‘Việt Nam hóa’ ra đời

Ngày 14 tháng 10 năm 1966, Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, người chịu trách nhiệm chính cho cuộc chiến chống cộng sản tại Nam Việt Nam, đã thừa nhận thất bại của mình. Chỉ hơn một năm trước khi ông chính thức từ chức Bộ trưởng, ông đã gửi một báo cáo dài đến Tổng thống Lyndon Johnson, khéo léo thừa nhận rằng ông và Lầu Năm Góc không có chiến lược nào để kết thúc chiến tranh theo hướng có lợi cho Nam Việt Nam.

Đại sứ Ellsworth Bunker trình quốc thư lên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày 28/04/1967.

Đại sứ Ellsworth Bunker trình quốc thư lên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày 28/04/1967.

Tiếp tục đọc

Advertisements

Bắc Việt Nam, MTDTGP và cuộc Việt Nam hóa

Thời gian ba năm giữa Tết Mậu Thân và cuộc xâm lược Lào là giai đoạn khó khăn nhất trong cuộc chiến cho Bắc Việt Nam và MTDTGP. Tuy việc Mỹ ngưng ném bom (tháng Mười 1968) đã tạo khả năng cho người dân Bắc Việt Nam đi lại tự do hơn một chút. Cả sự phát triển về kinh tế cũng không còn bị chiến tranh cản trở quá nhiều nữa. Thế nhưng tổn thất của đợt tấn công Tết Mậu Thân, cuộc bình định hung dữ, chiến lược thay đổi của Mỹ, tăng cường ném bom ở Nam Việt Nam cũng như cuộc chiến tranh ném bom trên những vùng gần biên giới của Lào và Campuchia đã bắt buộc quân đội cộng sản ở miền Nam phải tạm thời lui về thế phòng thủ. 1968 và 1969 là hai năm đẫm máu nhất của Chiến tranh Việt Nam. Tuy quân giải phóng vẫn tổ chức tập kích những đơn vị nhỏ của Nam Việt Nam và Mỹ. Nhưng Tướng Giáp chủ yếu lo củng cố lực lượng quân đội của ông và xây dựng tiềm năng để tiến hành một cuộc chiến tranh thông thường. Qua đó, Giáp thêm một lần nữa đã chứng tỏ tài khéo léo trong chiến lược của ông: trong những năm sáu mươi, Hoa Kỳ đã muốn ép buộc ông đi đến một cuộc chiến tranh thông thường. Quân Bắc Việt và Giải phóng đã cố tình tránh né cuộc chiến đó. Thay vì vậy, họ đã lôi người Mỹ vào trong vô số những cuộc chạm trán nhỏ. Nhưng sau Tết Mậu Thân thì có thể thấy rõ ba điều: Quân số của quân đội Mỹ đã lên đến đỉnh điểm, cuộc Việt Nam hóa bắt đầu, và QLVNCH được dẫn dần đến các nhiệm vụ tấn công. Phản ứng lại sự biến đổi này, người ta đã quyết định tiến hành một chiến lược khác, có nhiệm vụ làm cho đối thủ bất ngờ và mang lực lượng hợp nhất của quân Giải phóng và người Bắc Việt trở lại thế tấn công.

Lính Mỹ đang chờ trực thăng vận ở phía nam Sài Gòn, tháng Ba 1969

Lính Mỹ đang chờ trực thăng vận ở phía nam Sài Gòn, tháng Ba 1969

Tiếp tục đọc

Việt Nam hóa

Phù hiệu không được phát hành.

Phù hiệu không được phát hành.

Trong khi dư luận Mỹ hoan nghênh cuộc rút quân thì giới quân sự trong Lầu Năm Góc và ở Sài Gòn đánh giá cuộc Việt Nam hóa chiến tranh như là một sự đầu hàng từng bước một. Việc đưa những người lính trở về đã làm tiêu tan niềm hy vọng còn có thể chiến thắng trên chiến trường. Giới quân sự Mỹ phần lớn hoài nghi rằng có thể tạo cho QLVNCH khả năng chiến thắng đối thủ. Cả chính phủ Nam Việt Nam cũng cương quyết chống lại một cuộc Việt Nam hóa chiến tranh. Tuy Thiệu ủng hộ công khai cuộc rút quân, nhưng về cơ bản thì cuộc Việt Nam hóa đã khiến cho chế độ ở Sài Gòn cảm thấy hết sức bất an.

Tiếp tục đọc

Chiến lược toàn cầu của Nixon

Khi Richard Nixon bước vào Nhà Trắng trong tháng Giêng 1969, ông đã có thể nhìn lại một con đường sự nghiệp dài. Cuối những năm bốn mươi, người nghị sĩ trẻ tuổi của Hạ Viện đã nổi tiếng khắp nước qua tính chống cộng cực đoan của ông. Là Phó Tổng thống dưới Eisenhower, ông đã yêu cầu nước Mỹ ném bom Điện Biên Phủ và luôn luôn hoạt động yêu cầu ủng hộ Diệm vô điều kiện. Con người sinh ra ở California này cũng ủng hộ leo thang các hoạt động tham chiến của Mỹ ở Việt Nam sau 1965, nhưng lên án Johnson là xuất hiện không đủ hung hãn trước Bắc Việt Nam. Ngoài ra ông phê phán rằng, người tiền nhiệm của ông đã tự làm cho ông ấy trở thành một tù nhân của phong trào phản chiến. Khác với Johnson, Nixon hiểu rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam đã làm lung lay quyền bá chủ của Mỹ ở Phương Tây. Ông cũng nhận ra rằng Hoa Kỳ không còn đứng trước một mặt trận cộng sản thống nhất. Theo quan điểm của ông, một vài quốc gia của thế giới thứ Ba và trước hết là Trung Quốc đã trở thành những trung tâm quyền lực mà Washington không còn có thể phớt lờ lâu hơn được nữa. Nixon cảm nhận cuộc Chiến tranh Việt Nam như là một gánh nặng ngăn cản Hoa Kỳ tiếp tục đóng vai trò nổi bật trong hệ thống nhà nước quốc tế.

Nixon và Henry Kissinger 1972

Nixon và Henry Kissinger 1972

Tiếp tục đọc

Peter Rodman: Chính sách của Nixon và Hiệp định Paris

Peter Rodman từ 1969 là nhân viên của Hội đồng An ninh Quốc gia và là trợ tá của Henry Kissinger.     

Tháng Giêng 1969, Richard Nixon tiếp nhận cuộc Chiến tranh Việt Nam từ người tiền nhiệm. Vào ngày ông nhậm chức có 500.000 người lính ở Việt Nam, và con số của họ tiếp tục tăng lên. Không có kế hoạch mang họ trở về như thế nào, các cuộc đàm phán vừa mới bắt đầu. Nixon đứng trước một đống đổ nát. Mục đích quan trọng nhất của ông là giải phóng nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh này và đồng thời cố gắng ấn định những đường lối cơ bản cho một chính sách đối ngoại mới của Hoa Kỳ. Ông không có ý định đầu hàng. Dường như là có một sự đồng thuận khắp nước cho một loại thỏa hiệp trong danh dự nào đó. Chúng tôi gọi nó là “chiến tranh vì danh dự”, một cuộc rút quân từng bước. Điều quan trọng đối với Nixon là chúng tôi đóng chương Việt Nam lại với một hành động chính trị, không phải với một sự sụp đổ. Thế là ông cũng hành động như vậy, và có được sự hậu thuẫn trong nước cho chính sách Việt Nam của ông hầu như suốt cả nhiệm kỳ.

Tổng thống Nixon tuyên bố rút quân

Tổng thống Nixon tuyên bố rút quân

Tiếp tục đọc