Vinh Quang của sự Phi Lý (11)

Sau đó ông chủ động đưa tôi trở lại căn cứ. Lần này thì tôi vào trại mà không bị trở ngại nữa. Có một sĩ quan Hoa Kỳ đặc trách về báo chí hiện diện. Anh ta đón tôi ở cổng và lái xe thẳng tới một bãi đáp trực thăng đang có một đàn UH-1 gọi là Huey đang chờ lệnh khởi hành, động cơ nổ sẵn đinh tai nhức óc và cánh quạt vỗ sành sạch.

“Đang tiến hành một cuộc hành quân lớn,” viên sĩ quan báo chí nói, có một tiểu đoàn QLVNCH bị Việt Cộng đánh tả tơi đêm hôm qua. Bị tiêu hết bộ chỉ huy sĩ quan và hạ sĩ quan. Gần hết đạn luôn. Chúng tôi đang bay vào để bổ sung lại sĩ quan, vật liệu và cố gắng yểm trợ thêm một ít không trợ. Do đó, nếu anh muốn xem màn ngoạn mục thì nhảy lên tàu của Trung tá đây. Ông ta là sếp đấy. Chúc may mắn.”

Trực thăng vận với những chiếc UH-1D gần Sài Gòn năm 1965
Trực thăng vận với những chiếc UH-1D gần Sài Gòn năm 1965

Tiếp tục đọc

Tự do bao giờ cũng là tự do của người khác chính kiến

Câu này lại xuất phát chính từ một người phụ nữ Đức theo Chủ nghĩa Cộng sản: Rosa Luxemburg (1870 – 1919). Bà ghi câu nổi tiếng này ở bên lề tập bản thảo “Cuộc Cách mạng Nga” của mình, phê phán cách thức tiến hành mang tính chuyên quyền của những người Bôn-sê-vích dưới sự lãnh đạo của Lê-Nin. Nhắm tới những người Bôn-sê-vích, bà viết: “Tự do chỉ cho những người đi theo chính phủ, chỉ cho các thành viên của một đảng phái – dù đảng này có đông thành viên cho tới đâu đi chăng nữa – không phải là tự do. Tự do lúc nào cũng là tự do của những người khác chính kiến. Không phải vì cuồng tín ‘công bằng’ mà là vì tất cả những gì làm tăng thêm sinh lực, làm cho lành mạnh và trong sạch của sự tự do chính trị đều phụ thuộc vào điều cơ bản này và không còn có tác động nữa khi ‘tự do’ trở thành đặc quyền.”

Rosa Luxemburg (1870 – 1919)
Rosa Luxemburg (1870 – 1919)

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (10)

Trong buổi sáng sau khi ăn trưa với Fall xong, tôi đến căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt để đón một chuyến bay C-123 đi Pleiku ở Cao nguyên Trung phần. Đích đến cuối cùng của tôi là căn cứ hình tam giác của Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ tại Plei Me, hai mươi lăm dặm về hướng nam của Pleiku mà tám tháng sau đó sẽ trở thành địa bàn chính của các cuộc đụng độ lớn giữa quân đội chính quy Bắc Việt và lực lượng Hoa Kỳ. Tôi nôn nóng đến Plei Me vì nhóm Mũ Nồi Xanh ở Mộc Hóa, cũng như Fall và Sir Robert Thompson đã nói với tôi rằng: trong cuộc chiến này, phía bên nào kiểm soát được Cao nguyên sẽ nắm thế thượng phong. Cao nguyên quan trọng như thế nào đã được sáng tỏ trong tuần lễ trước chuyến đi của tôi. Việt Cộng tấn công trại Holloway, một căn cứ máy bay trực thăng gần đó, giết 8 lính canh, làm bị thương 108 người và phá hủy 18 máy bay. Sự kiện này khiến tổng thống Lyndon B. Johnson bắt đầu một chiến dịch dội bom chống Bắc Việt.

Trong lúc chờ đợi chuyến bay C-123 đi Pleiku, trạng thái tâm lý thần kinh căng thẳng đã chơi tôi một vố. Tôi ngồi chờ máy bay trên sàn trong phòng chờ của căn cứ quân sự Tân Sơn Nhứt bên cạnh một trung tá không lực Hoa Kỳ với chiếc áo trận có gắn huy hiệu hình con rắn cuốn quanh cây gậy thần Y Khoa Aesculapius.

Camp Holloway 1965/66
Camp Holloway 1965/66

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (9)

Chương Năm

Cái chết trong làng

Majestic là một khách sạn được xây theo phong cách kiến trúc vùng Riviera của nước Pháp. Tôi rất mến cái vẻ quyến rũ đang tàn tạ của tòa nhà đó cùng với những câu chuyện được kể về một thời quá khứ đầy màu sắc, đặc biệt là những huyền thoại chung quanh người chủ, một nhân vật huyền bí trong nhóm người đảo Corse tại Đông Dương. Tên ông ta là Mathieu Franchini. Ông đến Sài Gòn từ thành phố Marseilles ngay sau Đệ Nhất Thế Chiến với tư cách là bồi phòng trên một chiếc tàu và mau chóng tự tạo cho mình một cơ đồ đáng kể, tuy có nhiều mặt không được lương thiện lắm.

Franchini kết hôn với một người thuộc các gia đình Việt Nam giàu có nhất và trở thành một chủ khách sạn nổi tiếng, đồng thời còn được coi là bố già của những tập đoàn người đảo Corse ở tại Sài Gòn. Trong nhiều thập niên, Franchini làm cố vấn trưởng về tài chánh cho Bình Xuyên, một lực lượng quân sự chính trị độc lập trong quân đội Việt Nam mà sau này bị chính quyền Việt Nam tiêu diệt mất. Nhiều người tôn thờ Bình Xuyên như là những “Robin Hood” của Phương Đông, người khác thì sợ Bình Xuyên như là những tên băng đảng tàn nhẫn. Họ khởi đầu là băng cướp hoạt động trên sông và sau đó thâu tóm việc buôn bán thuốc phiện, mãi dâm và có thời kỳ làm cảnh sát của miền Nam Việt Nam. Tôi được nghe kể rằng có dạo Franchini sở hữu hầu hết các nhà chứa ở thành phố. Là một nhà báo luôn luôn tò mò, tôi rất tiếc chưa bao giờ được diện kiến Mathieu Franchini. Khi tôi đến Sài Gòn, ông đã về lại Pháp, nơi ông qua đời trong mùa thu năm 1965.

Khách sạn Continental Palace
Khách sạn Continental Palace

Tiếp tục đọc

Người Bắc Việt muốn toàn thắng

Karl-Heinz Janßen

28 tháng Ba 1975

Phan Ba dịch

Cuộc chiến tranh đầu tiên ở Việt Nam bắt đầu vào ngày 19 tháng 12 năm 1946 khi Tướng Giáp cho nổ tung nhà máy phát điện Hà Nội và trong cùng khoảnh khắc đó cho nổ súng bắn vào quân đội Pháp đang bị bất ngờ trong thành phố. Nó kéo dài bảy năm rưỡi và chấm dứt với Hiệp định Đình chiến Genève ngày 20 tháng 7 năm 1945. Việt Minh, tiền thân của Việt Cộng, chỉ thành công một phần: Tuy người Pháp phải rời khỏi đất nước, nhưng Việt Nam bị chia cắt, và miền Nam rơi vào ảnh hưởng của Mỹ. Khoảng 400.000 người Việt và 75.000 người Pháp đã chết. 600.000 người Công Giáo chạy trốn vào miền Nam Việt Nam.

Cầu Hiền Lương
Cầu Hiền Lương

Tiếp tục đọc

“Cái chết đã bao vây chúng tôi”

Chính quyền Sài Gòn lâm vào tình trạng nguy ngập

Andreas Kohlschütter

Phan Ba dịch từ báo Die Zeit (Thời Báo), số ra ngày 31 tháng Giêng năm 1975

Sài Gòn, trong tháng Giêng

Đó là Tây Ninh trong tháng Giêng 1972: một tỉnh lỵ bụi bặm, có mật độ dân cư quá cao với 40.000 người ở cạnh con đường dẫn sang Campuchia; một cái chợ ồn ào, đầy sức sống nguyên thủy, muôn màu sắc, mà người ta buôn bán và trả giá thật to bằng tiếng Việt ở trên đó; một căn cứ khổng lồ để hỗ trợ cho các chiến dịch tấn công lớn của quân đội Nam Việt Nam, tiến qua bên kia biên giới, trên đất Campuchia, hành quân tới những vùng địch thủ triển khai lực lượng; những đoàn xe tải đạn dài hàng ki-lô-mét, hàng bầy trực thăng, hàng chục cố vấn Mỹ, những người có thể yêu cầu máy bay ném bom B-52 của họ hỗ trợ vào bất cứ lúc nào.

Tây Ninh, 31 tháng Giêng năm 1973. Hình: Bettmann/CORBIS
Tây Ninh, 31 tháng Giêng năm 1973. Hình: Bettmann/CORBIS

Tiếp tục đọc

Tù binh chiến tranh Việt Nam-Trung Quốc 1979-1989

Chiến tranh biên giới VN-TQ, ngày 17/2/1979-1989. Trên 421 nữ tù binh Việt Nam tại trại Lâm Sơn (林山), Bác Lý Hà (八里河), và Đông Sơn (东山) và Đông Sơn (东山) tỉnh Vân Nam, Trung Cộng. Nguồn: Tài liệu Huỳnh Tâm.[1]

LTG. Năm 1986, chúng tôi có dịp đi những chuyến thực tế tại biên giới Việt Nam-Trung Quốc, được biết một phần về trại tù binh Lâm Sơn (林山), Bác Lý Hà (八里河), và Đông Sơn (东山), ngày nay những địa danh này thuộc về lãnh thổ Vân Nam, Trung Quốc. Trên đường đi gặp những nữ tù binh Việt Nam, họ rơi vào tình cảnh chiến tranh quá khủng khiếp, thân phận trôi nổi, bị hảm hiếp, phanh thây, xác vùi dập đó đây khắp nẻo rừng sâu nước độc.

Từ đó đến nay chúng tôi tưởng chừng quá khứ đã quên đi ký ức của mình. Nay có dịp tiết lộ về thân phận của nữ chiến binh đã bị nhà nước lãng quên sau chiến tranh. Trong khi ấy đảng Cộng sản hưởng thụ trên xương máu của nữ chiến binh, bỏ lại sau lưng những linh hồn phụ nữ Việt Nam cao quý.

Viết về những sự kiện mắt thấy tai nghe với những tham khảo hồ sơ lưu tại Ban tuyên giáo của Quân ủy Trung ương Trung Cộng, cùng những lời chứng nhân tường thuật từ cõi tù binh vọng về. Rất tiết thương cho họ đã sống không ra kíp người và chưa bao giờ tiếp nhận được một đoái hoài của nhà nước Cộng sản Việt Nam, sau khi kết thúc chiến tranh tại biên giới Việt Nam-Trung Quốc vào thập niên (1979-1989).

Đến hôm nay những mãnh đời tù binh sẽ xuất hiện để người đời nhớ mãi không quên chiến tranh Việt Nam-Trung Quốc.

Tiếp tục đọc