Maria đã cứu giúp

Nhìn đường Nhà ga của Altötting thì không thể nhận ra được rằng không phải tôi đến một thành phố nhỏ nào đó của vùng Bayern xưa cũ mà đến một chốn linh thiêng. Thêm một nơi mà lần đầu tiên tôi nhìn thấy. Nhịp độ mà tôi nói điều đó với mình trong những tuần này chứng minh rằng tôi biết đất nước tôi tệ đến mức nào.

Altötting ủng hộ cho nhận thức này bằng một cách mà tôi có nằm mơ cũng không nhìn thấy được, khi tôi đi ngang qua quỹ tín dụng và những cái thông thường khác tiến thẳng đến nhà thờ. Tôi bước vào và những gì mà tôi nhìn thấy ở hành lang bọc theo sân trong đã làm cho tôi ngẹt thở. Một người đàn bà đang nói với Đức Mẹ Đồng Trinh Maria. Không phải như người ta thường thấy những người lặng lẽ cầu nguyện trong nhà thờ. Bà ấy thật sự nói với Bà. Bà thổn thức, khóc lóc, sờ vào Maria đang khoanh tay, khẩn cầu giúp đỡ, ôm lấy Bà và nói chuyện với Bà như với một người bằng xương bằng thịt. Như một đứa bé ôm chặt lấy mẹ và than van và khẩn cầu và muốn Bà cứu giúp và an ủi, ngay bây giờ.

Nhà nguyện Đức Mẹ ở Altöttingen
Nhà nguyện Đức Mẹ ở Altöttingen

Trong tiếng địa phương vùng Bayern, bà to tiếng cầu nguyện kinh Kính Mừng Maria. Kính mừng Maria, đầy ơn phước. Thiên Chúa ở cùng Bà. Bà có phước lạ hơn mọi người nữ và Giêxu con lòng Bà đầy phước lạ. Bà lập đi lập lại không ngừng nghỉ, người run lên vì khóc thổn thức, xúc động và ôm choàng lấy vai của Maria, tay của Maria, ngã vào ngực Bà.

Người con trai đã trưởng thành đứng bên cạnh bà, tay đút túi quần, hoàn toàn bất lực, vụng về và cứng đơ. Tóc của anh ấy dựng lên lởm chởm, anh ấy có một cái trán vồ. Thỉnh thoảng bà lại thoi vào sườn anh, hãy cùng làm và đừng có đứng ngốc nghếc và vô dụng như thế.

Dần dần bà bình tỉnh lại, bà lau nước mắt, quỳ xuống và huých người con trai cùng quỳ xuống. Vẻ ngoài thực dụng trong cuộc sống của bà cũng phù hợp với phong cách của bà: Quần ống túm sẫm màu dưới cái áo khoác sẫm màu, tất trắng sạch sẽ, mũ sẫm màu trên mái tóc bắt đầu bạc. Một người phụ nữ miền quê bình thường, hiểu biết nhưng cũng sùng đạo và cương quyết.

Nếu như tôi nhìn thấy một cảnh như thế ở Berlin, tôi sẽ đoan chắc trước mắt tôi là một người điên, cả thành phố đều biết đến, có lẽ thế, bà điên vì Maria. Có lẽ tôi đã biết bà từ chương trình thời sự của Đài truyền hình Berlin. Cho đến giờ phút này, chỉ trong những đất nước xa xôi tôi mới trải qua cách đi đến Chúa Trời một cách trực tiếp, sùng đạo không gì kiềm chế nỗi như thế.

Ở đâu đó trên đường từ Gujarat về Bombay có một hình dáng hãnh diện, tươi sáng đứng dưới một cây đa cổ thụ có khỉ đang đu đưa trên rễ. Một người phụ nữ già nua gân guốc, tựa nhẹ vào cái liềm hái có cán dài của bà. Cổ tay bà chỉ to như 2 ngón tay cái, làn da quanh mắt nhăn nheo như da voi. Người Rajput từ cái nhìn đầu tiên, thuộc giai cấp chiến binh. Khi tôi hỏi bà rằng bà chờ đợi gì trong cuộc sống, bà nói, và vẻ mặt bà lại càng rạng rỡ hơn, mắt của bà reo mừng: “Hari Bhavan.” Nhà Trời. Bà mong đợi chẳng bao lâu nữa sẽ đi vào Nhà Trời. Bà nói về Người như một cô gái nói về mối tình đầu tiên và duy nhất. Nhưng mà ở đây? Ở đây là Đức kia mà, ở đây không có gì đang reo mừng cả. Đúng vậy, nhưng ở đây là Altötting.

Tôi bước qua Nhà nguyện Đức Mẹ[1], một ngôi nhà thờ nhỏ sơn trắng với hai tháp nhọn màu xanh, một tháp nhỏ và một tháp to hơn một tí. Tất cả đều xoay quanh nó, toàn bộ khu nội thành đều quay quần quanh nó, và cả nhà nguyện lại chỉ là lớp vỏ bọc dầy của tấm tranh Đức Mẹ cổ xưa trong góc cổ xưa nhất, tối tăm nhất.

Maria, đã bị tô đen bởi khói nến của 7 thế kỷ, được tôn sùng bởi nhiều vua chúa, giáo hoàng, hầu tước, nhiều người đã từ rất xa hành hương đến đây. Và vô số người dân bình thường đã mang những nỗi lo âu của họ, hy vọng của họ, người tàn tật của họ, người điên khùng của họ qua những cuộc hành trình dài dằng dặc, để quỳ xuống những hòn đá này, đã được vô số đế giày và đầu gối nhào mềm ra và thì thầm những câu mà bây giờ tôi lại nghe được. Kính mừng Maria, đầy ơn phước…

Về ơn phước. Về những việc rất cụ thể, chữa lành xương cốt và con cái. Treo trong hành lang nửa mở có mái che của nhà nguyện là hằng nghìn tấm bảng về phép mầu và những tấm bảng nhỏ từ 5 thế kỷ hành hương, trong số đó có không ít bảng từ thời của Martin Luther. Có một tấm mang hình của một cô con gái, tóc dài xõa xuống, chân trần mang xích sắt, bị nhốt. Ở phía dưới tôi đọc được phần kết sùng đạo về câu chuyện của cô: “Margret con gái của Hann Eyseleis từ Mundraching đã không bình thường từ lúc 4 tuổi. Anh của cô đã hát kinh cầu nguyện Đức Mẹ. Trong vòng vài giờ nhờ Đức Mẹ đầy ơn phước cứu giúp cô đã trở lại bình thường.”

Một bộ sưu tập truyện huyền thoại sùng đạo, một nơi lưu trữ tranh tràn ngập những cái không thể minh họa được, của nước mắt và nước mắt của niềm vui. Maria đã cứu giúp, câu này luôn luôn và luôn luôn có ở đó, trong kiểu chữ Gothic hay được một đứa trẻ thời chúng ta viết nguệch ngoạc. Mỗi một tấm giấy, mỗi một tấm bảng minh chứng cho một phép mầu.

Tôi không thể cứu giúp tôi, tôi có cảm giác lại nhớ đến Ấn Độ. Các bức tranh sặc sỡ, đơn giản, mạnh mẽ. Bạc tràn đầy trong nhà nguyện. Cái đen tối giống như trong hang động của nó. Màu đen của Đức Mẹ, làm cho Bà xa lạ và làm cho lối đi đến Bà trở nên nghiêm trang và phải sùng kính.

Tôn giáo ở đây không có gì cụ thể như ở những người theo đạo Tin Lành và cũng không có gì ngọt ngào như Giáng Sinh. Nó là cái khác, cái bí mật, cái bụi gai đang cháy[2], cuộc vận lộn của Giacóp trong đêm[3]. Cái dơ bẩn, thể xác, máu me của tục lệ tôn giáo là cái làm cho tôi nhớ đến Ấn Độ, trái tim hầu tước được mai táng trong quách bằng bạc, nghi lễ trong đền thờ, đồ cúng lễ được chất thành đống, xô đẩy của những người hành hương, người đàn bà già nua, chậm chạp từng bước một mang chiếc thánh giá to bằng gỗ đi quanh nhà nguyện. Có mùi nhang và mồ hôi.

Nhà nguyện Đức Mẹ
Nhà nguyện Đức Mẹ

 

Vài giờ sau đó tôi cũng nhìn thấy mặt kia, mặt trí thức lạnh lùng gần như sầu muộn của Công giáo. Điều đó không khó ở Altötting, toàn thể vũ trụ Công giáo có ở đây, người ta chỉ cần phải đi một vài bước từ Nhà nguyện Đức Mẹ vào quán trọ.

Tôi tìm chỗ ngồi và ngay lập tức bị thu hút bởi vẻ ngoài của 2 người đàn ông trẻ tuổi mang áo thầy tu màu đen đang ngồi ở bàn bên cạnh. Họ dùng bữa với khách ngoại quốc và gần như không thể nào khác biệt nhau nhiều hơn được nữa. Một người cục mịch và khỏe mạnh, một anh nhà quê có má hồng. Ông thích cười và không bỏ qua cơ hội nào để làm điều đó cả. Như thể tất cả đều hơi mệt nhọc đối với ông, các phép tắc xã giao đã thuần hóa, cái vui vẻ quán xá bị ép vào khuôn phép, các thứ tiếng nói xa lạ, và ông lúc nào cũng tìm lối nhỏ thoát ra đến tính quần chúng, cái mà rõ ràng là ông xuất thân từ đó. Như thể ông cười trước trong niềm vui rằng cuối cùng rồi sẽ có người kể một câu chuyện đùa thô tục. Điều đó sẽ không xảy ra tại cái bàn này.

Người kia cao, gầy và trắng bệch seminar, ông có một cái trán cao và một khuôn mặt hẹp đập ngay vào mắt. Những cử chỉ khoan thai mà đôi tay của ông diễn đạt một cách chắc chắn và cứ như là tiện thể, chúng dường như là bẫm sinh. Thức ăn được mang ra, ông quan sát nó. Giống như ông quan sát một cách thích thú chiếc khăn ăn sặc sỡ màu Giáng Sinh một lúc lâu, trước khi ông cho phép nó chấm nhẹ vào môi của ông, bằng bên mặt trắng không được in. Tất cả cử động của ông đều như vậy. Làm chậm đi. Ở trong đó có một cách biệt đã trở thành hữu hình đối với tốc độ đáng sợ của thế giới. Người anh em linh mục của ông rõ ràng là sắp chết đói; chính ông lại chỉ ăn như chim sẻ. Ông thích nói hơn, và ông nói rất nhanh. Ông cùng với khách chuyển sang tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha không hề khó nhọc. Khi nói, ông chuyển sang nhịp điệu nhanh, và chỉ lúc đó. Suy nghĩ của ông phóng nhanh như tia chớp vào những câu nói chính xác, đôi tay đặt lên nhau, trong tư thế của một giáo sĩ đang nhẹ nhàng khinh thường thế giới, cái mang lại cho ông sắc thái chế giễu đó, ngay cả khi ông không hề chế giễu. Ông không bao giờ cười to. Ông chỉ thỉnh thoảng mỉm cười.

Bây giờ họ đứng lên. Khi ông đi ngang qua chỗ tôi người ta không hề nghe được một tiếng động, chỉ cảm nhận được một luồng gió nhẹ do chiếc áo thầy tu gây ra. Thêm vào đó là nhạc Giáng Sinh hỗn hợp, một thứ rì rầm hết sức khó chịu, cả thời gian vừa rồi, và ở bên ngoài trên chợ Giáng Sinh cũng rì rầm nữa.

 

Tôi mướn phòng trong một khách sạn hành hương đơn giản. Khắp mọi nơi đều có nhiều mảnh giấy dán lên cửa. “Nhóm hành hương Freiburg”, “Nhóm hành hương Würzburg”. Và nhắc nhở. “Xin tất cả mọi người lưu ý! Cấm hút thuốc trên hành lang và trong phòng vệ sinh!”

Vào lúc chiều tối tôi đi vào nhà nguyện thêm một lần nữa. Lễ cuối cùng đã chấm dứt, chỉ còn nhìn thấy vài người đang cầu nguyện trong cái nửa tròn quanh bức tranh ơn phước. Bây giờ rất yên lặng, nhà nguyện nằm tối tăm hơn nữa ở đấy, bạc và vàng của nó vẫn còn sáng rực. Một tấm hình xưa nhiều thế kỷ bây giờ đang thu vào trong nó tất cả mọi thứ, cả những người đàn bà mặc đồ đen bất động trong những góc nhà gần như đen thui. Tôi lui ra, tôi không muốn quấy rầy, họ đang trở thành những nhân vật của tấm hình cổ xưa.

Người đàn bà tôi nhìn thấy vào ban trưa cũng ở trong số đó. Bà ngồi chìm đắm trong băng ghế, chìm đắm và kiệt sức. Bất cứ chuyện gì đã xảy ra cho bà, bất cứ điều gì mà bà muốn được khuyên can từ Bà trong lần cướp giật sùng đạo của bà vào trưa ngày hôm nay ở hành lang sân trong – Maria đã ban cho bà yên bình trong đêm nay.

Rồi tôi nằm thao thức và cố ngủ trên cái giường đôi trong phòng của tôi mà tất cả những người hành hương đã nằm lên. Tất cả mọi thứ xung quanh tôi đều như vậy. Không tô vẽ như vậy. Đã qua sử dụng và hao mòn như vậy, giống như quần áo cũ. Cái tủ sau chiến tranh nghiên qua một bên, cái bàn không vững ở chân giường, cái mặt bàn bằng gỗ ép mỏng manh của nó được dán đồ giả gỗ, bức tranh Maria và Giêxu rẻ tiền, hình trái xoan to được treo ở phía trên giường, cái máy vô tuyến truyền hình rẻ tiền trên cánh tay sắt mọc ra từ giấy dán tường. Bao nhiêu nước mắt và nước mũi đã chảy trôi đi trong cái bồn rửa mặt đã ố vàng này, bao nhiêu bàn chân đã đi trên tấm thảm tồi tàn này, bao nhiêu lần cầu nguyện dưới bức tranh này?

Cũng được thôi. Đến lúc nào đó tôi sẽ ngủ.

Đọc tất cả những bài trước ở tại trang Nước Đức: https://phanba.wordpress.com/nuoc-duc


[1] Nhà nguyện Đức Mẹ (tiếng Đức Gnadenkapelle) ở Altötting, trong tiếng Việt còn gọi là Đền Thánh Đức Mẹ, là một điểm hành hương nổi tiếng thế giới.

[2] Bụi gai đang cháy: chuyện về Môi-se gặp Chúa Trời phán từ trên một bụi gai đang cháy

[3] Truyện trong Sách Sáng Thế của Cựu ước. Giacóp (Jacob) đã vật lộn với một người cho đến lúc rạng đông. Trước khi bỏ đi người đó nói “Người ta sẽ không gọi tên ngươi là Giacóp nữa, nhưng là Ítraen (Israel), vì ngươi đã đấu với Thiên Chúa và với người ta, và ngươi đã thắng.”

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s