GO! Độc Tài Sinh Thái

GO! Độc tài sinh thái

GO! Độc tài sinh thái

Trái Đất năm 2040. Môi trường sống trên quả Địa Cầu đã xấu đi một cách tệ hại. Không còn chính phủ, không có truyền thông tư nhân, nắm toàn quyền ở các quốc gia công nghiệp Phương Tây trước đây là những hội đồng sinh thái cực đoan với những biện pháp cực đoan để cứu vãn Trái Đất và môi trường sống của nó. Đồng phục cho tất cả mọi người. Tiền tệ bị hủy bỏ. Phạm nhân và người bệnh bị cách ly trong những trại thành phố. “GO! Độc tài sinh thái” mô tả một viễn cảnh tối tăm ngột ngạt mà Đài phát thanh Hessen nói rằng cứ mỗi năm qua nó lại càng mang tính thời sự nhiều hơn một cách đáng sợ. Hai mươi năm sau khi ra đời, quyển tiểu thuyết này bây giờ gần với sự thật một cách đáng sợ hơn bao giờ hết.

Khi được xuất bản lần đầu, “GO! Độc tài sinh thái” đã gây chấn động trong nước Đức vì trình bày một viễn cảnh đen tối. Quyển sách sau đó đã trở thành một quyển sách kinh điển của dòng văn học thriller sinh thái tiếng Đức. “GO! Độc tài sinh thái”  nhận Giải thưởng Khoa học Viễn tưởng Đức năm 1994.

GO! hiện đã được xuất bản ở Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bản. Bản tiếng Anh đang được tiến hành. Đồng thời, năm 2014, nhà xuất bản p.machinery đã tái phát hành bản tiếng Đức. Đọc tiếp

“Hủy diệt để cứu thoát” (phần 1)

Việt Nam, thu 1967

Gần như đã thắng cuộc chiến rồi, các phát ngôn viên quân đội Mỹ tuyên bố ở Sài Gòn. Mỗi ngày, viên briefing officer đều biết tường thuật về hàng trăm structures, kho dầu và kho đạn, bị US Air Force phá hủy ở phía bắc và phía nam của vĩ tuyến 17. Lúc hỏi vặn thêm thì mới biết rằng với khái niệm structures, người ta thường chỉ muốn nói tới những ngôi nhà bằng tre ở trong vùng của địch quân. Toàn bộ nhiều hệ thống máy tính đã dựa trên con số body count được cẩn thận thâu thập về một mối mà tính toán ra rằng “main force” của kẻ địch về cơ bản là đã bị tiêu diệt, và các irregulars đã kiệt lực. Ở trên này, ở Cồn Tiên, nơi Bắc và Nam Việt Nam đụng đầu nhau, thì người ta ít nhận ra được điều gì từ những thông tin chiến thắng đó. Đọc tiếp

Trên đường đi tìm thời gian đã mất (hết)

Trong các sứ quán ở Vientiane, huyền thoại của tambours de bronze luôn được kể lại. Tiếng trống đồng này thuộc vào trong số các sản phẩm đẹp nhất của thủ công Lào từ thời Cổ đại xa xưa. Mặt tròn được trang trí với những dấu hiệu thiên văn học. Ở rìa có những nhóm ba con ếch đang giao cấu, và đường hàn được trang trí bằng những con voi bé tí. Những cái trống trong đền thờ này, huyền thoại kể như vậy, vào thời xa xưa đã được một lãnh chúa Lào thông minh sử dụng để đánh lừa kẻ địch trong chiến tranh. Khi một đạo quân Trung Quốc mạnh hơn rất nhiều tiến vào từ phương bắc, người hoàng tử đã cho lấy những cái trống đó từ trong chùa ra và đặt chúng dưới vô số những thác nước của đất nước này. Qua đó mà thành hình một tiếng ầm ào quái dị, khiến cho quân lính của hoàng đế Trung Quốc có ấn tượng rằng một đạo quân Lào hùng mạnh đang tiến đến. Các thiên tử, hoảng sợ vì tiếng ồn của tambours de bronze, thời đó đã rời “đất nước triệu voi” mà không buồn chiến đấu, huyền thoại chấm dứt như vậy. Đọc tiếp

Trên đường đi tìm thời gian đã mất (phần 1)

Lào, thu 1966

“Ở dưới đó là bắt đầu Cánh đồng Chum”, viên phi công nói và chỉ xuống một lòng chảo khổng lồ, được đồi núi viền quanh khắp các hướng. Không nên bay ngang qua Plaine des Jarres này. Người Bắc Việt, những người đã chiếm lấy vị trí chìa khóa chiến lược này ở phía bắc của Lào, mới đây đã có súng phòng không của Nga. “Mới tuần rồi họ đã bắn rơi một chiếc máy bay tư nhân ở gần Tchepone”, viên phi công nói thêm và quay chiếc Cessna của ông sang hướng tây bắc.

Ông có tên là Pierre Mounier và đã từng là hạ sĩ quan phục vụ trong Không quân Pháp. Cùng với một cựu chiến binh khác của cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, ông đã thành lập hãng hàng không bé tí hon này. Mounier hẳn là đã chở tất cả những loại hàng lậu mà người ta có thể nghĩ ra, kể cả thuốc phiện. Chúng tôi mướn chiếc Cessna của ông cho đội quay phim truyền hình của chúng tôi với một giá rẻ tới mức buồn cười, và trong lúc đó có cảm giác là chúng tôi đã tạo cho ông công việc làm thật thà đầu tiên kể từ lâu lắm rồi, và qua đó cũng tạo chứng cớ ngoại phạm cho ông đối với các cơ quan nhà nước. Mounier là một người trầm lặng, đáng tin cậy. Ông sống với một phụ nữ Lào và biết rõ đất nước này như lòng bàn tay của ông. Đọc tiếp

Victor Charlie không muốn lộ diện

Thung lũng Kim Sơn, mùa thu 1966

Tướng Westmoreland, tổng chỉ huy Hoa Kỳ ở Việt Nam, đã tìm thấy phương thức công hiệu để chống du kích quân, người ta nói như vậy vào thời đó trong các ban tham mưu ở Sài Gòn, và giới báo chí Phương Tây hòa vào dàn đồng ca này.

Công thức mới của chiến thắng có tên là “Search and Destroy – Tìm và Diệt.” Không còn ai muốn biết gì về chiến lược cho tới nay nữa, cái mà mới đây đã được giới thiệu dưới cái tên “Clear and Hold – Quét và Giữ”. Chiến thắng dường như nằm trong tầm tay, từ khi Sư đoàn Kỵ binh số 1, được gọi là First Cav, với một đoàn trực thăng tỏa ra ở giữa Trung Kỳ đi tìm những chỗ ẩn nấp của Việt Cộng. Du kích quân bị phát hiện trong thung lũng Kim Sơn. Khi chúng tôi bay trực thăng đến được nơi mà đại đội First Cav mới đáp xuống trước đó thì những người lính Mỹ đã đi qua đám cỏ voi cao được vài ki-lô-mét. Chúng tôi đi hàng một và lúc nào cũng đặt chân vào dấu của người đi trước. Qua đó, rủi ro dẫm phải mìn nhỏ đi. Đặc biệt đáng sợ là những cái bẫy hố hiểm độc có tre được vác nhọn và tẩm thuốc độc ở dưới đó. Dưới một bụi tre rậm, lính kỵ binh phát hiện ra nhiều cái vại to bằng đất sét chứa đầy gạo. Những cái vại đó bị đập vỡ. Kiến sẽ lo liệu nốt phần còn lại. Đất mới vừa được đổ lên ở rìa của một xóm nhỏ tí. Lính Mỹ đào xuống và phải bịt mũi lại. Họ đã phát hiện ra một mồ chôn tập thể của khoảng mười hai cái xác chết đã thối rữa. Tôi chú ý thấy những người lính của First Cav thường hay tạm nghỉ nhiều cho tới đâu, và họ bảo vệ vị trí của họ không cẩn thận cho tới đâu. Rõ ràng trực thăng là một phương tiện vận chuyển tiện nghi cho tới mức người ta đã quên cách hành quân. Ngoài ra thì tuy là “tìm” rất nhiều, nhưng không “diệt” được gì cả, nếu như không kể tới vài ngôi nhà tre bị đốt cháy. “Xin đừng quay phim”, đại úy Lewis từ Alabama nói. “Chính thức thì chúng tôi không được phép đốt cháy những căn nhà này.” Viên đại úy là một người da đen có diện mạo đẹp và dễ gây thiện cảm. Ông chỉ huy một đại đội hầu như chỉ toàn người da trắng, và uy quyền của ông là không tranh cãi. Trong lúc nghỉ trưa, ông kể cho tôi nghe câu chuyện của ông. Vào ngày ông khởi hành sang Việt Nam, khi ông từ giã vợ ông từ một cái buồng gọi điện thoại công cộng ở Montgomery, ông bị một tên phân biệt chủng tộc quá khích người da trắng bắn ở sau lưng. Quân đội đã tỏ tình đoàn kết với ông, và ông đã được ưu tiên thăng chức chỉ huy đại đội. Đọc tiếp

Phong cách Mỹ (hết)

Trái tim dân tộc Việt đập nhịp ở Huế, thời đó người ta nói như vậy. Vẫn còn chưa có quân đội Mỹ đổ bộ vào thủ đô ngày xưa của Vương quốc An Nam, nhưng người dân của nó đã đông cứng lại trong sự kháng cự thù địch và bản năng, chống lại những kẻ xâm nhập mới này. Huế mang dấu ấn của những bức tường màu xám, mục nát của hoàng thành. Không thể không nhận ra phong cách của bậc thầy xây pháo đài người Pháp Vauban. Cung điện bị bỏ bê không còn loan báo sự lộng lẫy đế vương nữa.

Một bác sĩ trẻ người Đức, hành nghề và giảng dạy trong bệnh viện của đại học Huế, tháp tùng chúng tôi trong chiếc Peugeot của ông ấy tới các lăng mộ hoàng đế xưa cũ. Các lăng mộ này đã nằm trong vùng đất đồi núi giữa hai chiến tuyến, nơi mà Việt Cộng thống trị sau khi màn đêm buông xuống. Những lăng mộ này là bản sao trung thành của các gương mẫu Trung Quốc. Chỉ là ở đây thì tất cả đều nhỏ hơn và khiêm tốn hơn, ngay tới các con voi và các con vật huyền thoại viền các đại lộ cũng vậy. Quan lại bằng đá đứng xếp hàng để bày tỏ lòng thần phục theo thứ bậc. Không ở đâu mà có thể nhìn thấy rõ ràng hơn, rằng người Việt Nam chỉ nhờ vào một sức mạnh phản kháng kỳ diệu mà đã chống lại được sự sáp nhập vào Trung Quốc. Họ đã tiếp nhận chữ viết và văn hóa của Trung Quốc, trước khi các nhà truyền giáo Âu châu tiến hành phiên âm tiếng Việt ra chữ cái La-tinh. Các đền thờ của thành phố người chết nằm rải rác trong các công viên yên lặng. Hoa sen và hoa súng nở trên làn nước xanh rêu của những cái hồ vuông. Chúng tôi tiếp tục đi xe trên một con đường đất về phía tây. Chúng tôi dừng lại trên một ngọn đồi vẫn còn có một công sự bê tông cũ của Pháp ngự ở trên đó. Quả bóng mặt trời màu đỏ hạ xuống gần tới hình bóng của dãy núi. Biên giới Lào nằm ở đó. Ở dưới chân chúng tôi là một trong những phong cảnh đáng yêu nhất của châu Á. Dòng sông Hương kéo qua những cánh đồng lúa xanh tươi và những bụi tre gợn sóng như một dãy bạc rộng lớn. Trong ánh sáng lẫn khói, những chiếc tàu đánh cá và thuyền buồm trôi đi trên Rivière des Parfums. Một cái tháp chùa mở rộng những cái mái cong cong của nó ra. Đọc tiếp

Trung Quốc xây đảo nhân tạo thứ tư ở Trường Sa

Trung Quốc xây hòn đảo nhân tạo thứ tư ở biển Đông. Theo như trang dịch vụ thông tin quân sự “Jane’s”, các bức ảnh vệ tinh cho thấy hòn đảo cho tới nay là lớn nhất của những hòn đảo này.

Ở Fiery Cross Reef (Đá Chữ Thập) gần Trường Sa, tàu nạo vét trong vòng bốn tháng vừa qua đã tạo một hòn đảo cát dài ba ki-lô-mét và rộng cho tới 300 mét. Rạn san hô này trước đây phần lớn nằm ở dưới mặt nước. Trong những tháng vừa qua, Trung Quốc đã xây đảo nhân tạo ở Johnson South Reef (Đá Gạc Ma), Cuarteron Reef (Đá Châu Viên) và Gaven Reef (Ga Ven).

Trên hình có thể nhận rõ được phi trường, đường băng, hải cảng và tường bảo vệ bờ biển. Ở phần cuối đảo phía tây nam có thể nhận ra một căn cứ quân sự nhỏ.

Fiery Cross Reef (Đá Chữ Thập): Đảo nhân tạo thứ tư của Trung Quốc ở Trường Sa.

Theo Spiegel Online: http://www.spiegel.de/wissenschaft/technik/china-baut-kuenstliche-insel-im-suedchinesischen-meer-an-spratly-islands-a-1004769.html

 

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 65 other followers