Tướng Giáp, tài năng và số phận

VOA – Bộ phim tài liệu The Vietnam War của hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick vừa được trình chiếu rộng rãi từ trung tuần tháng Chín. Có nhiều tin tức nói rằng Hà Nội không hài lòng với nội dung phim. Một trong các lý do là vì nhắc đến vai trò của Tổng bí thư Lê Duẩn, lấn át ông Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông Giáp mất ngày 4 tháng 10, 2013, ở tuổi 103. Sau đây là bài viết của nhà báo Bùi Tín, người từng có nhiều dịp gần gũi với tướng Giáp, nhân dịp công chiếu The Vietnam War.

***

Tướng Giáp đã đi vào huyền thoại trong lịch sử Việt Nam, trong lịch sử chiến tranh của thế giới. Đã có những bản tiểu sử chính thức của ông.

Cũng có những tin tức thêu dệt về ông, ví dụ có những bài báo, cuốn sách trong nước viết rằng ông từng được Hội đồng Hoàng gia Anh Quốc tuyên dương là một trong 10 thiên tài quân sự thế giới, được đúc tượng đặt trong bảo tàng quân sự Anh quốc. Tôi đã sang London, tìm hiểu, đây chỉ là tin vịt không có thật, nhưng bộ máy tuyên truyền của CHXHCN Việt Nam không hề cải chính.

Vậy tướng Giáp là con người ra sao trong cái cơ chế chính trị Việt Nam do đảng Cộng sản lãnh đạo theo chế độ toàn trị?

Tướng Giáp trong một lần tiếp cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Robert McNamara.
Tướng Giáp trong một lần tiếp cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Robert McNamara.

Tiếp tục đọc

Advertisements

Bắc Việt Nam cũng có phong trào phản chiến!

Khi nghĩ về các sự kiện tiêu biểu của phong trào phản chiến năm 1967, chúng ta nhớ về bài diễn thuyết lên án chiến tranh đầy sức mạnh của Mục sư, TS. Martin Luther King Jr. vào ngày 4 tháng 4, sự kiện hàng ngàn người trả lại thẻ đăng ký quân dịch trong tuần lễ đấu tranh “Ngừng quân dịch” (Stop the Draft), và cuộc diễu hành đến Lầu Năm Góc với số lượng kỷ lục người tuần hành tại thủ đô Washington.

Năm đó cũng chứng kiến làn sóng biểu tình toàn cầu lên án chiến tranh, như các cuộc biểu tình tại các thủ đô Châu Âu; và Tòa án Tội ác Chiến tranh Quốc tế thông qua tuyên cáo lên án sự can dự của Mỹ ở Đông Nam Á. Các bản tin về cuộc chiến cũng bắt đầu thay đổi, bao gồm lời kêu gọi đầu tiên từ tờ New York Times về việc tạm dừng ném bom và khởi xướng các cuộc hòa đàm.

Không nổi tiếng bằng, nhưng không kém phần quan trọng là “phong trào” phản chiến ở Bắc Việt Nam. Không hẳn là một phong trào mà là một tập hợp không thống nhất các tiếng nói đa dạng, nó tập hợp rộng rãi nhiều thành phần xã hội Bắc Việt Nam, từ trong chính quyền cũng như công chúng nói chung.

Tổng Bí thư Lê Duẩn, người chỉ đạo chiến dịch “chống phản cách mạng”, tại một buổi mít tinh.
Tổng Bí thư Lê Duẩn, người chỉ đạo chiến dịch “chống phản cách mạng”, tại một buổi mít tinh.

Tiếp tục đọc

06/09/1969: Một tập thể kế nghiệp Hồ Chí Minh

Báo Nhân Dân và Đài Phát thanh Hà Nội Hà Nội thông báo rằng Hồ Chí Minh được kế thừa bởi một tập thể lãnh đạo bao gồm Lê Duẩn, bí thư thứ nhất của Đảng; Trường Chinh, thành viên Bộ Chính Trị và Chủ tịch Quốc Hội; tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo tinh thần của miền Bắc và của người cộng sản ở miền Nam, đã chết vào ngày 2 tháng 9.

Hồ Chí Minh và Lê Duẩn
Hồ Chí Minh và Lê Duẩn

Tiếp tục đọc

Rồng Mekong (6): Bóng ma Điện Biên Phủ

Tình hình đe dọa lực lượng ở Khe Sanh. Mặc cho chiến dịch “Niagara” ở trên không, những cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt không giảm xuống. Những nhà báo sống và cùng chịu đựng gian khổ với quân lính trong pháo đài ở trên núi này chẳng bao lâu sau đó cảm nhận được sự hoài nghi trong thâm tâm và những nỗi lo lắng của giới chỉ huy quân sự, những người cũng nhận thức được sức mạnh của họ, nhưng không hiểu rõ các ý đồ của đối phương.

Nếu như các vị tướng Mỹ cảm nhận sự so sánh với pháo đài Điện Biên Phủ của người Pháp như là một điều gây khó chịu thì giới báo chí, những người có thể tiếp cận được với tài liệu lịch sử ở Sài Gòn, lại nghiên cứu các quyển sách quân sự kinh điển phân tích về trận đánh quyết định ở Điện Biện Phủ trước đó đúng 14 năm. Những quyển sách của Jules Roy và Bernard Fall gây cảm hứng cho cuộc thảo luận của các nhà báo, những người phát hiện ngày càng nhiều sự tương đồng giữa Điện Biên Phủ và Khe Sanh.

Không quân Hoa Kỳ tạo một tấm màn chắn bằng mảnh bom và chất nổ chỉ cách vòng ngoài của Khe Sanh khoảng 200 feet. Khe Sanh, tháng Ba 1968
Không quân Hoa Kỳ tạo một tấm màn chắn bằng mảnh bom và chất nổ chỉ cách vòng ngoài của Khe Sanh khoảng 200 feet. Khe Sanh, tháng Ba 1968

Tiếp tục đọc

Rồng Mekong (5): Body count: Trò trình diễn xác chết khủng khiếp

Sau mỗi một “chạm trán với địch thủ”, theo cách diễn đạt của quân đội, khu đất đó được lùng sục, để xác định con số địch thủ bị giết chết. Khác với trong Đệ nhị Thế chiến, khi giới công khai Mỹ có một hình ảnh rõ ràng và tương đối xấu về địch thủ người Đức và Nhật, Việt Cộng không bị tuyên truyền làm biến dạng. Họ không tạo nên một sự căm thù thật sự. Họ “vô danh”, xa lạ và khó hiểu.

Sau trận đánh Đồi 875, Dak To.
Sau trận đánh Đồi 875, Dak To.

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (17)

Chương 8

Trẻ em giết nhau

Cuộc hành trình đến Huế vào vùng phi quân sự của tôi đã đánh dấu sự kết thúc của lần công vụ đầu tiên và trong tâm trí tôi, có lẽ là đoạn kết của một chương trong cuộc chiến Việt Nam. Khi tôi rời Sài Gòn vào mùa xuân 1965, nó vẫn còn mang dáng dấp của một thành phố kiểu Pháp, và sự xung đột vẫn còn ở dạng chung là chiến tranh du kích, đặc trưng của giai đoạn hai trong cuộc “chiến tranh nhân dân” theo sách giáo khoa của tướng Võ Nguyên Giáp. Khi tôi trở lại vào cuối mùa hè, trung tâm Sài Gòn làm tôi nhớ đến khu vực xung quanh nhà ga xe lửa trung tâm của Frankfurt nhiều hơn là đến một đô thị quyến rũ ở Pháp. Theo chân sự hiện diện của những đơn vị lớn thuộc bộ binh Hoa Kỳ, một khu phố đèn đỏ chơi bời đã di căn vào trong trung tâm thành phố và cuộc xung đột đang tiến vào giai đoạn thứ ba: chiến tranh quy ước.

Tôi bay đến New York qua ngã Hamburg, nơi mà dấu hiệu phôi thai của phong trào chống chiến tranh đang chờ tôi tại trụ sở chính. Hằng đống thư từ của những nhóm sinh viên cánh tả Frankfurt và Tây Bá Linh, cùng với bài viết của một tạp chí cực đoan, Konkret, buộc tội tôi đã vinh danh cuộc chiến và tỏ ra “vô tình với nguyện vọng của một dân tộc bị áp bức”. Chủ biên của tạp chí đó là Ulrike Meinhof, người mà ba năm sau sẽ trở thành thủ lãnh của Nhóm Hồng Quân, Red Army Fraction, một tổ chức khủng bố giết người. Bài viết không mang tên tác giả nhưng về sau tôi khám phá ra đó là một trong những người bạn học cũ ở trường nội trú; thực sự chúng tôi đã có thời từng là bạn thân với nhau.

Biểu tình chống chiến tranh ở Frankfurt, Đức, tháng Hai 1967

Tiếp tục đọc

Người Bắc Việt muốn toàn thắng

Karl-Heinz Janßen

28 tháng Ba 1975

Phan Ba dịch

Cuộc chiến tranh đầu tiên ở Việt Nam bắt đầu vào ngày 19 tháng 12 năm 1946 khi Tướng Giáp cho nổ tung nhà máy phát điện Hà Nội và trong cùng khoảnh khắc đó cho nổ súng bắn vào quân đội Pháp đang bị bất ngờ trong thành phố. Nó kéo dài bảy năm rưỡi và chấm dứt với Hiệp định Đình chiến Genève ngày 20 tháng 7 năm 1945. Việt Minh, tiền thân của Việt Cộng, chỉ thành công một phần: Tuy người Pháp phải rời khỏi đất nước, nhưng Việt Nam bị chia cắt, và miền Nam rơi vào ảnh hưởng của Mỹ. Khoảng 400.000 người Việt và 75.000 người Pháp đã chết. 600.000 người Công Giáo chạy trốn vào miền Nam Việt Nam.

Cầu Hiền Lương
Cầu Hiền Lương

Tiếp tục đọc