Pierre Salinger: De Gaulle đã cảnh báo Kennedy (1961)

Pierre Salinger là thuyền trưởng hải quân trong Đệ nhị Thế chiến, sau đó đã trở về với nghề nghiệp nhà báo ban đầu của ông và rồi là thư ký báo chí của John F. Kennedy.

Chuyến thăm viếng chính thức của John F. Kennedy như là tổng thống Hoa Kỳ mới thắng cử năm 1961 đã dẫn ông sang Pháp. Tôi đã ở đó từ sáu tuần trước và chuẩn bị cuộc gặp gỡ của ông với Charles de Gaulle. Thế rồi chúng tôi đi xe về Paris. Kennedy yêu cầu tôi tham gia các cuộc trao đổi, vì khác với ông, tôi biết nói tiếng Pháp và ông quan tâm tới thông tin chính xác ngoài những người phiên dịch chính thức. Đó là một cuộc gặp gỡ rất thú vị, và gây ấn tượng cho tôi đặc biệt là lời nói gần như là khẩn nài của de Gaulles: “Anh đừng bước vào cuộc chiến tranh với Việt Nam! Anh thấy những gì đã xảy ra cho chúng tôi rồi. Chúng tôi đã thua cuộc chiến đó. Cả anh cũng sẽ thua nó!”

Trong mối liên quan này tôi cũng nhớ một cuộc trao đổi rất lâu mà Kennedy đã tiến hành với thượng nghị sĩ Eugene McCarthy trong mùa hè 1963, người trong Đệ nhị Thế chiến là người quan trọng nhất của Hoa Kỳ cho châu Á. Sau đó, McCarthy vào phòng làm việc của tôi và giải thích. “Bây giờ tôi nói với anh chính xác điều mà tôi cũng đã nói với Kennedy. Ông ấy không bao giờ, không bao giờ nên tiến hành chiến tranh ở Việt Nam, vì ông sẽ thua nó. Đó là một sai lầm.”

Trong tháng Mười một 1963, Kennedy gửi tôi sang Tokio, để chuẩn bị cho chuyến đi thăm của ông, dự định là sáu tuần tới. Ông nói với tôi trước khi lên đường: “Tôi sẽ tiến hành đối thoại với Bắc Việt Nam và làm rõ rằng sẽ không có chiến tranh.” Máy bay của tôi khởi hành vào ngày 22 tháng Mười một vào lúc sáu giờ sáng – ba giờ sau đó, tôi nhận được tin là Kennedy đã bị giết chết.

Phan Ba trích dịch từ “Apokalypse Vietnam”

Đọc những bài phỏng vấn khác ở trang Chiến tranh Đông Dương

Claude Cheysson: Hội nghị Đông Dương ở Genève (1954)

Claude Cheysson trong những năm 50 làm việc trong Bộ Ngoại giao Pháp, ban đầu là cố vấn cho chính phủ Nam Việt Nam. Ngoài những việc khác, ông đã từng là một người lính tham gia trận Điện Biên Phủ (1954). Cuối cùng, Cheysson là một trong những nhà cố vấn cho thủ tướng Pháp Pierre Mendès-France, cùng chuẩn bị Hội nghị Đông Dương ở Genève và tham dự hội nghị này. Sau đó, ông lại được gởi sang Việt Nam, để giải thích tại chỗ về các thỏa thuận giữa Pháp và VNDCCH.

Tinh thần ở Pháp trước Hội nghị Đông Dương tại Genève bị chia rẽ. Một mặt, trong người dân và cả trong chính phủ Pháp hẳn là muốn có một thỏa thuận với Hồ Chí Minh và Việt Minh. Tôi tin rằng ngay từ năm 1945, Tướng de Gaulle đã thích một thỏa thuận với người Việt hơn. Nhưng mặt khác, chính những người cánh hữu của Pháp lại không muốn từ bỏ Đông Dương. Với việc cử Đô đốc d’Argenlieu làm cao ủy Đông Dương (1945), lực lượng này đã thành công trong việc củng cố vị trí của họ.

Claude Cheysson

Claude Cheysson

Đọc tiếp

Vinh: Trận Điện Biên Phủ (1954)

Vinh

Vinh

Một người lính thường của Quân đội Nhân dân Việt Nam

Tôi nhập ngũ trong tháng Chín 1952. Thời đó còn chưa có nghĩa vụ quân sự, những người tòng quân đều là tình nguyện cả thôi. Tình đồng đội của chúng tôi rất tốt. Chúng tôi luyện tập dưới những điều kiện sống rất khó khăn, đói ăn. Nhưng chúng tôi vẫn hăng hái học bắn súng, ném lựu đạn, đào hào và chiến đấu theo đội hình.

Khi chuẩn bị cho Điện Biên Phủ, tôi là một người lính bộ binh bình thường. Tuy chúng tôi không biết nhiều về chiến lược, nhưng chúng tôi cảm nhận được là công việc chuẩn bị được tiến hành rất tốt. Tinh thần của chúng tôi cũng rất tốt, chúng tôi tập luyện tại một địa điểm bí mật để làm sao mà phá vỡ được một pháo đài. Các điều kiện xung quanh cũng tốt, có đủ gạo, đủ thuốc men, đủ đạn dược và quân lính. Ví dụ như đơn vị tôi được tăng cường tới năm lần. Ngoài ra, phối hợp giữa các đội hình cũng rất tốt. Các đơn vị hậu cầu hành quân giống như nước chảy vậy, người trong đủ loại quần áo, nói đủ các thứ tiếng. Tinh thần thật là tuyệt vời. Đọc tiếp

Lưu Đoàn Huynh: Người Trung Quốc hiện diện như là một lời đe dọa

Lưu Đoàn Huynh

Lưu Đoàn Huynh

Lưu Đoàn Huynh là một nhà ngoại giao, nhà phân tích tình báo và sau này là giám đốc của Viện Quan hệ Quốc tế

Chủ nghĩa Thực dân của người Mỹ khác xa Chủ nghĩa Thực dân của người Pháp. Hoa Kỳ cho phép có đảng chính trị và ngay từ những năm ba mươi đã trao trả độc lập lại cho nhiều thuộc địa. Nước Pháp thậm chí còn không cho phép Quốc Dân Đảng hoạt động ở nơi chúng tôi nữa, một đảng mà thật ra chỉ theo đuổi một đường lối dân tộc chủ nghĩa. Nếu như người Mỹ là thực dân theo kiểu Pháp thì họ đã tới chỗ chúng tôi ngay từ năm 1945 và đã giúp cho người Pháp rồi. Thế nhưng họ đã không can thiệp cho tới 1950. Điều đó chỉ thay đổi với cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Chỉ khi họ nhìn thấy rằng người Bắc Triều Tiên trong vòng có một tuần đã chiếm hầu như toàn bộ miền Nam, họ mới lo ngại rằng nó cũng sẽ diễn ra nhanh như thế ở khắp nơi trong châu Á, rằng họ sẽ mất ảnh hưởng ở khắp nơi. Rồi thì thuyết Domino cũng thành hình từ nỗi lo sợ này chứ không phải là từ suy nghĩ điềm tĩnh và khách quan. Tôi tin rằng người Mỹ sẽ không bao giờ tới Việt Nam nếu như không có cuộc Chiến tranh Triều Tiên và không có xung đột với Trung Quốc. Lúc đó, họ nghĩ rằng khối xã hội chủ nghĩa muốn bành trướng và người ta phải dùng mọi sức lực để chống lại việc đó. Thời đó, Hoa kỳ đã hiều hoàn toàn sai chúng tôi, vì chúng tôi không muốn bành trướng, Chúng tôi không muốn tấn công nước khác. Sau khi Việt Nam được giải phóng, sau khi Lào và Campuchia được giải phóng thì cuối cùng rồi người ta cũng nhìn thấy rằng không có thêm đất nước Đông Nam Á nào sụp đổ cả. Tức là thuyết Domino đã sai hoàn toàn.

Quân đội Việt Minh ngày càng đạt tới nhiều thành công quân sự hơn, như lần giải phóng ngôi làng này năm 1951.

Quân đội Việt Minh ngày càng đạt tới nhiều thành công quân sự hơn, như lần giải phóng ngôi làng này năm 1951.

Đọc tiếp

Heli de Saint Marc: “Chúng tôi sống một cuộc sống như trong truyện cổ tích”

Helie de Saint Marc sang Việt Nam với đoàn lính lê dương và đã đóng quân ở miền cực Bắc của đất nước này, cạnh biên giới với Trung Quốc, cho tới năm 1949.

Nước Pháp đã công nhận từ rất sớm nền độc lập của Việt Nam. Khi tôi tới đó năm 1948, tôi có cảm giác như mình đang tham dự vào trong lần tái chiếm đất nước này làm thuộc địa. Chúng tôi chiến đấu chống lại những người Việt có tinh thần rất cao, mang nặng ảnh hưởng của ý thức hệ cộng sản. Nhưng chúng tôi cũng chiến đấu cùng với những người Việt Nam cũng rất can đảm. Cả họ tuy cũng hoan nghênh nền độc lập của nước họ, nhưng muốn cùng với nước Pháp xây dựng nó. Ở đây, tôi chỉ nói như là một người lính bình thường, nhưng tôi nghĩ chúng tôi muốn hai việc: về một mặt chúng tôi muốn phá vỡ một cấu trúc thuộc địa đã lỗi thời đối với chúng tôi, mặt khác, bảo vệ con người trước một chế độ chúng tôi cho là độc tài.

Năm 1953, Việt Nam và Pháp mỗi bên có tròn 350.000 người lính chiến đấu chống lại nhau. Trong hình là một đơn vị của VNDCCH sắp ra mặt trận.

Năm 1953, Việt Nam và Pháp mỗi bên có tròn 350.000 người lính chiến đấu chống lại nhau. Trong hình là một đơn vị của VNDCCH sắp ra mặt trận.

Đọc tiếp

Roger Hilsman: Hoa Kỳ là đồng minh đầu tiên của Việt Minh

Roger Hilsman 1963

Roger Hilsman 1963

Roger Hilsman giữ nhiều chức vụ cao cấp trong phòng Đông Á của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ từ 1961 tới 1964. Ông có ảnh hưởng quyết định tới chính sách chống nổi dậy (Counterinsurgency) của đầu những năm 60. Cuối 1962, tổng thống Kennedy gửi ông sang Việt Nam để lập một bản tường trình về tình hình mà sau khi đọc nó, chính phủ Hoa Kỳ đã bỏ rơi tổng thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm. Hilsman từ chức năm 1964.

Hoa Kỳ nguyên thủy là đồng minh của Việt Minh. Liên minh này ra đời dựa trên sáng kiến của Dean Rusk. Vào cuối Đệ nhị Thế chiến, ông gửi khoảng 100 sĩ quan liên lạc của mật vụ OSS (Office Strategic Services) sang Việt Nam, như là một phần của cơ quan trung ương Hồ Chí Minh, hỗ trợ cho cuộc đấu tranh chống người Nhật. Đó là một sự thật, người Mỹ đầu tiên chết tại Việt Nam là ở bên phía của Việt Minh. Cùng với OSS, họ cũng cứu thoát phi công Hoa Kỳ bị quân đội Nhật bắn hạ. Rusk lo ngại rằng sau chiến tranh, cửa sẽ mở rộng cho người Trung Quốc và người Nga. Hồ Chí Minh cực lực phản bác điều đó. Trả lời câu hỏi của một người được gọi là diều hâu, tại sao ông không muốn lôi kéo Trung Quốc vào trong cuộc chiến, ông trả lời. “Lần cuối cùng mà người Trung Quốc vào Việt Nam, họ đã ở lại 1000 năm. Đó có phải là điều ông muốn hay không?” Ông ấy sẽ không bao giờ để cho Trung Quốc đi vào nước. Ông ấy chấp nhận giúp đỡ nhân đạo, nhưng không chấp nhập giúp đỡ quân sự. Rusk không thể hiểu được điều đó.

Đọc tiếp

Võ Nguyên Giáp: Truyền thống đấu tranh một ngàn năm

Apokalypse VietnamLời người dịch: Tháng Tư năm 2000, kỷ niệm 25 năm ngày chiến tranh chấm dứt ở Việt Nam, Đài Phát thanh và Truyền hình Trung Đức (MDR) đã phát sóng một bộ phim tài liệu truyền hình về cuộc chiến tranh ba mươi năm ở Đông Dương gồm năm tập, dài tổng cộng gần bốn tiếng dưới tựa đề “Apokalyse Vietnam”, trong đó cũng có phỏng vấn rất nhiều nhân chứng của tất cả các bên. Quyển sách cùng tên “Apokalyse Vietnam” đã ghi lại tất cả những cuộc trao đổi này. Các bài dịch dưới đây đều được trích dịch từ quyển sách nói trên. Dịch giả tuân thủ theo cách phân chia cũng như tựa đề của mục lục.

Võ Nguyên Giáp

Tướng Võ Nguyên Giáp là tổng tư lệnh của quân đội Việt Minh trong Chiến tranh chống Pháp. Từ 1946 cho tới 1980 ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH). Ông được cho là nhà chiến lược của cuộc đấu tranh giải phóng của người Bắc Việt, ngay cả khi ông chống lại việc nước VNDCCH tham chiến ở Nam Việt Nam cả một thời gian dài.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 59 other followers