Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 29)

Sáng hôm sau thì Dương Minh Long xuất hiện ở nhà Khoa. Long trẻ trung, đẹp trai, nhanh nhẹn. Vốn xuất thân là một lao động hợp tác, nhưng từ ngày còn đi học, Long đã mê chụp ảnh. Sang Nga, trước thiên nhiên kỳ vỹ của đất nước này, với năng khiếu bẩm sinh, Long đã phát hiện ra vẻ đẹp thiên nhiên Nga mà nhiều tay nhiếp ảnh sừng sỏ của xứ sở này phải sửng sốt. Anh được nhiều giải thưởng nhiếp ảnh nghệ thuật và trở nên nổi tiếng. Ảnh của Long được trưng bày ở Hà Nội, TP HCM do sự giúp đỡ của bè bạn. Anh trở thành nhà báo nghiệp dư, cộng tác viên của báo Lao Động Việt Nam tại Liên Xô. Long rủ tôi đi theo anh để “thâm nhập” Mát-xcơ-va. Vợ chồng Khoa đều khuyên tôi nên đi theo Long, vì Long là “con ma” của TP này!

Trước tiên, Long đưa tôi đi thăm phố Arbat, một phố nằm trong khu phố cổ của Mát-xcơ-va. Thời đó, nếu ai đến Mát mà chưa thăm khu phố Arbat thì coi như chưa đến Mát. Nếu nhìn vào bản đồ, thì khu phố cổ nằm ở trung tâm thành phố, thành một cái vòng tròn nhỏ gồm những phố ngắn, hình chân chim, bao quanh là những con đường dài, thẳng tắp của thành phố hiện đại rộng mênh mông.

Lê Phú Khải
Lê Phú Khải

Tôi có một cái thú là bất kỳ đi đâu, việc đầu tiên là ra nhà sách mua một cái bản đồ hay xin các quan chức một cái bản đồ địa phương của họ. Có bản đồ rồi, đi đâu tôi cũng đánh dấu nơi mình đã đến. Nhìn vào bản đồ rất dễ dàng hình dung ra mọi sự kiện, sự việc, rất dễ giải thích các mới quan hệ. Khi viết bài, viết tin sẽ dễ dàng hơn nhiều. Trong “kho” tư liệu của tôi thì bản đồ được xếp hàng đầu. Hiện tôi đang có hầu hết các bản đồ của tỉnh, huyện của Nam Bộ. Tôi cũng có bản đồ của Mát-xcơ-va, Paris, Quảng Châu, Thẩm Quyến, Hồng Kông. Môn địa chính trị ngày xưa ít được quan tâm, ngày nay càng thấy quan trọng. (Giá như Việt Nam đừng ở cạnh Trung Quốc thì phúc cho dân tộc biết bao nhiêu!). Kinh nghiệm viết báo của tôi là nhìn bản đồ mà suy nghĩ, nhìn bản đồ mà viết.

Phố Arbat là một trung tâm mà “đời thường” của Mát-xcơ-va cổ được phục hồi trong công cuộc cải tổ của Liên Xô lúc đó. Các nghệ sĩ kéo violon, đánh đàn bên hè phố, ai hảo tâm thì cho tiền vào cái mũ đặt dưới chân họ. Tôi say sưa nghe một ca sĩ vừa đàn vừa hát những bài mà dân Mát yêu thích. Một vài thứ đồ cổ cũng được bán ở đây. Nói chung người ta đã làm lại những gì mà người ta đã xóa đi trên hè phố cổ này thời Xô Viết. Có điều là sự “phục hưng” này náo nức, rốn rang hơn bao giờ hết. Tôi cũng đã nhìn thấy cái thùng kính to để giữa phố để nhân dân quyên góp tiền xây dựng lại các nhà thờ Nga mà trước đây đã bị hủy hoại hoặc xóa bỏ đi. Nhìn qua kính, tiền đầy ắp trong thùng!

Long còn đưa tôi đi thăm Điện Krim-li bên Quảng trường đỏ, lăng Lê-Nin, nhà thờ củ hành. Đài liệt sĩ luôn có lửa cháy ngày đêm. Anh chụp cho tôi những tấm hình có “Ngôi sao điện tháp Krim-li” làm nền. Anh mua vé cho tôi vào nghe ca nhạc tại cái hội trường lớn trong khu vực Krem-li mà trước đây thời Xô Viết cũ là nơi thâm cung bí sử, dân thường không được bước chân vô. Tôi được xem một tốp chơi đàn accordion mà chỉ có dân Nga mới chơi “bạo” như thế. Khi cao trào, các nghệ sĩ giữ chặt một bên có phím đàn rồi buông tay phía bên kéo đàn, ném mạnh cây đàn ra không gian để nó “bung” hết cỡ… tạo nên một vụ “nổ” âm thanh… Tiếng vỗ tay như sấm. Tiết mục tiếp theo vừa kéo màn lên là Long đã kéo tôi ra khỏi nhà hát. Tôi ngạc nhiên quá, hỏi Long vé vào cửa đắt thế mà chỉ xem có thế đã thôi à? Long trả lời: mua vé cho anh vào cửa là để anh xem cái hội trường Điện Krem-li nó vĩ đại thế nào, để anh thấy thời Xô Viết nó thế, đâu phải để xem ca nhạc. Tôi không ngờ Long chơi sang như thế. Đang ở trong nhà hát ấm áp, ra ngoài lại rét run. Phải vừa đi vừa chạy tôi mới đuổi kịp Long. Có lúc thấy cự ly đã xa quá, tôi gọi Long, cậu ta quay lại bảo tôi: bên này không ai gọi to ngoài đường. Người ta nhìn mình đấy. Tôi đành lặng lẽ chạy gần theo Long. Qua mấy lần lên xuống xe buýt, Long dẫn tôi đến nơi đặt tượng Hồ Chí Minh. Trước mắt tôi là một cái phù điêu, một cái vòng tròn bằng chất liệu gì tôi không rõ, to hơn cái nong ở quê nhà. Ở giữa là chân dung Hồ Chí Minh đắp nổi có lẽ bằng chất liệu đồng. Cả khối phù điêu đó được đặt ngay trên lề hè phố, không có chân đế xây cao nên rất đơn sơ. Long giải thích, trước đây họ định xây một cái tượng đài HCM tại khu đất này, Long chỉ tay vào phía trong, nhưng bị phản đối nên cuối cùng chỉ làm thế này thôi.

Đây chính là điểm nhấn của chuyến đi “công tác” Liên Xô của tôi. I-ri-na đã trở nên “chống Việt Nam” như người ta đã dặn dò tôi trước lúc đi là ở cái chuyện xây dựng tượng đài này. Tôi định sẽ làm việc với chị để “tìm hiểu” trong chuyến đi này như chính từ “tìm hiểu” mà I-ri-na đã đặt ra trong cuộc làm việc ngày đầu tiên. Long đã “bật mí” cho tôi trước thì càng hay. Đến trưa, Long đưa tôi về ốp Zin để chiêu đãi tôi … bánh cuốn nóng! Ốp Zin là một chung cư 20 tầng như bất cứ chung cư nào ở Mát. Vì nó được phân cho công nhân làm ở nhà máy ô tô Zin ở nên gọi là “ốp Zin”. Lao động Việt Nam ở ốp này cũng nổi tiếng ở cộng đồng người Việt lao động hợp tác, và cũng tai tiếng nhất về sự bệ rạc của người Việt. Từ xa người ta đã thấy cái thùng rác rất lớn bằng sắt có quai ở bên trên để hàng ngày xe thu gom rác đến để cẩu đi, đặt cái thùng rác mới thay vào… ruồi nhặng bay lên rào rào! Trước cửa ốp Zin luôn có những chiếc xe du lịch bẹp rúm, của những kẻ say rượu người Nga đến đây ăn nhậu trong ốp Zin. Vừa đến nơi tôi đã thấy một cái xe La Da lao tới, cái xe mất một cánh cửa. Đó là lần đầu tiên tôi trông thấy một cái xe du lịch mác lada (mà ở Việt Nam phải hàm thứ trưởng mới được đi) đã mất một cửa mà người ta vẫn đi. Tay lái xe người Nga đầu tóc bù xù rời khỏi xe, lên ốp Zin. Long tỉnh queo dắt tôi vô thang máy. Thang máy chật ních người lên, xuống. Người ta khiên cả một bao gạo lớn vô, thang máy chạy rùng rùng vì quá tải, trên tường trong và ngoài thang dán kín vác tờ quảng cáo, mỗi cái chỉ to bằng bề mặt vỏ bao thuốc lá, rao bán đủ các thứ trên đời từ quạt tai voi, nồi áp suất, đầu máy khâu cũ đến áo vét tông cũ, giầy da có lông bên trong cho mùa đông … bẩn thỉu nhem nhuốc như đi vô một cái chợ nông thôn nước ta. Long sẵn sàng lấy tay “chém” mạnh vào các cánh tay giơ lên bấm nút thang máy nếu trái ý cậu ta. Thái độ của Long rất “anh chị”.. Cuối cùng thì chúng tôi vô một “gian hàng” bán bánh cuốn nóng. Tôi nhìn kỹ thì nó là một gian hộ như gia đình Khoa đang ở, nhưng chủ nhân thu lại một góc để nằm và chứa hàng hóa, còn lại là “nhà hàng”. Người ta biến cả cái ốp Zin 20 tầng này thành một “lâu đài” ăn uống có cơm, phở, xôi vò, bánh cuốn… Người ta còn mổ cả lợn trong cái ốp này nữa để nấu nước (nên cái thùng rác ngoài cửa ốp mới đầy ruồi nhặng như thế), mặc dù ai cũng biết ở cái xứ rét thì rất hiếm ruồi nhặng như vậy. Rượu quốc lủi của Việt Nam ở đây có thể uống tràn cung mây nên thu hút đám bợm nhậu người Nga dưới thời Gooc-ba-chốp cấm rượu nên mới đến đông như thế. Phải công nhận ở xứ rét, được đĩa bánh cuốn nóng ăn với giò chả (cũng nóng) và ly rượu quốc lủi thì tỉnh người. Ăn xong tôi vô nhà vệ sinh thì suýt nữa phải vô bệnh viện vì tối om, tôi trượt chân đập cả trán vào bồn tắm, choáng váng đứng dậy, cố gắng tìm cái quẹt ga. Trong thứ ánh sáng lờ mờ, tôi không thể tưởng tượng nổi cái bồn to đùng ấy đang được ngâm đầy gạo nếp trong nước nóng. Nếu tôi ngã sấp mặt vào bồn thì dính bỏng là cái chắc. Quên cả đi vệ sinh, tôi kéo Long về ngay. Tôi kể lại câu chuyện trong buồng tắm, cậu ta nói tỉnh queo “anh chẳng hiểu gì cả” (câu này tôi nghe lần đầu từ cậu lái xe đoản 12 ngày đi Lạng Sơn năm nào, bây giờ nó lại được tuôn ra từ Long). Cậu giải thích: người ta ngâm gạo nếp vô nước sôi thì khi đồ nó mau chín hơn. Nói xong lại đệm câu “anh chẳng hiểu gì cả”!

Về đến nhà Long ở cách xa khu trung tâm Mát thì đã xế chiều. Căn hộ của gia đình Long ở lầu thứ 10, giống y chang căn hộ dành cho tôi và Kiên ở nhà khách ban đối ngoại. Vợ Long tên là Minh, một phụ nữ đẹp đằm thắm và có ánh mắt hơi buồn. Chị Minh tốt nghiệp đại học trong nước và làm ăn ở Nga đã 8-9 năm. Tối hôm đó Long chui vào buồng tối in, tráng phim cả đêm. Có lẽ vợ chồng Khoa gọi Long là “con ma” vì thế. Anh ta để cho tôi ngủ ở một giường cá nhân, góc bên kia cũng là một giường cá nhân. Chị Minh ngồi làm việc trước cái máy khâu, lâu lâu điện thoại réo, tôi lại thấy chị cầm máy lên như cãi nhau với một người Nga ở đầu dây đằng kia… Tôi nằm trằn trọc mãi rồi vớ tay lấy chiếc máy ảnh chụp một kiểu chị Minh ngồi làm việc với cái máy khâu trong đêm khuya, bức hình này hiện tôi vẫn còn giữ, mỗi lần giở ra xem lại, hình dung ra căn phòng nhỏ trên lầu cao giữa Mát-xcơ-va lạnh lẽo mênh mông, có một đôi vợ chồng trẻ người Việt cặm cụi làm việc thâu đêm suốt sáng mà suy nghĩ về thân phận con người Việt Nam đi tha phương xứ người. Vậy mà nghe đâu vợ chồng chị cũng không khá được. Hai người dẫn nhau về nước. Cả hai đến thăm tôi tại Sài Gòn. Minh cho biết chị đã xin được vào làm ở Đài THVN, làm phim về du lịch. Tôi hỏi Minh: thằng Khải Hưng dạo này còn chửi bới chị em nữa không? Minh hoảng hốt, sao anh rành Đài truyền hình của chúng em thế? Rành Khải Hưng thế? Tôi cười rồi bảo:  anh từ cái tổ con tò vò đó chui ra thì làm gì không biết trong tổ tò vò có gì! Có điều là sau này khi Minh đi làm phim về ĐBSCL, tổ làm phim của chị lại không đem máy quay phim đi theo (có lẽ là Đài đã hạch toán về máy móc như thế nào đó, tôi không hiểu). Minh nhờ tôi mượn máy của các tỉnh mà chị đến làm việc. Tôi gọi điện đến giám đốc các đài, nhận Minh là em. Chị còn cẩn thận nhắn tôi nhớ nói là “em vợ” (vì chị không cùng họ với tôi). Nhưng với các “anh Hai Nam Bộ” thì chuyện đó là chuyện nhỏ: em nào chẳng là em, “Khải nào chẳng là Khải”!

Viết đến đây tôi lại nhớ đến chuyện “em vợ”. Một lần tôi nói với ông Sáu Kiệt rằng, Bảy Nhị ở An Giang hắn thông minh lắm, vậy mà làm phó chủ tịch tỉnh đến 9 năm, lên được chủ tịch có 1-2 năm đã đến tuổi hưu uổng quá (người Bắc nói phí quá!) Ông Sáu nghe xong chẳng nói gì cả. Mấy tháng sau, tôi gặp ông trong một cuộc họp, ông vỗ vai tôi nói: thằng Bảy Nhị nó thông minh thật, tôi hỏi nó con cá tra với cá basa (đều là loài cá da trơn), vậy nó giống nhau ở chỗ nào? Nó nói ngay: giống như vợ với em vợ đó!

… Chợp mắt được ít phút thì trời sáng hẳn. Tôi nhìn ra ngoài thấy trời nắng ong ong, mừng quá reo lên: hôm nay trời ấm rồi. Vợ Long nói: anh không nhìn thấy các đám tuyết đã đóng băng hết à, trời nắng mà băng đóng hết mặt đất như thế kia thì còn lạnh gấp 10 lần trời có tuyết. Chị khuyên tôi nên ở nhà. Tôi đời nào chịu, nhất định đòi đi. Long đã chuẩn bị xong máy móc, chỉ còn có chờ tôi mặc quần áo. Lúc tôi đi giầy, thấy tôi đi đôi tất mỏng, Minh kêu lên: ở đây mà đi tất mỏng thế kai thì lạnh buốt chân không đi nổi đâu. Chị lục trong tủ, đưa tôi một đôi tất bằng len to xù. Giày thì nhỏ mà tất thì to nên tôi cố len chân sao cho vừa. Đến khi xuống đường, đi được một quãng thì tức chân không sao đi nổi. Tôi phải cởi tất ra để đi giày không. Quả thật như Minh nói, tôi thấy trời lạnh đến mức vừa nhức chân, vừa nhức đầu. Long lại đưa tôi lên đồi Lenin để thăm trường Đại học Lô-mô-nô-xốp nên càng lạnh. Từ trên đồi cao, tôi ngắm toàn cảnh Mát-xcơ-va… chìm trong giá buốt. Long còn đưa tôi đến sứ quán Việt Nam ở Liên Xô “cho biết”. Cuối cùng chúng tôi đến quảng trường Đỏ để chứng kiến một cuộc biểu tình. Đa số người biểu tình là người già. Một ông râu dài đến rốn, đứng như trời trồng trong giá lạnh, với tấm biển có ghi dòng chữ (mà Long dịch cho tôi). Yelsin là nước Nga! Lúc đó Gooc-ba-chốp đã mất uy tín vì đời sống dân Nga ngày càng khó khăn. Dân chúng ủng hộ Ensin. Dư luận về một sự tan rã liên bang Xô Viết lan rộng. Tôi đi trên đường phố, lên xe buýt, xuống tàu điện ngầm… thấy một bầu không khí rất trầm uất. Người Nga nào mặt mũi cũng đăm chiêu, hình như trong đầu họ chứa chấp nung nấu, đang dồn lên một cái gì ghê gớm lắm. Không ai nói với ai một câu nào, không nhìn thấy một nụ cười nào ngoại trừ những nụ hôn say đắm của những cặp trai gái siết chặt lấy nhau dưới các ga tàu điện ngầm! Không khí xã hội oi bức như đêm trước của một ngày giông bão lớn hôm sau. Tôi học thuộc mấy câu tiếng Nga, đứng trên xe buýt nói lớn: tôi là nhà báo Việt Nam. Xin hỏi quý vị, Gooc-ba-chốp? Tất cả mọi người lắc đầu. Enxin? Tất cả mọi người gật đầu.

Chiều tối hôm đó Long đưa trả tôi về nhà Khoa để sáng hôm sau anh còn đi gấp một nước cộng hòa vùng Ban tích của Liên Xô cũ sẽ nổ ra một cuộc biểu tình lớn đòi giải tán liên bang. Long là phóng viên nhiếp ảnh xông xáo một cách kỳ lạ. Tôi đã chứng kiến anh chụp hình trong lần đón diễn viên Nhật Bản đóng vai Ô-sin (thủ vai Ô-sin lúc bé) ở sân bay Tân Sơn Nhất năm nào. Trong đám phóng viên chen chúc, anh nhảy vào giữa và nằm ngữa người bấm máy lia lịa rồi sau đó ngã đè lên những người khác ở sau lưng mình giữa tiếng la ó …

Tôi kể lại những nơi đã đi với Long thì vợ chồng Khoa đều nói, ở Mát 5 năm rồi nhưng chúng tôi cũng chưa đặt chân đến ốp Zin, chưa đến những chỗ Long và tôi đi. Một cô nàng Việt đến nhà vợ chồng Khoa chơi, thấy tôi có hộ chiếu công vụ thì nhiệt tình rủ tôi đi Ba Lan. Cô nói có hội chiếu công vụ thì đi lại dễ dàng lắm. Cô hứa sẽ mua vé tàu nằm một khoang riêng 2 người. Sang Ba Lan cô sẽ thuê khách sạn. Vợ Khoa cho tôi biết, cô là giáo viên cấp 2 ở nhà và đã có một con gái đang học lớp 1. Gia đình túng bấn quá, cô sang đây chủ yếu buôn mỹ phẩm để kiếm chút vốn, cô rất muốn đi Ba Lan vì bên đó nhiều mỹ phẩm. Vợ Khoa bảo tôi “chả mấy khi có dịp” anh cứ đi đi. Đi quá hạn về cũng chẳng sao, có I-ri-na lo hết. Tôi trong bụng rất muốn đi vì tiện thể qua Pháp luôn, thăm ông chú ruột tôi là Lê Phú Hào đã định cư ở Paris từ 1980. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tôi chỉ ngại một điều, nhà báo Bùi Tín vừa đi Pháp và không về hồi đầu năm, ầm ỉ cả nước. Nếu tôi đi quá hạn, mặc dù không có ý định ở lại, thì cũng bị phao tin đồn ầm ỉ làm ảnh hưởng đến anh Mai Thúc Long là người cho tôi đi Liên Xô chuyến này. Làm ảnh hưởng đến một người tớt với mình thì tôi không dám làm. Cuối cùng tôi đành từ chối nàng y. Cô nàng có vẻ rất buồn. Phụ nữ Việt Nam qua làm hợp tác lao động ở các nước Âu châu, xa nhà, cô đơn, cuộc sống bên trời Âu lại hoàn toàn tự do nên việc quan hệ nam nữ coi như không ai bàn đến. Có bà cán bộ phụ nữ VN qua Liên Xô, thấy tối đến nam nữ thuê phòng ngủ chung, ban đầu bà tưởng là vợ chồng, sau biết không phải, bà la trời đất, làm trò cười cho mọi người… Tôi phải an ủi nàng y bằng cách nói với nàng, tôi không mua gì về VN cả, vali tôi rộng dành chỗ mang đồ về cho cô.

Khi về cô gửi tôi một cái cặp da đẹp, nhiều đồ chơi và kẹo sôcôla cho cô con gái. Ôi tấm lòng các bà mẹ Việt Nam, ở phương trời nào cũng ấm áp.

Sáng hôm sau, Ban đối ngoại đài mát bố trí một phóng viên nam lái xe cho tôi và Kiên đi thăm các địa điểm đáng phải thăm ở Mát-xcơ-va, trong đó có tượng đài Lê-nin và tượng đài Ga-ga-rin – phi công vũ trụ đầu tiên của thế giới. Lúc về, Irina hỏi tôi: Các anh thấy Mat-xcơ-va thế nào? Tôi bảo Irina: Liên Xô khủng hoảng là tất yếu. Cô hỏi: Tại sao? tôi rút bài thơ ngắn mới làm lúc xem tượng Lê-nin ra, đưa cho Irina coi:

TƯỢNG

Dẫm lên khối phù điêu lúc nhúc nhân dân

Tượng lê-nin hoành tráng

Nghệ thuật thế này ư?

Sao khinh bỉ con người?

Đọc xong Irina hỏi tôi: Còn gì nữa không anh Khải? Tôi nói tiếp: Tượng Ga-ga-rin thì là hình tượng ông này đang bay vút lên trời, đạp dưới chân ông là quả địa cầu thế giới nhỏ xíu. Cả nhân loại này như bị người Nga đạp dưới chân mình. Tôi thấy nó hãnh tiến, khoa trương một cách vô lối. Cái đáng buồn là chính các nghệ sẽ Nga, bộ phận tinh hoa nhất của dân tộc Nga lại suy nghĩ như thế thì còn gì để nói!!! Irina nghe nhưng không nói gì cả. Khi ăn trưa, tôi hỏi thẳng cô một câu chuyện khác: Khi ở Việt Nam, anh được người ta nói là em chống Việt Nam. Vậy Irina đã “chống Việt Nam” thế nào, nói thử anh nghe? Cô bảo tôi: Anh Khải cứ ăn trưa cho ngon miệng đi, rồi em sẽ trả lời anh…

Hôm sau, Irina đưa tặng tôi tập san “Lửa ấm”, một tập san xuất bản bằng tiếng Việt, Ban Việt ngữ in ấn lấy nên giấy đen không được đẹp lắm. Đối tượng của tập san là các lao động Việt Nam đang làm việc ở Liên Xô. Bài vở do các bạn Nga viết bằng tiếng Việt. Tôi thấy trong tập san này có nhiều hình chụp minh họa cho bài viết của Dương Minh Long và bài thơ “Nhìn từ xa… Tổ Quốc” nổi tiếng của Nguyễn Duy. Sau này về nước tôi có đưa Nguyễn Duy xem tập san này, anh rất thích thú vì đó là bài thơ của anh lần đầu tiên được in trên báo ngay sau khi anh sáng tác trong chuyến đi Liên Xô năm đó mà anh cũng không hay. Bên cạnh bài thơ có hình Nguyễn Duy do Dương Minh Long chụp. Theo Duy đó là tấm hình mà anh rất thích.

Đưa tập san “Lửa Ấm” tặng tôi, đó là Irina muốn trả lời câu hỏi của tôi, vì trong tập san đó có bài tường thuật của chị về cuộc biểu tình của học sinh trường trung học số 45 và các cụ phụ lão khu phố nơi dự định khởi công dựng tượng đài Hồ Chí Minh vào dịp sinh nhật của Người 19 tháng 5. Irina nói: Anh đọc bài em viết thì sẽ rõ. Chị nói thêm: Quyết định xây dựng tượng đài HCM của thành ủy Mát-xcơ-va cách đây đã 10 năm. Đó là thời kỳ khoa trương, nay tình hình đã đổi khác. Hơn nữa muốn xây dựng tượng đài Bác Hồ ở đó thì phải chặt đi cả một rừng cây, không đúng với lời dặn phải trồng cây của Bác, lại tốn một khoản tiền bằng xây một cao ốc 18 tầng trong lúc Mát-xcơ-va đang thiếu nhà ở cho nhân dân và cán bộ, Irina dừng lại, ánh mắt xanh biếtc của chị nhìn … xa xăm. Bất ngờ chị nói một câu mà khó có nhà văn nào nói được, khó có ai hiểu chủ tịch HCM như thế, ít nhất là sự đồng cảm của tôi với lời của chị. Chị nói: kỷ niệm ngày sinh nhật của Bác Hồ ư? Đợi đến này 19/5 này, hãy cùng nhau dắt tay vào rừng Nga mà nghe chim hót!

Vậy là tôi đã rõ. Hễ ai nghĩ khác những nhà lãnh đạo Việt Nam thì là “chống Việt nam”! Chúng ta đã sống ngoài nhân loại đã quá lâu rồi, kể từ khi những người cộng sản dẫn dắt dân tộc này “đi từ thảm họa này đến thảm họa khác” (Phạm Đình Trọng). Tự dưng lúc đó tôi thấy buồn vô hạn. Những người như Irina là bạn tốt của nhân dân Việt Nam, là cái cầu nối giữa hai dân tộc. Chị đã bỏ cả đời để học tiếng Việt, nói tiếng Việt giỏi đến mức người Việt phải ngạc nhiên. Có lần tôi than: Việt Nam vì theo Liên Xô nên bây giờ rất khổ. Irina ngắt lời tôi: Thì nước Nga chúng tôi cũng đang rên siết đây này! Chao ôi, một người Nga chính cống mà biết dùng từ “rên siết” để mô tả cái tình thế của dân tộc mình lúc này thì một người Việt bình thường cũng chưa chắc chọn được từ ngữ đắt thế. Phải yêu Việt Nam lắm chị mới gian khổ để học tiếng Việt đến trình độ đó. Tôi có cảm giác chị đã đánh cược cả cuộc đời mình vào tiếng Việt. Một lần tôi khen: Irina nói tiếng Việt giỏi quá. Chị cười nói: Thông cảm đi anh, “cần câu cơm mà”! Chị được trí thức Nga mệnh danh là nhà “Đông phương học”! Chị đã 17 lần sang Việt Nam đa số là do bạn nghe đài Mát-xcơ-va tiếng Việt ở Chợ Lớn mời vì mê giọng đọc của chị và anh Trần Phương giọng Nam Bộ trên đài Mát. Chị am hiểu văn hóa Việt Nam và tình hình chính trị ở Việt Nam. Chị nói với tôi, Việt Nam có đội ngũ trí thức sáng giá. Lấy đâu ra một trí thức như Nguyễn Khắc Viện ở các nước ASEAN? Lúc đó, ông Bùi Tín mới qua Pháp, đang phát biểu trên các đài Phương Tây kiến nghị Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thay đỗi nhận thức, thực hiện những cải cách triệt để về chính trị… Irina bảo với tôi: Ông Bùi Tín ngây thơ quá, ai mà khuyên các nhà lãnh đạo cộng sản thay đổi được. Phát biểu như ông Nguyễn Khắc Việt (NKV) còn dễ nghe hơn. Lúc đó, ông NKV cũng đang bị các nhà lãnh đạo Việt Nam phê phán rất nặng, tưởng là đi tù đến nơi. Trước lúc tôi đi Liên Xô, tôi được mời dự một cuộc họp giao ban của Đài, Tổng giám đốc Phan Quang còn căn dặn: Việc phê phán trên đài thì giữa Dương Thu Hương và NKV ta phải cân nhắc không thể đánh đồng được(!)

Irina lại là người có uy tín trong giới trí thức Nga khi bàn đến vấn đề Việt Nam. Dương Minh Long nói với tôi: Chị Irina ghê gớm lắm, đến chủ nghiệm Ủy ban phát thanh truyền hình toàn Liên Xô phải nể nang chị. Khi ông này nhờ chị phiên dịch cho ông trong dịp tiếp bà Nguyễn Thị Bình sang Liên Xô công tác. Chị ra giá ngay phải mời ca sĩ Trần Tiến, bạn của chị sang hát trên truyền hình Liên Xô chị mới đồng ý phiên dịch giúp. Ông chủ nghiệm phải chịu. Vì thế Trần Tiến mới được qua Liên Xô. Giấy mời do đích thân Chủ nhiệm UBTP và TH Liên Xô ký. Chương trình ca nhạc trên Đài truyền hình toàn Liên bang đã đăng báo trước cả tháng vậy mà phải chen vào 6 phút để Trần Tiến hát. Long hỏi tôi: Anh thấy chị Irina có ghê gớm không?

Một người như Irina là một bạn tốt của Việt Nam, vậy mà đùng một cái, chị trở thành kẻ “chống Việt Nam”. Mà chị đã chống Việt Nam thật sau khi chúng ta tuyên bố “Irina chống Việt Nam”. Đài phát thanh cá nhân mang tên Radio Irina đã ra đời sau khi Liên Xô tan rã. Tất cả các buổi phát thanh của Đài này buộc Đài TNVN phải thu băng lại, và gỡ băng ra in thành văn bản đưa cho lãnh đạo đọc để tìm cách đối phó. Bài phát thanh mang tên “bài học Dương Thu Hương” đã làm lãnh đạo Việt nam đau đầu. Tôi được một vị lãnh đạo của Đài đưa cho đọc bài này và nhớ như in từng đoạn văn viết khi nói về ĐCSVN và đội ngũ trí thức Việt Nam. Nói về Đảng chị viết: Đảng cộng sản VN có một vốn chính trị giàu có là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ nhưng với chuyên chính vô sản và tập trung dân chủ, Đảng đã mau chóng tiêu hết cái vốn đó. Về đội ngũ trí thức, chị viết: Đảng không mong muốn gì hơn là có một đội ngũ trí thức thông minh, béo tốt và… dễ bảo! Vì thế cứ mỗi lần tôi thấy có hội nghị gì quan trọng tập trung nhiều trí thức, tôi thấy các vị GS, tiến sĩ, viện trưởng này, vụ trưởng kia… com lê cà vạt sang trọng, nhưng đi rón rén, nói thì thào trước mặt thủ tướng thì đúng là: “Thông minh, béo tốt và dễ bảo”! Radio Irina gây khó khăn cho Việt Nam đến mức khi phó thủ tướng Nga sang thăm và làm việc với Việt nam, trong chương trình nghị sự ký kết giữa thủ tướng Phan Văn Khải và phó thủ tướng Nga có riêng một mục là Nga phải dẹp bỏ Radio Irina!

(Còn tiếp)

Đọc tất cả những bài đã đăng ở tại trang: Lời Ai Điếu

Đọc bài trước: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 28)

Đọc bài kế tiếp: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 30)

 

 

2 thoughts on “Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 29)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s