Victor Charlie không muốn lộ diện

Thung lũng Kim Sơn, mùa thu 1966

Tướng Westmoreland, tổng chỉ huy Hoa Kỳ ở Việt Nam, đã tìm thấy phương thức công hiệu để chống du kích quân, người ta nói như vậy vào thời đó trong các ban tham mưu ở Sài Gòn, và giới báo chí Phương Tây hòa vào dàn đồng ca này.

Công thức mới của chiến thắng có tên là “Search and Destroy – Tìm và Diệt.” Không còn ai muốn biết gì về chiến lược cho tới nay nữa, cái mà mới đây đã được giới thiệu dưới cái tên “Clear and Hold – Quét và Giữ”. Chiến thắng dường như nằm trong tầm tay, từ khi Sư đoàn Kỵ binh số 1, được gọi là First Cav, với một đoàn trực thăng tỏa ra ở giữa Trung Kỳ đi tìm những chỗ ẩn nấp của Việt Cộng. Du kích quân bị phát hiện trong thung lũng Kim Sơn. Khi chúng tôi bay trực thăng đến được nơi mà đại đội First Cav mới đáp xuống trước đó thì những người lính Mỹ đã đi qua đám cỏ voi cao được vài ki-lô-mét. Chúng tôi đi hàng một và lúc nào cũng đặt chân vào dấu của người đi trước. Qua đó, rủi ro dẫm phải mìn nhỏ đi. Đặc biệt đáng sợ là những cái bẫy hố hiểm độc có tre được vác nhọn và tẩm thuốc độc ở dưới đó. Dưới một bụi tre rậm, lính kỵ binh phát hiện ra nhiều cái vại to bằng đất sét chứa đầy gạo. Những cái vại đó bị đập vỡ. Kiến sẽ lo liệu nốt phần còn lại. Đất mới vừa được đổ lên ở rìa của một xóm nhỏ tí. Lính Mỹ đào xuống và phải bịt mũi lại. Họ đã phát hiện ra một mồ chôn tập thể của khoảng mười hai cái xác chết đã thối rữa. Tôi chú ý thấy những người lính của First Cav thường hay tạm nghỉ nhiều cho tới đâu, và họ bảo vệ vị trí của họ không cẩn thận cho tới đâu. Rõ ràng trực thăng là một phương tiện vận chuyển tiện nghi cho tới mức người ta đã quên cách hành quân. Ngoài ra thì tuy là “tìm” rất nhiều, nhưng không “diệt” được gì cả, nếu như không kể tới vài ngôi nhà tre bị đốt cháy. “Xin đừng quay phim”, đại úy Lewis từ Alabama nói. “Chính thức thì chúng tôi không được phép đốt cháy những căn nhà này.” Viên đại úy là một người da đen có diện mạo đẹp và dễ gây thiện cảm. Ông chỉ huy một đại đội hầu như chỉ toàn người da trắng, và uy quyền của ông là không tranh cãi. Trong lúc nghỉ trưa, ông kể cho tôi nghe câu chuyện của ông. Vào ngày ông khởi hành sang Việt Nam, khi ông từ giã vợ ông từ một cái buồng gọi điện thoại công cộng ở Montgomery, ông bị một tên phân biệt chủng tộc quá khích người da trắng bắn ở sau lưng. Quân đội đã tỏ tình đoàn kết với ông, và ông đã được ưu tiên thăng chức chỉ huy đại đội.

Lính Mỹ đang chờ trực thăng hạ cánh trong Chiến dịch Pershing ở Nam Việt Nam năm 1967.

Lính Mỹ đang chờ trực thăng hạ cánh trong Chiến dịch Pershing ở Nam Việt Nam năm 1967.

Tiếp tục đọc

Nam Kỳ đầu 1946 (hết)

Vào sáng sớm có một cơn mưa đến bất ngờ. Độ ẩm đã được mặt trời hút lấy khi tôi đi đến thánh đường của những người Cao Đài, một tòa nhà màu vàng khổng lồ theo kiểu của một nhà thờ Pháp. Vào giờ này, rừng rậm trên sườn núi dốc của “Bà Đen” óng ánh trong màu xanh đậm. Việc bình thường hóa hẳn đã tiến xa hơn là chúng tôi dự đoán vào lúc ban đầu, vì thánh đường này đã đầy hơn nửa vào lúc làm lễ ban sáng. Giáo hoàng của giáo phái Cao Đài đã chạy trốn sang Thái Lan, nhưng phần lớn giáo sĩ của ông ấy – thuộc vào trong số đó là một hội đồng giáo chủ và nhiều giám mục – vẫn ở lại tại chỗ, không bị người Pháp gây khó dễ và đang tiến hành những nghi lễ kỳ lạ của mình trong gian chính khổng lồ, giống như một đại sảnh của thánh đường. Từ ở nơi đó, ở nơi mà trong một nhà thờ Công giáo là nơi của bệ thờ, có một con mắt khổng lồ nhìn từ một tam giác có hào quang bao quanh xuống cộng đồng tín ngưỡng. Các giáo sĩ tùy theo cấp bậc mà phủ kín người với quần áo lụa màu xanh, đỏ và vàng, những cái chấm dứt với cái mũ trùm đầu nhọn của Ku-Klux-Klan. Người theo đạo bình thường mặc quần áo màu trắng. Tiếng cầu kinh rì rầm làm cho người ta nhớ tới tiếng cầu nguyện của Kitô giáo và tiếng tụng kinh của Phật giáo. Những người theo đạo liên tục quỳ xuống và tiếng cồng chiêng vang lên không ngưng. Khói nhang bay lên đến tận con mắt huyền bí đó. Tôn giáo pha trộn kỳ lạ của Cao Đài không nhiều tuổi hơn là thế kỷ 20. Thuộc trong số các thánh của họ, những người được sùng kính đặc biệt, là Đức Phật, Khổng Tử, Giê-xu và … nhà thơ người Pháp Victor Hugo. Ở cổng vào thánh đường, các nhà tiên tri này của đạo Cao Đài được mô tả qua những bức tượng đắp nổi nhiều màu chất phác. Khách tham quan người Pháp đặc biệt buồn cười về tượng mô tả Victor Hugo, người rõ ràng vì thông điệp nhân đạo của mình như là tác giả của “Những Người Khốn Khổ” mà đã được nhận vào điện thờ các thần này. Tôi có xúc cảm nhiều nhất là ở việc cái đầu râu trong số ba người của Académicien này trông giống bức chân dung được lưu truyền lại của Karl Marx hết sức. Về cơ bản thì không có lý do gì để chế diễu cả. Những lần thành lập tôn giáo đều luôn gắn liền với những điều kỳ lạ. Đạo Cao Đài chắc chắn không phải là một hiện tượng dài lâu. Nhưng trong sự cống hiến cuồng tín của nó, trong sự tìm kiếm những mô hình xa lạ, trong hoạt động vì quốc gia của nó, trong mối liên quan nào đó, nó cũng tương tự như cái tôn giáo ý thức hệ bí mật và kiên quyết đó của những người cộng sản Việt Nam, đã giành lấy được một phần của quyền lực về cho họ ở Hà Nội, và môn đồ của nó ở đồng bằng sông Cửu Long đã ngày một nhiều hơn.

Bên trong Thánh đường của đạo Cao Đài. Hình: Wikipedia

Bên trong Thánh đường của đạo Cao Đài. Hình: Wikipedia

Tiếp tục đọc

Nam Kỳ đầu 1946 (phần 2)

Với những lỗ châu mai, thành lũy và tháp của nó, pháo đài cũ của Pháp ở Tây Ninh nằm – nhìn từ xa – giống như một món đồ chơi trong mặt trời về chiều. Nó xuất phát từ thời đầu của cuộc thuộc địa hóa, khi những người Pháp đầu tiên xâm chiếm ở Nam Kỳ còn phải chống lại cướp sông. Màn chống muỗi được giăng ra trên những cái giường xếp. Bóng tối đến bất chợt, và màn đêm oi bức dính da. Những người lính ăn khẩu phần của họ. Rượu vang đỏ được lấy ra từ ở đâu đó. Người ta ồn ào trong những công sự của cái pháo đài xưa cũ. Vào buổi chiều đã có một nhóm cảnh sát chính trị đặc biệt từ Sài Gòn đến, phần nhiều là người Âu Á. Họ đã hỏi cung tù binh. Đã có tra tấn trong lúc đó, như chúng tôi nghe được lúc đến pháo đài. Người ta nhúng đầu của các nghi phạm vào trong một cái thùng nước cho tới khi họ chịu cung khai. Đó được gọi là la baignoire – bồn tắm. La gégène, cực hình bằng điện nhờ vào một cái máy phát điện nhỏ, thời đó vẫn còn chưa thông dụng ở Đông Dương. Nhưng những người Á, người ta nói thế, có những biện pháp tinh xảo và đáng sợ để bắt những kẻ cứng đầu cũng phải nói. Đau khổ cho những người Âu nào còn sống mà lọt vào tay của du kích quân! Chúng tôi đã nhiều lần thấy xác chết người Pháp trôi nổi trên sông nước của Nam Kỳ mà tinh hoàn của họ bị nhét vào mồm và đã bị đóng cọc xuyên qua người bằng một cây tre. Trong khi nhóm lính làm ồn ào và đòi gái Campuchia, những nhóm tiền đồn hai người hay ba người đóng ở rìa của khu rừng. Trong sự đơn độc nguy hiểm này, sự hoang dã dường như đầy những tiếng ồn của thế giới động vật. Một con côn trùng càng nhỏ thì lại càng gây ra nhiều tiếng động. Trong lúc đó có những cái gì đó chạy vụt qua và kêu sột soạt. Một cuộc săn đuổi và giết nhau không thương xót đang diễn ra trong thiên nhiên về đêm. Chỉ có nỗi lo sợ phải xấu hổ là ngăn chận những người lính đang đóng ở bên ngoài bắn bừa vào cái thế giới xung quanh đang kêu lách cách, rì rì và ken két đó, thế giới mà người ta không nghe thấy được những người do thám của quân địch có thể đang bò tới trong sự che chở của nó.

Lực lượng Commando Parachutiste Ponchardier trên Rue Catinat, Sài Gòn, ngày 30 tháng 19 năm 1945

Lực lượng Commando Parachutiste Ponchardier trên Rue Catinat, Sài Gòn, ngày 30 tháng 19 năm 1945

            Tiếp tục đọc

Nam Kỳ đầu 1946 (phần 1)

Ngay khi đoàn xe vừa rời khỏi Sài Gòn và tới những đồn điền cao su của tỉnh láng giềng ở phía tây-bắc, những dấu vết của cuộc chiến tranh du kích đã có thể nhận thấy rõ. Đường trải nhựa bị đào nát bởi những con hào sâu, những con hào mà người nông dân thường xuyên phải đào chúng vào ban đêm dưới sự chỉ huy của các chính ủy đỏ. Những cái hố đó đều đặn cho tới mức chúng được người Pháp gọi là “phím dương cầm”. Bầu trời ban mai có màu xanh vàng ở hướng Đông. Chúng tôi đi xe về hướng Tây Ninh, và chẳng mấy chốc, ở bên kia của những lá dừa và những cánh đồng lúa vô tận, chúng tôi khám phá ra một ngọn núi đen, đe dọa nhô lên từ đồng bằng bằng phẳng. Ngọn núi đó có tên là “Bà Đen”, và báo hiệu biên giới của Campuchia. Thời đó đã có ai mà đoán trước được rằng đến một ngày nào đó, các lính Mỹ sẽ ngước lên nhìn ngọn “Black Virgin” này như ngước lên nhìn một nữ thần trả thù.

Special Forces của Mỹ chuẩn bị tấn công núi Bà Đen, 1964

Special Forces của Mỹ chuẩn bị tấn công núi Bà Đen, 1964

Tiếp tục đọc