Rồng Mekong (9): Trận đánh truyền thông

Tướng Westmoreland tại tòa Đại sứ Hoa Kỳ,1968

Lời bảo đảm của Westmoreland, tình hình ở Sài Gòn nằm trong tầm kiểm soát, chứng tỏ rằng viên tổng tư lệnh đã xa rời hiện thực và thiếu thông tin cho tới đâu. Hai giờ sau khi giải vây cho đại sứ quán, trung tướng Frederick C. Weyand, chỉ huy quân đội Hoa Kỳ của vùng Sài Gòn, đã vội vã họp báo trong trung tâm báo chí của JUSPAO mà trong đó lần phân tích tình hình của Westmoreland bị lột trần ra là những lời cầu nguyện mong chóng tai qua nạn khỏi.

Tướng Weyand thanh lịch và diễn đạt chính xác, người chẳng hề cố gắng che dấu sự kiêu ngạo trí thức của mình, gọi cuộc tấn công vào Khe Sanh ở phương Bắc là một hoạt động đánh lạc hướng của Bắc Việt Nam, để bảo đảm cho hướng tấn công chính vào các trung tâm dân cư ở phương Nam hiện đang được tiến hành. Sau khi các chiến dịch tìm và diệt đã đẩy lùi Việt Cộng vào rừng và qua đó cô lập họ với người dân thường, bây giờ địch thủ tìm cách trở về các thành phố và những vùng đông dân cư qua một chiến dịch có quy mô lớn. Trong đó, Sài Gòn là mục tiêu chính. Tướng Weyand không đưa ra bất cứ một lời tuyên bố nào mà có thể được suy đoán rằng đó chính là bằng chứng cho việc ngay bây giờ tình hình đã nằm trong vòng kiểm soát rồi, chưa tới mười hai giờ đồng hồ sau khi cuộc tấn công bắt đầu.

Tiếp tục đọc

Rồng Mekong (8): Tết Mậu Thân

Tết ở Việt Nam đánh dấu lần bắt đầu của năm mới theo âm lịch Trung Hoa. Lễ này là cao điểm của cuộc sống: lễ hội và lễ gia đình, cái được ăn mừng ít nhất là ba ngày liền. Năm 1968, Tết là vào ngày 1 tháng Hai. Bắc và Nam Việt Nam tuyên bố ngưng bắn, để chào mừng năm con khỉ cho xứng đáng.

Từ nhiều ngày qua, tiếng ồn của pháo được đốt suốt ngày đêm vang khắp đường phố Sài Gòn. “Trước đây thì một vài lần biểu diễn đốt pháo là đã đủ”, tôi đã tường thuật như vậy vào đêm trước đó qua telex về Đài Phát thanh Bắc Đức ở Hamburg, “để xua đuổi ma quỷ đi. Rồi các thương gia người Hoa biến việc đốt pháo thành một biểu tượng đẳng cấp, để lan truyền tin tức về sự giàu có của họ đi với tiếng ồn kéo dài, hết sức khó chịu. Nếu như cuộc đốt pháo kéo dài mười ngày là một chỉ dấu thì Nam Việt Nam phải là một đất nước giàu có. Ngày nay thì tất cả tâm linh đều đã bị xua đuổi đi, tốt cũng như xấu.”

Chợ Lớn, Tết Mậu Thân 1968
Tiếp tục đọc

Rồng Mekong (7): “Ướt nước mắt thì người ta sẽ nhìn không rõ được”

Nữ phóng viên Catherine Leroy đang chuẩn bị nhảy dù cùng với Lữ đoàn Dù 173 trong chiến dịch Junction City.

Đầu 1968, Việt Nam là tin tức thống trị tất cả, “the biggest story in the world”. Công chúng ở Hoa Kỳ, nhưng cũng cả trong các quốc gia Tây Âu, chia rẽ ra thành những người chống và ủng hộ nước Mỹ tham chiến. Cùng với mối quan tâm, nhu cầu cần có thông tin và ý kiến về diễn tiến của các sự việc cũng tăng lên. “Hàng đoàn đa sinh ngữ của những cái được gọi là phóng viên chiến trường”, như nhà văn thriller John Le Carré đã chế nhạo, đổ xô tới Sài Gòn để tự trình diễn mình như là những người anh hùng trước một giới khán giả đang kinh ngạc.

Tiếp tục đọc

Rồng Mekong (6): Bóng ma Điện Biên Phủ

Tình hình đe dọa lực lượng ở Khe Sanh. Mặc cho chiến dịch “Niagara” ở trên không, những cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt không giảm xuống. Những nhà báo sống và cùng chịu đựng gian khổ với quân lính trong pháo đài ở trên núi này chẳng bao lâu sau đó cảm nhận được sự hoài nghi trong thâm tâm và những nỗi lo lắng của giới chỉ huy quân sự, những người cũng nhận thức được sức mạnh của họ, nhưng không hiểu rõ các ý đồ của đối phương.

Nếu như các vị tướng Mỹ cảm nhận sự so sánh với pháo đài Điện Biên Phủ của người Pháp như là một điều gây khó chịu thì giới báo chí, những người có thể tiếp cận được với tài liệu lịch sử ở Sài Gòn, lại nghiên cứu các quyển sách quân sự kinh điển phân tích về trận đánh quyết định ở Điện Biện Phủ trước đó đúng 14 năm. Những quyển sách của Jules Roy và Bernard Fall gây cảm hứng cho cuộc thảo luận của các nhà báo, những người phát hiện ngày càng nhiều sự tương đồng giữa Điện Biên Phủ và Khe Sanh.

Không quân Hoa Kỳ tạo một tấm màn chắn bằng mảnh bom và chất nổ chỉ cách vòng ngoài của Khe Sanh khoảng 200 feet. Khe Sanh, tháng Ba 1968
Không quân Hoa Kỳ tạo một tấm màn chắn bằng mảnh bom và chất nổ chỉ cách vòng ngoài của Khe Sanh khoảng 200 feet. Khe Sanh, tháng Ba 1968

Tiếp tục đọc

Rồng Mekong (5): Body count: Trò trình diễn xác chết khủng khiếp

Sau mỗi một “chạm trán với địch thủ”, theo cách diễn đạt của quân đội, khu đất đó được lùng sục, để xác định con số địch thủ bị giết chết. Khác với trong Đệ nhị Thế chiến, khi giới công khai Mỹ có một hình ảnh rõ ràng và tương đối xấu về địch thủ người Đức và Nhật, Việt Cộng không bị tuyên truyền làm biến dạng. Họ không tạo nên một sự căm thù thật sự. Họ “vô danh”, xa lạ và khó hiểu.

Sau trận đánh Đồi 875, Dak To.
Sau trận đánh Đồi 875, Dak To.

Tiếp tục đọc

Rồng Mekong (4): Phần thưởng của sự sợ hãi

Tôi hoàn toàn không muốn qua mô tả những tình huống khẩn cấp trong nghề nghiệp để gợi lên một tính anh hùng, cái để cho thời gian ở Sài Gòn lóng lánh trong một ánh sáng tôn vinh. Các émotions fortes, những cảm xúc mạnh mà đã thúc đẩy giới trẻ đang trên đường tìm phiêu lưu và nhận thức đi vào trong cuộc chiến, xa lạ đối với tôi. Những trải nghiệm thời niên thiếu của tôi trong giai đoạn cuối của Đệ nhị Thế chiến đã làm cho tôi miễn nhiễm sự lãng mạn hóa chiến tranh.

Thời xưa, tôi đã hoài nghi và không hiểu khi đọc được những đoạn văn đó trong quyển tiểu thuyết “Người Mỹ trầm lặng” của Graham Greene, diễn tả một sự say mê nhất định, một sự hồi hộp đầy thích thú, những cái mà cuộc chiến đã tác động lên nhân vật Fowler. “Nơi không có nguy hiểm thì sẽ không có can đảm” ở một nơi và “cả tình yêu cũng có thể là sản phẩm của một cuộc chiến tích cực”. Nỗi sợ sự buồn tẻ đã khiến cho Greene chơi trò “Roulette Nga” với khẩu súng lục trong thời niên thiếu và tìm sự phiêu lưu mạo hiểm ở những nơi đang có khủng hoảng của chính trường thế giới về sau này. Ông đã nói về “cảm giác một nguồn gây cảm hứng vui vẻ”, cái “mang lại một liều nguy hiểm cho người khách tham quan có một tấm vé khứ hồi”.

Trực thăng UH-1D ở Việt Nam, 1966
Trực thăng UH-1D ở Việt Nam, 1966

Tiếp tục đọc

Rồng Mekong (2): Một âm mưu chống khán giả

Giấy phép ra chiến trường có ở “Military Assistance Command Vietnam”, viết tắt là MACV (và đọc là “Macvi”). Cơ quan thông tin của MACV đóng trong khách sạn “Rex” trước đây, nằm cạnh đại lộ Lê Lợi rộng lớn, cách các ngôi nhà trọ cho những đoàn lữ hành của giới báo chí, “Continental” và “Caravelle”, không đầy 200 mét. Dây kẽm gai giới hạn lối vào ở bên hông. Một người canh gác kiểm tra giấy tờ cá nhân. Qua những bức tường bằng gỗ, gian sảnh lớn ở tầng trệt được chia ra thành những phòng làm việc nhỏ, được liên kết với nhau bằng những hành lang dài, chật hẹp. Người khách thật sự là phải len lỏi qua đó, vì đứng khắp nơi trên hành lang là những bình nước uống thật to mà không có chúng thì nhân viên rõ ràng là không thể chịu đựng được bầu không khí bị làm lạnh quá mức này. Ly giấy mỏng, có màu trắng nằm đó sẵn sàng để ai cũng có thể uống nước theo nhu cầu.

Thư viện Abraham Lincoln và rạp REX, Sài Gòn 1965
Thư viện Abraham Lincoln và rạp REX, Sài Gòn 1965

Tiếp tục đọc