Những ngày cuối cùng của Sài Gòn

Sài Gòn, tháng Tư 1975

Đối với tôi, Sài Gòn chưa bao giờ mang nhiều nét Á hơn là trong những những ngày trước khi sụp đổ. Ngay sau khi ra khỏi con đường Tự Do và cái chợ hoa, người ta sẽ nhanh chóng đi trong một đám đông chật ních người da vàng như là người da trắng duy nhất. Trước người nước ngoài, người Việt đeo lên gương mặt họ một cái mặt nạ của sự dửng dưng. Chỉ khi họ có cảm giác không bị quan sát thì ánh mắt của họ mới lộ ra nỗi lo lắng và sự chờ đợi cái thảm họa đang tiến đến gần. Tài xế Canh của tôi, người mà tôi đã quen biết từ nhiều năm nay, chưa từng bao giờ lái xe một cách sơ ý và lơ đễnh qua sự hỗn loạn của giao thông nội thành như vậy. Bị tôi khiển trách, nỗi lo sợ bộc phát từ trong anh ấy ra ngoài: “Ông cũng biết mà, Monsieur: năm 1954 tôi đã chạy trốn người cộng sản từ Hà Nội vào miền Nam, rồi bây giờ thì họ lại bắt kịp tôi.” Bà đứng đầu sở điện tín, một người miền Trung trầm tư với búi tóc nghiêm khắc, kéo tôi sang một bên: “Có đúng không, Monsieur, người Bắc Việt sẽ giết chết hết tất cả các nhân viên của chính phủ Sài Gòn?” Trong Đà Nẵng bị chiếm đóng, người cộng sản đã bắt bừa hàng trăm người trong mỗi một khu phố và đã bắn chết công khai để đe dọa. Người ta đã thuật lại cho bà như vậy. Thỉnh thoảng cứ trông giống như là sự hỗn loạn được cố tình được kích động qua tin đồn.

Cha và con trên đường chạy tỵ nạn ở Trảng Bom, 23 tháng Tư 1975.

Cha và con trên đường chạy tỵ nạn ở Trảng Bom, 23 tháng Tư 1975.

Tiếp tục đọc

Điện Biên Phủ

Dwight D. Eisenhower (1956)

Dwight D. Eisenhower (1956)

Ngược với Tổng thống Truman, người kế nhiệm Dwight D. Eisenhower đã có nhiều kinh nghiệm trong quân sự và đối ngoại khi ông bước vào Nhà Trắng trong tháng Giêng 1953. Trong Đệ nhị thế chiến, ông là tổng tư lệnh của quân đội Đồng Minh tại châu Âu, và sau đó là tổng tư lệnh đầu tiên của NATO. Trong hai chức vụ đó, “Ike”, nhưng người Mỹ gọi viên tướng được ưa thích đó, đã thể hiện tài khéo léo trong ngoại giao và đã phát triển khả năng tìm ra được những giải pháp thực dụng cho các vấn đề phức tạp. Người ngoại trưởng của ông, John Foster Dulles, đã có một thời gian dài làm việc như là luật sư và nhà ngoại giao. Trong khi Eisenhower quyết định các đường lối chủ trương đối ngoại ở hậu trường thì Dulles là người nói thẳng thắn và rõ ràng. Trong cùng một đội ngũ, vị Tổng thống bảo thủ-thực tế và ông Ngoại trưởng Kitô giáo-đạo đức bổ sung cho nhau thật tuyệt vời, vì các quan điểm thế giới quan của họ hầu như đều thống nhất với nhau.

Cũng như người tiền nhiệm Truman, Eisenhower nhìn cuộc Chiến tranh Đông Dương của Pháp như là một xung đột giữa chủ nghĩa cộng sản quốc tế và Phương Tây. Nhưng trong lúc tranh cử năm 1952, ông đứng cách xa người tiền nhiệm. Ông lên án người này là không thể chấm dứt cuộc chiến ở Triều Tiên lẫn xuất hiện đủ mạnh mẽ trước Liên bang Xô viết. Eisenhowser và Dulles phê phán rằng “chính sách ngăn chặn” là tiêu cực và chỉ phản ứng lại các diễn tiến trong đối ngoại. “Trả đũa thật nặng” (massive retaliation) và “New Look” là những từ ngữ mang tính khẩu hiệu mà đứng ở sau đó là một chính sách đối ngoại và an ninh mới cho Hoa Kỳ – một chính sách hành động tích cực thay vì chỉ phản ứng. Ở Triều Tiên, nơi mà một hiệp định, ký kết trong tháng Bảy 1953, tái thiết lập được status quo ante (tình trạng trước đó), thái độ mạnh mẽ của chính phủ Eisenhower đã dẫn tới thành công. Thế nhưng trong những cuộc khủng hoảng khác, ví dụ như tại cuộc nổi dậy ở Hungary (1956), cả Eisenhower lẫn Dulles đều không sẵn sàng thực hành một “đường lối ở cạnh vực thẳm hạt nhân” (brinkmanship) trên thực tế. Còn hơn thế: tăng cường vũ trang hạt nhân và đồng thời giảm thiểu lực lượng quân đội thông thường và ngân sách của nó đã hạn chế mạnh khả năng giải quyết khủng hoảng bằng quân sự. Một “tiếng nổ lớn hơn với ít tiền hơn” (more bang for the buck) cũng có thể có hiệu quả như là một thuyết để đối phó lại với Liên bang Xô viết hay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Thế nhưng như là phương án để chống lại các phong trào nổi dậy ở khắp nơi trên thế giới thì “New Look” và chiến lược nền tảng của nó không thích hợp. Điều này có thể thấy rõ ở Việt Nam trong cuối những năm năm mươi. Tiếp tục đọc

Đông Dương: Vài giây trước mười hai giờ

Sốc vì những thành công quân sự của Việt Cộng và Khmer Đỏ, mệt mỏi vì Thượng Viện từ chối không cung cấp thêm vũ khí, lần đầu tiên dường như chính phủ Hoa Kỳ đã sẵn sàng để đàm phán về những giải pháp chính trị lâu dài. Thế nhưng cho một nền hòa bình không có đầu hàng thì lần nhượng bộ này đã đến quá muộn.

Bài diễn văn hết sức mạnh mẽ, nói về tự do và danh dự, nhưng trên thực tế thì đó là về vũ khí và tiền bạc: Tổng thống Mỹ Ford dùng giờ đầu tiên của buổi trao tặng bằng tiến sĩ danh dự của ông để cảnh báo thính giả của Đại học Notre Dame ở Indiana trước “sự biệt lập mới” của Mỹ.

Dân làng bỏ chạy khi người cộng sản tiến vào Dầu Tiếng, 19/03/1975. Hình: Bettmann/CORBIS

Dân làng bỏ chạy khi người cộng sản tiến vào Dầu Tiếng, 19/03/1975. Hình: Bettmann/CORBIS

Tiếp tục đọc

Những con rồng sông Mekong

Những con rồng sông Mekong

Tiến sĩ Winfried Scharlau là thông tín viên lâu năm của các đài phát thanh và truyền hình Tây Đức tại Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung. Ông bị thương hai lần, là một trong những nhà báo cuối cùng rời Sài Gòn trong những ngày cuối tháng Tư năm 1975, nhân chứng của buổi lễ tuyên thệ nhậm chức của Tổng thống Dương Văn Minh. Quyển sách này là hồi ức và đánh giá của ông về cuộc Chiến tranh Việt Nam, về vai trò của báo chí trong cuộc chiến, về những diễn tiến chính trị ở Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan trong thời gian của cuộc chiến và những năm sau đó.

Được sự cho phép của nhà xuất bản Đức, Deutsche Verlags-Anstalt, Phan Ba đã dịch và xuất bản trên Amazon, mời các bạn đọc. Rất đáng tiếc là giấy phép của nhà xuất bản chỉ có hạn hai năm, sau đó là phải rút xuống, không được phép phát hành nữa, vậy nên những bạn nào quan tâm và có điều kiện thì không nên chần chừ.

http://www.amazon.com/Nhung-Con-Rong-Song-Mekong/dp/1511535555

 

 

Indochina, mon Amour

Trên máy bay, cuối tháng Tư 1975

Chiếc máy bay phản lực của Air France bay lên cao trong những đường dốc đứng. Các đội quân tiền phong Bắc Việt có nơi đã đứng trước cửa ngõ Sài Gòn. Viên phi công biết rằng cũng có cả hỏa tiển SAM được bố trí dọc theo Quốc lộ 13. Đó là chuyến bay dân sự cuối cùng rời Sài Gòn, như sau này tôi biết được. Vẫn còn chưa có ai trên máy bay đoán được rằng việc thủ đô thất thủ chỉ còn là một câu hỏi của ba ngày. Nhưng bất cứ hành khách nào cũng cảm nhận được, rằng đây là lần từ biệt vĩnh viễn, rằng ngay cả trong trường hợp sau này mà quay lại thì thành phố cạnh sông Sài Gòn này, đất nước Nam Việt Nam, rằng toàn bộ Đông Dương sẽ bị biến đổi và bị làm cho xa lạ. Các đồng nghiệp lực lưỡng của đội quay phim, những người mà tôi đã nghĩ rằng không có khả năng cho những xúc cảm như vậy, nhìn với những nét mặt bất động và nghiêm trang xuống các cánh đồng ruộng ngập nước và những mạch nước rộng lớn của dòng sông Cửu Long, dưới những tia nắng cuối cùng của mặt trời đang sáng óng ánh lên như vàng và máu, như những sắc màu của nước Việt Nam Cộng Hòa đang biến mất vào vực thẳm của lịch sử trong những giờ khắc này. Tiếp viên hàng không phục vụ sâm banh. Không có sự nhẹ nhỏm nào được bộc lộ, rằng người ta đã thoát được tấn bi kịch. Ai cũng cảm nhận được nỗi buồn và đau đớn, giống như đang tiến hành nghi thức cho lần kết thúc của một mối tình. Thế nhưng phát ra từ những cái loa của chiếc máy bay không phải là “Les feuilles mortes” của Prévert mà là một bài ca Pháp đang thời thượng: “Elle court, elle court, la maladie d’amour”.

https://i1.wp.com/saigonocean.com/Photography/Saigon1960_files/image026.jpg

Tiếp tục đọc