Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 2)

Lời Nói Đầu

Có lần, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện bảo tôi:

– Nhiều người khuyên Nguyễn Khắc Viện nên viết hồi ký. Nhưng tôi nghĩ, mình chưa một lần bị đi tù. Chưa một lần cầm súng ra trận thì có gì mà viết hồi ký…

Cứ như lời ông Viện thì đời tôi, không đáng một xu, vậy có gì để mà viết hồi ký, hồi ức cho thiên hạ cười chê (!)

Nhưng bạn bè nhiều người lại khuyên Lê Phú Khải nên viết một cuốn hồi ký, không thì phí đi (!)

Chả là, trong lúc vui vẻ, tôi thường kể cho bạn hữu nghe những chuyện “cười ra nước mắt” của dòng họ tôi, hoặc những nhân vật mà suốt cuộc đời 40 năm làm báo tôi được tiếp cận, làm việc. Toàn là những “nhân vật lịch sử”, những chuyện đáng ghi lại. Mà những nhân vật đó lại không thích hoặc không có điều kiện để ghi lại. Bạn bè khuyên tôi nên viết lại những chuyện mà tôi biết…

Lê Phú Khải
Lê Phú Khải

Continue reading “Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 2)”

Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 1)

Lời Nhà Xuất Bản

Lời ai điếu - Lê Phú Khải
Lời ai điếu – Lê Phú Khải

Vào thập niên 50 tại Âu Châu và ngay cả tại Mỹ, phong trào thiên tả lan rộng trong giới trí thức. Tầng lớp có học thời ấy tự hào “phàm là trí thức thì phải thiên tả.” Điển hình là hai triết gia Jean Paul Satre người Pháp, Bertrand Russel người Anh và nữ tài tử Mỹ Jane Fonda. Phong trào thiên tả ngưỡng vọng nhiều tay lãnh tụ cộng sản trên thế giới và xem Liên Xô là “cái nôi” cuộc cách mạng xã hội của loài người. Thậm chí cho tới mãi năm 1989 tại thành phố Bergen – Na Uy, giới trí thức, giới cầm bút hay giáo sư đại học vẫn còn ca tụng Lênin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và ngay cả Pol Pot, tên đồ tể diệt chủng dân tộc Khmer.

Đám người mắc chứng “mê Cộng” này còn táo tợn cho rằng “tuổi đôi mươi mà không theo Cộng Sản là không có trái tim.”

May cho đám đó là họ chỉ luẩn quẩn ở các đô thị xa hoa, uống rượu chát, ăn bò bí tết để mơ mộng xây dựng “thiên đường cộng sản” chứ không có, dù một ngày, trải nghiệm bằng chính bản thân cái chủ nghĩa là “căn bệnh ung thư” này của nhân loại.

Continue reading “Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 1)”

Hoa Kỳ và di sản của cuộc chiến

Việt Nam thắng trong chiến tranh và thua trong hòa bình. Hoa Kỳ ngược lại đã thua trong chiến tranh và thắng trong hòa bình. Chiến bại quân sự đầu tiên trong lịch sử Hoa kỳ đã có những hậu quả ngắn và dài hạn ở bình diện quốc gia và quốc tế mà tác động của chúng đã cùng quyết định sự phát triển ở Mỹ và cũng sẽ đóng một vai trò trong tương lai.

Trên trường quốc tế, cuộc chiến – lần chiến bại thì ít hơn – đã khiến cho Hoa Kỳ mất uy tín ở khắp nơi trên thế giới. Hỗ trợ mà không có phương án nhất định cho các nền độc tài phe hữu và việc bỏ mặc châu Mỹ La-tinh trong chính sách đối ngoại của Mỹ cũng là một sản phẩm của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Cuộc chiến đã trì hoãn lần cảm nhận được các căng thẳng trầm trọng giữa Trung Quốc và Xô viết cả một thập niên và cản trở lần tiếp cận Mỹ-Trung trong những năm sáu mươi. Cuộc chiến đã tăng tốc cho lần sụp đổ của hệ thống tiền tệ thế giới được kiến lập năm 1944/45 và làm tăng tầm quan trọng trên toàn cầu của đồng Yen và D-Mark. Cuộc Chiến tranh Việt Nam cũng đã góp phần khiến cho nước Mỹ phải chịu đựng một cuộc khủng hoảng kinh tế trong những năm bảy mươi, cái đã khiến cho nước Mỹ mất tầm quan trọng một cách tương đối trong nền kinh tế thế giới.

Tổng thống Reagan đặt vòng hoa tại quan tài của người chiến sĩ vô danh.
Tổng thống Reagan đặt vòng hoa tại quan tài của người chiến sĩ vô danh.

Continue reading “Hoa Kỳ và di sản của cuộc chiến”

Con đường khó khăn của sự tiếp cận

Trong lịch sử, chưa từng bao giờ có một bên trên thực tế là chiến bại mà lại đặt ra những điều kiện khó khăn như vậy cho người chiến thắng. Ngay từ năm 1973, Quốc Hội đã từ chối không chấp thuận những phương tiện mà Nixon đã hứa hẹn cho công cuộc tái xây dựng Việt Nam. Tổng thống Ford ban hành lệnh cấm vận kinh tế và còn công khai phủ nhận cả những lời hứa hẹn bí mật của người tiền nhiệm ông. Ngoài ra, năm 1976, Hoa Kỳ đã dùng quyền phủ quyết chống việc kết nạp Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. Washington luôn yêu cầu Hà Nội làm sáng tỏ hoàn toàn số phận của tất cả các người Mỹ mất tích. Dưới thời Tổng thống Jimmy Carter, dường như đã có một cuộc tiếp cận được bắt đầu. Thế nhưng các đàm phán về một sự giúp đỡ kinh tế của Mỹ đã nhanh chóng dẫn đến những sự hiểu lầm và đã kết thúc mà không mang lại kết quả nào. Ngoài ra, Carter, người trong tháng Giêng 1979 chấp thuận công nhận hoàn toàn về mặt ngoại giao với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cho rằng cũng phải quan tâm đến phe bảo thủ. Mặc dù Nixon đã chấp thuận kết nạp Trung Quốc vào Liên Hiệp Quốc (và qua đó đã lấy mất chiếc ghế của Đài Loan), ông Tổng thống lo ngại rằng chính sách cân bằng của ông đối với hai kẻ thù ngày xưa có thể làm dấy lên sự phản kháng quyết liệt của Quốc Hội. Trong nhiệm kỳ của Ronald Reagan, câu hỏi về những người mất tích đã được cường điệu hóa thành một cuộc thập tự chinh thật sự. Đã có nhiều cuộc tường trình trước Quốc Hội về đề tài này và mang lại cho một giới vận động hành lang hùng mạnh một diễn đàn gây nhiều sự chú ý của truyền thông. Tuy vậy, người ta vẫn không thể đưa ra bất cứ một bằng chứng chắc chắn nào về việc vẫn còn những người lính Mỹ bị giam hãm. Mặc dù thế, luôn xuất hiện những tường thuật về các xà lim tử thần và phi công bị bắt giam trong truyền thông.

Tù binh Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam
Tù binh Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam

Continue reading “Con đường khó khăn của sự tiếp cận”

Việt Nam thời hậu chiến

Cuộc cách mạng đã mang lại cho người dân và đất nước của họ sức mạnh và sức chịu đựng để chiến thắng những địch thủ vượt trội về quân sự trong một cuộc chiến kéo dài ba mươi năm. Thế nhưng sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ thì người Việt đã phải trải nghiệm một cách đau đớn, rằng đấu tranh chiến thắng một cuộc cách mạng thì đơn giản hơn là cầm quyền một đất nước đã bị chia cắt lâu dài và bị tàn phá bởi chiến tranh. Khó khăn trong xây dựng thật lớn: hoàn cảnh quốc tế không thuận lợi, tàn phá, nhiều vấn đề về sinh thái, tâm lý, xã hội và kinh tế. Thêm vào đó, những người cộng sản tự đánh giá mình quá cao và chờ đợi rằng đại đa số người Việt sẽ hoan nghênh một xã hội xã hội chủ nghĩa vô điều kiện.

Sài Gòn 1985 - Nghĩa trang máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhứt. Hình: Philip Jones Griffiths
Sài Gòn 1985 – Nghĩa trang máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhứt. Hình: Philip Jones Griffiths

Continue reading “Việt Nam thời hậu chiến”

Tại sao người cộng sản chiến thắng

Người dân Việt Nam đã trả giá đắt cho chiến thắng của người cộng sản và MTDTGP trong cuộc chiến chống người Pháp, người Mỹ và chính phủ Nam Việt Nam: Cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã lấy đi sinh mạng của 800.000 con người; từ 1961 cho tới 1975 có khoảng hai triệu người Việt Nam là nạn nhân của cuộc chiến, thêm vào đó là 300.000 người mất tích. Hàng trăm ngàn người Campuchia và Lào cũng đã bỏ mạng. Ở miền Bắc, sáu trung tâm công nghiệp thành thị cũng như 4000 trong số 5800 hợp tác xã nông nghiệp đã bị hư hại nặng do những trận ném bom. Ở miền Nam, những người tiến hành chiến tranh đã phá hủy 9000 trong số tròn 15000 làng mạc, hàng triệu hecta đất đã không còn có thể được sử dụng nữa vì mìn, bom và thuốc diệt cỏ. Nhiều khu rừng khổng lồ đã bị hủy diệt bởi thuốc làm rụng lá cây và chất độc cho cây cỏ. Ở Nam Việt Nam, chiến tranh đã để lại 900.000 trẻ mồ côi, một triệu góa phụ và 200.000 người bán dâm. Trong số 3 triệu người Mỹ đã phục vụ ở Việt nam từ 1961 cho tới 1973 đã có 58.000 người lính phải trả giá bằng mạng sống của mình cho sự hoạt động của họ. Tổng số chi phí chiến tranh trực tiếp là 167 tỉ dollar.

Những giây phút cuối cùng của lá cờ vàng
Những giây phút cuối cùng của lá cờ vàng

Continue reading “Tại sao người cộng sản chiến thắng”

Chiến tranh sau cuộc chiến

Ở Việt Nam, cả hai bên đều đổ trách nhiệm cho phía bên kia là đã vi phạm các điều kiện ngưng bắn. Ngay cả khi Bộ Chính trị ở Hà Nội đã quyết định trong mùa xuân 1973, tiếp tục tiến hành cuộc chiến cho tới cuối cùng thì những người không giữ đúng các thỏa thuận ở Paris vào lúc ban đầu là các tướng lãnh Nam Việt Nam. Họ phá hoại “Hội đồng Dân tộc” và cố hết sức để mở rộng quyền kiểm soát của họ trên đất nước – đất và người đối với Thiệu là những yếu tố mà ông dùng chúng để định nghĩa quyền lực của ông. Trong thời gian của năm đó, QLVNCH đã có thể chiếm giữ 1000 ngôi làng. Nhưng qua đó, quân đội Nam Việt Nam lại phải đảm nhận càng nhiều hơn những nhiệm vụ bảo vệ mang tính phòng thủ và bất động. Sức mạnh trên số liệu của QLVNCH – 1,1 triệu người lính và lực lượng bán quân sự đứng dối diện với tròn 300.000 người Bắc Việt và các đơn vị của MTDTGP – vì vậy không có nghĩa là Sài Gòn chiếm ưu thế về mặt quân sự. Vì trong khi hai phần ba lực lượng của QLVNCH phải đảm nhận việc bảo vệ lãnh thổ thì MTDTGP và người Bắc Việt thực hiện các nhiệm vụ phòng ngự và bất động chỉ với 10% quân đội của họ.

Ngày 30-4-1972 Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công mùa xuân vượt qua vùng phi quân sự và sông Bến Hải. Sau 5 tháng giao tranh ác liệt, quân BV đã chiếm được vùng phía bắc sông Thạch Hãn thuộc tỉnh Quảng Trị. Giới tuyến tạm thời giữa hai miền Nam Bắc từ đây không còn là sông Bến Hải, mà là con sông Thạch Hãn này. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973, nhiều tù binh của phía BV đã được Nam Việt trao trả qua con sông này.
Ngày 30-4-1972 Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công mùa xuân vượt qua vùng phi quân sự và sông Bến Hải. Sau 5 tháng giao tranh ác liệt, quân BV đã chiếm được vùng phía bắc sông Thạch Hãn thuộc tỉnh Quảng Trị. Giới tuyến tạm thời giữa hai miền Nam Bắc từ đây không còn là sông Bến Hải, mà là con sông Thạch Hãn này. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973, nhiều tù binh của phía BV đã được Nam Việt trao trả qua con sông này.

Continue reading “Chiến tranh sau cuộc chiến”