Sài Gòn, ngày 28 tháng Tư 1975

Trích từ “Nhật ký sau giải phóng” của ông Walter Skrobanek.

Từ Chủ Nhật hôm qua, Sài Gòn bị cắt đứt với thế giới bên ngoài. Trong một giờ yên lặng vào chiều tối – đài phát thanh Mỹ vẫn còn phát nhạc ướt át đang thịnh hành – tôi chợt muốn gửi cho các người thêm một vài dòng, để các người biết rằng cuộc sống vẫn còn tiếp tục.

Ngày thứ hai hôm nay đã mang lại cho chúng tôi nhiều điều mới. Ví dụ như lần trở về đầy phiêu lưu của các cộng tác viên chúng tôi, đã mang sữa và dược phẩm đến cho những người tỵ nạn ở Vũng Tàu. Chúng tôi nghĩ rằng họ đã “ở phía bên kia”. Vì lực lượng của Mặt Trận Giải phóng (MTGP) đã cắt đứt con đường giữa Sài Gòn và Vũng Tàu vào chiều thứ bảy. Lúc đó là vài giờ sau khi một chiếc xe buýt nhỏ của trung tâm với bảy người của chúng tôi lên đường đi đến trại tỵ nạn ở đó. Mãi sang ngày chủ nhật, chúng tôi mới nhận ra rằng chuyến trở về là ít có khả năng, khi một nhóm nhân viên thứ hai của terre des hommes muốn lên đường đi Vũng Tàu. Chiếc xe buýt nhỏ chỉ tới được lối rẽ đi Vũng Tàu của xa lộ Biên Hòa. Quân cảnh chỉ cho phép họ quay trở lại Sài Gòn ngay lập tức. Suýt chút nữa thì chuyến trở về Sài Gòn cũng đã không thành công, vì quân đội MTGP đã chiến đấu ở ngay cạnh cầu Sài Gòn rồi. Xuyên qua làn đạn, chiếc xe Hồng Thập Tự của terre des hommes tìm đường trở về trung tâm. Vào chiều tối ngày chủ nhật, đài phát thanh của MTGP loan báo đã chiếm được hai thành phố Long Thành và Phước Lễ trên đường về Sài Gòn.

Người dân đang chạy tỵ nạn ở Vũng Tàu, 21 tháng Tư 1975. Hình: Pavlovsky/Sygma/Corbis
Người dân đang chạy tỵ nạn ở Vũng Tàu, 21 tháng Tư 1975. Hình: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis

Continue reading “Sài Gòn, ngày 28 tháng Tư 1975”

Sài Gòn, tháng Tư 1975

Đối với tôi, Sài Gòn chưa bao giờ mang nhiều nét Á hơn là trong những những ngày trước khi sụp đổ. Ngay sau khi ra khỏi con đường Tự Do và cái chợ hoa, người ta sẽ nhanh chóng đi trong một đám đông chật ních người da vàng như là người da trắng duy nhất. Trước người nước ngoài, người Việt đeo lên gương mặt họ một cái mặt nạ của sự dửng dưng. Chỉ khi họ có cảm giác không bị quan sát thì ánh mắt của họ mới lộ ra nỗi lo lắng và sự chờ đợi cái thảm họa đang tiến đến gần. Tài xế Canh của tôi, người mà tôi đã quen biết từ nhiều năm nay, chưa từng bao giờ lái xe một cách sơ ý và lơ đễnh qua sự hỗn loạn của giao thông nội thành như vậy. Bị tôi khiển trách, nỗi lo sợ bộc phát từ trong anh ấy ra ngoài: “Ông cũng biết mà, Monsieur: năm 1954 tôi đã chạy trốn người cộng sản từ Hà Nội vào miền Nam, rồi bây giờ thì họ lại bắt kịp tôi.” Bà đứng đầu sở điện tín, một người miền Trung trầm tư với búi tóc nghiêm khắc, kéo tôi sang một bên: “Có đúng không, Monsieur, người Bắc Việt sẽ giết chết hết tất cả các nhân viên của chính phủ Sài Gòn?” Trong Đà Nẵng bị chiếm đóng, người cộng sản đã bắt bừa hàng trăm người trong mỗi một khu phố và đã bắn chết công khai để đe dọa. Người ta đã thuật lại cho bà như vậy. Thỉnh thoảng cứ trông giống như là sự hỗn loạn được cố tình được kích động qua tin đồn.

Trận đánh cuối cùng trên cầu Tân Cảng ngày 28 tháng Tư năm 1975
Trận đánh cuối cùng trên cầu Tân Cảng ngày 28 tháng Tư năm 1975

Continue reading “Sài Gòn, tháng Tư 1975”

Phản ứng của Mỹ trước Tết Mậu Thân

Người dân Mỹ chăm chú ngồi trước chiếc máy vô tuyến truyền hình vào ngày 31 tháng Giêng 1968. Những hình ảnh về tòa Đại Sứ quán bị hư hỏng và xác chết nằm trên bãi cỏ trong trung tâm chính trị của quyền lực Mỹ ở Nam Việt Nam đã gây ra một cú sốc tập thể tại người Mỹ. Quân đội căng thẳng, những người lính bị thương, đường phố đầy xác chết – hầu như không một hình ảnh nào cho thấy tính dã man của cuộc chiến một cách không thương xót hơn là bức ảnh của Giám đốc Tổng nha Cảnh sát Nam Việt Nam, người ấn một khẩu súng lục vào thái dương một du kích quân đã bị trói lại và bóp cò (điều mà bức ảnh đi khắp thế giới này không cho thấy là việc du kích quân đã giết chết gia đình của người sếp cảnh sát). Với con mắt của 700 nhà báo, người Mỹ trong 50 triệu căn phòng khách sững sờ nhìn đất nước đó bị cháy rụi, bị tàn phá, bị ném bom như thế nào, đất nước mà những người lính của họ có nhiệm vụ bảo vệ nó. Người đọc tin tức của CBS, Walter Cronkite, tiếng nói đã được cá nhân hóa của “nước Mỹ thật sự, chân chính”, khoác lên cho sự kinh hoàng của cả một quốc gia những từ ngữ: “Đang xảy ra những gì ở đó thế này? Tôi nghĩ rằng chúng ta sắp sửa thắng cuộc chiến này kia mà!”[1]

Một người Việt Cộng chết trong Đại sứ quán Hoa Kỳ ngày 31 tháng 1 năm 1968
Một người Việt Cộng chết trong Đại sứ quán Hoa Kỳ ngày 31 tháng 1 năm 1968. Ảnh: Vietnam Center and Archive

Continue reading “Phản ứng của Mỹ trước Tết Mậu Thân”

Giải thích một số từ ngữ ở Hoa Kỳ

Đọc chơi đỡ buồn nè, giải thích một ít từ ở Mỹ (redneck, trailer trash, WASP, soccer mom, bible belt, bridge and tunnel people, …):

 

Poor White Trash
Poor White Trash

1. Rednecks:
Người dân miền Nam, theo truyền thống có gáy đỏ vì công việc đồng áng (ít nhất là một trong những thuyết về xuất xứ của khái niệm này). Trong con mắt của dân cư cạnh bờ biển, rednecks là những tên thô lỗ uống bia, vô học, phân biệt chủng tộc, những kẻ lái pick–up–trucks móp méo đi săn, và nếu nghi ngờ thì sẽ bắn chết những người xâm nhập vào đất của họ.

2. Yankees:
Những người Mỹ từ miền Đông Bắc của Hoa Kỳ, bị rednecks và dân cư miền Nam khinh bỉ. Thường hay bị phỉ báng là “east coast liberals”. Một tựa sách đã tóm tắt sự tồn tại của họ như là “latte–drinking, sushi-eating, Volvo–driving, New–York–Times–reading, body–piercing, Hollywood–loving, left–wing Freakshow”.

3. Trailer Trash:
Tầng lớp dưới, thường là da trắng. Trong nghĩa đen là những người sống trong nhà di động ở những nơi được gọi là trailer parks. Được xem là những tên nghiện rượu vô học, ăn mặc lôi thôi, đánh đập phụ nữ và trẻ em. Khi họ sống trong biệt thự thì người ta nói về white trash: cả Britney Spears và chồng cũ Kevin Federline thỉnh thoảng cũng được xếp vào trong loại này.

Continue reading “Giải thích một số từ ngữ ở Hoa Kỳ”

Tết Mậu Thân

Cũng như hàng năm vào ngày này, người dân Sài Gòn chào mừng năm mới của Việt Nam vào ngày 31 tháng Giêng 1968. Sự yên tĩnh phủ xuống thành phố trong những giờ đầu tiên. Vào lúc 2 giờ 45, 19 du kích quân bước xuống hai chiếc xe tối đen, đã ngừng lại trước tòa Đại sứ quán Mỹ. Vài giây sau đó, một vụ nổ đã đục thủng một lỗ hổng trên bức tường của khu đất. Trong lúc lính gác Nam Việt Nam bỏ chạy, đội biệt động cố gắng bắn mở đường tiến vào bên trong tòa đại sứ. Mãi sáu giờ sau đó, cơn ác mộng mới chấm dứt. Cũng trong đêm đó, thêm 4000 du kích khác của MTDTGP đã tiến vào các mục tiêu ở Sài Gòn và vùng  phụ cận. Với súng máy tự động và súng cối, họ bắn phá trụ sở các bộ, dinh tổng thống, phi trường Tân Sơn Nhứt và những khu nhà nằm kế cận đó của các tổng hành dinh Mỹ và Nam Việt Nam. Cùng lúc, trên khắp nước, tròn 80.000 du kích quân – trong số đó cũng có vài ngàn người lính Bắc Việt – phá vỡ lần ngưng bắn truyền thống và luôn được tôn trọng để mừng Tết. Họ tấn công vào năm trong số sáu thành phố lớn, 36 của 44 tỉnh lỵ, 64 trụ sở hành chánh địa phương và nhiều thị trấn khác. Trận đánh quyết định của cuộc chiến, trận Tết Mậu Thân, bắt đầu.

Sài Gòn trong Tết Mậu Thân
Sài Gòn trong Tết Mậu Thân. Ảnh: The Vietnam Center and Archive

Continue reading “Tết Mậu Thân”

Dư luận, truyền thông và phong trào phản chiến

Thời đó cũng như ngày nay, những người tán thành nước Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam vẫn quả quyết khẳng định rằng Hoa Kỳ không thua cuộc chiến tranh ở trong rừng rậm của Đông Nam Á, mà thua ở trận tuyến quê nhà – ở Mỹ. Họ đưa ra hai tổ chức làm kẻ thù chính: giới truyền thông và các trường đại học. Những người ủng hộ huyền thoại Mỹ về con dao đâm sau lưng này phê phán rằng truyền hình đã trình bày một hình ảnh méo mó về chiến sự ở Việt nam. Dần dần, nó đã đào rỗng ruột sự sẵn sàng người dân, ủng hộ cho quân đội của họ về mặt tinh thần chiến đấu, chính trị và kinh tế. Về phần mình, các sinh viên thì lại đầu độc bầu không khí đối nội và đã khiến cho chính phủ ngày càng không có khả năng hoạt động nhiều hơn. Có những nhà phê bình nào đó thậm chí còn đi xa hơn nữa: họ lên án rằng phong trào phản chiến đã kéo dài cuộc chiến và phải chịu trách nhiệm cho cái chết vô tội của vô số quân nhân. Lập luận này cay độc và cũng phi lý như lời khẳng định của các tướng lãnh Đức sau Đệ nhất Thế chiến, nhân dân Đức đã đâm dao vào sau lưng quân đội bất bại và gây ra chiến bại.

Biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam tại New York City ngày 27 tháng Tư 1968. Hình: AP Photo.
Biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam tại New York City ngày 27 tháng Tư 1968. Hình: AP Photo.

Continue reading “Dư luận, truyền thông và phong trào phản chiến”

Cuộc tìm kiếm hòa bình nửa vời

Tính lưỡng lự của Johnson đối với giới lãnh đạo quân đội cũng tìm thấy sự tương ứng của nó trong cuộc tìm kiếm nửa vời để chấm dứt chiến tranh qua đàm phán. Chính phủ Johnson đã nhìn thấy sự cần thiết của các sáng kiến hòa bình từ rất sớm. Ba tháng trước quyết định của tháng Bảy 1965, đóng quân đội chiến đấu ở Việt Nam, ông Tổng thống đã quảng bá cho một nền hòa bình qua thương lượng trong bài diễn văn của ông tại Đại học Johns Hopkins. Có ba nguyên chính cho việc đó. Về một mặt, chính quyền không muốn chỉ phản ứng lại các diễn tiến ở Việt Nam. Mặt khác, họ vẫn phải sẵn sàng đối thoại, để có thể giữ vững lập luận cho cuộc chiến tranh ném bom của họ – cuối cùng thì Hà Nội cần phải bị khuất phục qua những cuộc ném bom đó. Nhưng trước hết, và điều này đứng đầu ở bất cứ cố gắng dàn xếp nào, bất cứ sáng kiến hòa bình nào, là dư luận ở Hoa Kỳ và trong thế giới Phương Tây cần phải được xoa dịu và gây ảnh hưởng tích cực. Từ 1965 cho tới 1967, chính phủ đếm được không dưới hai ngàn cố gắng dàn xếp từ các cá nhân và chính trị gia cũng như nhà ngoại giao nước ngoài, trong đó có các đại diện của Anh, Pháp, Ý, Ba Lan và Xô viết. Chính quyền Johnson cũng tự tiếp cận chính phủ Hà Nội với những sáng kiến hòa bình. Nhưng cho tới nửa năm 1967 thì các tín hiệu hòa bình ở cả hai bên đã bị quyết định bởi những cân nhắc chiến thuật. Trong khi Tổng thống Johnson hy vọng vào một bước ngoặc quân sự hứa hẹn chiến thắng, giới lãnh đạo Hà Nội lại dựa vào việc là áp lực của phong trào hòa bình Mỹ và của công chúng ít nhất thì cũng có thể tác động chấm dứt cuộc chiến tranh ném bom.

Tổng thống Johnson  phát biểu tại Đại Học Johns Hopkins, Baltimore, Maryland
Tổng thống Johnson phát biểu tại Đại Học Johns Hopkins, Baltimore, Maryland

Continue reading “Cuộc tìm kiếm hòa bình nửa vời”