Khi mặt đất rung lắc, họ vẫn đứng vững

Vào tháng Giêng năm 1967, khi Sư đoàn Bộ binh 1 và 25 của Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu Chiến dịch Cedar Falls, cuộc tấn công toàn diện của họ chống lại các thành trì của Cộng sản trong “Tam Giác Sắt” phía tây bắc Sài Gòn, Vo Thi Mo, 20 tuổi, đã sẵn sàng.

Sinh ở Củ Chi, ở giữa khu vực chiến trận Cedar Falls, bà Mo đã tham gia cuộc chiến chống lại quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng Hòa – lực lượng quân đội miền Nam, được gọi là QLVNCH – từ lúc 13 tuổi, khi bà giúp xây dựng hệ thống đường hầm rộng lớn mà lực lượng Cộng sản miền Nam, được gọi là Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng, (mà đối với kẻ thù của họ thì là Việt Cộng), đã sử dụng làm trại lính, trung tâm chỉ huy và mạng lưới truyền thông.

Vo Thi Mo đã chỉ huy ba tiểu đội chống lại một tiểu đoàn của Sư Đoàn 25
Võ Thị Mô đã chỉ huy ba ba tiểu đội chống lại một tiểu đoàn của Sư Đoàn 25

Tiếp tục đọc

Mike Lake: Những cơn ác mộng của một cựu chiến binh Việt Nam

Tôi được gởi sang Việt Nam tháng Năm năm 1968. Căn cứ của chúng tôi ở miền nam, cách Sài Gòn không xa. Tôi vừa học xong college với điểm xuất sắc và tình nguyện tham gia một lực lượng đặc biệt. Tôi hoàn toàn không biết những gì đang chờ đợi tôi ở đó. Nó giống như một chuyến phiêu lưu, và tôi tin chắc rằng những việc tôi làm là đúng.

Sau khi đến với đơn vị thì chúng tôi lúc nào cũng phải chuẩn bị sẵn sàng để chiến đấu. Các đơn vị xe tăng rất cơ động, vì vậy mà chúng tôi có mặt ở khắp nơi. Không thể sử dụng trực thăng vì hỏa lực trên trận địa. Chúng tôi lúc nào cũng  phản ứng khi một đơn vị của chúng tôi lâm nguy. Tôi nghĩ là đã trải nghiệm được rất nhiều.

Một cựu chiến binh tại tượng đài kỷ niệm Chiến tranh Việt Nam
Một cựu chiến binh tại tượng đài kỷ niệm Chiến tranh Việt Nam

Tiếp tục đọc

Walter T. Kerwin: Hai năm tham mưu trưởng ở Sài Gòn

Walter Kerwin
Walter Kerwin

Walter Kerwin phục vụ tổng cộng 39 năm trong quân đội, thời gian cuối là tướng bốn sao và là Phó Tham mưu trưởng. Ông phục vụ một thời gian dài ở Việt Nam và có thời gian chỉ huy quân đội Mỹ ở Puerto Rico, Panama và Alaska.     

Tôi đến Việt nam năm 1967, đáp xuống trong cùng chiếc máy bay với tướng Abrams, người được dự định là người thay thế tướng Westmoreland. Thật ra thì đã có dự định tôi sẽ là tham mưu trưởng dưới quyền ông. Thế nhưng khi chúng tôi đến thì phải mãi tới tháng Sáu 68 Abrams với tiếp nhận quyền tổng chỉ huy. Thế là tôi trở thành tham mưu trưởng dưới Westmoreland. Cho tới thời điểm đó, mọi việc dường như tiến triển tốt cho người Mỹ. Trông có vẻ như chúng tôi có nhiều tiến bộ. Nhưng rồi tới tháng Giêng 1968, khi chúng tôi có một vấn đề hết sức rõ ràng – đợt tấn công dịp Tết. Chúng tôi biết rằng sẽ có một đợt tấn công nào đó. Nhưng điều làm cho chúng tôi bất ngờ là quy mô của nó. Nó diễn ra trên khắp nước. Khắp nơi đều bị tấn công. Vấn đề chính là xác định vị trí của những người tấn công, làm rõ là thành phố nào và làng nào bị chiếm giữ. Mục đích của họ là lôi kéo người dân về phía họ. Ở mục đích này thì họ đã thất bại hoàn toàn. Việt Cộng đã bị tổn thất nhiều cho tới mức đợt tấn công này đã trở thành một thảm bại quân sự. Tiếp tục đọc