tử theo ý tốt, như trong nhà máy điện nguyên tử thì ngược lại được gọi là genshiryoku. Điều đó tất nhiên là hoàn toàn phi lý, theo Hiroaki Koide, và giải thích bằng tiếng Anh. “Nuclear” là “nuclear” và về công nghệ thì cũng chính xác là như vậy. Một lần thì vũ khí được làm ra từ đó, lần khác thì là nhà máy điện nguyên tử.

Và qua đó, nhà khoa học nguyên tử chuẩn bị cho cú đánh kế tiếp, và những gì ông nói xác nhận một điều bí mật mà trong giới có quan tâm tới thì ai cũng biết: “Tất nhiên là về mặt công nghệ  thì nước Nhật ngày nay có khả năng chế tạo vũ khí nguyên tử vào bất cứ lúc nào!” Điều 9 của Hiến pháp sau chiến tranh cấm Nhật Bản có một quân đội tấn công. Thêm vào đó, Nhật Bản cam kết trong một nghị quyết của Quốc Hội năm 1967 (cái tuy vậy không bao giờ trờ thành một đạo luật) giữ đúng ba nguyên tắc chống nguyên tử: từ bỏ không sản xuất, sở hữu hay đặt vũ khí nguyên tử trên lãnh thổ của mình. Điều đó cho tới ngày nay là nguyên tắc của chính sách nguyên tử Nhật Bản.

“Fat Man”, trái bom nguyên tử mà Hoa Kỳ ném xuống Nagasaki vào ngày 9 tháng 8 năm 1945 là một trái bom Plutonium, thành phần chính: Plutonium 239. Ngày nay, nước Nhật có tròn bốn mươi lăm tấn Plutonium, một số lượng mà với nó có thể ném bom bốn ngàn lần xuống Nagasaki, Hiroaki Koide tính toán.

Người ta thu được Plutonium qua tái xử lý chất thải nguyên tử hình thành trong lúc vận hành nhà máy điện nguyên tử. Với chất Plutonium cực kỳ độc hại này người ta hoặc là có thể sản xuất vũ khí nguyên tử hoặc là dùng cho các nhà máy điện nguyên tử loại “lò phản ứng tái sinh nhanh” – nước Nhật, nước duy nhất bên cạnh nước Pháp sử dụng loại công nghệ hết sức nguy hiểm này, cũng có một nhà máy như vậy: nhà máy điện nguyên tử Monju ở Tsuruga, trong tỉnh Fukui cạnh biển Nhật Bản, nhà máy mà những người chống nguyên tử đã phản đối dữ dội từ nhiều năm nay. Monju phát điện năm 1996. Sau một sự cố nặng và một xì căng đang tiếp theo sau đó về việc che dấu sự cố này, nhà máy ngưng hoạt động cho tới tháng Năm 2010. Rồi việc vận hành thử nghiệm lại được tiếp tục. Mục đích vào lúc đầu: vận hành thường xuyên từ 2013. Thế nhưng như là hệ quả của tai nạn ở Fukushima, Bộ Giáo dục, Khoa học và Công nghệ tuyên bố trong tháng Chín 2011, rằng “dự án Monju” vì chưa có chắc chắn trong chính sách năng lượng của Nhật Bản nên không thể được tiếp tục tiến hành được nữa.

Nhà máy điện nguyên tử Monju. Hình: Wikipedia
Nhà máy điện nguyên tử Monju. Hình: Wikipedia

Tôi sực nhớ tới một mẩu chuyện nhỏ ở đây. Trước đây nhiều năm, khi tôi điều tra về những cuộc chống đối của người dân ở Nhật Bản, một nhà nữ hoạt động kể lại cho tôi nghe về một băng video cho trẻ em trong trường học mà Donen, công ty vận hành Monju, đã phát tán đi: “Video đó chiếu một nhân vật hoạt hình dễ thương tên là Plutoboy. Plutoboy giải thích trong video, rằng uống từ một thùng chứa nước và Plutonium thì không nguy hiểm, vì Plutonium nặng hơn nước nên chìm xuống đáy!” Và trong video đó, người ta cũng khẳng định rằng Plutomium phát sinh ra trong Monju cũng không thích hợp để sản xuất vũ khí nguyên tử. Sau đó, nhiều nhóm chống nguyên tử đã nổi giận kéo tới Donen và yêu cầu thu hồi lại video đó. Công ty thật sự đã thu hồi lại video này, nhưng không sửa nội dung lại cho đúng với sự thật. Nước Nhật gửi chất thải nguyên tử của mình sang nhà máy tái xử lý La Hague ở Pháp và Windscale ở Anh. Nước này nhận bốn mươi lăm tấn Plutonium đã qua tái xử lý cũng từ đó, số lượng mà Koide đã đề cập tới.

Ngay trong nước thì có nhà máy tái xử lý Rokkasho trong tỉnh Aomori ở miền Đông Bắc của hòn đảo chính Nhật Bản, với công suất tám trăm tấn Uranium hay tám tấn Plutonium hàng năm. Khoa học gia Nhật Bản trước đây nhiều năm đã lưu ý rằng nhà máy Rokkasho nẳm ngay trên một đường nứt gãy động đất. Thế nhưng công ty vận hành, Japan Nuclear Fuel Ltd., trấn an, và cả chiến dịch quốc tế “Hãy ngừng Rokkasho” cho tới nay cũng không làm cho những người có trách nhiệm suy nghĩ lại. Sau trận động đất lớn ở Đông Nhật Bản của tháng Ba 2011, nhà máy này phải tạm thời chuyển sang dùng điện được cung cấp khẩn cấp bằng máy Diesel.

Thêm một mối nguy hiểm nữa ở Nhật, cũng như nhà máy điện nguyên tử Hamaoka trong tỉnh Shizuoka. Thủ tướng Nhật trong thời gian ba thảm họa của 11 tháng Ba, Naoto Kan, người đã nhiều lần để cho nhận thấy ý định muốn từ bỏ công nghệ nguyên tử của mình, đã yêu cầu công ty điều hành Chubu Electric Power tạm thời đóng cửa nhà máy điện nguyên tử Hamaoka. Hamaoka nằm trên một đường nứt gãy động đất vẫn còn đang hoạt động. Trận động đất lớn Tokai ở Tây Nam của Tokyo, cái theo ý kiến thống nhất của các chuyên gia sẽ xảy ra trong vòng tròn ba mươi năm tới đây với xác suất ba mươi phần trăm, hẳn sẽ không khoan dung cho Hamaoka. Ngoài những việc khác, các thành phố triệu dân Tokyo và Nagoya sẽ bị ảnh hưởng bởi một tai nạn nguyên tử ở đó. Thế nhưng Naoto Kan không còn tại chức nữa. Sau khi thôi giữ chức vụ, người ta cho rằng ông đã bắt đầu chuyến đi hành hương giàu truyền thống, dài một ngàn hai trăm kilômét đến tám mươi tám ngôi chùa ở Shikoku. Và công ty điều hành Chubu bây giờ muốn xây một bức tường bê tông cao mười tám mét trước nhà máy điện nguyên tử Hamaoka để bảo vệ nó trước một con sóng thần và rồi lại vận hành nhà máy này.

Thế nhưng mặc cho tất cả các phản đối, các lời cảnh báo và tất cả các thảm họa, cho tới nay nước Nhật vẫn bám chặt vào năng lượng nguyên tử. Đất nước nghèo tài nguyên này không có sự lựa chọn nào khác ngoài dựa trên năng lượng hạt nhân, lý lẽ là như vậy. “Cả điều đó cũng không đúng!”, Hiroaki Koide nói và thừa nhận rằng Nhật Bản hẳn là có ít tài nguyên. Nhưng vấn đề lớn nhất của nước Nhật, Koide nói, là việc tiêu thụ rất nhiều năng lượng. Người ta phải bắt đầu ở đó và có lối suy nghĩ khác đi, ví dụ như giảm thiểu những sản phẩm tiêu thụ quá nhiều năng lượng.

Vào cuối của một cuộc phỏng vấn dài với một người được phỏng vấn hết sức kiên nhẫn, chỉ còn lại câu hỏi về sự nghiệp riêng của ông, trước bối cảnh của sự phê phán gay gắt những người đang cầm quyền và những người đầy quyền lực. Hiroaki Koide lại cười. “Sự nghiệp của tôi ư? Tôi không muốn vươn tới cái gì cả. Tôi không muốn trở thành gì cả, tôi tập trung mọi sự chú ý của tôi vào vấn đề  năng lượng hạt nhân.”

Và rồi ông lấy một tấm danh thiếp từ trên cái bàn làm việc của ông: “Cô thấy đó, tôi vẫn còn là giáo sư phụ tá. Tôi là thành viên của ban giảng sư trường Đại học Kyoto. Đó là một trường nhà nước. Nhà nước này đã quyết định dựa trên năng lực nguyên tử. Người như tôi, hưởng lương nhà nước, chống năng lượng nguyên tử và qua đó nằm trong giới đối lập với nhà nước, thì không quan trọng đối với nhà nước đó.” Ông rất hài lòng với vị trí của ông, Koide cười thích chí. Điều đó có nghĩa là ít công việc hành chánh hơn và không buộc phải là sếp, người đưa ra lệnh cho cấp dưới quyền: “Tôi đã ở đây từ khoảng bốn mươi năm nay và tôi chưa từng bao giờ ra lệnh cho ai cả. Tôi cũng không muốn điều đó. Thật là một sự tồn tại dễ chịu! Và tôi cũng muốn cứ tiếp tục sống một cách dễ chịu như vậy!”

Sống với máy đếm Geiger

Người dân của Minamisoma và người thị trưởng nổi loạn của họ, người tìm đủ mọi cách để bảo tồn cộng đồng đã teo lại của ông

Chuyến đi đến Minamisoma ở cạnh bờ biển Đại Tây Dương, từ thành phố Fukushima, dẫn xuyên qua một trong những vùng đẹp nhất của Nhật Bản. Những cánh rừng rậm trên một dãy núi đổ dốc xuống biển. Ở giữa đó là những cao nguyên nhỏ với làng mạc, đồng ruộng và đồng cỏ. Lá đã bắt đầu đổi màu. Những chấm đỏ trong màu xanh đậm. Những trái hồng màu đỏ rực treo trong các ngôi vườn như những cái đèn lồng trên các cây hồng đã rụng lá. Giống như có điều gì đó để ăn mừng, trong mùa Thu Nhật Bản này. Đây đó trước một ngôi nhà nông dân có một tấm bảng với hình vẽ con bò đốm trắng đen thật dễ thương. Vùng này nổi tiếng, hay chính xác hơn là đã nổi tiếng, vì những con bò của họ. Không nhìn thấy người ở đây. Thỉnh thoảng có một chiếc xe cảnh sát. Nhà khóa kín, tiệm đóng cửa. Đồng ruộng bị bỏ hoang. Một trạm xăng còn mở. Một nhà máy dệt nhỏ. Ở đây người ta vẫn còn sản xuất. Người ta đưa ra nhiều điều kiện thật nghiêm khắc cho các nữ công nhân, không được ở đây quá một thời hạn nhất định, một người quen thuộc với vùng này giải thích. Chúng tôi chạy qua Iitate. Chiếc máy đếm Geiger trong chiếc xe đang chạy hiển thị 3,3 microsievert. Iitate nằm ở ngoài vùng nguy hiểm ba mươi kilômét quanh nhà máy điện nguyên tử Fukushima, cách gần năm mươi kilômét. Và tuy vậy. Một vài ngày sau tai nạn lò phản ứng, gió đã thổi đám mây phóng xạ vào nội địa. Tia phóng xạ không tuân thủ theo những vòng tròn đồng tâm. Cuối tháng Tư, Iitate và bảy thị trấn khác trong khu vực được thêm vào trong vùng cấm.

Thành phố ma Minamisom
Thành phố ma Minamisom

Cờ Nhật và cờ địa phương bay trên ngôi nhà thị chính của Minamisoma. Dưới đó có một tấm băng biểu ngữ: “Tiến hành đường hầm xuyên qua đèo Yagisawa.” Thêm vào đó là những từ ngữ mang tính khẩu hiệu “Làm cho yên tịnh” và “An toàn”. Ở trên đó, trên núi, những chiếc xe xây dựng đã bắt đầu đào vào trong rừng.

Trước tòa thị chính có một chiếc máy đo phóng xạ to. Cả cái đèn xanh lẫn đèn đỏ được gắn ở phía trên đều không cháy sáng. Trong lúc tôi đứng ở đó, hơn mười lăm phút, hiển thị dao động giữa 0,53 và 0,56 microsievert trong một phút. Tất cả những người đi ngang qua – và có rất nhiều người ra vào nhà thị chính –, đều nhìn nhanh, thoáng qua chiếc máy đó và tiếp tục vội bước đi.

Trong lúc nhìn trừng trừng vào phần hiển thị, tôi sực nhớ tới một video mà tôi tìm được trên mạng. Một nhà báo thực hiện một phóng sự về Minamisoma và được mời tới thăm một gia đình ở đây. Trong các câu chuyện, tất cả đều xoay quanh tia phóng xạ, và chiếc máy đếm Geiger nhỏ, có thể mang theo người, là một vật luôn đi theo người chủ nhà. Cả người con gái khoảng bảy tuổi trong nhà cũng sử dụng chiếc máy đó và đưa nó ra trước ống kính. Nhà báo hỏi cô bé, liệu em có biết những con số đó có ý nghĩa gì không. Cô bé trả lời: “Lúc thì nó nhiều hơn, lúc thì ít hơn.”

Cả cô bé hẳn rồi sẽ học cách suy nghĩ trong microsievert, tính toán để đổi microsievert sang milisievert và sống với becquerel.

Đến một lúc nào đó cô bé sẽ nghe được rằng ảnh hưởng của phóng xạ lên cơ thể con người được đo bằng milisievert (mSv=0,001 Sv) và microsievert (µSv=0,001 mSv). Có lẽ ai đó cũng kể lại cho em nghe rằng các chuyên gia có ý kiến khác nhau về mức phơi nhiễm phóng xạ tối đa cho phép. Cuối tháng Mười 2011, Bộ trưởng Bộ Y tế Nhật Yoko Komiyama khiến cho người ta lắng nghe với lời tuyên bố, rằng chính phủ muốn giảm độ nhiễm tối đa cho phép của thực phẩm từ hiện nay là năm xuống còn một milisievert trên một năm. Về việc này, tờ báo tiếng Anh Japan Times trích dẫn một nhà phóng xạ học, người ngạc nhiên là tại sao cả những trị tối đa cho phóng xạ từ môi trường xung quanh cũng không được giảm xuống, một khi trẻ em trong các thành phố Fukushima và Minamisoma phải chịu đựng một phơi nhiễm phóng xạ tương đối cao từ môi trường xung quanh. Ủy ban Quốc tế về An toàn Phóng xạ đưa ra độ phơi nhiễm phóng xạ cho phép là từ một cho tới hai mươi milisievert.

Tôi tính toán. Nếu như đứng trước nhà thị chính một năm trời, thì tôi có hơn một ngàn microsievert hay một milisievert. Nhưng một bài tính như vậy có đúng không?

Một nhà nữ hoạt động ở Tokyo nói như thế nào nhỉ: một ngày nào đó cô bị đau đầu, vì đã nghiên cứu thật nhiều về công nghệ nguyên tử, becquerel, milisievert và microsievert. Cô đã lập những tệp tài liệu thật dầy. Và rồi quyết định không ngồi trên đống sách của cô nữa, mà đi ra ngoài và to tiếng phản đối.

“Tôi thường tới nhà thị chính vào lúc sáu giờ sáng để nhìn lên những cái ở đó”, ông Norimitsu Ishibashi bảy mươi bốn tuổi nói, người đang đếm những tờ tiền giấy và tiền đồng ít ỏi trong két tiền của ông khi tôi vào cửa hàng giày của ông. Ông nói trong giọng thổ ngữ nặng của vùng này. Hôm nay ông đã không đến đó, nhưng trước đây hai, ba ngày thì là 0,48. Thỉnh thoảng cũng có người vào cửa hàng ông với máy đo riêng của họ. “Lần cuối ở trong cửa hàng của tôi là 0,24.” Ông ít lắng cho sức khỏe riêng của bản thân ông, chỉ lo cho tương lai của nước Nhật và lo cho trẻ em, mà thật ra thì ông ít nhìn thấy chúng ở đây hơn. Thỉnh thoảng có những đứa bé chạy ngang qua đây trong ô tô. “Tôi đã trên bảy mươi rồi, và ngay cả khi tôi bị nhiễm phóng xạ đi chăng nữa – mười năm nữa tôi tám mươi, rồi thì… rồi thì thật sự là cứ mặc kệ!” Ông Ishibashi cười, nhưng sự vui tươi không đến với đôi mắt của ông.

Cửa hàng của ông nằm ở trên đường Nhà Ga trong tỉnh Haramachi, cách biển tròn hai kilômét. Những ngôi nhà ở đây đã được con sóng thần dung tha cho. Đường Nhà ga dẫn tới một nhà ga chết. Không còn có tàu hỏa nào chạy đến Minamisoma cả. Tuyến đường này, nếu như nói chung là nó được tái xây dựng lại, cần phải được dời đi. Nhưng không có ai biết gì chính xác về điều này cả, hơn tám tháng sau 3/11.

Có thể nhanh chóng đi hết tất cả các cửa hàng trên con đường mua sắm. Hiện nay có mười bốn cửa hàng hoạt động, người bán giày nói. Một phần nhỏ của những gì trước đây. Tìm một quán cà phê hay một nhà hàng là khó khăn. Số ít các khách sạn mở cửa đã hết phòng. Công nhân đang dọn dẹp những đống đổ nát ở cạnh bờ biển cần có nơi ở.

Giày được xếp trật tự trên giá trong cửa hàng của Norimitsu Ishibashi và tuy vậy đã có một lớp bụi bẩn nhất định rồi. Dép lê và dép đi trong nhà theo kiểu truyền thống của Nhật, dép đi trong nhà, giày trong những màu nâu sậm cho người cao tuổi, không có giày ủng cao gót đang là mốt trong giới phụ nữ trẻ tuổi Nhật. Doanh thu của ông đã giảm tròn một nửa trong những tháng vừa qua, Norimitsu Ishibashi thở dài, và vợ của ông ló đầu vào trong một khoảng khắc, gật đầu, và lại biến mất: “Như cô thấy đó, đây là một thành phố không có người. Chỉ có một ít người quay trở về thôi. Nó là một thành phố buồn!” Tôi để ông ở lại đó, trước két tiền mở tung ra của ông với vài tờ tiền giấy giữa những đôi giày lỗi thời của ông.

Nhà thị chính Minamisoma. Hình: Wikipedia
Nhà thị chính Minamisoma. Hình: Wikipedia

Minamisoma là một thị trấn đặc biệt. Thị trấn này thành hình trước đây vài năm qua lần sáp nhập ba thị trấn không liên kết nhau với tròn bảy mươi ngàn nam nữ dân cư. Sau tai nạn trong nhà máy điện nguyên tử Fukushima, phần phía Nam của thành phố do khoanh vùng mà bị đưa vào khu vực cấm hai mươi kilômét, vùng tuyệt đối cấm không được ở trong đó. Người dân được di tản đi nơi khác. Quận Haramachi, nơi cũng có tòa nhà thị chính, thì lại nằm trong vùng giữa hai mươi và ba mươi kilômét từ nhà máy điện. Trước ngày 11 tháng 3 có tròn năm mươi chín ngàn người sống ở đây. Sau tai nạn, vùng này trở thành vùng đặc biệt mà ở trong đó người dân cần phải “sẵn sàng để di tản trong trường hợp khẩn cấp và nếu có thể thì cứ ở trong nhà của họ”. Ai muốn đi khỏi thì cứ đi. Trong những tuần và tháng đầu tiên sau ngày 11 tháng 3 năm 2011, dân số giảm xuống còn hai mươi ngàn,

Cuối tháng Chín 2011, các quy định đặc biệt cho vùng giữa hai mươi và ba mươi kilômét được bãi bỏ. Năm trường học chào mừng “lần trở về cuộc sống bình thường”. Nhưng chỉ có chín trăm trẻ em tới, dự định là hơn hai ngàn em.

“Thành phố của chúng tôi trước khi thảm họa xảy ra thì đã không sống động cho lắm rồi”, bà Yumiko Nunokawa bốn mươi mốt tuổi thừa nhận, người đang thắt một bó hoa đồng tiền đẹp màu đỏ thẩm. Cũng như nhiều vùng thôn quê khác, Tohoku cũng phải chịu đựng tình trạng lão hóa và di cư đi nơi khác. Yumiko Nunokawa, chồng bà và hai đứa con trai của bà ở tuổi bảy và mười ba thuộc trong số ít những người còn ở lại. Về mặt tài chính thì họ vừa đủ sống, bà cũng thuật lại, và cả bà cũng nói về những nỗi sợ hãi cho tương lai và về những niềm lo lắng vì phóng xạ, vì những đứa con: “Mặc dù vậy tôi vẫn không thể dứt khỏi nơi này được.  Chúng tôi đã nghĩ nhiều về việc này, và chúng tôi đã quyết định ở lại.” Và trong khi đang cầm bó hoa, bà cố giải thích: “Cô biết không, tôi sinh ra và lớn lên ở đây, ở đây là ngôi nhà cha mẹ tôi đã xây lên cho chúng tôi và là ngôi nhà mà một ngày nào đó các đứa con của tôi sẽ nhận lấy. Đối với tôi thì không có điều gì khác ngoài hiện diện ở đây, làm việc ở đây và sống ở đây. Tôi muốn tham gia tái xây dựng thành phố với niềm tin tốt đẹp. Và tôi cũng cố gắng truyền tải cảm giác đó cho các đứa con của tôi.”

Bó hoa đã được thắt xong. Nó được xếp vào với những bó hoa khác đã có ở đó và đang chờ khách hàng. Thời gian sau này, bà đã quen với cuộc sống có tia phóng xạ, người đàn bà nhỏ bé, xanh xao đó nói. Lúc trước bà còn mang một cái mặt nạ phòng độc, nhưng bây giờ thì bà không làm gì nữa. Ngoài trừ chú ý khi đi chợ, nhưng cả ở đây thì rồi cuối cùng rồi bà cũng phải tin vào những gì mà người ta bán cho bà trong cửa hàng.

Bà bán cá trên đường Nhà Ga cũng biết điều đó. Bà luôn phải giải thích cho khách hàng cá từ đâu tới, bà thở dài. Mỗi tuần nhiều lần, Fumiko Inagida và chồng bà thức dậy lúc ba giờ sáng và chạy xe cho tới Sendai. Họ mua cá ở đó từ miền cực Bắc của nước Nhật, từ Hokkaido, Aomori hay Akita. Mỗi lần như vậy họ đi mất sáu tiếng đồng hồ. Bến cảng của Minamisoma đã bị con sóng thần cuốn trôi đi. Ngôi chợ thời trước là một đống đổ nát cạnh bờ biển bị tàn phá, nơi mà xe ủi đất và xe xây dựng vẫn còn hoạt động.

Bà có tức giận cơ quan nhà nước, tức giận tepco không? Tức giận? Bà bán cá lắc đầu. Không, không tức giận. Bà cam chịu.

Và rồi bà hạ giọng xuống, mặc dù ngoài hai chúng tôi ra và chồng bà thì không có ai trong cửa hàng cả. Có những người được di tản đi và bây giờ sống trong khách sạn, họ được ưu tiên! Trong khi không hề có gì cho những người hoặc là ở lại hoặc là đã tự ra đi. Không hề có sự trợ giúp nào.

Sự ganh tỵ lan truyền đi, trong một xã hội mà trong đó đã từ lâu không còn có ai tin rằng nó là một xã hội của giới trung lưu nữa. Thảm họa của 11 tháng Ba không chỉ để lại Minamisoma bị vỡ tan ra thành những vùng đất.

“Thảm họa này cũng đã phá vỡ chúng tôi ra”, nhà phê bình văn hóa Hiroki Azuma sinh năm 1971 nói, và cụ thể hóa: xã hội trước đó đã vỡ ra rồi; không còn tình đoàn kết giữa các thế hệ, trong các cộng đồng, trong giới lao động. Thảm họa này chỉ làm cho những vết nứt đó có thể được nhìn thấy rõ hơn.

Ví dụ như trong thành phố Iwaki, nơi mà một khu dân cư với nhà ở tạm thời được xây lên cho cho tròn một ngàn tám trăm nạn nhân của động đất, sóng thần và tai nạn lò phản ứng, nhà ở của những người tỵ nạn nguyên tử khác biệt rõ ràng với nhà các nạn nhân của thiên tai. Những người này thì được đưa vào sống trong các dãy nhà buồn tẻ giống như container, còn cho những người kia thì lại là các ngôi nhà gỗ xinh xắn theo kiểu nhà cottage. Rằng sự tiện nghi ở bên trong những ngôi nhà gỗ không được cách nhiệt đó, trong những ngôi nhà ngột ngạt về mùa Hè và lạnh như băng vào mùa Đông, cũng không tốt hơn trong các container là bao nhiêu, việc này thì không làm thay đổi được gì nhiều ở các quyết định đã được đưa ra, những quyết định đã tạo nên sự ganh tỵ.

Japan AP Poll

Sau thảm họa, quy định về những vùng đặc biệt với chỉ thị không được phép ra khỏi nhà đã dẫn tới việc, rằng tin đồn Minamisoma là vùng bị nhiễm phóng xạ nặng và nguy hiểm đã lan truyền đi một cách nhanh chóng, và không có sự giúp đỡ nào từ bên ngoài đã tới đây, không có nhà báo nào dám tới để tường thuật về nơi này, theo thị trưởng Katsunobu Sakurai. Và vì thế mà sau 3/11, thành phố đã bị cắt tiếp tế, lúc ban đầu không có nước uống, lương thực thực phẩm và xăng ở Minamisoma. Ông không có thông tin cụ thể nào từ chính phủ lẫn từ Tepco về tình hình ở nhà máy điện nguyên tử. Vì vậy mà ông đã sử dụng một phương tiện đặc biệt: vào ngày 24 tháng Ba 2011, ông đã gửi SOS ra thế giới thông qua YouTube và xin hãy giúp đỡ cho thị trấn đang chết của ông (và sau đó đã được Time Magazine bình chọn là một trong số một trăm người có ảnh hưởng nhiều nhất trên thế giới).

Thông điệp YouTube cũng được chính phủ ở Tokyo nghe được. Trợ giúp khẩn cấp đến. Cả từ nước ngoài nữa. Vào ngày 7 tháng Tư 2011, Sakurai trực tuyến trên Youtube thêm một lần nữa và thông báo cho thế giới biết rằng ông không nhận được thông tin nào về nhà máy điện nguyên tử cả.

Katsunobu Sakurai là một con người của hành động. Trong tháng Tám, Minamisoma là thị trấn đầu tiên trong tỉnh đã bắt đầu việc khử nhiễm phóng xạ trên toàn bộ diện tích. Trường học, nhà trẻ, nhà chăm sóc và công viên được làm sạch. Hoàn toàn không có sự giúp đỡ nào cho tư nhân cả, người chủ bốn mươi tuổi của một cửa hàng chén dĩa và hàng lưu niệm, Tori Hisao nói, từ thành phố cũng không. Người dân phải tự có trách nhiệm làm việc đó, theo thông tin từ nhà thị chính.

Người dân không được phép chờ đợi những người khác làm mọi việc cho họ, người thị trưởng nói: “Chúng tôi chỉ có thể thay đổi một cái gì đó khi tất cả tự tham gia vào. Đó là điều mà hiện giờ tôi yêu cầu từ người dân.”

Minamisoma có là một nơi chốn an toàn cho trẻ em không? Người thị trưởng không thể trả lời có cho câu hỏi này: “Chắc chắn là chúng tôi còn chưa trở lại ở mức như trước ngày 11 tháng Ba. Rất đáng tiếc là tôi phải nói như thế”, ông nói. Các chuyên gia cho rằng mức nhiễm phóng xạ không được quá một milisievert trong một năm, để không có hại tới sức khỏe. Ông cố gắng đạt tới điều đó. Và tuy là không có một sự gợi ý được nói ra, ông thêm vào: “Nhưng nếu so sánh với Chernobyl thì thật là cay nghiệt đó. Ở đây hoàn toàn không phải là một nơi chốn như vậy.”

Trong tương lai, người thị trưởng muốn dựa vào năng lượng tái sinh, dựa vào những nhà máy phát điện nhỏ với sinh khối, dựa vào năng lượng mặt trời và năng lượng gió, để không còn phụ thuộc vào năng lượng nguyên tử nữa. Ông không muốn để cho thị trấn của ông chết đi. Có những ý kiến phê phán cho rằng: ông nghĩ trước hết là về việc tái dựng lại thành phố của ông và nghĩ ít hơn về mối nguy hiểm phóng xạ cho con người.

Trong gian phòng họp của ông trong tòa thị chính có treo một tấm quảng cáo với những kỵ sĩ táo bạo của Nomaoi-Matsuri. Lễ hội này, hàng năm được tổ chức ở đây từ 23 tới 25 tháng bảy, là một truyền thống cổ xưa từ thời Samurai và thuộc vào trong số những vật thể văn hóa phi vật chất quan trọng nhất của Nhật. Trong tháng bảy 2011, tất cả mọi sức lực đã được liên kết lại với nhau để cho nó có thể diễn ra. Như là một dấu hiệu mạnh mẽ của sự sống: Chúng tôi không bỏ cuộc!

Không phải là một người mơ mộng phi hiện thực

Một cuộc trao đổi hết sức thực với người kể chuyện Haruki Murakami

Haruki Murakami không phải là người gây tít trên báo qua những lần xuất hiện công khai. Còn ngược lại là đàng khác: ông tránh giới tryền thông, nhất là truyền thông Nhật. Không có phỏng vấn, cả trên báo lẫn trong tạp chí, cả ở truyền hình lẫn tại phát thanh. Không có những phát biểu về chính trị. Murakami thường nói qua những quyển sách đầy bí mật và thường là siêu thực của ông. Ông muốn như vậy. Phải là một tình thế khác thường, khi ông cố tình quyết định phát biểu công khai ý kiến của mình. Như trong tháng Hai 2009, khi ông nhận Giải Jerusalem cho Văn học ở Israel và phê phán chính sách đối với người Palestina của Israel. Cũng như trong tháng Sáu 2011, khi ông được trao giải thưởng International Premi Catalunya ở Barcelona và trong bài diễn văn nhận giải thưởng, “như là một người mơ mộng phi hiện thực”, đã lên án chính sách nguyên tử của đất nước ông và sự tham lam lợi nhuận của công ty điều hành nhà máy điện nguyên tử Fukushima. (Ông đã trao tặng số tiền thưởng trị giá tám mươi ngàn euro cho hội Hồng Thập tự Nhật để tái xây dựng những vùng bị sóng thần tàn phá.)

Haruki Murakami
Haruki Murakami

Cả cuộc trao đổi của chúng tôi vào cuối mùa Thu 2011 cũng diễn ra trong một tình trạng ngoại lệ như thế. Haruki Murakami, hiện giờ là Visiting Writer in Residence ở Đại học Hawaii, chỉ ở Tokyo trong một thời gian ngắn, cho tôi một khung thời gian và tự dùng cơ hội này để nói lên một vài điều từ những gì mà ông hiện giờ đang suy nghĩ về nước Nhật.

Diễn đạt thông điệp chính trị đơn giản không phải là việc của ông, ông nói vào một lúc nào đó trong cuộc phỏng vấn, cái giống như một câu chuyện giữa hai con người có cùng ý kiến nhiều hơn. Và nhấn mạnh, rằng bình thường thì ông không phát biểu về chính trị, vì công việc của ông là viết. Chúng tôi cũng nói về việc đó đầu tiên, về công việc cho quyển tiểu thuyết đồ sộ “1Q84” của ông mà lần xuất bản bằng tiếng nước ngoài trong mùa Thu 2011 đang đạt những kỷ lục bán trên toàn thế giới.

Khi viết, Murakami nói, thì ông giống như đang mơ. Ông không có kế hoạch trước, không phác thảo, không ấn định trước các nam nữ nhân vật, không điều tra. Câu chuyện phát triển dần dần từ cảnh đầu tiên, cũng như các nhân vật cứ như tự xuất hiện trong lúc viết. Khi bắt đầu viết, ông không biết câu chuyện sẽ ra sao. Và điều này thì cũng tốt thôi, vì như thế thì chính ông cũng sẽ không thấy nhàm chán trong lúc viết, và ông có thể thưởng thức được quá trình đó, như thể ông là một trong số các độc giả của ông. “I just follow the story”, ông nói tiếng Anh thêm vào. Ông đã viết “1Q84” ba năm trời, ba phần của nó trong bản chuyển ngữ sang tiếng Đức của Ursula Gräfe chiếm tròn một ngàn sáu trăm trang. Viết một quyển tiểu thuyết đồ sộ như vậy là cực nhọc, cả về thể xác nữa, và cần nhiều năng lượng, con người sáu mươi hai tuổi nói, người mà từ nhiều năm nay đã tiến hành một chương trình luyện tập với chạy bộ và bơi lội để lấy lại cân bằng. Nhiều người có thể sẽ cười to: là nhà văn thì người ta không chạy bộ, ở Nhật. Nhưng ông thấy làm điều đó là thành thật, và có một gương mặt nghiêm trang, như phần lớn thời gian. Quyển tiểu thuyết này đã làm cho ông mệt mỏi. Theo ý nghĩa: khi công việc chấm dứt, ông có cảm giác như đã viết ra tất cả các ý tưởng từ trong người. Murakami nói, người trông vẫn còn trẻ trung, lúc đang ngồi đó trong gian phòng làm việc nhỏ, đơn sơ của ông trong một của những khu phố đắt tiền nhất ở Tokyo, mặc quần jean và áo sweatshirt và giày đi trong nhà. Ông trông có vẻ trẻ trung, nhưng tuy vậy, khoảng thời gian kể từ lúc chúng tôi gặp nhau lần cuối trước đây vài năm cũng không đi qua mà hoàn toàn không để lại dấu vết gì. Sau “1Q84” ông đã tự thưởng cho mình một thời gian nghỉ ngơi tương đối dài mà trong đó ông “chỉ” làm việc dịch thuật và viết những bài văn, tiểu luận ngắn. Và bài diễn văn lúc nhận giải thưởng Premi Catalunya, ví dụ vậy.

Đó là điểm nối kết. “Sau 3/11, nước Nhật đã đi đến một ngã ba đường”, Haruki Murakami nói, nhưng cả ông cũng không nhìn thấy thay đổi lớn trong xã hội. “Cũng như phần lớn các nghệ sĩ và trí thức, và phần lớn người dân, tôi muốn có một sự thay đổi. Nhưng không có chính trị gia nào nắm lấy những ý tưởng đó. Tôi không hiểu điều đó.” Chính phủ không có kế hoạch, còn tệ hại hơn thế nữa, không có ai nhận trách nhiệm cho thảm họa nguyên tử này: “Các manager hàng đầu của Tepco, các giám đốc, sếp hãng, lẽ ra là phải vào tù. Nhưng công tố không khởi tố. Tôi thấy điều đó là rất kỳ lạ.” Đó là một trong ba vấn đề lớn nhất mà ông nhìn thấy trong nước Nhật ngày nay: không có ai nhận trách nhiệm, không có trưng cầu dân ý ở Nhật Bản, và không có đảng xanh.

Thật sự là trong hệ thống chính trị của Nhật Bản không có những điều khoản cho trưng cầu dân ý quốc gia. Cả trên bình diện địa phương, phương tiện của dân chủ trực tiếp này cũng không rõ nét. Khi một thỉnh nguyện trưng cầu dân ý được ít nhất là một phần năm mươi những người có quyền bỏ phiếu ủng hộ, thì thị trưởng hay tỉnh trưởng có nhiệm vụ phải chuyển thỉnh nguyện này sang hội đồng địa phương. Nhưng nếu hội đồng này không ủng hộ thì cuộc trưng cầu dân ý sẽ không được tiến hành. Và ngay khi cuộc trưng cầu dân ý được tiến hành thì kết quả của nó cũng không mang tính bắt buộc.

Tháng Mười Hai 2011, nhiều nhóm người dân trong các thành phố Tokyo và Osaka, những người là cổ đông của các tập đoàn điện lực Tepco hoặc Kepco, cũng như trong tỉnh Shizuoka (nơi có nhà máy điện nguyên tử Hamaoka), đã thu thập chữ ký để tổ chức trưng cầu dân ý ở địa phương về chính sách nguyên tử.

Nếu như ở Nhật bản có khả năng, như một phong trào dân sự yêu cầu, để cho người dân biểu quyết trên bình diện quốc gia, thì một đa số sẽ chống lại năng lực nguyên tử, Murakami tin chắc như vậy: “Nhưng vì chúng tôi không có điều đó nên người dân không thể biểu lộ ý muốn của họ được. Họ không có quyền đấu tranh chống lại các chính trị gia hiện nay!” Các đảng phái chính trị hiện nay không tạo cho ông, một người muốn từ bỏ hoàn toàn năng lượng nguyên tử, một khả năng bỏ phiếu. Chỉ có Đảng Cộng sản Nhật Bản là tuyên bố ủng hộ việc từ bỏ, đảng mà đối với nhiều người thì không thể bỏ phiếu cho được vì những lý do về ý thức hệ. (Đầu tháng Giêng 2012 Đảng Kizuna mới thành lập sẽ đính mục đích này lên ngọn cờ của họ.) Việc chưa thành lập được một đảng xanh là điều khiến cho Murakami ngạc nhiên nhiều nhất. “Sự thiếu thốn một đảng xanh có lẽ cho thấy rằng hệ thống của chúng tôi có khuyết điểm!”

Haruki Murakami ở Barcelona
Haruki Murakami ở Barcelona

Từ bỏ năng lượng nguyên tử là có thể làm được, ông tin chắc như vậy, không chỉ vì nước Nhật có khả năng về mặt công nghệ. Mà cũng vì một “bản tính quốc gia” của người Nhật: “Khi có một mục tiêu quốc gia được đưa ra thì tất cả mọi người sẽ cố gắng để đạt tới nó. Một khi đã quyết định điều gì đó, thì tất cả mọi người đều hoàn toàn ủng hộ nó. Nếu như việc từ bỏ năng lượng nguyên tử được quyết định, thì chắc chắn là tất cả mọi người sẽ cùng tham gia hết sức mình và cũng sẽ sẵn sàng hạn chế sự tiêu thụ năng lượng của mình. Nhưng ngày nay không có ai định nghĩa một mục đích như vậy cả.”

Người Nhật chúng tôi rất giỏi chịu đựng. Chúng tôi không tài giỏi trong việc bộc lộ cảm xúc của chúng tôi, Haruki Marakami nói, theo ý trong bài diễn văn ở Barcelona của ông. Nhưng lần này, khi xảy ra những sai lầm trầm trọng như vậy, những cái là nguyên do cho việc hơn một trăm ngàn người phải rời bỏ đất đai của họ và phải xây dựng một cuộc sống hoàn toàn mới, lần này thì chúng ta cần phải tức giận. Lần này thì người Nhật rồi cũng sẽ thật sự tức giận, ông tin chắc như vậy trong tháng Sáu 2011, ba tháng sau 3/11. Nhưng đồng thời: Không phải đó chính là người Nhật hay sao, những người cho phép một hệ thống tàn phá như năng lượng nguyên tử vào trong đất nước riêng của họ?

Câu hỏi của tất cả các câu hỏi, tại sao lại chính đất nước đã trải qua sự đau thương thật to lớn của những quả bom nguyên tử lại dựa vào năng lượng nguyên tử – một câu đố, không chỉ cho Murakami, một câu đố cho nhiều người đã nhận thức được sự mâu thuẫn đó chậm nhất là sau tai nạn lò phản ứng ở Fukushima. Sự phân chia giữa “vũ khí hạt nhân xấu” và “năng lượng nguyên tử tốt”, cái mà người dân đã nhập tâm cho tới tận ngôn ngữ. (Một ngày nào đó, khi tôi lưu ý các sinh viên của tôi trong lớp học về việc này, họ đã mở mắt ra thật to, như thể họ lần đầu tiên nghe được vể việc này.)

Trong cuộc trao đổi của chúng tôi, Murakami nhắc tới một ví dụ xuất phát từ văn hóa phổ thông Nhật của những năm năm mươi, tới tập truyện manga “Tetsuwan Atomu” mà trong đó năng lượng nguyên tử được đề cao. “Tetsuwan Atomu” (Atomic Boy hay Astro Boy), dịch từng từ: “Nguyên tử tay sắt”, là một em trai nhỏ bé với những khả năng của một siêu anh hùng, những cái mà em lấy ra được từ năng lượng nguyên tử. Với người anh hùng này, hình tượng tốt đẹp của năng lượng nguyên tử đã thắng thế trong người dân.

Luôn luôn ngược lại với vũ khí nguyên tử mà Hiến pháp Nhật cấm chế tạo, sở hữu hay đóng quân với chúng. Điều đó là đạo đức giả, Murakami quở trách, vì nói chung thì người ta biết rằng quân đội Mỹ có vũ khí nguyên tử trong các căn cứ quân sự của họ ở Nhật Bản, nhưng ai cũng làm như không hề biết gì về việc đó. Điều 9 của Hiến pháp, “điều khoản hòa bình”, qua đó đã bị đào rỗng từ lâu rồi. Tất cả mọi người đều biết điều đó.

Cô trợ lý của Murakami đã cho tôi thời gian là một giờ đồng hồ cho cuộc gặp. Chúng tôi nói chuyện và thời gian trôi qua nhanh như chớp.

Ông, hẳn là nhà văn nổi tiếng nhất và thành công nhất của đất nước ông, có cảm nhận được một trách nhiệm đặc biệt hay không, tham gia thay đổi nước Nhật, tôi hỏi ông, và Murakami gật đầu: Vì vậy mà ông nói bây giờ ở đây, cũng vì vậy mà có bài diễn văn ở Barcelona. Có phải ông cũng cảm nhận được trách nhiệm này vì ông nguyên là một người đại diện cho thế hệ [chống đối của năm] sáu mươi tám hay không? Murakami gật đầu thêm một lần nữa và bắt đầu một lời giải thích dài: “Chúng tôi trong lứa tuổi mười tám, mười chín hay hai mươi thì rất lý tưởng. Và cả tôi cũng đã tin rằng thế giới sẽ dần dần tốt lên, việc mà chúng tôi cố gắng vì nó. Điều đó rất ngây thơ, thời đó. Rồi có nhiều việc xảy ra, và tôi không còn tin vào điều đó nữa. Nhưng những hồi tưởng mang tính cảm xúc về lý tưởng đó thì vẫn còn lại. Phần lớn người trẻ tuổi ngày nay không còn có lý tưởng đó nữa, tôi tin là vậy. Ít nhất thì không có một phong trào lớn. Thế hệ của chúng tôi đã có sự sùng kính, vì lý tưởng đó đã từng có lần tồn tại. Kể từ lúc đó, hừm, đã qua bốn mươi năm rồi, và tôi tự hỏi mình, liệu một thời như thế có quay trở lại hay không. Với một lý tưởng tương tự như vậy. Liệu điều đó có thành công hay không? Tôi không biết.”

Thế nào đi chăng nữa thì ông cảm thấy tốt, Murakami nói, và rồi từ một lý do nào đó mà cả hai chúng tôi đều bất chợt bật cười, nếu như một phong trào mới như vậy diễn ra không mang nhiều tính bạo lực như thời đó, mà yên lặng hơn, như thế nào đó.

Một giờ đồng hồ đó đã qua gần hết rồi. Và Haruki Murakami bất chợt khép lại. Bây giờ thì ông thật sự là không thể nói nhiều hơn được nữa. Những gì ông muốn nói thì ông đã nói ra rồi. Không có thêm thông điệp. Không có trả lời cho câu hỏi người ở nước ngoài có thể làm gì để giúp đỡ nước Nhật. Ông là nhà văn. Nghề nghiệp của ông là viết.

Máy thu âm đã được tắt đi. Haruki Murakami từ giã nhẹ nhàng và thân thiện và còn kể về một lần viếng thăm Wien. Về ông bạn Seiji Ozawa của ông và quyển sách mà ông đã viết về ông ấy, đã được xuất bản vào ngày chúng tôi gặp nhau. Ông rất thích xem hát opera ở Wien.

Ở Fukushima không còn có đậu mọc lên trời nữa

Về việc tự khử nhiễm phóng xạ của ngôi nhà đậu khổng lồ và kết cuộc của ngôi nhà trẻ Waldorf trong thành phố Fukushima

Soramame no iie – nhà đậu khổng lổ – Sadako Monma đã gọi ngôi nhà trẻ của cô trong thành phố Fukushima như thế. Đó là, chẳng bao lâu nữa thì người ta phải nói đó đã là, một nhà trẻ đặc biệt: “Các em cần phải có cảm giác được che chở, như trong bụng mẹ. Chúng cần phải nhận được sự ấm áp, có được sự thích thú, thưởng thức mùi vị của các vật.” Đó là một nhà trẻ Waldorf, theo lý thuyết của nhà nhân trí học người Áo Rudolf Steiner, nhà trẻ mà bà Monma đã thành lập ở đây năm 1997.

Đứa bé nào ở Nhật cũng đều biết câu chuyện của soramame. Ai trồng cây đậu khổng lồ đều có thể nhìn thấy chúng mọc lên trời. Sora là bầu trời, và mame là đậu. Nước Nhật không chỉ là một nền văn hóa lúa nước, nước Nhật cũng là một nền văn hóa đậu. Quyển từ điển Nhật–Đức dịch soramame thành “đậu lợn”, nhưng không có soramame nào sẽ cảm thấy dễ chịu khi là “đậu lợn”. Những cây đậu mọc lên trời không chỉ rất ngon mà còn rất thích chạy chơi khắp nơi như là trẻ em đậu. Ít nhất là trên các hình vẽ.

Sadako Monma
Sadako Monma

Câu chuyện của những đứa bé xin lỗi đất vì sự ô nhiễm đã mang tôi tới đây, tới soramame no iie và tới với Sadako Monma. Câu chuyện ngắn của những đứa bé buồn rầu mà đối với chúng không khí và nước và đất và côn trùng và bông hoa là tất cả, nhưng không còn được phép đi ra ngoài trời. Câu chuyện của những người trưởng thành, tự cầm lấy xẻng để dọn và chôn “bụi vô hình”, như câu chuyện kể. “Bụi vô hình”, đó là đất bị nhiễm phóng xạ, cái mà những gì rơi xuống từ nhà máy điện nguyên tử đã để lại.

Đó là một quyển sách hình, nói về “ánh sáng của hy vọng” và là quyển sách mà các cụ từ “thông điệp của những người công dân đang lo lắng” ở Kasumigaseki đã trân trọng đưa cho tôi.

Và bây giờ thì những đứa bé đậu khổng lồ đang nhảy múa xung quanh tôi. Chúng nắm tay nhau và tạo thành một hàng đôi dài. Chúng có những gương mặt vui tươi và tất cả đều mang nón hay mũ lưỡi trai. Chúng được treo trên một bức tường trong nhà trẻ, được cắt ra từ giấy nhiều màu.

Đó là một ngôi nhà gỗ cao, đơn sơ, gồm một gian phòng lớn. Ở ngoài là cái sân chơi lớn, trên cùng mảnh đất đó là nhà ở của bà Monma và nhà của cha mẹ bà. Trong vườn của bà, bên cạnh những cây thông được cắt xén, là một cây hồng với trái màu cam rực rỡ của nó.

Một ngày trước khi tôi lên đường bà đã lo lắng gọi điện cho tôi, bà nói chung là không nói được tiếng nước ngoài nào cả, và ngoài ra thì rất đáng tiếc là bà phải báo cho tôi biết, rằng đúng vào ngày chủ nhật mà tôi đến thăm thì người ta lại tổ chức nướng thịt cho láng giềng ở sân trước nhà bà, điều này có thể gây phiền hà cho tôi. Bà nói “barbecue”, nhưng đó là một picnic đặc trưng của Nhật, một vài người lớn tuổi vui vẻ ngồi xuống một tấm bạt trải trên mặt đất và ăn và uống và nói và cười.

Chúng tôi ngồi trong ngôi nhà trẻ trống vắng, gian phòng lạnh đi liên tục kể từ khi cái lò dầu đã bị tắt đi, cạnh một cái bàn thấp và nhỏ, cả hai chúng tôi trên những cái ghế đẩu nhỏ, vì, bà Monma tin như vậy, dù thế nào đi chăng nữa thì đối với một người từ Phương Tây, như thế vẫn còn dễ chịu hơn là ngồi xuống đất. Nằm ở trước mặt tôi là danh thiếp của Sadako Monam, hoàn toàn không đơn giản và kín đáo nhưng thường lệ ở tại các danh thiếp của người Nhật. Tấm danh thiếp này sặc sỡ, với nhiều màu xanh chói lọi và một soramame đã mọc vượt qua nhà lên trời, và những đứa bé đậu vui tươi nhảy nhót quanh những cái lá khổng lồ.

Sadako Monma nói về những con hào trong xã hội, những cái mà cơn thảm họa này đã giật toạc ra. Về việc, rằng trong thành phố này bây giờ tất cả đều xoay quanh câu hỏi: ai đi, ai ở. Rằng qua đó bà có những tình bạn thân thiết đã tan vỡ. Những vết nứt chạy xuyên qua nhiều gia đình. Cộng đồng tan rã ra. Và việc đó gây đau đớn cho tới đâu. Còn khó có thể chịu đựng hơn là nỗi sợ hãi bị nhiễm phóng xạ.

Sadako Monma và các nữ nhân viên của bà đã có thể  đối phó được với cơn sốc của các cháu bé sau trận động đất. Họ đã làm tất cả để các cháu không còn sợ nữa, Sadako Monma nói. Nhưng vào ngày 15 tháng Ba, mây mưa kéo tới từ nhà máy điện nguyên tử bị tai nạn Fukushima, cái nằm cách nhà trẻ sáu mươi hai kilômét, đi vào nội địa, hướng Bắc. Mây mang những phần tử phóng xạ đi theo chúng và cũng rơi xuống quận Watari, nơi có ngôi nhà đậu khổng lồ. Còn có. Ở lại đó là một vùng đất bị ô nhiễm phóng xạ, một vùng đất không còn cho phép trẻ em chơi đùa ở ngoài trời, đi đến sông hay đến núi với các em. Chính phủ và Tepco đã cố làm cho họ tin, rằng bụi phóng xạ, cách xa trung tâm của vụ nổ, phân bố đều đặn. Mãi nhiều tuần sau đó, họ, những con người không chuyên, mới biết được từ những nguồn khác, rằng sự lan truyền phóng xạ phụ thuộc vào hướng gió và bụi phóng xạ rơi xuống tập trung đặc biệt ở một vài nơi. Như ở Watari, cái tạo nên một thung lũng, giữa núi Bentenyama và sông Abukuma. Trong tháng Tám 2011, có những trị tới 5,4 microsievert cho mỗi một giờ đã được đo ở đây. (Mức nhiễm phóng xạ tối đa cho phép nằm ở một ngàn microsiever hay một milisievert một năm.) Đặc biệt Caesium bám lại rất lâu.

Đến nhà trẻ bây giờ chỉ còn chín em. Trước đây là hai mươi ba. Phần còn lại đã chạy tỵ nạn với gia đình. Ở những nơi an toàn, ngoài tỉnh, thế nào đi nữa thì cũng ngoài thành phố Fukushima. Làn sóng di cư đã bắt đầu trong toàn tỉnh Fukushima thật là lớn. Cho tới cuối tháng Mười Một đã có sáu mươi ngàn người rời tỉnh.

Nhiều cha mẹ gửi con tới nhà trẻ Waldorf đã hoạt động tích cực trong phong trào chống nguyên tử ngay từ trước tai nạn lò phản ứng và đã biết tính nguy hiểm của các nhà máy điện nguyên tử, Sadako Monma thuật lại. Chính các cha mẹ này đã cố tình chọn một nơi như soramame noo iie cho con cái của họ, vì một cách sống tự nhiên được quảng bá ở đây. Cha mẹ như các cha mẹ này thuộc trong số những người rời thành phố Fukushima đầu tiên.

Sadako Monma và ngôi nhà trẻ bị nhiễm phóng xạ. Hình: Greenpeace
Sadako Monma và ngôi nhà trẻ bị nhiễm phóng xạ. Hình: Greenpeace

Makoto Ishiyama cũng thuộc trong số những người chạy tỵ nạn, nghệ sĩ, thiết kế đồ họa, thầy giáo và chuyên gia về giáo dục trẻ em, người đã vẽ và viết quyển sách nhỏ đó. Ông là người mà thật ra tôi muốn gặp, để trao đổi với ông về quyển sách. Nhưng hiện nay thì ông sống ở tỉnh Hokkaido cực Bắc của Nhật. Ishiyama đã rời bỏ chúng, soramame no iie và Fukushima nơi sinh của ông, bà Monma thuật lại, vì ông muốn có con trong tương lai. Rủi ro hư hỏng gen là quá lớn đối với ông. Ishiyama sinh năm 1979.

Trong tháng Năm 2011, khi vẫn còn chưa nhìn thấy được sự giúp đỡ nào từ các cơ quan nhà nước và thông tin ngày một ít đi, Sadako Monma, một vài cha mẹ, bạn bè, thầy giáo và người tình nguyện đã tự giúp mình và đã khử nhiễm phóng xạ hàng trăm mét vuông của sân chơi, được giúp đỡ tận tình bởi Greenpeace và nhóm “Mạng lưới Fukushima bảo vệ trẻ em trước phóng xạ”. Makato Ishiyama đã làm quyển sách nhỏ “Chúng ta hãy bắt đầu – Ánh sáng của hy vọng”.

Trợ giúp và đoàn kết đến với ngôi nhà trẻ nhỏ, cả từ nước ngoài nữa. Các truyền thông như New York Times, Times, và đài truyền hình CBS đã lo lắng hỏi thăm tình hình, Sadako Monma kể. Cô giáo và thầy giáo từ những trường Waldorf Nhật khác đã đến đây, để hát cùng với những đứa bé và kể chuyện cho các cháu nghe. Những người khác gửi hàng viện trợ, origami, hình vẽ.

“Ánh sáng của hy vọng” là một ánh sáng tạm thời. Chỉ làm sạch “bụi vô hình” cho sân chơi thôi thì không đủ. Cả những nơi khác ở ngoài trời cũng vẫn còn không thể được sử dụng cho trẻ em, Sadako Monma nói. Không có những cuộc đi dạo vào rừng. Không có những chuyến đi thám hiểm cạnh sông. Và trước sau thì cũng không có hoa quả hay rau cải từ tỉnh Fukushima.

Trong tháng Bảy và tháng Tám 2011, thành phố Fukushima khử nhiễm phóng xạ quận Watari và một quận nữa, quận mà người ta đã ghi nhận được những trị phóng xạ cao tới mức gây lo ngại. Nhưng lúc đo lại sau khi công việc chấm dứt thì tại một vài điểm, ô nhiễm phóng xạ lại còn cao hơn cả trước đó. Chính quyền thành phố phải thừa nhận, rằng độ phóng xạ ở gần núi và ở những nơi nước và đất của những ngọn đồi bị rửa xuống, đã cao lên thay vì giảm đi. Đặc biệt nghiêm trọng là các khu rừng. Mỗi một trận mưa mang theo nó một làn sóng lá cây và đất bị ô nhiễm phóng xạ. “Khử phóng xạ”, điều đó ở Nhật Bản ngày nay có nghĩa cụ thể là: rửa, mang đất và những vật liệu đã bị ô nhiễm đi, quấn trong những tấm bạt và tạm thời chôn xuống đất, cho tới khi tìm được một nơi lưu trữ cuối.

Làm một lần công việc rửa sạch như thế chưa phải là xong, điều đó thì các cơ quan ở địa phương cũng biết và cũng ra quân vì lợi ích riêng của họ – để cuối cùng đừng đứng đó với một thành phố không người. Trong vòng hai mươi năm tới đây, chính quyền thành phố muốn khử nhiễm phóng xạ cho tất cả các cánh rừng trong vùng họ có thẩm quyền. Và cho tới 2013, chính phủ Nhật Bản cũng muốn khử nhiễm phóng xạ cho cả những vùng trong tỉnh Fukushima cũng như tại những khu vực bị nhiễm phóng xạ trong vùng Tohoku và vùng quanh Tokyo mà trong đó mức ô nhiễm nằm dưới hai mươi milisievert hay hai mươi ngàn microsievert một năm, trị giới hạn của chính phủ Nhật để di tản một vùng có người ở.

Không phải tất cả mọi người trong Fukushima đều muốn chịu đựng lâu đến như vậy. Hàng ngàn người đã dọn đi, và còn nhiều người sẽ làm việc đó, bà Monma tin chắc như vậy, và nhiều người cho là bà nói đúng.

Đó là cái xé nát trái tim ra. Mất người. Và tự mình rời bỏ những con người đáng yêu, Sadako Monma. Vì cả bà cũng đã quyết định ra đi,

“Tôi luôn phải nói với những đứa bé: Đừng cầm lấy cái đó! Không, các em không được phép chơi ở ngoài vườn! Các em không được phép làm điều này và điều kia! Còn như thế bao lâu nữa?” Đến một lúc nào đó, Sadako Monma nói, bà cũng phải chấp nhận, rằng tình trạng này là không tốt cho sự phát triển cả về thân thể lẫn tinh thần của các em. Và vì vậy. “Nếu như tôi có thể đưa ra cuộc sống của chính tôi, để làm cho nơi chốn này trở nên an toàn cho các em … Nhưng tôi không thể. Và vì vậy mà không còn nơi chốn ở lại cho tôi, với soramame no iie.

Và rồi bà kể về núi Azuma-Kofuji ở tỉnh Fukushima, cách đây tròn hai mươi kilômét. Một ngọn núi lửa, trông rất giống như ngọn núi thiên Fuji, vì vậy mà nó cũng còn được gọi là “Fuji nhỏ”. Hàng năm vào mùa Xuân có một con thỏ trắng xuất hiện ở trên núi Azuma. Rồi những người nông dân biết là đã đến lúc gieo hạt. Người ta kể lại như vậy. Băng tuyết đang tan chảy, trượt xuống từ sườn núi, giống như một con thỏ trắng.

Họ sẽ dời ngôi nhà đậu khổng lồ của họ đến đó, ở chân của “Fuji nhỏ” này, Sadako Monma kể. Ở đó, mức ô nhiễm phóng xạ chỉ nằm ở 0,12 microsievert một giờ, không so sánh được với ở đây.

Bà sẽ cảm thấy đau đớn vì lần chuyển đi này, cả về mặt tài chính nữa. Bà dự tính hai mươi ngàn euro chỉ riêng cho việc tháo dỡ và lắp mới lại soramame no iie. Ngôi nhà cũ thật đẹp mà bà đang sống ở trong đó, với ngôi vườn Nhật, sẽ ở lại đây. Cả bạn bè, láng giềng và cộng đồng cũng sẽ ở lại đây. Có lẽ một vài đứa bé ở lại đây cũng sẽ tiếp tục đến với ngôi nhà đậu khổng lồ của các em, ngay khi đường đi tới là một đoạn đường dài, có ai biết chính xác điều đó được đâu, thế nào đi nữa thì rủi ro tài chính vẫn ở phía bà, Bà phải chấp nhận điều đó, bà tự nguyện ra đi kia mà. Các cơ quan nhà nước đã tìm được một diễn đạt đẹp cho việc đó: “chạy tỵ nạn tự chịu trách nhiệm”.

Judith Brandner

Phan Ba dịch

Các bạn có thể tải về không mất tiền quyển sách này tại đây:

One thought on “Ngoài Tầm Kiểm Soát

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s