06/09/1969: Một tập thể kế nghiệp Hồ Chí Minh

Báo Nhân Dân và Đài Phát thanh Hà Nội Hà Nội thông báo rằng Hồ Chí Minh được kế thừa bởi một tập thể lãnh đạo bao gồm Lê Duẩn, bí thư thứ nhất của Đảng; Trường Chinh, thành viên Bộ Chính Trị và Chủ tịch Quốc Hội; tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo tinh thần của miền Bắc và của người cộng sản ở miền Nam, đã chết vào ngày 2 tháng 9.

Hồ Chí Minh và Lê Duẩn

Hồ Chí Minh và Lê Duẩn

Tiếp tục đọc

“Cái chết đã bao vây chúng tôi”

Chính quyền Sài Gòn lâm vào tình trạng nguy ngập

Andreas Kohlschütter

Phan Ba dịch từ báo Die Zeit (Thời Báo), số ra ngày 31 tháng Giêng năm 1975

Sài Gòn, trong tháng Giêng

Đó là Tây Ninh trong tháng Giêng 1972: một tỉnh lỵ bụi bặm, có mật độ dân cư quá cao với 40.000 người ở cạnh con đường dẫn sang Campuchia; một cái chợ ồn ào, đầy sức sống nguyên thủy, muôn màu sắc, mà người ta buôn bán và trả giá thật to bằng tiếng Việt ở trên đó; một căn cứ khổng lồ để hỗ trợ cho các chiến dịch tấn công lớn của quân đội Nam Việt Nam, tiến qua bên kia biên giới, trên đất Campuchia, hành quân tới những vùng địch thủ triển khai lực lượng; những đoàn xe tải đạn dài hàng ki-lô-mét, hàng bầy trực thăng, hàng chục cố vấn Mỹ, những người có thể yêu cầu máy bay ném bom B-52 của họ hỗ trợ vào bất cứ lúc nào.

Tây Ninh, 31 tháng Giêng năm 1973. Hình: Bettmann/CORBIS

Tây Ninh, 31 tháng Giêng năm 1973. Hình: Bettmann/CORBIS

Tiếp tục đọc

Hiệp định Paris tháng Giêng 1973

Ngoài những cuộc đàm phán hòa bình chính thức ở Paris, Henry Kissinger đã bí mật gặp gỡ và trao đổi với trưởng đoàn đàm phán Bắc Việt Lê Đức Thọ nhiều lần. Vì các quan điểm không thể hòa hợp được nên họ chưa bao giờ có thể tiếp cận lẫn nhau. Nhưng đứng trước các diễn tiến về quân sự và trên trường quốc tế, giới lãnh đạo Hà Nội đã đi đến quan điểm rằng trì hoãn các cuộc đàm phán sẽ không mang lại lợi thế. Ngoài ra, họ cũng không ảo tưởng rằng McGovern sẽ thắng cuộc bầu cử tổng thống và một chính phủ của đảng Dân chủ sẽ đưa ra cho Bắc Việt Nam những điều kiện tốt hơn – trong các cuộc thăm dò dư luận, Nixon dẫn trước quá xa. Về phần mình, Nixon lại chia sẻ quan điểm của Henry Kissinger, rằng bây giờ là thời điểm để đàm phán cho một nền “hòa bình trong danh dự”.

Ký kết Hiệp định Paris 1973

Ký kết Hiệp định Paris 1973

Tiếp tục đọc

Hòa bình của nấm mồ

Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời phỏng vấn của Spiegel 1979
Phạm Thị Hoài dịch

Spiegel: Thưa ông Thiệu, từ 1968 đến 1973 Hoa Kỳ đã nỗ lực thương lượng hòa bình cho Việt Nam. Trong cuốn hồi ký của mình, ông Henry Kissinger, trưởng phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ đã dùng nhiều trang để miêu tả việc ông, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, đã chống lại những nỗ lực nhằm đem lại hòa bình cho một cuộc chiến đã kéo dài nhiều năm, với hàng triệu nạn nhân và dường như là một cuộc chiến để “bóp nát trái tim Hoa Kỳ”. Vì sao ông lại cản trở như vậy?

Nguyễn Văn Thiệu: Nói thế là tuyệt đối vô nghĩa. Nếu tôi cản trở thì đã không có Hiệp định Hòa bình năm 1973 – mặc dù, như ai cũng biết, đó không phải là một nền hòa bình tốt đẹp; hậu quả của nó ở Việt Nam là chứng chỉ rõ ràng nhất. Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của chính phủ Mỹ. Là Tổng thống Nam Việt Nam, bổn phận của tôi là bảo vệ những lợi ích sống còn của đất nước tôi.

Tôi đã nhiều lần chỉ ra cho Tổng thống Nixon và TS Kissinger rằng, đối với một cường quốc như Hoa Kỳ thì việc từ bỏ một số vị trí không mấy quan trọng ở một quốc gia bé nhỏ như Nam Việt Nam không có gì đáng kể. Nhưng với chúng tôi, đó là vấn đề sinh tử của cả một dân tộc.

Tổng thống Thiệu này 20/09/1972 ở Quảng Trị

Tổng thống Thiệu này 20/09/1972 ở Quảng Trị

Tiếp tục đọc

Hạ Lào, Nơi Người Lính không về…

Thiếu Úy Phan Nhật Nam

Dẫn Nhập

Từ Đông Hà, thị trấn cực bắc lãnh thổ miền Nam, Đường số 9 bắt đầu chạy về hướng Tây qua những vùng đồi Cam Lộ, Hương Hóa, Lao Bảo để cuối cùng đến Khe Sanh với tiền đồn Làng Vây, sát biên giới Lào-Việt. Qua biên giới, con đường tiếp tục đi dọc sông Tchépone một đoạn dài khỏang 40 cây số, giao tiếp với đường Hồ Chí Minh tạo nên vùng hậu cần quan trọng thuộc hệ thống Binh Trạm 604, 611 (lưu ý các phiên hiệu 604; 611- Có nghĩa, cơ sở đã thành hình từ những năm 60, 61- Thời điểm dựng bảng hiệu Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, 19/12/1960) của đường dây chuyển vận Bắc-Nam, nguồn huyết mạch sinh tử đối với binh đội cộng sản. Thế nên Bộ Tổng Quân Ủy Miền Bắc quyết chiếm giữ, duy trì vùng tiếp vận quan yếu nầy bằng mọi giá trong suốt cuộc chiến tranh xâm nhập, lật đổ Miền Nam.

Tổng Công Kích đợt I Mậu Thân đầu năm 1968, miền Nam đã có hơn 19,000 người chết gồm dân và lính (số chính xác là 4,959 quân nhân VNCH tử trận và 14,300 thường dân thiệt mạng) Và đến năm 1970, toàn bộ sào huyệt hậu cần, từ chiến khu C, D miền Đông Nam Bộ đến Trung Ương Cục Miền Nam trên đất Miên bị phá vỡ… Giới chức Mỹ-Việt ước đoán tiềm lực xâm lược miền Nam của phía cộng sản phải có dấu hiệu đình hoãn, hoặc suy giảm, và chiến dịch đánh qua đất Lào (đầu năm 1971) được hình thành để thực hiện quan niệm: Cắt đứt đường tiếp vận Bắc – Nam với tên thường gọi, Đường mòn Hồ Chí Minh. Nhưng không đúng với thực tế, bởi đã là một hệ thống đường có khả năng để chiến xa hạng nặng di chuyển với ống dẫn dầu, hệ thống tiếp liệu, tiếp vận quan trọng bố trí dày đặt tại điểm sinh tử Tchépone để đổi lấy một số thời gian an toàn đủ hoàn thành các đợt rút quân; ký kết Hiệp Định Paris trên thế lợi, tiếp rút khỏi Đông Dương như ứng cử viên tổng thống (tháng 10/1968) Nixon đã từng hứa hẹn với cử tri Mỹ.

Khe Sanh, chiến dịch Lam Sơn 719

Khe Sanh, chiến dịch Lam Sơn 719

Tiếp tục đọc