24/08/1968: Washington thay đổi chính sách hỗ trợ Tổng thống Diệm

Đại sứ Henry Cabot Lodge nhận được một điện báo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói rằng Hoa Kỳ không còn có thể khoan thứ cho ảnh hưởng của Ngô Đình Nhu trong chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm được nữa. Thông điệp này đáp trả những vụ bố ráp trong các ngôi chùa Phật giáo; nó cũng yêu cầu Lodge nói với các tướng lãnh Nam Việt Nam rằng Washington chuẩn bị cắt viện trợ kinh tế và quân sự cho Diệm. Đây rõ ràng là một yếu tố chính thuyết phục các tướng lãnh đối lập tiến hành cuộc đảo chánh dẫn đến cái chết của Diệm vào sáng sớm ngày 2 tháng 11 năm 1963.

Henry Cabot Lodge Meeting Ngo Dinh Diem
26 tháng 8 năm 1963: Đại sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge trình ủy nhiệm thư cho Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Nguồn: http://www.history.com

Đọc những bài khác ở trang: Ngày Này Năm Xưa và Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Rồng Mekong (2): Một âm mưu chống khán giả

Giấy phép ra chiến trường có ở “Military Assistance Command Vietnam”, viết tắt là MACV (và đọc là “Macvi”). Cơ quan thông tin của MACV đóng trong khách sạn “Rex” trước đây, nằm cạnh đại lộ Lê Lợi rộng lớn, cách các ngôi nhà trọ cho những đoàn lữ hành của giới báo chí, “Continental” và “Caravelle”, không đầy 200 mét. Dây kẽm gai giới hạn lối vào ở bên hông. Một người canh gác kiểm tra giấy tờ cá nhân. Qua những bức tường bằng gỗ, gian sảnh lớn ở tầng trệt được chia ra thành những phòng làm việc nhỏ, được liên kết với nhau bằng những hành lang dài, chật hẹp. Người khách thật sự là phải len lỏi qua đó, vì đứng khắp nơi trên hành lang là những bình nước uống thật to mà không có chúng thì nhân viên rõ ràng là không thể chịu đựng được bầu không khí bị làm lạnh quá mức này. Ly giấy mỏng, có màu trắng nằm đó sẵn sàng để ai cũng có thể uống nước theo nhu cầu.

Thư viện Abraham Lincoln và rạp REX, Sài Gòn 1965
Thư viện Abraham Lincoln và rạp REX, Sài Gòn 1965

Tiếp tục đọc

27/06/1965: Kennedy bổ nhiệm Lodge làm đại sứ

Tổng thống John F. Kennedy bổ nhiệm Henry Cabot Lodge, cựu đối thủ chính trị đảng Cộng hòa của ông, thay Frederick E. Nolting làm đại sứ tại Việt Nam. Việc bổ nhiệm Lodge và triệu hồi Nolting báo hiệu một sự thay đổi chính sách của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Henry Cabot Lodge cùng với Tổng thống Ngô Đình Diệm
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Henry Cabot Lodge cùng với Tổng thống Ngô Đình Diệm

Tiếp tục đọc

16/06/1961: Kennedy đồng ý gửi người để huấn luyện quân đội

Cuộc họp giữa Tổng thống John F. Kennedy và đặc sứ Nam Việt Nam Nguyễn Đình Thuận đã đạt đến thỏa thuận để cho các huấn luyện viên Hoa Kỳ trực tiếp đào tạo và giám sát chiến đấu của quân đội Việt Nam. Tổng thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm trước đó đã yêu cầu Kennedy gửi thêm quân đội Hoa Kỳ để huấn luyện quân đội miền Nam Việt Nam. Các cố vấn Hoa Kỳ đã phục vụ tại Việt Nam từ năm 1955 như một phần của Nhóm Cố vấn Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ . Chỉ có 900 nhân viên quân sự Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam vào cuối năm 1961 , nhưng theo lời cam kết của Tổng thống Kennedy về việc cung cấp hỗ trợ quân sự Mỹ cho Nam Việt Nam, con số nhân viên Hoa Kỳ tăng lên đến 3.200 vào cuối năm 1962. Con số này sẽ leo lên đến 16.000 vào thời điểm Tổng thống Kennedy bị ám sát trong tháng 11 năm 1963.

Tổng thống John F. Kennedy gặp ông Nguyễn Đình Thuận, Ngoại trưởng phụ trách An ninh Việt Nam.
Tổng thống John F. Kennedy gặp ông Nguyễn Đình Thuận, Ngoại trưởng phụ trách An ninh Việt Nam.

Phan Ba dịch

Nguồn: http://www.history.com/

Đọc những bài khác ở trang: Ngày Này Năm Xưa

 

Tôi đã từng yêu người cộng sản

Cao Giao

Phan Ba dịch từ báo Der Spiegel số 20 / 1985: http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-13513784.html

Người Việt Cao Giao viết về cuộc đời và những lần ở chốn lao tù của ông. Ông chiến đấu với người Nhật chống lại người Pháp và thông đồng với người Mỹ chống lại nhà độc tài Diệm: Cuộc đời của Cao Giao, một nhà trí thức Việt Nam, đã là người thông dịch cho tờ SPIEGEL ở Việt Nam, đại diện cho lịch sử của đất nước ông. Ông ngồi tù 21 lần như là tù chính trị, lần cuối cùng ở những người cộng sản. Mới đây, Cao Giao được phép rời khỏi quê hương của ông

Lúc nào cũng tối tăm nên tôi không bao giờ biết là ngày hay đêm. Không có cửa sổ, không có ánh sáng.

Tôi bị bắt và ngay lập tức bị biệt giam. Xà lim của tôi rộng 1,20 nhân 1,80, sàn bằng bê tông, ở một phía có một cái cửa ra vào lúc nào cũng đóng kính và ở phía dưới có một cái lỗ để đưa thức ăn vào; ở phía kia có một cái lỗ ở trên sàn, nơi tôi giải quyết các nhu cầu về vệ sinh của tôi.

Vào cái ngày mà người ta nhốt tôi ở đây, tôi đã tự nói với mình: “Mình sẽ không bao giờ còn sống mà ra khỏi nơi đây đâu.” Thế nhưng tôi vẫn còn sống. Một tuần, một tháng, một năm – một sự vô tận.

Vào buổi trưa bao nào cũng có một cái còi hú lên. Người ta có thể đếm ngày bằng cách này. Chỉ chủ nhật là không có còi. Người ta chờ, nhưng cái còi câm lặng. Rồi người ta biết hôm đó là ngày chủ nhật.

Hỏa Lò, Hà Nội, 1954
Hỏa Lò, Hà Nội, 1954

Tiếp tục đọc

Việt Nam Cộng Hòa và những định mệnh xui xẻo

Nhìn lại lịch sử, chúng tôi thấy câu ngạn ngữ “hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai” sao nó đúng quá: tai bay vạ gió thì luôn theo nhau mà đến với Việt Nam Cộng Hòa, còn những cái may mắn thì ít khi nó trở lại.Thời Tổng thống Ngô Đình Diệm: sau bao nhiêu gian lao với Pháp, ông đã khai sinh ra nền Cộng Hòa.

Sau đó xây dựng được những thành tích vẻ vang của “Năm Năm Vàng Son 1955-1960,” (độc giả xem Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 13). Nhưng vừa tới năm 1961 thì ông phải đối đầu ngay với những giao động khôn lường: nửa năm đầu thì Tổng thống John F. Kennedy hết sức ủng hộ, tới nửa năm sau, bang giao Việt – Mỹ rơi vào khủng hoảng.

Phó Tổng thốngLyndon B. Johnson gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm trong Dinh Độc Lập, tháng Năm 1961
Phó Tổng thốngLyndon B. Johnson gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm trong Dinh Độc Lập, tháng Năm 1961

Tiếp tục đọc

Cuộc chiến ba mươi năm ở Việt Nam

Rõ ràng là chiến tranh Việt Nam được người ta nhớ đến theo những cách rất khác nhau. Phần lớn người Mỹ nhớ đến nó như một cuộc chiến diễn ra từ năm 1965 đến năm 1975, làm quân đội của họ sa lầy vào một nỗ lực nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản lan xuống Đông Nam Á, đồng thời làm chia rẽ người Mỹ một cách sâu sắc. Người Pháp nhớ đến thất bại của họ ở đó như một cuộc xung đột kéo dài một thập niên, từ năm 1945 đến năm 1954, khi họ cố gắng giành giữ viên ngọc châu Á của đế quốc thực dân của mình cho đến khi thất trận ở một nơi được gọi là Điện Biên Phủ.

Quân đội Việt Minh tại trận Điện Biên Phủ. Collection Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho, via Getty Images
Quân đội Việt Minh tại trận Điện Biên Phủ. Collection Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho, via Getty Images

Tiếp tục đọc