Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 28)

Nói tiếp về chuyện đi Liên Xô. Ra đến Hà Nội có người bạn bảo tôi: thấy ông ở trong ấy viết lách cũng được, vậy mà làm sao bị đi đày ở Liên Xô? Thì ra, ở Hà Nội thời điểm đó ai đi công tác Liên Xô coi như bị “đi đày”. Người đi Liên Xô về cho hay, bất cứ mua cái gì cũng phải xếp hàng rồng rắn. Thiếu thốn đủ thứ. Trước đây đi Liên Xô là để mua quạt tai voi, nồi áp suất, bàn là… (những thứ như người Hà Nội nói là “dùng cả đời không hỏng”) để dùng, để bán lấy lời. Bây giờ ngược lại, ai đi thì mang quần xịp (quần lót), quần jean Thái Lan, đồng hồ điện tử… sang Liên Xô bán. Người ta lèn những thứ đó trong va li mỗi khi lên đường. Tôi lại nghĩ khác. Tôi nghĩ đến lời chủ tịch Sáu Bình ở Tiền Giang “đồng chí đã đi nhiều nước”! Vậy tôi phải đi Liên Xô là nước thứ hai sau Campuchia để nâng con số 1 lên thành số nhiều, là số 2. Hơn nữa, tôi đâu có đi buôn. Tôi muốn đi để được nhìn tận mắt “thành trì của hòa  bình thế giới” đang lung lay. Thời điểm tôi đi là tháng 3/1991. Chỉ cuối năm đó là Liên Xô tan rã.

Lời Ai Điếu
Lời Ai Điếu

Tuy vậy mà cũng có vẻ quan trọng. Tôi và anh Trần Kiên, trưởng phòng phụ trách chương trình phát thanh nông thôn của Đài TNVN phải lên gặp phó tổng biên tập Mai Luân để nghe ông dặn dò trước khi đi. Ông nói nhiều điều, trong đó có vụ cô I-ri-na, trưởng ban Việt ngữ của Đài phát thanh đối ngoại Mát-xcơ-va, đang “chống Việt Nam” phải cảnh giác(!) Ông càng nói, trưởng đoàn Trần Kiêm càng ghi và càng ghi ông càng nói… sốt ruột quá, tôi lấy cái mũ phớt đội lên đầu. Thấy thế ông Mai Luân nói: thôi, thằng Khải nó không muốn nghe, tao cũng đéo nói nữa. Chúng mày về đi. Ông Luân là người hiền hậu, có chuyên môn, đi từ phóng viên lên lãnh đạo cấp cao của Đài nên rất thông cảm với anh em phóng viên… Ông văng tục như thế là để thể hiện việc xuề xòa của mình chứ không có ác ý gì. Biết tính ông nên tôi mới dám đội mũ lên đầu để… chấm dứt cuộc họp. Vậy mà đến chiều, khi tôi đang ngồi uống trà tại nhà chú em họ tôi ở đường Lý Nam Đế, một cán bộ tổ chức của Đài lại đến gõ cửa hỏi tên tôi, rồi anh ta bảo tôi: sáng mai anh lên Vụ tổ chức để nghe các anh ở tổ chức dặn dò trước lúc lên đường. Tôi “điên” quá và tôi còn lạ gì cái Vụ tổ chức của Đài, toàn mấy ông người dân tộc ở Cao Bằng, Lạng Sơn về làm “cán bộ tổ chức” suốt ngảy ngồi uống trà vặt, còn ông vụ trưởng béo ị thì là vua quan trọng hóa các vấn đề… Tôi mời cậu cán bộ tổ chức vào nhà “uống nước đã”! Tôi nói với cậu ta: cậu về nói với các anh ở Ban tổ chức rằng anh Lê Phú Khải nói năm nay anh ấy đã 50 tuổi rồi. Một thằng đàn ông đã 50 tuổi thì không cần ai dặn dò nó cả, thế thôi. Cậu ta bẽ mặt quá, về ngay. Cô em dâu tôi đang lúi húi dọn dẹp trong buồng nghe thấy tôi nói thế, hoảng quá, chạy ra nói: sao bác lại nói thế, họ không cho đi nữa thì sao? Tôi bảo “nếu không cho đi thì anh lại về ĐBSCL, đi Campuchia vậy”!

Vậy mà lúc đi, cái vali to đùng của tôi cũng xếp kín hàng hóa. ÔngTrịnh, đã làm bộ trưởng đến nhiệm kỳ hai ở bộ Thủy sản, cho tôi 10 chai rượu Lúa mới và 5 cây thuốc vinataba. Lúc đó Gooc-ba-chop đang cấm rượu, nên đem rượu đi tặng bạn là quý nhất. Vợ tôi mua cho tôi đồ trang điểm phụ nữ, phấn son, nước hoa và 10 cái hộp quẹt ga… để tôi tặng nữ nhà báo I-ri-na. Cô em dâu mua cho tôi 10 cái đồng hồ điện tử “để bác bán đi lấy tiền tiêu”… Tôi mua 2 cái lọ hoa sơn mài để tặng Ban Việt ngữ. Đặc biệt, ts nguyễn Tấn Trịnh cỏn viết một bức thư bằng tiếng Nga cho Bộ trưởng Bộ Nghề cá của Liên Xô, giới thiệu tôi và yêu cầu bộ trưởng giúp đỡ tôi khi cần thiết. Phát thanh viên Trần Phương, công tác ở Liên Xô mới về cho tôi 5 rúp. Trần Kiên thì chủ yếu anh ta mang quần xịp, quần jean theo thư dặn của vợ anh ấy đang lao động xuất khẩu ở Liên Xô.

Chúng tôi đi máy bay IL86-350 chỗ ngồi loại lớn của hang Airoflot của Liên Xô. Các cô tiếp viên Nga đẹp như sao trên trời! Sau 3 giờ bay, trạm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là thành phố Calcuta Ấn Độ. Mọi người vào nhà ga sân bay nghỉ ngơi còn tôi vẫn đứng dưới trời nóng như thiêu để quan sát. Sân bay Calcuta nông dân Ấn vào canh tác ở những thửa ruộng sát ngay đường băng bê tông, không có rào cản nào cả. Họ lao động lặng lẽ dưới nắng. Mấy khi được đặt chân đất nước của Ta-go-ro, “Đất nước từng đau như chiếc kèn đồng vùi trong cát bụi”! Nên tôi đi ra tận các thửa ruộng xem họ làm việc. Những nông dân Ấn này gày gò, bé nhỏ, có vẻ họ rất nghèo và gương mặt rất buồn. Trái lại, khi vào trong nhà ga, những nhân viên mặc đồng phục như bảo vệ sân bay, cảnh sát, sĩ quan… tên nào cũng cao to lực lưỡng, oai vệ, râu để cong lên trông rất hãnh tiến. Chỉ cần quan sát vẻ bề ngoài như thế thôi, người ta cũng thấy xã hội Ấn Độ khoảng cách giàu nghèo phân chi đẳng cấp rất rõ nét(!)

Rời Calcuta bay một hồi dài nữa ngang qua nước Ấn Độ, chúng tôi đến sân bay Karachi thuộc Pakistan. tại đây hành khách không được ra khỏi máy bay, ngồi chờ tại chỗ trong khi chờ tiếp nhiên liệu. Từ Karachi, chiếc IL86 bay ngược lên phía Bắc, cho chúng tôi xuống sân bay Tasken, thủ đô của nước cộng hòa U-dơ-bê-ki-xtan. Tasken là một thành phố đẹp nhất của vùng Trung Á thuộc Liên Xô. Các cuộc liên hoan điện ảnh quốc tế do Liên Xô đăng cai đều diễn ra ở Tasken.

Từ trên máy bay nhìn xuống, Tasken rực rỡ trong ánh điện vàng, đó là dấu hiệu của các thành phố ở xứ lạnh. Tôi rét run, cắm đầu chạy vào nhà ga có hệ thống sưởi nóng. Cũng là một nước thuộc vùng Trung á, có cái đuôi “xtan” như Ca-dắc-xtan, Tát-gi-ni-xtan, Ap-ga-ni-xtan, Tuốc-mơ-ni-xtan, Pa-kit-xtan… luôn xáo động vì bạo lực, luôn được phương tiện thông tin thế giới nhắc đến, nhưng cộng hòa U-dơ-bê-ki-xtan chưa thấy ai nhắc đến bao giờ. Những nhân viên ở nhà ga Tasken mà tôi gặp rất đẹp trai, nước da ngăm đen, mặt trái xoan, mũi dọc dừa, hầu hết đều để ria mép… rất phong độ. Phụ nữ thì nhỏ nhắn, xinh đẹp, vui vẻ.

Từ Tasken phải bay 5h nữa mới đến Maxcơva. Lúc đó theo giờ địa phương là 9h tối. Cô I-ri-na đón chúng tôi ở sân bay. Chị nói tiếng Việt hay đến nỗi, các bạn Việt Nam ra đón người nhà, bạn bè qua Mát (tiếng gọi tắt của Maxcơva) đều quay lại nghe. I-ri-na đẹp, mũi cao, mắt biếc xanh, tóc màu hung… Câu đầu tiên chị hỏi: Anh Kiên, anh Khải đi đường có mệt không? Rồi hỏi thăm “anh ba Trần Phương dạo này thế nào, đã có tin vui gì chưa?”. Trần Phương là phát thanh viên giọng Nam Bộ nổi tiếng của Đài tiếng nói Việt Nam, được cử sang đài phát thanh đối ngoại Mátx-cơ-va là phát thanh viên giọng nam cho đài còn Irina là phát thanh vên tiếng Việt giọng nữ. Hai người làm việc với nhau đã 5 năm. Anh Phương mới về nước. Nhưng trong cách hỏi thăm, Irina dùng cụm từ “anh ba Trần Phương” vì anh là dân Nam Bộ, quê ở An Giang. Irina nói tiếng Việt giọng Hà Nội, nói rành rẽ, chính xác, dùng từ rất chuẩn và am tường phong tục Việt Nam. Sở dĩ chị hỏi anh ba “có tin vui gì chưa” vì anh Ba Nam Bộ này chưa có vợ và còn đang “kén”.

Tôi đưa tặng quà của vợ tôi cho Irina ngay trên chuyến xe đi về nhà khách của các chuyên gia nước ngoài làm việc cho Ban đối ngoại Đài Mát. Dẫn chúng tôi lên căn hộ khép kín ở tầng 11 (của một “ốp” 18 tầng). “Ốp” là tiếng Nga gọi nhà chung cư cao tần. Căn hộ nhỏ, chỉ có 1 phòng ngủ chừng hơn 10 m2 và 1 phòng ăn chửng 6 m2. Irina chỉ tay vào 2 cái giường cá nhân kê cách xa nhau ở phòng ngủ, bảo tôi và Trần Kiên: hai anh ở với nhau sướng nhé! Tôi kéo tay Irina ngồi xuống ghế và nói: Em là chuyên gia về Việt Nam mà nói thế à? Anh ngủ với anh Kiên thì làm sao mà “sướng” được. Em đã nghe câu ca dao tục ngữ Việt Nam này bao giờ chưa:

“Đàn ông ngủ với đàn ông, như gậy như gộc như chông như chà

Đàn ông ngủ với đàn bà, như lụa như là, như gấm như nhung”

Irian nghe xong, bất ngờ quá. Chị vội lấy giấy bút ra để ghi ngay câu đó lại. Chị bảo: Anh Khải đọc lại để cho em ghi. Ghi xong chị còn đọc lại, thích thú lắm rồi chúc chúng tôi ngủ ngon trước khi ra về. Thật trớ trêu, vợ Kiên sau khi đón chồng ở sân bay cũng về nhà khách này để nghỉ lại. Vợ chồng họ xa nhau cả năm trời, nay gặp nhau lại phải ngủ chung với một người lạ trong cùng một căn phòng chật hẹp thì thật bất tiện cho cả tôi và họ. Cả đêm đó tôi trằn trọc, phần vì chệch múi giờ (cảm giác đêm không ra đêm, ngày không ra ngày), phần thì vợ chồng Kiên lục xục soạn đồ, soạn hàng và cằn nhằn nhau vì hàng hóa đem sang nhiều, ít! Tôi nằm suy nghĩ, sẽ nhường lại cho vợ chồng bạn căn phòng này, ngay ngày mai tôi sẽ liên hệ với phóng viên ảnh Dương Minh Long để Long đưa tôi sang Trường viết văn, nơi nhà thơ Trần Đăng Khoa đang học ở đó (vì lúc đi, Trần Mạnh Hảo có nhờ tôi đem cho Khoa 2kg mực khô). Tôi sẽ nói và nhờ Khoa cho tôi tá túc nơi cậu (và nằm dưới sàn cũng được). Suy nghĩ mien  man, chợp mắt lúc nào không hay. Lúc tỉnh dậy thấy vợ chồng Kiên đã đi, đem hết hàng hóa theo, có lẽ đi giao hàng cho khách, chỉ để lại đồ dung cá nhân…

Ngày đầu tiên trên nước Nga mênh mông. Từ lầu 11 chung cư tôi nhìn xuống bốn bề thấy một màu trắng bang tuyết bao phủ. Bây giờ mới là tháng Ba, chưa phải mùa bang tan. Tôi thấy nao nao trong lòng bèn lấy ba nén nhang ra đốt. Mùi nhang thêm ngào ngạt căn phòng, tự dưng thấy ấm cúng như đang ở quê nhà… Bỗng có tiếng đập cửa rất mạnh. Một bà bảo vệ già, mập vẻ hốt hoảng chỉ tay vào các cây nhang đang cháy ra hiệu cho tôi dập tắt. Bà ta phát hiện ra mùi lạ, sợ cháy nhà. Tôi xin lỗi bà ta, rồi tạ lỗi bằng cách tặng bà một cái khăn quàng Thái Lan màu đỏ. Thứ khăn quàng mà tôi thấy các bà Liên Xô hay mua ở chợ Mỹ Tho. Bà ta mừng lắm rồi ra hiệu bảo tôi đi ăn sáng. Tôi theo bà xuống một tầng lầu có căn tin của “ốp”. Phòng ăn rộng này lúc đó có nhiều người đang ăn điểm tâm, đủ mọi màu da sắc tộc vì đây là “ốp” của chuyên gia tất cả các nước mà Đài đối ngoại Mátxcơva phát tiếng nước họ. Tôi đưa 1 rúp ra để mua một phần ăn sáng và còn được trả lại mấy đồng cô-pếc bằng đồng mòng dính to chỉ bằng cái cúc áo sơ mi. Đấy là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất của Liên Xô lúc bấy giờ. Đồng rúp thời kỳ này còn cao giá lắm. Một rúp ăn hơn 1 USD. Để bạn đọc dễ hiểu, có thể hình dung, trước 1975 Mỹ giúp ông Thiệu ở miền Nam 1 tỷ đô la để duy trì chiến tranh. Liên Xô giúp cho miền Bắc 800 triệu rúp để “chống Mỹ”! Họ giúp hai miền Việt Nam để đánh nhau (cho họ!). Có lần bộ trưởng N tâm sự với tôi, người ta thấy Việt Nam có “năng khiếu” đánh nhau nên mượn máu mình để đánh nhau. Chí lý quá!

… Tôi được người phục vụ đem cho một đĩa gồm một khúc bánh mì, hai cái xúc xích nhỏ, một quả trứng vịt luộc và một ly café đen nóng khá lớn có sẵn đường dưới đáy ly. Một bữa ăn sáng như thế thật ngon và đủ chất. Uống hết ly café nóng, tôi thấy người khỏe lại.

Tôi về phòng thì đã thấy PTV Văn Khoa dân Sông Bé, làm việc trong Ban tiếng Việt Đài Mát đứng chờ ở trước cửa phòng. Anh bảo với tôi: trưởng ban Irina khen anh lắm. Bọn tôi rất mừng vì như thế có lợi cho các chuyên gia Việt Nam đang làm việc tại đây. Rồi anh bảo tôi dọn đồ đạc lên phòng anh ở lầu 13, trên đó có 2 phòng. Tôi lên đến nơi thì anh giới thiệu chị vợ và đứa con trai 3 tuổi. Vợ Khoa là dân buôn bán lặt vặt ở vỉa hè, phố Bạch Mai. Chị là dân Hà Nội theo chồng sang đây đã 5 năm. Chị trông béo trắn, ăn mặc váy áo lòe loẹt như một bà đầm Nga. Chị nhanh nhẩu, vui tính. Căn hộ Khoa ở là căn hộ làm cho một gia đình Nga đã có con: một phòng ngủ và một phòng khách. Tối đến kéo cái đi-văng ra thành cái giường. Khoa bảo tôi ở phòng đó. Phòng treo quần áo, phòng vệ sinh và nhà bếp ở đối diện phía bên kia, có lối đi ở giữa. Vậy là tôi có thể ở đây cho đến lúc về khỏi phải đi xin ngủ nhờ.

Ngày hôm sau Khoa đưa tôi và Kiên đến Ban tiếng Việt “làm việc”! Lần đầu tiên tôi đi tàu điện ngầm thấy hệ thống giao thông này sang quá. Có ga xuống sâu đến hàng mấy chục mét. Tôi đưa 5 chai lúa mới, 2 cây Vinataba và 2 cái lọ sơn mài bào Kiên thay mặt đoàn Việt Nam tặng các bạn Ban Việt ngữ Đài Mát. Ban khá rộng, có treo một cái bản đồ Việt Nam rất to ngay giữa phòng, tự nhiên tôi thấy gần gũi như ở nhà. Đến cả chị Ta-nhi-a, bố là người Nga, đi lính lê dương cho Pháp, rồi chạy sang theo Việt Minh lấy vợ Bến Tre rồi sinh ra Ta-nhi-a ở Việt Nam, năm 18 tuổi cô mới về Nga vậy mà nói tiếng Việt còn thua I-ri-na. Sau những thủ tục xã giao có tính hình thức, I-ri-na lấy bút ra ghi. Nàng hỏi anh Kiên sang làm việc có yêu cầu những gì? Kiên đưa ra nhiều yêu cầu lắm, nào đi thăm chỗ này, tìm hiểu cái kia… I-ri-na ghi chép rất cẩn thận. Đến lượt tôi, tôi trả lời: chẳng có yêu cầu gì cả. Mọi người ngạc nhiên. I-ri-na hỏi lại, vậy anh Khải không có yêu cầu gì thật à? Tôi trả lời: tôi sang đây được đi máy bay IL 350 chỗ ngồi to đùng, thấy các cô tiếp viên Nga đẹp như sao trên trời. Đến Mát-xcơ-va thấy nhà cao ngất, đường phố thẳng băng, tàu điện ngầm thật hiện đại và sang trọng, thấy được các bạn Nga nói tiếng Việt như thế này thì thỏa mãn yêu cầu rồi còn gì nữa… Thế là mọi người đều cười rất vui vẻ. Lúc về nhà, Khoa bảo với tôi, anh rất khôn. Họ bảo yêu cầu thế thôi chứ biết rõ Việt Nam sang đây đi mua quạt tai voi là chính, còn biết gì mà tìm hiểu… I-ri-na bảo với tôi, chưa thấy tay phóng viên nào sắc sảo như anh! I-ri-na đã đọc được mấy trang cuốn “Đồng Tháp Mười hôm nay” của anh tặng nàng lúc sáng. Cô ta nói rất thích, có tư liệu để nghiên cứu về Nam Bộ Việt Nam, lại do phóng viên của Đài TNVN viết thì càng quý.

Từ lầu 13 căn hộ của Khoa, tôi ngắm nhìn một góc Mát-xcơ-va. Thành phố được quy hoạch rất nghiêm chỉnh. Các khối nhà chung cư thường chỉ cao 20 tầng trở xuống, mỗi ốp cách nhau rất xa, giữa là cây. Mùa này, cây trút hết lá nhưng đến hè, cây ra lộc ra lá thỉ cả Mát-xcơ-va là một rừng cây. Các khối nhà ẩn trong rừng cây. bây giờ đã là cuối đông nên cảnh vật buồn tẻ. Chỉ thấy các con quạ đen đậu trên các cành cây khô. Thỉnh thoảng dưới ghế đá, có những ông già ngồi như tượng trong tuyết rơi, bên cạnh là một chú chó làm bạn. Trẻ con vẫn mặc áo ấm chơi đùa trong băng tuyết, Chúng chơi cầu trượt hay bốc tuyết ném nhau. Tuyết phủ đầy trên mặt đất. Khi nhiệt độ xuống thấp nữa thì đóng băng. Trời khô ráo nhưng rất lạnh vì nhiệt độ đã xuống dưới độ âm. Có thể nói mùa này cả Mát-xcơ-va là một cái tủ cấp đông. Trong nhà vẫn ấm áp, có thể mặc quần áo mỏng. Các khối nhà đều có hệ thống dẫn nước nóng đến từng căn hộ. Các ống nước nóng đó chạy nối chung quanh tường. Cả thành phố có 2 hệ thống dẫn nước. Một hệ thống ống nước sinh hoạt lạnh và một hệ thống dẫn nước nóng để sưởi. Thỉnh thoảng nhiệt độ trong nhà lên cao thì người ta lại hé cửa sổ để cái “tủ cấp đông” khổng lồ bên ngoài phả hơi lạnh vào nhà. Khi ra khỏi nhà phải mặc quần áo, đi giầy, đội mũ, ít nhất phải mất 15-20 phút. Về nhà cởi ra lại mất thời gian như thế. Khi chúng tôi đến Đài phát thanh đối ngoại Mát-xcơ-va làm việc, vào nhà rồi phải cởi quần áo ra, gửi vào một cái ngăn tủ rồi nhận thể gửi quần áo rồi mới lên phòng làm việc. Khoản biên chế nhân viên cho việc này khá lớn. Xứ lạnh phức tạp, khó khăn cho con người tồn tại như thế. Nếu cứ mặc nguyên quần áo đi ngoài trời thì không cựa quậy được khi ngồi trong nhà để làm việc.

(Còn tiếp)

Đọc tất cả những bài đã đăng ở tại trang: Lời Ai Điếu

Đọc bài trước đó: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 27)

Đọc bài tiếp theo: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 29)

 

2 thoughts on “Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 28)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s