Rồng Mekong (6): Bóng ma Điện Biên Phủ

Tình hình đe dọa lực lượng ở Khe Sanh. Mặc cho chiến dịch “Niagara” ở trên không, những cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt không giảm xuống. Những nhà báo sống và cùng chịu đựng gian khổ với quân lính trong pháo đài ở trên núi này chẳng bao lâu sau đó cảm nhận được sự hoài nghi trong thâm tâm và những nỗi lo lắng của giới chỉ huy quân sự, những người cũng nhận thức được sức mạnh của họ, nhưng không hiểu rõ các ý đồ của đối phương.

Nếu như các vị tướng Mỹ cảm nhận sự so sánh với pháo đài Điện Biên Phủ của người Pháp như là một điều gây khó chịu thì giới báo chí, những người có thể tiếp cận được với tài liệu lịch sử ở Sài Gòn, lại nghiên cứu các quyển sách quân sự kinh điển phân tích về trận đánh quyết định ở Điện Biện Phủ trước đó đúng 14 năm. Những quyển sách của Jules Roy và Bernard Fall gây cảm hứng cho cuộc thảo luận của các nhà báo, những người phát hiện ngày càng nhiều sự tương đồng giữa Điện Biên Phủ và Khe Sanh.

Không quân Hoa Kỳ tạo một tấm màn chắn bằng mảnh bom và chất nổ chỉ cách vòng ngoài của Khe Sanh khoảng 200 feet. Khe Sanh, tháng Ba 1968
Không quân Hoa Kỳ tạo một tấm màn chắn bằng mảnh bom và chất nổ chỉ cách vòng ngoài của Khe Sanh khoảng 200 feet. Khe Sanh, tháng Ba 1968

Tiếp tục đọc

Rồng Mekong (5): Body count: Trò trình diễn xác chết khủng khiếp

Sau mỗi một “chạm trán với địch thủ”, theo cách diễn đạt của quân đội, khu đất đó được lùng sục, để xác định con số địch thủ bị giết chết. Khác với trong Đệ nhị Thế chiến, khi giới công khai Mỹ có một hình ảnh rõ ràng và tương đối xấu về địch thủ người Đức và Nhật, Việt Cộng không bị tuyên truyền làm biến dạng. Họ không tạo nên một sự căm thù thật sự. Họ “vô danh”, xa lạ và khó hiểu.

Sau trận đánh Đồi 875, Dak To.
Sau trận đánh Đồi 875, Dak To.

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (17)

Chương 8

Trẻ em giết nhau

Cuộc hành trình đến Huế vào vùng phi quân sự của tôi đã đánh dấu sự kết thúc của lần công vụ đầu tiên và trong tâm trí tôi, có lẽ là đoạn kết của một chương trong cuộc chiến Việt Nam. Khi tôi rời Sài Gòn vào mùa xuân 1965, nó vẫn còn mang dáng dấp của một thành phố kiểu Pháp, và sự xung đột vẫn còn ở dạng chung là chiến tranh du kích, đặc trưng của giai đoạn hai trong cuộc “chiến tranh nhân dân” theo sách giáo khoa của tướng Võ Nguyên Giáp. Khi tôi trở lại vào cuối mùa hè, trung tâm Sài Gòn làm tôi nhớ đến khu vực xung quanh nhà ga xe lửa trung tâm của Frankfurt nhiều hơn là đến một đô thị quyến rũ ở Pháp. Theo chân sự hiện diện của những đơn vị lớn thuộc bộ binh Hoa Kỳ, một khu phố đèn đỏ chơi bời đã di căn vào trong trung tâm thành phố và cuộc xung đột đang tiến vào giai đoạn thứ ba: chiến tranh quy ước.

Tôi bay đến New York qua ngã Hamburg, nơi mà dấu hiệu phôi thai của phong trào chống chiến tranh đang chờ tôi tại trụ sở chính. Hằng đống thư từ của những nhóm sinh viên cánh tả Frankfurt và Tây Bá Linh, cùng với bài viết của một tạp chí cực đoan, Konkret, buộc tội tôi đã vinh danh cuộc chiến và tỏ ra “vô tình với nguyện vọng của một dân tộc bị áp bức”. Chủ biên của tạp chí đó là Ulrike Meinhof, người mà ba năm sau sẽ trở thành thủ lãnh của Nhóm Hồng Quân, Red Army Fraction, một tổ chức khủng bố giết người. Bài viết không mang tên tác giả nhưng về sau tôi khám phá ra đó là một trong những người bạn học cũ ở trường nội trú; thực sự chúng tôi đã có thời từng là bạn thân với nhau.

Biểu tình chống chiến tranh ở Frankfurt, Đức, tháng Hai 1967

Tiếp tục đọc

Người Bắc Việt muốn toàn thắng

Karl-Heinz Janßen

28 tháng Ba 1975

Phan Ba dịch

Cuộc chiến tranh đầu tiên ở Việt Nam bắt đầu vào ngày 19 tháng 12 năm 1946 khi Tướng Giáp cho nổ tung nhà máy phát điện Hà Nội và trong cùng khoảnh khắc đó cho nổ súng bắn vào quân đội Pháp đang bị bất ngờ trong thành phố. Nó kéo dài bảy năm rưỡi và chấm dứt với Hiệp định Đình chiến Genève ngày 20 tháng 7 năm 1945. Việt Minh, tiền thân của Việt Cộng, chỉ thành công một phần: Tuy người Pháp phải rời khỏi đất nước, nhưng Việt Nam bị chia cắt, và miền Nam rơi vào ảnh hưởng của Mỹ. Khoảng 400.000 người Việt và 75.000 người Pháp đã chết. 600.000 người Công Giáo chạy trốn vào miền Nam Việt Nam.

Cầu Hiền Lương
Cầu Hiền Lương

Tiếp tục đọc

Những tội phạm dũng cảm

Báo Der Spiegel số 07 / 1968
Báo Der Spiegel số 07 / 1968

Phan Ba dịch từ Der Spiegel số 7 năm 1968 (12/02/1968)

Trận tấn công bắt đầu từ trên nghĩa trang, vũ khí xuất hiện từ trong những ngôi mộ.

Một trận dịch kỳ bí dường như đang lây lan trong thủ đô Sài Gòn của Nam Việt Nam trong những ngày cuối cùng của năm Mùi Phật giáo: đám tang đi xuyên qua thành phố lớn này nhiều hơn là bình thường, người Việt thương tiếc đặt mua quan tài nhiều hơn là bình thường.

Nhưng cái được cho là sự thương tiếc đó thì lại là lòng căm thù, trong các quan tài không có xác chết.

Tiếp tục đọc

Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 35)

Lời Ai Điếu

Võ Viết Thanh

Một buổi sáng đẹp trời 2008, Võ Viết Thanh (VVT) đem xe đến rước tôi đi Bến Tre với anh. Thanh sinh năm 1943, kém tôi một tuổi, anh khiêm tốn gọi tôi là anh và xưng em. Tôi không hình dung nổi, một con người từng vào sinh ra tử, 17 tuổi đã ngồi tù, dày dạn trên chính trường, bất khuất và gang thép như Võ Viết Thanh lại có dáng vẻ nho nhả, ăn nói từ tốn khiêm nhường như thế. Hôm đó anh nói với tôi, anh vừa xin được một người bạn ngoại quốc trong lúc đánh gôn một số tiền để làm “xóa đói giảm nghèo” cho quê Bến tre của mình. Anh còn than: “Em dại quá, người bạn này hỏi cần bao nhiêu. Em nói 90.000 đô, anh ta gật liền. Bây giờ thấy tiếc, biết thế nói 200.000 có hơn không!” Tôi bảo VVT: – Ông tham quá, thế là tốt rồi. Trên xe hôm đó còn có một anh chàng Singapore gốc Hoa, nói tiếng Việt bập bẹ vì đã ở Việt Nam lâu năm. Anh chàng này chừng ngoài 50 tuổi, luôn mồm than “nước Singapore chúng tôi hẹp! Việt Nam lớn quá!”. Quả thật sau này tôi có đi Singapore và thấy cái nước này không rộng bằng huyện Giồng Trôm quê Võ Viết Thanh.

Tiếp tục đọc

Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 32)

Lời Ai Điếu

Thế là trong suốt ba, bốn ngày ở Điện Biên, tôi và các đồng nghiệp luôn ở bên Tướng Giáp, từ sớm cho đến chiều tối để đi thăm các chiến địa xưa: đồi Him Lam, đồi D1, đồi A1, nghĩa trang liệt sĩ dưới chân đồi A1, các tượng đài mới dựng lên ở Điện Biên v.v., tối về lại quay quần bên ông ở nhà khách để hỏi han ghi chép. Có một sự kiện như là một điểm nhấn của chuyến đi năm đó là khi Tướng Giáp và chúng tôi vào thăm lại hầm De Castries, Đại Tướng xem rất kỹ di tích này. Bất chợt ông chỉ tay váo sát bức tường của một ngách hầm và hỏi: “cái e’tagère lớn của De Castries ở chỗ này đâu rồi?” Không ai trả lời. Đại tướng hỏi lại lần nữa, nói gần như quát(!). Tôi vội đỡ lời: Đại tướng hỏi cái giá sách của De Castries ở đây bây giờ đâu rồi? Có tiếng đáp ngập ngừng: Thưa … đốt rồi ạ!!! Tất cả lại lặng im. Đại Tướng căn dặn phải giữ gìn tất cả những hiện vật của trận Điện Biên năm xưa. Nhưng “điểm nhấn” là câu hỏi cuối cùng của ông: “Hầm tướng giặc thì được ta tạo làm di tích lịch sử để tham quan, còn hầm của tướng ta thì bây giờ ra sao? Nhân dân sẽ hỏi các đồng chí, hầm của tướng ta đâu, không lẽ chỉ có hầm tướng giặc thôi à?” Tất cả mọi người có mặt trong hầm De Castries hôm đó đều lặng đi. Mọi người thấy đại tướng nói đúng quá, có lý quá!

Tiếp tục đọc