Rồng Mekong (17): Đường mòn Hồ Chí Minh

Quân đội Mỹ biết chính xác đến ngạc nhiên về đường mòn Hồ Chí Minh. Cuốn sách mỏng của Bộ Ngoại giao Nam Việt Nam từ năm 1967, do CIA trợ giúp, mô tả tỉ mỉ một hệ thống đường đi tỏa ra rất rộng, dài 5600 kilômét, cái mà người ta có thể nhìn thấy rõ trên những bức không ảnh được đính kèm.

Cuốn sách mỏng này có nhiệm vụ thuyết phục giới báo chí quốc tế, rằng con đường mòn vi phạm tính trung lập của Lào đó nói chung là có tồn tại. Bởi vì chính phủ ở Hà Nội  nhấn mạnh là không gửi quân đội vào Nam và tôn trọng sự trung lập của Lào. Thuộc vào trong giáo điều của những người có thiện cảm với Hồ Chí Minh và chống Mỹ ở Phương Tây là việc “Mặt trận Giải phóng” chỉ tuyển mộ binh lính từ nhân dân ở miền Nam, Bắc Việt không tham gia trực tiếp vào cuộc chiến, và cuộc chiến tranh ném bom miền Bắc của Mỹ là không có lý do và trái với luật lệ. Hình ảnh về con đường mòn Hồ Chí Minh vì vậy mà cần phải chứng minh cho “cuộc xâm lược” của Hà Nội và qua đó chứng minh cho quyền của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, hỗ trợ một đồng minh chống lại một cuộc tấn công từ bên ngoài.

Xe tải trên đường mòn Hồ Chí Minh

Xe tải trên đường mòn Hồ Chí Minh

Tiếp tục đọc

Rồng Mekong (14): “Bình tâm trên hết thảy!”

Trong tháng Mười 1970, tôi đã nhân một lệnh tạm thời cấm nhập cảnh vào Nam Việt Nam, mà chính phủ ở Sài Gòn đã ban hành cho tôi vì những nhận xét phê phán Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, để đi thăm Lào. Ngay từ chuyến đi đầu tiên tới Vientiane này, đặc tính của xã hội Lào đã gây ấn tượng cho tôi, một xã hội khác rõ ràng với nước Việt Nam láng giềng trong hệ thống giá trị và hình thức sống của họ. Chuyến bay này là lần dẫn dắt đầu tiên vào trong những hoàn cảnh mới.

Ở Bangkok, chiếc DC6 của “Royal Air Laos” chở hành khách cho chuyến bay 17 giờ về Vientiane. Hãng hàng không hoàng gia không có gì tốt hơn là một chiếc máy bay cánh quạt bốn động cơ, do một hãng hàng không Mỹ loại ra. Ngay người Khmer thời đó là đã tới được với giao thông phản lực. Người Lào thì dường như không vội vàng chuyển đổi. Cái mà người ở Phương Tây gọi là thời gian bị mất đi thì họ xem như là một thắng lợi, một phần thưởng cho sự thư nhàn và yên bình.

Lào đầu những năm 1970

Lào đầu những năm 1970

Tiếp tục đọc

Từ hàng rào điện tử McNamara đến bức tường biên giới của Trump

Sharon Weinberger

Khi trở về từ Nam Việt Nam năm 1961, Tướng Maxwell Taylor đề xuất một kế hoạch có vẻ đơn giản để ngăn chặn cuộc nổi dậy của Cộng sản: một hàng rào không thể xuyên thủng sẽ cắt đứt nguồn cung nhân lực và khí tài từ miền Bắc.

Khi đó Taylor cũng khuyên Tổng thống John F. Kennedy gửi thêm quân đội chính quy tới Việt Nam, một lời kiến nghị còn ám ảnh nước Mỹ trong nhiều thập niên sau này. Taylor lý luận rằng hàng rào sẽ làm suy yếu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (Việt Cộng), giúp các lực lượng Hoa Kỳ và Nam Việt Nam đánh bại Cộng sản.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara trong một buổi họp báo về kế hoạch xây dựng hàng rào điện tử giữa Bắc và Nam Việt Nam năm 1967. Ảnh: AP

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara trong một buổi họp báo về kế hoạch xây dựng hàng rào điện tử giữa Bắc và Nam Việt Nam năm 1967. Ảnh: AP

Tiếp tục đọc

22/05/1964: Rusk cảnh cáo người Bắc Việt

Trong một bài phát biểu quan trọng trước Viện Luật Mỹ ở Washington, D.C., đã cáo buộc Bắc Việt Nam khởi xướng và chỉ đạo cuộc xâm lược ở Nam Việt Nam. Việc rút quân của Hoa Kỳ, Rusk nói, “không chỉ có nghĩa là một tổn thất nặng nề đối với thế giới tự do ở Đông Nam Á và Nam Á mà còn là một sự mất mát lớn của niềm tự tin vào ý chí và năng lực của thế giới tự do.” Ông kết luận: “Có một toa thuốc đơn giản cho hòa bình – hãy để yên các nước láng giềng của bạn.” Vào mùa thu đã có những bằng chứng không thể chối cãi rằng binh lính chính quy Bắc Việt đang di chuyển dọc con đường mòn Hồ Chí Minh để liên kết với Việt Cộng trong cuộc chiến chống lại chính quyền Sài Gòn và quân đội của họ.

Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk, 1968, nói chuyện trong một cuộc họp báo về về tiến bộ đạt được trong đàm phán ở Paris về Việt Nam.

Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk, 1968, nói chuyện trong một cuộc họp báo về về tiến bộ đạt được trong đàm phán ở Paris về Việt Nam.

Tiếp tục đọc

Quân đội cộng sản

Vào lúc ban đầu, người Bắc Việt và MTDTGP hầu như không có thứ gì để có thể đối đầu được với quân đội Mỹ và hỏa lực chiếm ưu thế của họ. Hàng ngàn du kích quân và lính chính quy đã thiệt mạng trong những trận chiến đấu vào nửa sau của năm 1965. Tuy là người Bắc Việt và MTDTGP có thể đương đầu với người Mỹ về số quân. Bắt đầu từ giữa 1966, tất cả những người Bắc Việt có khả năng thi hành nghĩa vụ quân sự từ 18 tới 25 đều bị gọi nhập ngũ, và quân số được tăng từ 250.000 lên 400.000. Qua đó, điều mà những người phê phán việc đóng quân luôn cảnh báo đã thành sự thật: song song với vcông cuộc xây dựng sự hiện diện của quân đội Mỹ, các đơn vị chính quy cũng tăng cường thâm nhập vào miền Nam. Có cho tới 5000 người thâm nhập hàng tháng qua con Đường mòn Hồ Chí Minh vào miền Nam kể từ nửa sau của 1965. Năm 1966, toàn bộ lực lượng của quân đội cộng sản chiến đấu ở miền Nam là vào khoảng 200.000. Cho tới 1972, con số này tăng lên tới 280.000 người; cộng thêm vào đó là tròn 120.000 du kích quân hoạt động tại địa phương. Thế nhưng chiến lược của vị tướng chỉ huy ở miền Nam, tướng Nguyễn Chí Thanh, đã lộ ra là một chiến lược mang lại quá nhiều tổn thất. Chỉ với tinh thần chiến đấu và ý muốn ra trận thì quân đội cộng sản ít có thể làm gì được để chống lại quân đội Mỹ. Nếu như MTDTGP không muốn mất thế chủ động, cái mà họ đã có trong tất cả những năm vừa qua, thì họ phải thay đổi chiến thuật của họ để phù hợp với những điều kiện đã thay đổ của cuộc chiến người Mỹ.

Tướng Nguyễn Chí Thanh

Tướng Nguyễn Chí Thanh

Tiếp tục đọc