Nhật ký sau giải phóng (2)

Những giờ cuối cùng của chế độ cũ

29/04/1975

Ngày hôm nay là một ngày lễ bất thường và bi thảm, vì lệnh giới nghiêm tiếp tục có giá trị sau 24 giờ đã tuyên bố. Nhưng vì nó không được giữ đúng một cách nghiêm ngặt nên nếu ai muốn đi hay phải đi thì cũng đều vào được tới Trung Tâm.

Không ai ngủ được nhiều trong đêm qua. Máy bay trinh sát và trực thăng quay vòng vòng liên tục trên thành phố. Tôi ngồi ngoài ban công trong bóng tối và nhìn lên bầu trời có ít mây, nơi một mặt trăng bị che khuất đang chiếu sáng như trong cơn lo âu xuống quang cảnh thành phố. Lần cố gắng đi ngủ sau đó cũng không thành công. Vào ba giờ rưỡi sáng, những tiếng nổ lớn của hỏa tiển đã lôi chúng tôi ra khỏi giấc ngủ. Phi trường lại bốc cháy. Mọi người trong nhà chúng tôi kéo hết xuống tầng trệt. Cứ hai mươi phút thì điện thoại reo một lần. Vào lúc bốn giờ, tôi được thông báo là những đứa bé sơ sinh của nhà trẻ đã được mang xuống hầm. Như sau này tôi nghe được, chúng chỉ ở dưới đó nửa giờ đồng hồ, vì tiếng nổ giảm dần và vì kiến đã quấy rối nhân viên với trẻ em rất nhiều. Còn hai giờ để ngủ.

Phi trường Tân Sơn Nhứt, ngày 29 tháng Tư 1975

Phi trường Tân Sơn Nhứt, ngày 29 tháng Tư 1975

Đọc tiếp

Nhật ký sau giải phóng (1)

Nhật ký sau giải phóng - Walter Skrobanek

Ông Walter Skrobanek, sinh năm 1941 ở Graz (Áo), lớn lên trong vùng Wiesbaden (Đức), học đại học trong nửa sau của thập niên 1960 về chính trị học, xã hội học và lịch sử tại trường Đại học Heidelberg (Đức), bảo vệ bằng tiến sĩ về chính trị Phật giáo ở Thái Lan. Sau đại học, ông là nhà báo tự do và biên tập viên tại nhiều nhật báo trong vùng Mainz (Đức). Năm 1973, ông cùng với vợ người Thái Siriporn sang Sài Gòn để làm việc tại đó cho tổ chức giúp đỡ trẻ em terre des homme. Từ 1976, ông là điều phối viên của terre des hommes cho Đông Nam Á và sống ở Bangkok cho tới khi về hưu và qua đời vì bệnh tật năm 2006.

Quyển nhật ký của ông, được bắt đầu ở Sài Gòn vào ngày 28 tháng Tư 1975, thành hình từ ý nghĩ rằng lịch sử bây giờ đang được viết ở xung quanh ông.

Sài Gòn, ngày 28 tháng Tư 1975

Từ Chủ Nhật hôm qua, Sài Gòn bị cắt đứt với thế giới bên ngoài. Trong một giờ yên lặng vào chiều tối – đài phát thanh Mỹ vẫn còn phát nhạc ướt át đang thịnh hành – tôi chợt muốn gửi cho các người thêm một vài dòng, để các người biết rằng cuộc sống vẫn còn tiếp tục.

Đọc tiếp

Việt Nam kỷ niệm chấm dứt chiến tranh – và mua tên lửa

Der Spiegel

Trước đây đúng 40 năm, vào ngày 30 tháng Tư năm 1975, xe tăng từ miền Bắc của đất nước đã lăn qua cánh cổng sắt của Dinh Tổng thống ngày xưa. Với một cuộc duyệt binh lớn ở thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam đã kỷ niệm lần kết thúc cuộc chiến. Có mặt tại cuộc duyệt binh được truyền trực tiếp qua truyền hình này, bên cạnh lãnh đạo nhà nước và chính phủ, cũng là nhiều thành viên của Đảng Cộng sản. Không có đại diện của Hoa Kỳ.

Việt Nam tưởng nhớ ngày chấm dứt chiến tranh với một cuộc duyệt binh lớn.

Việt Nam tưởng nhớ ngày chấm dứt chiến tranh với một cuộc duyệt binh lớn. Hình: AP/dp.

Đọc tiếp

Không còn chào mừng nữa, mà là giáo dục cải tạo

Börries Gallasch từ Sài Gòn

Phan Ba dịch từ Der Spiegel 23/1975 (02/06/1975)

Những giây phút kinh hoàng ở Sài Gòn: một người tự thiêu trên cái bục của tượng đài chiến sĩ ở cạnh Quảng trường Lam Sơn, giống như trên một bàn thờ.

Không ai biết người này đã hy sinh vì điều gì – những người lính giật lấy giấy tờ nằm cạnh thân thể đang cháy, những cái có thể đưa ra một lời giải thích, ra khỏi tay của nhà báo. Phim bị tịch thu, đám đông bị giải tán.

Mặc dù vậy, vụ tự sát của con người vô danh đó vẫn có tác động trực tiếp: sự thay đổi bầu không khí ở Sài Gòn đã có thể cảm nhận được. Nỗi lo sợ lại xuất hiện ở trên bề mặt.

Sài Gòn, tháng Năm 1975

Sài Gòn, tháng Năm 1975

Đọc tiếp

11 giờ ngày 30 tháng Tư ở Dinh Tổng Thống

Börries Gallasch từ Sài Gòn

Biên tập viên báo SPIEGEL Gallasch là nhà báo duy nhất có mặt khi người đứng đầu nhà nước Nam Việt Nam, Tướng Minh, đầu hàng – ông đưa ra chiếc máy ghi âm để Minh thâu lại bài phát biểu cuối cùng của ông ấy.

Những người lính Nam Việt Nam trước dinh tổng thống Sài Gòn đã rời bỏ những vị trí phòng thủ của họ. Đạn pháo binh bắn tương đối gần, bom nổ, đường phố vắng hoe. Đó là lúc 11 giờ ngày 30 tháng Tư.

Phó Tổng thống Nguyễn Văn Hương bước vào chiếc xe của ông ở trước cầu thang của dinh. Ông ấy nói rằng Tổng thống Dương Văn Minh đang ở trong dinh và chờ “đại diện của Mặt trận Giải phóng” ở trong đó. Rồi ông đi khỏi trong chiếc xe limousine màu đen của ông. Những người lính của đội bảo vệ dinh thổng thống thậm chí chẳng còn chào ông nữa, khi ông đi ngang qua hàng rào phòng thủ của họ – mà súng máy, nón sắt, quân phục, lựu đạn và cả một khẩu bazooka đang nằm lộn xộn ở trên đó.

Hình: Francois de Mulder

Hình: Francois de Mulder

Đọc tiếp

Đông Dương: Chúng ta đã không dự tính trước với điều này (hết)

Hàng tỉ dollar, ngay cả sau khi rút quân

Người Mỹ đã ném 7,1 triệu tấn bom xuống Việt Nam, gấp 3,5 lần lượng bom rơi từ trên trời xuống trong Đệ nhị Thế chiến. Một triệu người Việt chết, sáu triệu người mất quê hương và phải chạy trốn trước các chiến tuyến, hơn một phần tư rừng nhiệt đới bị bom và đạn pháo xé nát và bị phá hủy nhiều năm trời bởi những chất độc làm rụng lá cây.

Ngay cả ở Nam Việt Nam, đất nước mà người Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh trong rừng rậm vì nó, những cuộc ném bom trên diện rộng của máy bay Mỹ đã phá hủy 12 phần trăm diện tích canh tác; ở miền Bắc thù địch, gần một nửa làng mạc đã cháy tiêu.

Ngày 30-4-1972 Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công mùa xuân vượt qua vùng phi quân sự và sông Bến Hải. Sau 5 tháng giao tranh ác liệt, quân BV đã chiếm được vùng phía bắc sông Thạch Hãn thuộc tỉnh Quảng Trị. Giới tuyến tạm thời giữa hai miền Nam Bắc từ đây không còn là sông Bến Hải, mà là con sông Thạch Hãn này. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973, nhiều tù binh của phía BV đã được Nam Việt trao trả qua con sông này.

Ngày 30-4-1972 Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công mùa xuân vượt qua vùng phi quân sự và sông Bến Hải. Sau 5 tháng giao tranh ác liệt, quân BV đã chiếm được vùng phía bắc sông Thạch Hãn thuộc tỉnh Quảng Trị. Giới tuyến tạm thời giữa hai miền Nam Bắc từ đây không còn là sông Bến Hải, mà là con sông Thạch Hãn này. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973, nhiều tù binh của phía BV đã được Nam Việt trao trả qua con sông này.

Đọc tiếp

Đông Dương: Chúng ta đã không dự tính trước với điều này (II)

“Một tấn bi kịch to lớn của con người”

Nhưng lần này là khác. Vì lần này thì nước Mỹ không có mặt bằng xương bằng thịt ở đó, không có lính Mỹ nằm dưới đạn pháo của cộng sản, người dân Mỹ có thể nói là ngồi ghế hàng đầu trong nhà hát – tuy xấu hổ, đầy lòng thương hại nhưng mà cũng không quan tâm tới.

Dù điều đó là đúng và bất di bất dịch cho tới đâu, rằng Washington thậm chí còn không cân nhắc một lần tham chiến mới ở Đông Á, thì thái độ đó vẫn thật là tai hại, thái độ mà Hoa Kỳ bộc lộ ra trong màn cuối cuộc chiến của họ. Chính phủ thì ẩn nấp nhiều ngày nay, rồi chi mười triệu dollar cho một cầu di tản đường hàng không và gửi Tham mưu trưởng Lục quân Weyand sang Việt Nam, vì ông – theo phát ngôn viên của Ford – có “quan hệ tốt” với Tổng thống Thiệu của Nam Việt Nam.

23 Tháng Giêng 1973, Paris, Pháp --- Đại sứ William H. Sullivan (dưới bên phải) và Xuân Thủy (trên bên phải) xem Tiến sĩ Henry Kissinger (ở giữa thấp hơn) và Lê Đức Thọ (thứ hai từ trên bên phải) ký kết Hiệp định Hòa bình Paris. Hình: Bettmann / Corbis

23 Tháng Giêng 1973, Paris, Pháp — Đại sứ William H. Sullivan (dưới bên phải) và Xuân Thủy (trên bên phải) xem Tiến sĩ Henry Kissinger (ở giữa thấp hơn) và Lê Đức Thọ (thứ hai từ trên bên phải) ký kết Hiệp định Hòa bình Paris. Hình: Bettmann / Corbis

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 87 other followers