Cuộc chiến tranh ném bom của Mỹ

Phan Ba dịch từ Der Spiegel 45/1968 (04/11/1968)

Gần 120.000 lần trong vòng ba năm rưỡi, các “Giôn xơn” (Johnsons) – như nông dân Bắc Việt gọi máy bay chiến đấu Mỹ – đã bay để đánh phá nước cộng hòa của Hồ Chí Minh.

Trên một triệu rưỡi tấn bom nổ và bom cháy, bom mảnh – mới – và napalm, bom tấn và hỏa tiển đã đào xới gần như mỗi một mét vuông của đất nước có độ lớn như nước Cộng hòa Liên bang không có bang Bayern – nhiều hơn bom đã rơi xuống toàn châu Âu trong Đệ nhị thế chiến.

Người Mỹ đã mất trên 900 máy bay, trong đó là những loại hiện đại nhất “Phantom” và “F-111”, trong cuộc chiến tranh trên không lớn nhất trong lịch sử; chỉ riêng tổn thất vật chất đã vượt quá tám triệu Mark – nhiều hơn là toàn bộ đoàn “Starfighter” đắt tiền của quân đội Đức đã ngốn mất.

Một chiếc F-111A bị bắn rơi trên Bắc Việt Nam trong chiến dịch Linebacker II
Một chiếc F-111A bị bắn rơi trên Bắc Việt Nam trong chiến dịch Linebacker II

Trên 600 phi công đã chết hay bị quân đỏ bắt giam – việc đào tạo mỗi một người như thế tiêu tốn mất trên một triệu Mark.

Không đáng công: theo các ước lượng lạc quan của giới quân đội Mỹ, ném bom Bắc Việt Nam chỉ làm giảm khả năng chiến đấu và tiếp tế trên chiến trường trong rừng rậm Nam Việt Nam vào khoảng 15 đến 20%. Mặt khác, cuộc chiến tranh ném bom lại đẩy Liên bang Xô viết lại gần với Bắc Việt Nam hơn và có thể leo thang trở thành một cuộc chiến tranh nguyên tử. Nó phá vỡ yêu cầu của Hoa Kỳ, là một cường quốc có tinh thần trách nhiệm, và nó làm hao mòn lòng tin của Mỹ vào chính sức mạnh của mình.

Trong đêm rạng sáng ngày thứ sáu vừa rồi, 1363 ngày sau mệnh lệnh xuất kích đầu tiên, vị tổng thống sắp thôi nhiệm rút lại mệnh lệnh tiến hành cuộc chiến tranh trên không, “quyết định gây tranh cãi nhiều nhất và có hậu quả nặng nề nhất trong nhiệm kỳ năm năm của ông ấy”. Trong một bài diễn văn trên truyền hình, ông ấy tuyên bố chấm dứt toàn bộ tất cả các cuộc ném bom lên Bắc Việt Nam, và qua đó đã bước bước đầu tiên “trên con đường có thể dẫn đến một giải pháp chính trị ở Đông Nam Á” (“New York Times”).

Năm ngày trước cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ, Lyndon Johnson qua đó cũng cố gắng giúp người phó đứng ở vị trí thứ hai và người được ông ấy nâng đỡ là Hubert Humphrey. Nhưng trước hết là: ba tháng trước lần từ giã chính thức của mình, ông ấy cố gắng chỉnh sửa hình ảnh của mình cho lịch sử.

Liệu ông ấy có thành công hay không, điều đấy dường như là đáng nghi ngại. Quyết định đấy thật là đã đến quá muộn. Johnson có quyết định điều gì bây giờ thì thật ra là ông ấy – với nhiều triển vọng thành công hơn – đã có thể làm điều đấy trước đây hàng tháng rồi, có lẽ là hàng năm. Qua đó, lẽ ra ông ấy đã có thể giữ được mạng sống của hàng chục ngàn người và có thể đã tránh được cho Hoa Kỳ điều ô nhục có lẽ là lớn nhất trong lịch sử của họ.

Chiến dịch ném bom ngay từ đầu đã là một điều ô nhục cho cường quốc quân sự mạnh nhất thế giới. Chỉ trong vòng sáu tuần, một đại tá thuộc bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn đã bảo đảm như thế với SPIEGEL vào ngày 7 tháng 2 năm 1965, ngày đầu tiên của những lần xuất phát ném bom, người Bắc Việt sẽ quỳ xuống, Hà Nội sẽ bị “bỏ bom đến bàn đàm phán”.

Trong vòng sáu tuần, thượng nghị sĩ Fulbright, sau này là người chống đối chính sách ngoại giao bỏ bom kịch liệt nhất, cũng đã nhắc đến vào lúc đấy, Hà Nội sẽ không chịu đựng được nữa và sẽ nhân nhượng.

Thế nhưng khi các chiếc máy bay phản lực đầu tiên của Mỹ tấn công cảng tàu và giao điểm đường sắt thì Hồ Chí Minh đang có khách đến thăm ở Hà Nội: chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng  Xô viết Kosygin.

Người Nga này tức giận, vì cường quốc tư bản lại ném bom một quốc gia cộng sản đúng vào lúc người sếp của chính phủ cường quốc cộng sản lại có mặt ở đó. Moscow, bị người Trung Quốc buộc tội đồng lõa với Washington, không thể để cho đất nước anh em bị ném bom tan nát mà không bị mất uy tín trong luồng ý kiến cộng sản trên thế giới. Vì thế mà Liên bang Xô viết hứa sẽ đưa cho người Bắc Việc mọi sự giúp đỡ cần thiết.

Liên bang Xô viết giữ lời hứa của mình. Họ trang bị cho Bắc Việt Nam mạng lưới phòng không hiện đại nhất trong lịch sử chiến tranh, cái bắn hạ ngày càng nhiều “Giôn xơn” hơn. Cứ một chiếc xe tải bị phá hủy thì người Nga cung cấp cho hai chiếc mới; khi cuộc chiến tranh ném bom đạt đến một đỉnh cao – vào đầu năm nay –, thì người Cộng sản cũng mạnh nhất về quân sự.

Người Mỹ không dám ngăn chận dòng chảy tiếp tế. Để làm việc đấy, họ phải phá hủy cảng Hải Phòng – cảng mà lúc nào cũng có tàu Xô viết thả neo đậu ở đó: việc đánh chìm một chiếc tàu chở hàng của người Nga có thể mang lại mối hiểm họa của một thế chiến.

Nhưng nếu không bỏ bom toàn phần thì tác dụng chỉ có giới hạn. Chỉ ba tháng sau khi chiến dịch bắt đầu, Johnson đã cố gắng phá vỡ vòng lẫn quẫn này. Trong tháng 5 năm 1965 – và sau đó tổng cộng là tám lần – Tổng thống Hoa Kỳ đã ra lệnh tạm ngưng ném bom, để mang Bắc Việt Nam lại bàn đàm phán – hoài công. Bị thúc đẩy bởi các “diều hâu” cực đoan, những người cho rằng mỗi một lần ngưng ném bom là một món quà cho Hà Hội và là một mối nguy hiểm cho mạng sống của những người lính Mỹ, Johnson lại ra lệnh bay mới.

Không  quân Mỹ bắn trúng một vị trí tên lửa SAM cách thành phố Đồng Hới 13 dăm về phía Tây Bắc
Không quân Mỹ bắn trúng một vị trí tên lửa SAM cách thành phố Đồng Hới 13 dăm về phía Tây Bắc. Vị trí này bị phi công máy bay F-105 Thunderchief phát hiện vào sáng ngày 12 tháng 10 năm 1966.

“Chúng ta biết rằng”, ông ấy bảo vệ đường lối của mình, “chúng ta không thể đạt đến những mục đích của chúng ta chỉ với những cuộc không kích. Nhưng với những nhận thức và niềm tin tốt nhất của chúng ta, chúng là một đoạn cần thiết trên con đường an toàn nhất dẫn đến hòa bình. Chúng ta hy vọng rằng hòa bình sẽ đến một cách nhanh chóng.”

Hồ Chí Minh diễn giải chiến thuật của Johnson như là một thế yếu. Ông ấy muốn dựa trên sự chán ngán chiến tranh ngày càng tăng của nước Mỹ (và có lẽ đã đánh giá quá cao những người chống chiến tranh ở Hoa Kỳ), dựa trên ý kiến chống chiến tranh ném bom của thế giới và dựa trên sức mạnh quân sự của chính mình.

Việc không thể hiểu nỗi đã xảy ra, tính toán của người thống trị trên 20 triệu nông dân châu Á chống lại cường quốc Mỹ đã thành công. Trong tháng 2, quân đỏ trong một cuộc tấn công lớn đã tràn ngập mỗi một thành phố quan trọng của Nam Việt Nam và đã giữ thành phố Huế, từng là thủ đô, bốn tuần liền. Mãi đến bây giờ Johnson mới hiểu rằng ông ấy không thể thắng cuộc chiến này được, nếu như ông ấy không sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh toàn phần và qua đó có thể là cho một xung đột nguyên tử trên thế giới.

Vào ngày 31 tháng 3 năm 1968, Johnson rút ra những quyết định; ông ấy tuyên bố sẵn sàng đàm phán hòa bình với Hà Nội, ra lệnh ngưng ném bom một phần (có hiệu lực cho ba phần tư Bắc Việt Nam) và công bố quyết định của ông ấy, không ra ứng cử thêm một nhiệm kỳ tổng thống nữa.

Sáu tuần sau đó, các đối thoại đầu tiên giữa Washington và Hà Nội đã bắt đầu ở Paris. Nước Mỹ đã không mang người Bắc Việt mà đã mang chính mình đến bàn đàm phán. Đối với người Mỹ, đấy là những cuộc đàm phán về hòa bình, trong khi Hà Nội chỉ muốn nói về việc “chấm dứt vô điều kiện các cuộc ném bom và tất cả các hoạt động chống Bắc Việt Nam khác” và ngoài ra thì không về điều gì cả.

Qua 28 cuộc họp, các đối tác đàm phán đã làm cho nhau kiệt quệ với bài thuyết trình về những quan điểm không thể hòa hợp được. Cuộc chiến, cái đã cướp đi nửa triệu sinh mạng con người trong tám năm, vẫn tiếp tục diễn ra.

Ngay trong tháng 7, hai tháng sau khi đàm phán bắt đầu, trưởng phái đoàn đàm phán của Johnson, Harriman, đã đề nghị với tổng thống, rằng ông ấy nên chấm dứt toàn bộ việc ném bom Bắc Việt Nam, để khởi động những cuộc đàm phán hòa bình thật sự. Nhưng lúc đấy Johnson vẫn còn tin rằng ông ấy đã thực hiện những bước đi trước đã đủ rồi, người Bắc Việt phải đi nước cờ kế tiếp.

Họ không làm việc đó. Thế nhưng khi các cuộc bầu cử tổng thống và lần từ giã của ông ấy càng tiến đến gần thì Johnson lại càng gấp rút tìm kiếm một giải pháp. Vì lần tự hy sinh của ông ấy ở ngày 31 tháng 3 sẽ là vô nghĩa, nếu như vào cái ngày mà người tổng thống rời Tòa Nhà Trắng vẫn còn những người Mỹ trẻ chết không có một triển vọng cho chiến thắng hay chiến tranh sẽ kết thúc ở châu Á.

Cuối tháng 9, Johnson báo cho đối thủ Hồ của ông ấy biết rằng ông ấy sẽ chấm dứt ném bom hoàn toàn, nếu như Hà Nội bảo đảm sẽ không lợi dụng bước đi này cho các lợi thế về quân sự, đàm phán nghiêm chỉnh và cũng đồng ý cho chính phủ Nam Việt Nam tham gia các cuộc đàm phán tại Paris. Trong trường hợp này, người Mỹ cũng sẽ chấp nhận Việt Cộng ở tại các cuộc đàm phán.

Hà Hội trì hoãn. Chính phủ Pháp đứng ra làm trung gian – họ lúc nào cũng biết rõ tin tức về diễn tiến của các cuộc đối thoại vì de Gaulle đã cho nghe lén các bên của hội nghị –, và Moscow khuyên Hà Nội nên có hạn chế.

Về phần mình, Johnson để cho các cơ quan mật vụ của ông ấy xác nhận rằng người Bắc Việt trên thực tế đã giảm bớt các cố gắng quân sự của họ – người ta cho rằng họ đã rút 40.000 quân lính từ Nam Việt Nam về trong những tuần vừa rồi. Tại một hội nghị bí mật trong Tòa Nhà Trắng vào tuần rồi, Tổng Thống đã tạo dịp cho vị tổng chỉ huy Việt Nam của mình, tướng Abrams, tuyên bố rằng chấm dứt ném bom sẽ không làm gia tăng con số nạn nhân trong quân lính Mỹ, mặc dù cho tới nay Johnson luôn luôn khẳng định điều ngược lại.

Vào ngày thứ năm lúc 8 giờ tối – ở New York thì trước đó 22 phút, vì một công ty truyền hình không chú ý đến thời hạn cấm – Tổng Thống ban lệnh ngừng tất cả các hoạt động quân sự chống nước Cộng hòa Bắc Việt kể từ thứ sáu, 14 giờ giờ mùa Hè Trung Âu.

Johnson: “Những gì mà chúng ta chờ đợi và những gì mà chúng ta có quyền đòi hỏi là những cuộc đàm phán có hiệu quả, nghiêm chỉnh và có cường độ cao … những cái không thể diễn ra trong một bầu không khí mà trong đó các thành phố bị bắn phá.”

Rồi vị nguyên thủ quốc gia yêu cầu thính giả của mình hãy cầu nguyện để “bước đi này dẫn đến một nền hòa bình dài lâu và đầy danh dự ở Đông Nam Á”.

Những lời cầu nguyện dường như là cần thiết. Vì trong khi Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom thì du kích quân cộng sản lần đầu tiên từ nhiều tuần nay đã bắn phá thủ đô Sài Gòn của Nam Việt Nam bằng hỏa tiễn. Họ bắn trúng một nhà thờ Công giáo đầy người – 23 người chết, trên 70 người bị thương.

Phan Ba dịch từ Der Spiegel 45/196: http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-45935137.html

Advertisements

One thought on “Cuộc chiến tranh ném bom của Mỹ

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s