Rồng Mekong (36): Giúp đỡ của Trung Quốc trong cuộc thảm sát

Chưa đầy hai tháng sau lần di tản Phnom Penh và giảm thiểu toàn bộ cuộc sống xuống mức của một xã hội nông nghiệp sơ khai, Pol Pot, “người anh em số một”, đi cùng với Ieng Sary sang Hà Nội và Bắc Kinh. Chuyến đi này là bí mật. Lúc đó, không ai ở Phương Tây biết về chuyến đi này.

Sau khi dừng chân tại Hà Nội, phái đoàn đến Bắc Kinh vào ngày 21 tháng Sáu 1975. Mao Trạch Đông hết lời khen ngợi các học trò của ông.

Có một bức ảnh chụp “đức Phật già” với Pol Pot và Ieng Sary. Mao giơ tay trái lên ngang ngực, chỉa các ngón tay ra để nhấn mạnh một ý tưởng. Đứng ở giữa nhóm là Pol Pot, nhìn Mao với đôi mắt hạnh phúc. Ông ta tỏa ra một vẻ tự tin và cảm giác biết ơn cho sự đồng ý và khuyến khích từ người thầy vĩ đại. Mao nhìn Ieng Sary đứng ở bên phải, người hơi cúi người tới trước trong sự xun xoe khúm núm. “Các đồng chí”, Mao khen ngợi những người khách từ thành phố ma Phnom Penh, “đã đạt được một chiến thắng vẻ vang, cái chỉ với một đòn duy nhất đã làm cho xã hội của các đồng chí trở thành phi giai cấp… Các công xã nông thôn, gồm nông dân nghèo và nông dân từ giai cấp trung lưu dưới và được thành lập ở khắp nước, chính là tương lai của chúng ta… Trung Quốc cứ bước một bước thì các đồng chí Campuchia của chúng ta bước hai bước.”

Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông tiếp lãnh đạo Khmer Đỏ Pol Pot (giữa) và Ieng Sary
Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông tiếp lãnh đạo Khmer Đỏ Pol Pot (giữa) và Ieng Sary

Tiếp tục đọc

Advertisements

Rồng Mekong (35): Học trò gương mẫu của Mao

Để tự giới thiệu mình là tổng bí thư mới của Đảng Cộng sản Campuchia bí mật, Pol Pot trong mùa đông 1965/66 lúc đầu đã đi sang Hà Nội và rồi từ đó sang Bắc Kinh. Ieng Sary và vợ ông Khieu Thirit thuộc trong phái đoàn mà đã tự giấu kín mình trước con mắt của tất cả các nhà quan sát. Mãi mười một năm sau đó, chuyến đi này mới được công bố. Pol Pot và đoàn tháp tùng ông ta đã dành thời gian nhiều tháng để trao đổi với các đồng chí lãnh đạo của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cho tới ngày nay người ta vẫn không biết rằng ai từ trong đoàn chủ tịch Đảng và từ giới chính phủ đã tiếp đón những người Khmer này.

Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông tiếp lãnh đạo Khmer Đỏ Pol Pot (giữa) và Ieng Sary
Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông tiếp lãnh đạo Khmer Đỏ Pol Pot (giữa) và Ieng Sary

Tiếp tục đọc

Cuộc chiến của những đứa trẻ con

1966 – 1976: Cách mạng Văn hóa

Hè 1966. Thanh thiếu niên nắm lấy quyền lực trong các thành phố Trung Quốc. Học sinh hành hạ thầy giáo của họ cho tới chết, sinh viên làm nhục giáo sư của họ, lứa mới lớn đập nát những tượng đài kỷ niệm của một nền văn hóa lâu đời hàng ngàn năm. Chính Mao đã mở cửa cho cuộc nổi dậy của “Hồng Vệ Binh” này – để lật đổ đối thủ của ông ấy trong Đảng, đập tan xã hội và thực hiện giấc mơ của ông ấy: cuộc cách mạng liên tục.

Bài: Walter Saller; Ảnh: Li Zhensheng

Phan Ba dịch từ chuyên san lịch sử “Trung Quốc của Mao Trạch Đông” do GEO Epoche xuất bản

Khi cô giáo Biện Trọng Vân mặc quần áo vào buổi sáng ngày hôm sau đó, mỗi một cử động đều gây đau đớn, những vết sưng, những lằn roi và những vết bầm tím trên thân thể của bà gây đau rát. Bà cầm lấy cái túi xách, như thể chờ đợi một ngày dạy học bình thường. Bà nhét chứng minh nhân dân vào đấy, thêm quyển sách nhỏ màu đỏ với những câu trích dẫn Mao, bài văn “Người ta trở thành một người Cộng sản tốt như thế nào” của Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ và một quyển nhỏ về “Cuộc cách mạng vĩ đại làm xúc động tâm hồn.”

Đó là ngày thứ sáu, 5 tháng 8 năm 1966.

Khủng bố: Cô giáo Biện Trọng Vân (với chồng và ba trong số bốn người con của bà) se là người chết đầu tiên trong số các nạn nhân của cuộc Cách mạng Văn hóa. Bà làm việc tại một trường trung học nổi tiếng ở Bắc Kinh và bị chính các nữ sinh của mình hành hạ cho tới chết. Những người đấy đã đánh đập và xỉ nhục bà nhiều tuần liền vì cho rằng bà phản bội lý tưởng Cộng sản. Ảnh: GEO Epoche
Khủng bố: Cô giáo Biện Trọng Vân (với chồng và ba trong số bốn người con của bà) se là người chết đầu tiên trong số các nạn nhân của cuộc Cách mạng Văn hóa. Bà làm việc tại một trường trung học nổi tiếng ở Bắc Kinh và bị chính các nữ sinh của mình hành hạ cho tới chết. Những người đấy đã đánh đập và xỉ nhục bà nhiều tuần liền vì cho rằng bà phản bội lý tưởng Cộng sản. Ảnh: GEO Epoche

Tiếp tục đọc

Rồng Mekong (30): Bắc Kinh gian lận

Vào buổi sáng của ngày 19 tháng Ba năm 1970, chiếc máy bay Xô viết đặc biệt đáp xuống phi trường của thủ đô Trung Quốc. Một cái nhìn qua cửa sổ thuyết phục được Sihanouk, rằng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đứng ở bên cạnh ông. “Tiếp đón thật nồng hậu và thật là nhẹ nhỏm”, ông viết trong hồi ký, “sau những giờ phút đáng sợ mà tôi vừa trải qua.”

Sihanouk, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai, tháng 5 năm 1970Sihanouk, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai, tháng 5 năm 1970
Sihanouk, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai, tháng 5 năm 1970

Tiếp tục đọc

Trận đấu tay đôi giành Trung Quốc

Johannes Schneider

Phan Ba dịch từ chuyên san lịch sử “Trung Quốc của Mao Trạch Đông” do GEO EPOCHE xuất bản

Người Quốc gia và người Cộng sản tranh giành quyền lực từ năm 1927 – chỉ lần người Nhật tiến vào là đã có thể bắt buộc họ liên kết lại với nhau. Sau Đệ nhị thế chiến, mối kình địch của các địch thủ ngày xưa lại bùng nổ ra.

Trước khi bay đến thành phố của kẻ tử thù Tưởng Giới Thạch của mình, Mao đứng cho chụp ảnh, ông ấy cười mỉm: người lãnh tụ của ĐCS Trung Quốc cố che đậy sự sợ hãi của mình.

Mao đã ngần ngừ cả một thời gian dài, đã từ chối lời mời của Tưởng Giới Thạch, thế nhưng cuối cùng, sau bức điện tín thứ ba, ông ấy cũng nhượng bộ và nhận lời.

“Người em của anh đang chuẩn bị để đến càng sớm càng tốt”, ông ấy trả lời Tưởng với sự lịch sự truyền thống ở Viễn Đông. Ông phải bay về Trùng Khánh – vào trung tâm quyền lực của Quốc Dân Đảng của Tưởng.

Bây giờ, vào ngày 28 tháng 8 năm 1945, ngay trước khi khởi hành, Mao đang hồi hộp. Ông ôm chầm lấy đứa con gái bé nhỏ của mình, hôn vợ từ giã. Ông cần phải vượt khoảng cách tròn 800 kilômét từ Diên An ở giữa Trung Quốc, căn cứ chính của những người Cộng sản, về đến Trùng Khánh nằm ở phía Nam bằng một chiếc máy bay cánh quạt mà Tưởng đã gửi đến cho ông.

Tiếp tục đọc

Vai trò của Mao trong chiến dịch tiến chiếm Hoàng Sa

Tác giả: Trần Trung Đạo

Luồng gió ngoại giao đã đổi chiều khi Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon bắt tay với Mao ngày 21 tháng Hai 1972. Chuyến viếng thăm Trung Cộng của Nixon nhắm vào 3 mục đích: (1) hướng tới một giải pháp hòa bình tại Đài Loan, (2) tìm một giải pháp hòa bình cho chiến tranh Việt Nam qua đàm phán và (3) giảm ảnh hưởng của Liên Xô. Như lịch sử đã chứng minh, ít nhất hai trong số ba mục đích của TT Richard Nixon đều không đạt được. Chỉ riêng vấn đề Việt Nam, chiến tranh không chấm dứt bằng giải pháp hòa bình mà bằng máu cho đến ngày 30-4-1975.
Sự gần gũi giữa Mỹ và Trung Cộng đã đẩy CS Việt Nam nghiêng xa hơn về phía Liên Xô. Bắc Việt cho rằng Trung Cộng đã phản bội đảng CSVN khi đặt mối quan hệ giữa Trung Cộng và Mỹ lên trên quyền lợi của Bắc Việt. Xuân Thủy, trưởng phái đoàn đàm phán của Bắc Việt, tố cáo Mỹ “âm mưu chia rẽ khối xã hội chủ nghĩa.” Khoảng cách giữa Bắc Việt và Trung Cộng xa cách dần mặc dù Trung Cộng tuyên bố vẫn tiếp tục “ủng hộ cuộc chiến chống Mỹ đến mục đích cuối cùng.”
Hải chiến Hoàng Sa
Hải chiến Hoàng Sa

Tiếp tục đọc

Bắc Việt Nam, MTDTGP và cuộc Việt Nam hóa

Thời gian ba năm giữa Tết Mậu Thân và cuộc xâm lược Lào là giai đoạn khó khăn nhất trong cuộc chiến cho Bắc Việt Nam và MTDTGP. Tuy việc Mỹ ngưng ném bom (tháng Mười 1968) đã tạo khả năng cho người dân Bắc Việt Nam đi lại tự do hơn một chút. Cả sự phát triển về kinh tế cũng không còn bị chiến tranh cản trở quá nhiều nữa. Thế nhưng tổn thất của đợt tấn công Tết Mậu Thân, cuộc bình định hung dữ, chiến lược thay đổi của Mỹ, tăng cường ném bom ở Nam Việt Nam cũng như cuộc chiến tranh ném bom trên những vùng gần biên giới của Lào và Campuchia đã bắt buộc quân đội cộng sản ở miền Nam phải tạm thời lui về thế phòng thủ. 1968 và 1969 là hai năm đẫm máu nhất của Chiến tranh Việt Nam. Tuy quân giải phóng vẫn tổ chức tập kích những đơn vị nhỏ của Nam Việt Nam và Mỹ. Nhưng Tướng Giáp chủ yếu lo củng cố lực lượng quân đội của ông và xây dựng tiềm năng để tiến hành một cuộc chiến tranh thông thường. Qua đó, Giáp thêm một lần nữa đã chứng tỏ tài khéo léo trong chiến lược của ông: trong những năm sáu mươi, Hoa Kỳ đã muốn ép buộc ông đi đến một cuộc chiến tranh thông thường. Quân Bắc Việt và Giải phóng đã cố tình tránh né cuộc chiến đó. Thay vì vậy, họ đã lôi người Mỹ vào trong vô số những cuộc chạm trán nhỏ. Nhưng sau Tết Mậu Thân thì có thể thấy rõ ba điều: Quân số của quân đội Mỹ đã lên đến đỉnh điểm, cuộc Việt Nam hóa bắt đầu, và QLVNCH được dẫn dần đến các nhiệm vụ tấn công. Phản ứng lại sự biến đổi này, người ta đã quyết định tiến hành một chiến lược khác, có nhiệm vụ làm cho đối thủ bất ngờ và mang lực lượng hợp nhất của quân Giải phóng và người Bắc Việt trở lại thế tấn công.

Lính Mỹ đang chờ trực thăng vận ở phía nam Sài Gòn, tháng Ba 1969
Lính Mỹ đang chờ trực thăng vận ở phía nam Sài Gòn, tháng Ba 1969

Tiếp tục đọc