“These people, they don’t understand” (phần 1)

Bệnh nhân của chúng tôi – trừ một ít trường hợp ngoại lệ – xuất phát từ những tầng lớp nghèo của xã hội. Nói chung thì họ không nói được ngoại ngữ; sự học hành của họ ít có khác nhau, và ý kiến của họ giới hạn ở quanh những gì gần gũi nhất với cuộc sống. Chúng tôi chỉ có thể nói chuyện với họ qua thông dịch. Điều này không những giới hạn các khả năng của một câu chuyện mà qua sự hiện diện của một người thứ ba cũng trở nên không trực tiếp. Vì vậy mà khó có thể phân biệt được, rằng người được hỏi không có gì để nói về một đề tài nào đó hay là không muốn nói gì. Ví dụ như người anh em của bệnh nhân bị liệt nửa người chẳng hạn, người mà đã bị Việt Cộng bắt giữ, không nói về việc cuối cùng thì Việt Cộng đã mang ông ấy về nhà như thế nào.

Đường Tự Do, Sài Gòn, 1967

Tiếp tục đọc

Advertisements

Đáng thương nhất là trẻ em (hết)

Có một thời gian mà chúng tôi hầu như ngày nào cũng tiếp nhận trẻ em bị thương ở bụng hay ở ngực vì mảnh bom đạn. Những mảnh đó đã cắt xuyên qua ruột tại nhiều nơi. Những em này phần lớn đến từ vùng đồng bằng có mật độ dân cư cao. Cho tới cuối 1966, không có những đơn vị lớn của người Mỹ hoạt động trong vùng này, và quân đội quốc gia chủ yếu là cố giữ được các căn cứ của họ nên không có giao tranh nhiều cho lắm. Việc này đã thay đổi vào đầu năm mới. Ngay từ cuối 1966, người ta đã đồn rằng chẳng bao lâu nữa sẽ xảy ra giao tranh lớn, và thật sự là từ giữa tháng Giêng, ở Sài Gòn người ta đã nghe được tiếng nổ từ phía Nam ngày một nhiều hơn. Nhưng còn chắc chắn hơn là việc chúng tôi có thể nhìn từ con số người dân thường bị thương được đưa đến chỗ chúng tôi, rằng cuộc chiến ở trong vùng đồng bằng đã lan rộng ra. Chiếc xe cứu thương VW của bệnh viện tỉnh ở Long An mỗi ngày đến chỗ chúng tôi một lần, thỉnh thoảng là hai lần. Người tài xế khiến cho tôi nhớ tới một người lái xe cứu thương ở Ethiopia, nơi tôi đã làm việc năm 1965. Cả hai đều thấp người, có bụng nặng nề, mái tóc ngắn trên gương mặt tròn, và họ có tính chậm chạp không thể lay chuyển được. Ngay với đèn xanh cấp cứu đã được bật lên, người tài xế từ Long An vẫn lái xe còn chậm hơn cả giao thông mà bình thường thì cũng đã không nhanh lắm của Sài Gòn rồi, và không có gì có thể làm cho ông mất bình tỉnh được. Chỉ sau này, khi chúng tôi có lần đến thăm bệnh viện ở Long An, thì gương mặt của ông hồng lên vì mừng rỡ. Ông thức tỉnh từ sự chậm chạp của mình, hăm hở và hãnh diện hướng dẫn chúng tôi đi thăm thành phố nhỏ đó và chỉ cho chúng tôi xem một trại gà và đền thờ Cao Đài xinh đẹp ở Long An.

Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967
Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967

Tiếp tục đọc

Đáng thương nhất là trẻ em (2)

Trong mùa Xuân 1967, vào cuối mùa khô, người Mỹ mang đến cho chúng tôi một em trai mười ba tuổi trong một chiếc xe cứu thương quân đội của họ. Người lính quân y lái chiếc xe cứu thương kể lại cho chúng tôi, quân cảnh đã tìm thấy em này trong một lần kiểm tra trên một chiếc thuyền ở trước bờ biển Nam Việt Nam, cách Vũng Tàu không xa lắm. Những chiếc thuyền có mạn tàu cao này, hơi lớn hơn thuyền trên sông với mũi tàu nhô ra, được trang trí hết sức nghệ thuật, và với con mắt huyền bí nhìn xuống những ma quỷ đang dấu mình ở dưới nước, chuyên chở hàng hóa nặng trung bình dọc theo bờ biển, tương tự như những chiếc thuyền có động cơ chạy dọc theo bờ biển ở chúng ta. Đồng thời, chúng cũng là nhà ở và quê hương của những người lái tàu và gia đình của họ, một nhóm người vì nghề nghiệp và hoàn cảnh mà tất nhiên là rất tự do.

Tàu Hải quân Hoa Kỳ tuần tra trên sông Mekong
Tàu Hải quân Hoa Kỳ tuần tra trên sông Mekong

Tiếp tục đọc

Đáng thương nhất là trẻ em (1)

Trẻ em trong bất cứ đất nước xa lạ nào cũng đều lôi cuốn cả. Các em không nghi ngại gì và khiến cho những con người xa lạ dễ dàng yêu thương các em, vì các em vẫn còn chưa thể sống mà không cần sự chăm sóc được. Các em vô tội. Ngay cả khi trẻ em da đen nấp sau chiếc váy của người mẹ lúc một người da trắng bước đến với các em, cũng như những đứa bé trong làng mạc Trung Âu sẽ làm, khi có một người da đen đến gần, thì điều đó vẫn không gây khó khăn cho quan hệ của một người nước ngoài với trẻ em của một đất nước xa lạ. Người ta cũng có thể đến với trẻ em mà không phải lo sợ, ngay cả trong một môi trường thù địch, các em vẫn còn không bị ảnh hưởng bởi những suy nghĩ, trải nghiệm và thành kiến của người lớn. Vượt qua được sự rụt rè của mình một lần rồi thì về mặt mình, các em cũng có thể tiếp cận với con người xa lạ mà không phải lo lắng gì, vì người này không có cảm giác bị các em gây hại. Và: trẻ em có nét đẹp vô tội riêng của các em, có thuộc dân tộc và chủng tộc nào đi nữa cũng vậy.

Bệnh nhân trên tàu Helgoland
Bệnh nhân trên tàu Helgoland

Tiếp tục đọc

Những giọt nước mắt của người đàn ông già (hết)

Vào đầu tháng 6, một bác sĩ người Việt trẻ tuổi nói tiếng Đức rất tốt bước lên tàu với một chai huyết tương khô. Anh đang phục vụ trong quân đội và, cũng như tất cả các bác sĩ mà vào một ngày nào đó bất thình lình xuất hiện trong một bộ quân phục, để lộ ra ngoài một sự pha trộn của sự buồn phiền về bộ quân phục và sự hãnh diện ngại ngùng về cái quân hàm thiếu úy đeo trên ve áo. Họ mặc quân phục của họ thường giống như một diễn viên tồi mặc y phục của người đó trên sân khấu và cảm thấy mình thật đáng thương hại. Người đàn ông trẻ tuổi đáng mến này lúc nào cũng sôi nổi và lịch sự, nhưng lần này thì anh rõ ràng là bị kích động rất nhiều. Cái chai huyết tương khô mang một tờ nhãn của hội Hồng Thập Tự Đức. Người ta có thể đọc rõ được số hiệu trên tờ nhãn đã bị cào rách và dơ bẩn đó. Người Mỹ đã tìm thấy nó trong một bệnh viện ngầm dưới mặt đất của Việt Cộng, bị phát hiện cách Sài Gòn mười tám kilômét về phía Tây Bắc và chứa không ít hơn là bốn trăm giường. Anh được giao nhiệm vụ, có lẽ vì thông thạo ngôn ngữ, xác định xuất xứ của huyết tương. Thật dễ hiểu, rằng thuốc chữa bệnh Đức ở Việt Nam vào thời gian này có thể xuất phát từ kho của chiếc tàu bệnh viện. Chúng tôi được trang bị bằng huyết tương do Hồng Thập Tự sản xuất, tức là ai đó có thể đánh cắp thuốc chữa bệnh ở chỗ chúng tôi và đưa tiếp cho Việt Cộng. Thật ra thì đối với tôi đó không phải là vấn đề, rằng một thuốc chữa bệnh được đưa cho một người Việt Cộng ốm đau hay một Phật tử ốm đau hay bất cứ ai, nếu như đó là một con người đang bệnh. Nhưng sự việc đánh cắp thì sẽ làm cho tôi buồn phiền. Vì vậy mà tôi đã đánh điện số hiệu của chai đó về Đức và xin hãy xác định hộ là huyết tương này đã được cung cấp đi đâu. Sau hai mươi bốn tiếng tôi đã có câu trả lời: chai đó thuộc số thuốc chữa bệnh của nước Cộng hòa Liên bang [Đức] tặng cho Nam Việt Nam, tức không thuộc số thuốc của chúng tôi. Số thuốc này do Bộ Y tế Nam Việt Nam quản lý và nằm ngoài mọi sự kiểm soát của Đức.

Tàu bệnh viện Helgoland ở Sài Gòn. Hình của Siegfried Kogelfranz
Tàu bệnh viện Helgoland ở Sài Gòn. Hình của Siegfried Kogelfranz

Tiếp tục đọc

Những giọt nước mắt của người đàn ông già (2)

Vào khoảng cùng thời gian đó, một người nông dân già từ vùng đồng bằng được đưa vào chỗ chúng tôi. Ông kể lại, ông đang làm việc trên đồng ruộng của ông và bị bắn trúng từ một chiếc trực thăng. Ông mặc bộ đồ màu đen truyền thống của nông dân, qua đó tôi mới lại sực nhớ thêm một lần nữa, rằng cả hai phe tham chiến đã tiến hành một cách thực dụng như thế nào. Đối với các xạ thủ súng máy trong những chiếc trực thăng Mỹ thì một người đàn ông mặc đồ đen trên đồng ruộng, người có lẽ còn mất tinh thần và bỏ chạy trước chiếc trực thăng đang bay phành phạch đến gần, là một Việt Cộng. Đối với người Việt, những người tuy có trí thông minh rõ rệt, ngược với người Mỹ, không phân biệt được giữa người Mỹ và người Âu, thì mỗi một người da trắng với thân hình to lớn trung bình và mái tóc sáng màu đều là một người Mỹ.

Bệnh nhân trên tàu bệnh viện Helgoland ở Đà Nẵng (1971)

Tiếp tục đọc

Những giọt nước mắt của người đàn ông già (1)

Nhiều vùng đất của Nam Việt Nam đổi chủ khi mặt trời lặn. Về đêm, Việt Cộng xuất hiện từ những nơi ẩn náu của họ ở trong rừng và những nơi ẩn nấp dưới lòng đất, rồi chiếm lấy phần đất bao quanh các cứ điểm kiên cố của quân đội chính phủ, hầu như không bị quấy rầy bởi ‘spooky’, chiếc máy bay chậm chạp hai động cơ bay vòng vòng trên bầu trời tối đen, thả pháo sáng thành từng hàng và có thể mang lại sự hủy diệt của địa ngục từ những khẩu siêu súng máy gắn cố định với mỗi khẩu tám ngàn viên đạn trong một phút, khi phát hiện ra Việt Cộng. Sau khi mặt trời lên, cổng của những cứ điểm mở ra, máy bay trực thăng cất cánh, và Việt Cộng lui về nơi ẩn nấp. Quân đội chính phủ tiếp nhận quyền thống trị trong làng mạc và trên đường xá, được hỗ trợ bởi một đoàn máy bay trực thăng. Không thể tưởng tượng được một bầu trời Việt Nam mà không có máy bay trực thăng với tiếng động cơ phành phạch đặc trưng của chúng. Phi công với những gương mặt dửng dưng quan sát đất nước qua kính phòng lái của họ. Các khẩu súng máy hạng nặng, được lắp trên những khớp cầu, nhìn trừng trừng ra từ những cánh cửa đẩy to ở hai bên hông. Xạ thủ dựa vào báng súng và dường như đang mơ mộng dưới chiếc nón tai nghe màu trắng hay xanh ô liu của họ. Từ những chiếc nón đó có dây đàm thoại vô tuyến trên máy bay dẫn lên trần, như một sợi dây trong nhà hát múa rối, sợi dây mà người điều khiển ở hậu trường dùng nó để cử động những cái đầu của con rối. Những chiếc máy bay trực thăng bay vòng vòng dường như không theo một kế hoạch nào, thường là hai chiếc với nhau, bất thình lình tạt ngang vào một mục tiêu, đứng yên trong không gian như chim ó, lao xuống mặt đất như chim ưng và nhảy như gà lôi qua những hàng giậu và hàng cây. Những đoàn lớn gồn hai chục chiếc lơ lững ầm ỉ như những con côn trùng khổng lồ trên các cánh đồng ruộng và rừng rậm.

Máy bay trực thăng Mỹ bắn bảo vệ cho quân lính Na, Việt Nam tấn công. Ảnh: AP Photo/Horst Faas
Máy bay trực thăng Mỹ bắn bảo vệ cho quân lính Nam Việt Nam tấn công. Ảnh: AP Photo/Horst Faas

Tiếp tục đọc