Frank Snap: Là điệp viên CIA ở Việt Nam

Frank Snap

Frank Snap

Frank Snap được đào tạo ở Đại học Columbia về Ngoại giao, và ban đầu là nhà báo cho truyền hình. Từ 1969 cho tới 1975, ông là nhân viên CIA ở Việt Nam. Ngày nay, ông sống ở California và viết kịch bản cho phim truyền hình và phim nhiều tập.       

Tôi được giáo dục theo lối thủ cựu và hoàn toàn tin tưởng rằng hoạt động tham chiến của chúng tôi ở Việt Nam là cần thiết. Ngoài ra thì nói chung là tôi hoàn toàn không có hình dung nào về chiến tranh, tôi chỉ biết tôi không muốn là một người lính thường. Giáo sư đại học của tôi đề nghị tôi làm điệp viên, như thế thì tôi không phải sang Việt Nam. Tôi nghĩ ý tưởng đó thật là hay. Tôi có thể nói gì nữa, sáu tháng sau đó, tôi được đào tạo và được gởi tới chính nơi đó, ở Sài Gòn năm năm trời. Tôi là nhân viên hỏi cung, là nhà phân tích, là nhân viên tuyên truyền và cuối cùng là sếp chiến lược CIA. Đọc tiếp

Peter Rodman: Chính sách của Nixon và Hiệp định Paris

Peter Rodman từ 1969 là nhân viên của Hội đồng An ninh Quốc gia và là trợ tá của Henry Kissinger.     

Tháng Giêng 1969, Richard Nixon tiếp nhận cuộc Chiến tranh Việt Nam từ người tiền nhiệm. Vào ngày ông nhậm chức có 500.000 người lính ở Việt Nam, và con số của họ tiếp tục tăng lên. Không có kế hoạch mang họ trở về như thế nào, các cuộc đàm phán vừa mới bắt đầu. Nixon đứng trước một đống đổ nát. Mục đích quan trọng nhất của ông là giải phóng nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh này và đồng thời cố gắng ấn định những đường lối cơ bản cho một chính sách đối ngoại mới của Hoa Kỳ. Ông không có ý định đầu hàng. Dường như là có một sự đồng thuận khắp nước cho một loại thỏa hiệp trong danh dự nào đó. Chúng tôi gọi nó là “chiến tranh vì danh dự”, một cuộc rút quân từng bước. Điều quan trọng đối với Nixon là chúng tôi đóng chương Việt Nam lại với một hành động chính trị, không phải với một sự sụp đổ. Thế là ông cũng hành động như vậy, và có được sự hậu thuẫn trong nước cho chính sách Việt Nam của ông hầu như suốt cả nhiệm kỳ.

Tổng thống Nixon tuyên bố rút quân

Tổng thống Nixon tuyên bố rút quân

Đọc tiếp

Peter Arnett: “Tết Mậu Thân làm thay đổi tiến trình lịch sử”

Peter Arnett đứng cạnh một chiếc A 1 Skyraider đã cháy rụi vào ngày 12 tháng Mười 1965 ở gần Biên Hòa

Peter Arnett đứng cạnh một chiếc A 1 Skyraider đã cháy rụi vào ngày 12 tháng Mười 1965 ở gần Biên Hòa

Peter Arnett làm việc cho hãng thông tấn Associated Press (AP) từ 1962 cho tới 1975 ở Việt Nam và qua đó là phóng viên lâu năm nhất ở tại chỗ. Các bài viết mang nhiều tính phê phán của ông thường không làm cho giới quân đội Mỹ và chính phủ Nam Việt Nam hài lòng. Đối với nhiều người, ông là thông tính viên tốt nhất của Chiến tranh Việt Nam. Mới đây, ông cũng nổi tiếng qua những bài tường thuật riêng cho CNN từ Chiến tranh vùng Vịnh chống Iraq.

Đầu 1964, những kế hoạch hoạt động bí mật đến từ Washington. Quyết định đã được đưa ra, tấn công cảng và tàu ở Bắc Việt. Người ta thật sự lo ngại, rằng vũ khí và quân lính được chở bằng tàu thủy dọc theo bờ biển xuống Nam Việt Nam. Ngoài ra, chính phủ Mỹ muốn gây áp lực để làm bất ổn định Bắc Việt Nam. Họ gửi gián điện ra miền Bắc để tuyên truyền chống Hồ Chí Minh, họ gửi những người phá hoại, cho nổ tung vài cây cầu. Các hoạt động này được quyết định ở Washington. Chúng rất bí mật, được CIA điều khiển, từ các chuyên gia được che chắn rất tốt. Chúng được tiến hành từ Nam Việt Nam, nhưng không ai biết điều đó, cả các phóng viên lẫn người Việt. Một trong những kết quả của kế hoạch bí mật OPLAN 34A là các sự kiện ở Vịnh Bắc bộ, những cái được chính phủ Mỹ trình bày như là một cuộc tấn công tàu hải quân Mỹ. Tổng thống Johnson nói: “Chúng tôi tuần tra trong vùng biển quốc tế, và người cộng sản tấn công. Chúng tôi không thể chấp nhận điều đó.” Điều mà ông không nói là những chiếc tàu chiến này chở những người phá hoại và thâm nhập được đưa lén vào Bắc Việt. Điều này được giữ bí mật trước công chúng Mỹ. Johnson sử dụng những cuộc tấn công này để thu hút tình cảm quốc gia Mỹ. Và ông đã khiến cho Quốc Hội đã trao cho ông tựa như là toàn quyền cho cuộc chiến. Các nghị sĩ nói: “Chúng tôi ủng hộ tất cả những gì mà anh làm ở đó!”, nếu như ông có thể ngăn chận được người cộng sản. Đó là lần ủy quyền mà ông cần. Ông ấy là một chính trị gia rất khôn khéo. Nếu như người ta biết  nhiều hơn về sự việc thì đã có thể có hạn chế rồi. Nhưng như thế thì ông ấy đã có thể dùng sự kiện đó để thúc đẩy các ý tưởng riêng của ông nhằm mở rộng cuộc chiến. Thật là bi kịch.

Đọc tiếp

Walter T. Kerwin: Hai năm tham mưu trưởng ở Sài Gòn

Walter Kerwin

Walter Kerwin

Walter Kerwin phục vụ tổng cộng 39 năm trong quân đội, thời gian cuối là tướng bốn sao và là Phó Tham mưu trưởng. Ông phục vụ một thời gian dài ở Việt Nam và có thời gian chỉ huy quân đội Mỹ ở Puerto Rico, Panama và Alaska.     

Tôi đến Việt nam năm 1967, đáp xuống trong cùng chiếc máy bay với tướng Abrams, người được dự định là người thay thế tướng Westmoreland. Thật ra thì đã có dự định tôi sẽ là tham mưu trưởng dưới quyền ông. Thế nhưng khi chúng tôi đến thì phải mãi tới tháng Sáu 68 Abrams với tiếp nhận quyền tổng chỉ huy. Thế là tôi trở thành tham mưu trưởng dưới Westmoreland. Cho tới thời điểm đó, mọi việc dường như tiến triển tốt cho người Mỹ. Trông có vẻ như chúng tôi có nhiều tiến bộ. Nhưng rồi tới tháng Giêng 1968, khi chúng tôi có một vấn đề hết sức rõ ràng – đợt tấn công dịp Tết. Chúng tôi biết rằng sẽ có một đợt tấn công nào đó. Nhưng điều làm cho chúng tôi bất ngờ là quy mô của nó. Nó diễn ra trên khắp nước. Khắp nơi đều bị tấn công. Vấn đề chính là xác định vị trí của những người tấn công, làm rõ là thành phố nào và làng nào bị chiếm giữ. Mục đích của họ là lôi kéo người dân về phía họ. Ở mục đích này thì họ đã thất bại hoàn toàn. Việt Cộng đã bị tổn thất nhiều cho tới mức đợt tấn công này đã trở thành một thảm bại quân sự. Đọc tiếp

Đỗ Xuân Diễn: Đường mòn Hồ Chí Minh lớn lên với cuộc chiến

Quân đội Bắc Việt đã tham chiến ngay từ tháng Chín 1964. Vũ khí và quân lính được lén lút mang vào miền Nam qua con đường mòn Hồ Chí Minh.

Quân đội Bắc Việt đã tham chiến ngay từ tháng Chín 1964. Vũ khí và quân lính được lén lút mang vào miền Nam qua con đường mòn Hồ Chí Minh.

Năm 1964, Thiếu tướng Đỗ Xuân Diễn được cử vào đường mòn Hồ Chí Minh làm kỹ sư. Ngày nay, ông là sếp của tập đoàn xây dựng quân đội xuất thân từ Đoàn 559 huyền thoại của thời đó, xây đường sá ở Việt Nam và phi trường ở nước ngoài.      

 Con đường được gọi là Hồ Chí Minh có một lịch sử lâu dài. Ngay từ cuộc chiến tranh chống người Pháp, hệ thống đường đi đó đã được sử dụng và được mở rộng trong cuộc chiến chống người Mỹ. Từ đó mà thành hình một tổ hợp rộng lớn với năm đường dọc và 21 đường ngang. Những con đường này chạy xuyên qua vùng đất của các tỉnh Quảng Bình và Vĩnh Linh qua quân khu 5 cho tới Lào, tới Nam Việt Nam và vào vùng đông bắc của Campuchia.

Năm 1964, đường mòn Hồ Chí Minh được mở rộng dần. Lúc thành lập Đoàn Trường Sơn (Đoàn 559) trong năm 1959, tất cả còn được làm bằng sức người. Nhưng bây giờ thì chúng tôi cải tạo con đường mòn cho vận tải cơ giới. Nó lớn lên với cuộc chiến.

Các con đường có một chiều dài là 16.000 kilômét; nếu như cộng cả những con đường chở hàng đến thì gần 20.000 kilômét. Để bảo vệ tất cả chúng, chúng tôi có một sư đoàn phòng không và một sư đoàn tên lửa. Các đơn vị này bắn rơi trong cuộc chiến tổng cộng là 2400 máy bay Mỹ. Chúng tôi cũng có lính bộ binh để bảo vệ, đó là Sư đoàn 968. Tổng cộng có 19.000 quân địch bị giết chết dọc theo mặt trận này. Để có thể quản lý về mặt tiếp vận cho các vận chuyển dọc con đường này, dẫn cho tới một nơi chỉ cách Sài Gòn 100 kilômét, chúng tôi có những đơn vị thông tin riêng, đã hoạt động xuất sắc trong toàn bộ những năm đó. Đọc tiếp

Sylvia Roba: Các cuộc biểu tình đã đặt dấu ấn lên cả một thế hệ

Tôi nghĩ rằng 1965 là lần đầu tiên mà tôi là nữ sinh viên đã tham gia một cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam ở tại đại học Iowa. Tôi đang đi với một cô bạn gái thì có một nhóm người đi ngược lại. Họ mang theo đèn pin và nhiều tấm bảng, và tôi có thể nhận ra ngay rằng đó là một cuộc biểu tình chống chiến tranh. Cô bạn học của tôi rất bực tức, vì người yêu của cô phục vụ trong Navy và cô ấy nói rằng những người này không có quyền làm một điều như vậy. Phản ứng của tôi thì khác. Tôi không biết những con người đang đi ở đó là ai, cũng không biết mục đích của họ. Nhưng tôi cảm nhận rằng đó là một cái gì đấy có dính líu tới tôi.

Hàng trăm ngàn người biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam ở New York vào ngày 27 tháng Tư  năm 1968

Hàng trăm ngàn người biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam ở New York vào ngày 27 tháng Tư năm 1968

Đọc tiếp

Dean Hubbard: Sinh viên đốt giấy triệu tập nhập ngũ của họ

Dean Hubbard là chủ nhiệm khoa của đại học Iowa vào cuối những năm sáu mươi.    

Các cuộc biểu tình của sinh viên chống chiến tranh ở Việt Nam bắt đầu vào giữa những năm sáu mươi. Những cuộc biểu tình này lúc đầu còn dè dặt, nhưng rồi đã tăng lên cùng với hoạt động tham chiến ngày một tăng của Mỹ ở Đông Dương. Khi những giấy triệu tập nhập ngũ đầu tiên được gửi về, mọi việc bắt đầu leo thang. Các sinh viên phản đổi đã dùng trí thông minh của họ để đảm bảo một tính công chúng lớn như có thể được. Họ thông báo các hoạt động của họ cho các đài truyền hình và phát thanh cũng như báo chí. Có lần họ đã chặn đường cao tốc cả ở hai chiều và gây ra một hỗn loạn trong giao thông. Cũng có những lời đe dọa đánh bom, thậm chí là cả cho một bệnh viện nữa.

Chúng tôi cố gắng trao đổi với các sinh viên. Trường đại học được đặt vào tình trạng báo động. Chúng tôi thành lập một đội trực riêng, cũng ở lại trong các tòa nhà về đêm. Các bạo loạn ở Đại học Quốc gia Kent mà trong đó nhiều sinh viên bị bắn chết cũng có nhiều tác động lớn đến thành phố của chúng tôi. Người thống đốc đã sẵn sàng sử dụng vệ binh quốc gia trong trường hợp cần thiết để chống lại các phá phách trong khuôn viên trường địa học. Chúng tôi cũng có người của chúng tôi ở ngoài đó trong đám đông với máy bộ đàm, để luôn luôn nhận được thông báo về tình hình.

Vệ binh bắt đầu nổ súng tại Kent State University

Vệ binh bắt đầu nổ súng tại Kent State University

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 60 other followers