Một đất nước đẹp

Vào buổi trưa, trên khu đất phụ dành riêng cho trực thăng của phi trường Sài Gòn, chúng tôi bước lên một trong năm chiếc ‘chooper’ dành riêng cho VIPs (Very Important Persons) để bay tới Tây Ninh. Những chiếc trực thăng VIP này khác với những chiếc khác qua việc phi hành đoàn đối xử có khoảng cách hơn với những người khách của họ. Thiếu những câu chuyện đùa chiến hữu thông thường kiểu Mỹ, không ai vỗ vai người ta. Hai xạ thủ đại liên lịch sự chờ cho tới khi các hành khách cài xong dây an toàn, trước khi họ đu người qua lối vào của những cái cửa đẩy và đội những chiếc nón màu trắng với tai nghe lên đầu.

Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967

Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967

Tiếp tục đọc

Advertisements

“These people, they don’t understand” (hết)

Sự tham chiến của Mỹ ở Việt Nam, theo ý kiến của nhiều nhà báo, đã có một quy mô mà trước đó không ai muốn. Nhóm nhỏ của các cố vấn quân sự đã trở thành một đạo quân của hơn 400.000 người lính. Người Mỹ đã trượt vào lần leo thang này, tuy là không muốn. Mỗi một nấc thang là cần thiết, vì nấc thang trước đã không đủ, và phải xây chồng lên trên thất bại bằng cách tăng cường tham chiến. Một trong những yếu tố chủ yếu cho chính sách này hẳn là ý định bao vây Trung Quốc về chiến lược. Thế nhưng luận điểm, rằng Việt Nam sẽ trở thành một nước chư hầu của Trung Quốc, có một lỗ trống không thể không nhìn thấy: người Việt không căm ghét ai như căm ghét người Trung Quốc. Họ đã bị người Trung Quốc thống trị cả ngàn năm và một ngàn năm kế tiếp theo sau đó họ đã phải liên tục chống lại người Trung Quốc. Trong khi đó – một ví dụ nữa cho lòng khoan dung Á châu – không có khu kiều dân nào ở Việt Nam mà lại lớn như khu của người Hoa. Chỉ riêng trong Chợ Lớn, thành phố anh em của Sài Gòn, là đã có ba tới bốn trăm ngàn người Hoa sinh sống, những người cho tới ngày nay vẫn nói tiếng Quảng Đông mà một phần không nói được một từ tiếng Việt. Tuy vậy, một ngày nào đó, Tổng thống Diệm đã làm cho tất cả những người Hoa đang sống trên đất nước này đều trở thành người Việt, bằng cách là ông đã ban sắc lệnh giao cho họ quốc tịch Việt và thẻ căn cước mà thiếu chúng thì người Hoa không còn được phép làm việc trong đất nước này nữa.

Đường Tôn Thất Đạm Chợ Cũ, Sài Gòn 1965/1966. Hình: Thomas W. Johnson

Đường Tôn Thất Đạm Chợ Cũ, Sài Gòn 1965/1966. Hình: Thomas W. Johnson

Tiếp tục đọc

“These people, they don’t understand” (phần 1)

Bệnh nhân của chúng tôi – trừ một ít trường hợp ngoại lệ – xuất phát từ những tầng lớp nghèo của xã hội. Nói chung thì họ không nói được ngoại ngữ; sự học hành của họ ít có khác nhau, và ý kiến của họ giới hạn ở quanh những gì gần gũi nhất với cuộc sống. Chúng tôi chỉ có thể nói chuyện với họ qua thông dịch. Điều này không những giới hạn các khả năng của một câu chuyện mà qua sự hiện diện của một người thứ ba cũng trở nên không trực tiếp. Vì vậy mà khó có thể phân biệt được, rằng người được hỏi không có gì để nói về một đề tài nào đó hay là không muốn nói gì. Ví dụ như người anh em của bệnh nhân bị liệt nửa người chẳng hạn, người mà đã bị Việt Cộng bắt giữ, không nói về việc cuối cùng thì Việt Cộng đã mang ông ấy về nhà như thế nào.

Đường Tự Do, Sài Gòn, 1967

Tiếp tục đọc

Đáng thương nhất là trẻ em (hết)

Có một thời gian mà chúng tôi hầu như ngày nào cũng tiếp nhận trẻ em bị thương ở bụng hay ở ngực vì mảnh bom đạn. Những mảnh đó đã cắt xuyên qua ruột tại nhiều nơi. Những em này phần lớn đến từ vùng đồng bằng có mật độ dân cư cao. Cho tới cuối 1966, không có những đơn vị lớn của người Mỹ hoạt động trong vùng này, và quân đội quốc gia chủ yếu là cố giữ được các căn cứ của họ nên không có giao tranh nhiều cho lắm. Việc này đã thay đổi vào đầu năm mới. Ngay từ cuối 1966, người ta đã đồn rằng chẳng bao lâu nữa sẽ xảy ra giao tranh lớn, và thật sự là từ giữa tháng Giêng, ở Sài Gòn người ta đã nghe được tiếng nổ từ phía Nam ngày một nhiều hơn. Nhưng còn chắc chắn hơn là việc chúng tôi có thể nhìn từ con số người dân thường bị thương được đưa đến chỗ chúng tôi, rằng cuộc chiến ở trong vùng đồng bằng đã lan rộng ra. Chiếc xe cứu thương VW của bệnh viện tỉnh ở Long An mỗi ngày đến chỗ chúng tôi một lần, thỉnh thoảng là hai lần. Người tài xế khiến cho tôi nhớ tới một người lái xe cứu thương ở Ethiopia, nơi tôi đã làm việc năm 1965. Cả hai đều thấp người, có bụng nặng nề, mái tóc ngắn trên gương mặt tròn, và họ có tính chậm chạp không thể lay chuyển được. Ngay với đèn xanh cấp cứu đã được bật lên, người tài xế từ Long An vẫn lái xe còn chậm hơn cả giao thông mà bình thường thì cũng đã không nhanh lắm của Sài Gòn rồi, và không có gì có thể làm cho ông mất bình tỉnh được. Chỉ sau này, khi chúng tôi có lần đến thăm bệnh viện ở Long An, thì gương mặt của ông hồng lên vì mừng rỡ. Ông thức tỉnh từ sự chậm chạp của mình, hăm hở và hãnh diện hướng dẫn chúng tôi đi thăm thành phố nhỏ đó và chỉ cho chúng tôi xem một trại gà và đền thờ Cao Đài xinh đẹp ở Long An.

Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967

Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967

Tiếp tục đọc

Đáng thương nhất là trẻ em (2)

Trong mùa Xuân 1967, vào cuối mùa khô, người Mỹ mang đến cho chúng tôi một em trai mười ba tuổi trong một chiếc xe cứu thương quân đội của họ. Người lính quân y lái chiếc xe cứu thương kể lại cho chúng tôi, quân cảnh đã tìm thấy em này trong một lần kiểm tra trên một chiếc thuyền ở trước bờ biển Nam Việt Nam, cách Vũng Tàu không xa lắm. Những chiếc thuyền có mạn tàu cao này, hơi lớn hơn thuyền trên sông với mũi tàu nhô ra, được trang trí hết sức nghệ thuật, và với con mắt huyền bí nhìn xuống những ma quỷ đang dấu mình ở dưới nước, chuyên chở hàng hóa nặng trung bình dọc theo bờ biển, tương tự như những chiếc thuyền có động cơ chạy dọc theo bờ biển ở chúng ta. Đồng thời, chúng cũng là nhà ở và quê hương của những người lái tàu và gia đình của họ, một nhóm người vì nghề nghiệp và hoàn cảnh mà tất nhiên là rất tự do.

Tàu Hải quân Hoa Kỳ tuần tra trên sông Mekong

Tàu Hải quân Hoa Kỳ tuần tra trên sông Mekong

Tiếp tục đọc