Hội nghị Liễu Châu (3-5/7/1954)

Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954

Hội nghị Liễu Châu then chốt

Tiền Giang (钱江/Qian Jiang)

bản dịch của Dương Danh Dy

Bài này là Chương 27 của cuốn Chu Ân Lai dữ Nhật Nội Ngoã hội nghị (周恩来与日内瓦会议 / Chu Ân Lai và Hội nghị Genève, nhà xuất bàn Trung Cộng Đảng Sử Xuất Bản Xá, 2005), mà tác giả là Tiền Giang. Chúng tôi cảm ơn dịch giả Dương Danh Dy đã cho phép Diễn Đàn công bố bản dịch này (và công bố toàn văn bản dịch cuốn sách trong tháng 1.2009 tới đây).

Hội nghị Liễu Châu (3-5.7.1954) là bước ngoặt trong quá trình thương lượng tại Genève, chấm dứt cuộc Kháng chiến lần thứ nhất, với những thành quả và hậu quả mọi người đều biết.

Tiấc rằng cho đến nay, hầu như không có nghiên cứu sử học nào đã được công bố ở Việt Nam về cuộc gặp ở Liễu Châu. 

Bài này cho ta biết cách trần thuật và quan điểm của phái đoàn Trung Quốc do thủ tường Chu Ân Lai dẫn đầu.  Như chú thích số 4 cho biết, những ghi chép của Mã Liệt (thư kí đối ngoại của Chu) đã bị Chu Ân Lai xoá đi rất nhiều, “đại bộ phận phần xoá bỏ là những điểm bất đồng của hai bên”. Qua những nguồn tài liệu khác, chúng ta biết rằng Trung Quốc đã gây sức ép lớn để buộc phía Việt Nam phải chấp nhận giải pháp phân vùng theo giới tuyến, chấp nhận vĩ tuyến 16 (thay vì 13 hay 14), để rồi cuối cùng, trong những ngày chót ở Genève , là vĩ tuyến 17. (xem, chẳng hạn, China & The Vietnam Wars, 1950-1975 của Qiang Zhai (Trạch Cường), The University of North Carolina Press, 2000).

Tuy phiến diện và đơn phương, đây là một tài liệu tham khảo quan trọng, giúp ta tìm hiểu thêm về một giai đoạn quan trọng của lịch sử hiện đại Việt Nam.

Diễn Đàn

Geneva, Switzerland --- 7/1954: Geneva, Switzerland: Left to right: Nam Il of North Korea; V.M. Molotov, USSR Chou En Lai, Red China, and Pham Van Dong, Vietminh Foreign Minister, at Chou's villa here during peace talks. --- Image by © Bettmann/CORBIS

Từ trái sang phải: Nam Il của Bắc Triều Tiên; V.M. Molotov, Liên Xô, Chu Ân Lai, Trung Cộng, Phạm Văn Đồng, Việt Minh, tại biệt thự của Chu ở Genève trong thời gian đàm phán Hiệp định.

Tiếp tục đọc

27/6/1955: Tướng Võ Nguyên Giáp bí mật thăm Trung Quốc

Có cố vấn Vi Quốc Thanh tháp tùng, Võ Nguyên Giáp dẫn đầu một phái đoàn quân sự bí mật sang thăm Trung Quốc. Phái đoàn Việt Nam thảo luận với Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài và Tướng Petroshevskii, một cố vấn quân sự cao cấp của Liên Xô, về việc tái cấu trúc quân đội Bắc Việt Nam và các kế hoạch chiến tranh cho tương lai.

nh chụp Võ Nguyên Giáp cùng Vi Quốc Thanh ở Điện Biên Phủ - Getty Images nh chụp Võ Nguyên Giáp cùng Vi Quốc Thanh ở Điện Biên Phủ – Getty Images

Tiếp tục đọc

50 năm Vụ án “Xét lại chống Đảng” (phần 1)

Phan Ba

Bối cảnh lịch sử

Sau khi Stalin qua đời năm 1953, Nikita Khrushchev lên nắm chức vụ bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Liên xô. Tại Đại hội lần thứ 22 của Đảng, Khrushchev đọc bài diễn văn phê phán việc sùng bái cá nhân Stalin (“Về sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó”). Nguyên tắc “chung sống hòa bình” bắt đầu xuất hiện trong các bài diễn văn của Khrushchev từ 1955. Ông tuyên bố rằng, mục tiêu bây giờ là chiến thắng chủ nghĩa tư bản trước hết bằng kinh tế và rồi bắt đầu thực hiện một loạt cải cách.

Ông Hoàng Minh Chính suốt đời kêu gọi đấu tranh và đã nhiều lần bị cầm tù

Ông Hoàng Minh Chính suốt đời kêu gọi đấu tranh và đã nhiều lần bị cầm tù

Các ý tưởng mới này của Liên Xô thâm nhập về Việt Nam qua nhiều đường. Hàng trăm sinh viên Việt Nam đã được gửi qua Liên Xô học bắt đầu từ năm 1954 và ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của làn gió mới trên chính trường Xô viết. Một trong những người này là Hoàng Minh Chính, học tại trường Đảng ở Moscow từ 1957 đến 1960. Bên cạnh đó là giới trí thức trong nước ở miền Bắc. Tuy người dân miền Bắc, theo thông tín viên Đông Đức Kapfenberger, “…thuộc trong số những người dân được thông tin tồi tệ nhất…”[1], nhưng giới trí thức thông thạo tiếng Pháp và tiếng Nga vẫn còn có thể tiếp cận được với báo chí tiếng Nga và tiếng Pháp xuất bản từ Liên xô. Một nguồn thông tin khác là văn phòng của Thông tấn xã Liên xô tại Hà Nội mà người Việt vào thời gian đó vẫn còn có thể ra vào tương đối không bị cản trở. Thêm nữa, người Việt còn có thể tiếp xúc thường xuyên và tương đối tự do với một số người nước ngoài như với người Đức Erwin Bochers, người Pháp Albert Clavier. Đặc biệt Erwin Bochers và thông tín viên Đông Đức sau này Pommerening đều thường xuyên tiếp xúc với nhiều người như với Lê Liêm, Vũ Đình Huỳnh, Dương Bạch Mai và Phạm Viết. (Sau này chính Bochers cũng bị nghi ngờ là thuộc “thành phần xét lại”, Lê Liêm  bị cách chức và bị quản thúc tại gia, Dương Bạch Mai chết trong hoàn cảnh hết sức đáng ngờ năm 1964, còn Vũ Đình Huỳnh và Phạm Viết thì bị bắt năm 1967. Phạm Viết chết trong tù năm 1971.)

Tiếp tục đọc

Tướng Giáp, tài năng và số phận

VOA – Bộ phim tài liệu The Vietnam War của hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick vừa được trình chiếu rộng rãi từ trung tuần tháng Chín. Có nhiều tin tức nói rằng Hà Nội không hài lòng với nội dung phim. Một trong các lý do là vì nhắc đến vai trò của Tổng bí thư Lê Duẩn, lấn át ông Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông Giáp mất ngày 4 tháng 10, 2013, ở tuổi 103. Sau đây là bài viết của nhà báo Bùi Tín, người từng có nhiều dịp gần gũi với tướng Giáp, nhân dịp công chiếu The Vietnam War.

***

Tướng Giáp đã đi vào huyền thoại trong lịch sử Việt Nam, trong lịch sử chiến tranh của thế giới. Đã có những bản tiểu sử chính thức của ông.

Cũng có những tin tức thêu dệt về ông, ví dụ có những bài báo, cuốn sách trong nước viết rằng ông từng được Hội đồng Hoàng gia Anh Quốc tuyên dương là một trong 10 thiên tài quân sự thế giới, được đúc tượng đặt trong bảo tàng quân sự Anh quốc. Tôi đã sang London, tìm hiểu, đây chỉ là tin vịt không có thật, nhưng bộ máy tuyên truyền của CHXHCN Việt Nam không hề cải chính.

Vậy tướng Giáp là con người ra sao trong cái cơ chế chính trị Việt Nam do đảng Cộng sản lãnh đạo theo chế độ toàn trị?

Tướng Giáp trong một lần tiếp cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Robert McNamara.

Tướng Giáp trong một lần tiếp cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Robert McNamara.

Tiếp tục đọc

Bắc Việt Nam cũng có phong trào phản chiến!

Khi nghĩ về các sự kiện tiêu biểu của phong trào phản chiến năm 1967, chúng ta nhớ về bài diễn thuyết lên án chiến tranh đầy sức mạnh của Mục sư, TS. Martin Luther King Jr. vào ngày 4 tháng 4, sự kiện hàng ngàn người trả lại thẻ đăng ký quân dịch trong tuần lễ đấu tranh “Ngừng quân dịch” (Stop the Draft), và cuộc diễu hành đến Lầu Năm Góc với số lượng kỷ lục người tuần hành tại thủ đô Washington.

Năm đó cũng chứng kiến làn sóng biểu tình toàn cầu lên án chiến tranh, như các cuộc biểu tình tại các thủ đô Châu Âu; và Tòa án Tội ác Chiến tranh Quốc tế thông qua tuyên cáo lên án sự can dự của Mỹ ở Đông Nam Á. Các bản tin về cuộc chiến cũng bắt đầu thay đổi, bao gồm lời kêu gọi đầu tiên từ tờ New York Times về việc tạm dừng ném bom và khởi xướng các cuộc hòa đàm.

Không nổi tiếng bằng, nhưng không kém phần quan trọng là “phong trào” phản chiến ở Bắc Việt Nam. Không hẳn là một phong trào mà là một tập hợp không thống nhất các tiếng nói đa dạng, nó tập hợp rộng rãi nhiều thành phần xã hội Bắc Việt Nam, từ trong chính quyền cũng như công chúng nói chung.

Tổng Bí thư Lê Duẩn, người chỉ đạo chiến dịch “chống phản cách mạng”, tại một buổi mít tinh.

Tổng Bí thư Lê Duẩn, người chỉ đạo chiến dịch “chống phản cách mạng”, tại một buổi mít tinh.

Tiếp tục đọc