“These people, they don’t understand” (phần 1)

Bệnh nhân của chúng tôi – trừ một ít trường hợp ngoại lệ – xuất phát từ những tầng lớp nghèo của xã hội. Nói chung thì họ không nói được ngoại ngữ; sự học hành của họ ít có khác nhau, và ý kiến của họ giới hạn ở quanh những gì gần gũi nhất với cuộc sống. Chúng tôi chỉ có thể nói chuyện với họ qua thông dịch. Điều này không những giới hạn các khả năng của một câu chuyện mà qua sự hiện diện của một người thứ ba cũng trở nên không trực tiếp. Vì vậy mà khó có thể phân biệt được, rằng người được hỏi không có gì để nói về một đề tài nào đó hay là không muốn nói gì. Ví dụ như người anh em của bệnh nhân bị liệt nửa người chẳng hạn, người mà đã bị Việt Cộng bắt giữ, không nói về việc cuối cùng thì Việt Cộng đã mang ông ấy về nhà như thế nào.

Đường Tự Do, Sài Gòn, 1967

Tiếp tục đọc

Advertisements

Rồng Mekong (41): Cô gia sư của Rama IV

Bhumibol ngày đăng quang

Trong một ngôi làng hẻo lánh ở miền bắc Thái Lan, cách Chiang Mai bốn giờ ô tô cực nhọc, người dân đang chờ vị vua của họ đến thăm. Khoảng 2000 người, nông dân hay công nhân nông trường với gia đình của họ, đứng đầy quảng trường trước wat, ngôi chùa Phật giáo của làng. Chỉ các nhà sư mới có chỗ trong chùa. Nhích sát lại với nhau, họ ngồi trên một cái bục ở bức tường chính diện và tụng niệm đều đều.

Ở ngoài kia trên quảng trường không được trải nhựa của làng, tiếng tụng niệm đó chỉ có thể nghe được văng vẳng. Chín giờ sáng. Mặt trời thiêu đốt từ trên bầu trời không có mây. Người dân làng ngồi chen chúc với nhau trên nền cát màu đỏ đã từ nhiều giờ rồi, bất chấp nóng nực và ánh nắng làm lóa mắt của mặt trời. Họ chừa lại một lối đi hẹp mà vị vua sẽ đi trên đó để vào ngôi chùa. Người dân chen nhau ở cả hai bên của lối đi đó. Ở đây, người ta có cơ hội chắp tay đưa cho vị vua một tờ tiền, cái mà người này “hái” từ đám đông người và đưa tiếp cho những người tháp tùng ông. Vị vua tạo cơ hội cho thần dân sùng đạo của ông lập công đức qua bố thí, để cải thiện cái nghiệp, là tổng kết của một đời người mà theo tín ngưỡng Phật giáo thì sẽ cho biết con người đó được đầu thai ở dưới dạng nào và ở cấp nào sau khi chết đi.

Tiếp tục đọc

Đáng thương nhất là trẻ em (hết)

Có một thời gian mà chúng tôi hầu như ngày nào cũng tiếp nhận trẻ em bị thương ở bụng hay ở ngực vì mảnh bom đạn. Những mảnh đó đã cắt xuyên qua ruột tại nhiều nơi. Những em này phần lớn đến từ vùng đồng bằng có mật độ dân cư cao. Cho tới cuối 1966, không có những đơn vị lớn của người Mỹ hoạt động trong vùng này, và quân đội quốc gia chủ yếu là cố giữ được các căn cứ của họ nên không có giao tranh nhiều cho lắm. Việc này đã thay đổi vào đầu năm mới. Ngay từ cuối 1966, người ta đã đồn rằng chẳng bao lâu nữa sẽ xảy ra giao tranh lớn, và thật sự là từ giữa tháng Giêng, ở Sài Gòn người ta đã nghe được tiếng nổ từ phía Nam ngày một nhiều hơn. Nhưng còn chắc chắn hơn là việc chúng tôi có thể nhìn từ con số người dân thường bị thương được đưa đến chỗ chúng tôi, rằng cuộc chiến ở trong vùng đồng bằng đã lan rộng ra. Chiếc xe cứu thương VW của bệnh viện tỉnh ở Long An mỗi ngày đến chỗ chúng tôi một lần, thỉnh thoảng là hai lần. Người tài xế khiến cho tôi nhớ tới một người lái xe cứu thương ở Ethiopia, nơi tôi đã làm việc năm 1965. Cả hai đều thấp người, có bụng nặng nề, mái tóc ngắn trên gương mặt tròn, và họ có tính chậm chạp không thể lay chuyển được. Ngay với đèn xanh cấp cứu đã được bật lên, người tài xế từ Long An vẫn lái xe còn chậm hơn cả giao thông mà bình thường thì cũng đã không nhanh lắm của Sài Gòn rồi, và không có gì có thể làm cho ông mất bình tỉnh được. Chỉ sau này, khi chúng tôi có lần đến thăm bệnh viện ở Long An, thì gương mặt của ông hồng lên vì mừng rỡ. Ông thức tỉnh từ sự chậm chạp của mình, hăm hở và hãnh diện hướng dẫn chúng tôi đi thăm thành phố nhỏ đó và chỉ cho chúng tôi xem một trại gà và đền thờ Cao Đài xinh đẹp ở Long An.

Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967
Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967

Tiếp tục đọc

Rồng Mekong (40): Thương xót cho người Khmer

Nỗi lo sợ bị Việt Nam hóa, mất đặc tính văn hóa Khmer khiến cho nhiệm vụ lớn cuối cùng của Sihanouk trở nên thật cần thiết. Dân tộc của ông chỉ còn sở hữu những sức lực yếu đuối để tự đứng dậy. Cuộc cách mạng toàn bộ của Pol Pot có lẽ đã phá hủy mãi mãi những nguyên tố chống đỡ của nền văn minh Khmer.

Trong tháng Ba 1982, khi tôi cùng với đội ngũ quay phim của tôi lần đầu tiên có thể trở lại Phnom Penh kể từ 1975, tôi đã diễn đạt ấn tượng như sau trong một phim: “Thành phố Phnom Penh mà tôi biết và còn đến thăm vài tháng trước chiến thắng của Khmer Đỏ để tường thuật về cuộc chiến, thành phố Phnom Penh vui tươi, mang dấu ấn của Pháp đó, không còn tồn tại nữa. Khmer Đỏ đã phá hủy nó có kế hoạch, đã xua đuổi người dân về nông thôn, bỏ lớp vỏ trống không lại cho những con chuột. Phnom Penh hiện tại là một tượng đài nhắc nhở tới sự thù địch văn hóa và tàn sát con người của Khmer Đỏ, và đồng thời cũng là một thành phố đã tỉnh dậy từ giấc ngủ chết chóc và tìm đường trở về với người sống.”

Cambodian Khmer Rouge Leaders
12 Tháng 4, 2005, Phnom Penh, Campuchia. Các đạo Khmer Đỏ: Pol Pot, Noun Chea, Ieng Sary, Son Sen và những người.

Tiếp tục đọc

Đáng thương nhất là trẻ em (2)

Trong mùa Xuân 1967, vào cuối mùa khô, người Mỹ mang đến cho chúng tôi một em trai mười ba tuổi trong một chiếc xe cứu thương quân đội của họ. Người lính quân y lái chiếc xe cứu thương kể lại cho chúng tôi, quân cảnh đã tìm thấy em này trong một lần kiểm tra trên một chiếc thuyền ở trước bờ biển Nam Việt Nam, cách Vũng Tàu không xa lắm. Những chiếc thuyền có mạn tàu cao này, hơi lớn hơn thuyền trên sông với mũi tàu nhô ra, được trang trí hết sức nghệ thuật, và với con mắt huyền bí nhìn xuống những ma quỷ đang dấu mình ở dưới nước, chuyên chở hàng hóa nặng trung bình dọc theo bờ biển, tương tự như những chiếc thuyền có động cơ chạy dọc theo bờ biển ở chúng ta. Đồng thời, chúng cũng là nhà ở và quê hương của những người lái tàu và gia đình của họ, một nhóm người vì nghề nghiệp và hoàn cảnh mà tất nhiên là rất tự do.

Tàu Hải quân Hoa Kỳ tuần tra trên sông Mekong
Tàu Hải quân Hoa Kỳ tuần tra trên sông Mekong

Tiếp tục đọc

Rồng Mekong (39): Nguy cơ Việt Nam hóa

Ở cạnh biên giới Thái Lan-Campuchia, Pol Pot và bộ lãnh đạo của ông thu thập và tái xây dựng những phần còn lại của quân đội đã bị Việt Nam đánh bại. Chỉ vài tuần sau đó đã có những cung cấp lớn về tiền bạc và vũ khí từ Trung Quốc. Giới tướng lĩnh Thái Lan đã được Bắc Kinh tranh thủ qua một hiệp định chính thức để giúp đỡ về mặt tiếp vận, mang tiếp tế vào trại của Khmer Đỏ. Thỏa thuận giữa Sihanouk và Chu Ân Lai là mô hình, người ta được phép phỏng đoán như vậy. Hai mươi tới ba  mươi phần trăm các cung cấp từ Trung Quốc đi vào tay của quân đội Thái như là tiền thù lao cho sự giúp đỡ. Chẳng bao lâu sau, Pol Pot lại có 10.000 tay súng. Trong những năm sau đó, quân đội của ông ta đã tăng lên tới khoảng 30.000 người.

Phnom Penh rơi vào tay Khmer Đỏ, 19 tháng 4 năm 1975
Phnom Penh rơi vào tay Khmer Đỏ, 19 tháng 4 năm 1975

Tiếp tục đọc

Đáng thương nhất là trẻ em (1)

Trẻ em trong bất cứ đất nước xa lạ nào cũng đều lôi cuốn cả. Các em không nghi ngại gì và khiến cho những con người xa lạ dễ dàng yêu thương các em, vì các em vẫn còn chưa thể sống mà không cần sự chăm sóc được. Các em vô tội. Ngay cả khi trẻ em da đen nấp sau chiếc váy của người mẹ lúc một người da trắng bước đến với các em, cũng như những đứa bé trong làng mạc Trung Âu sẽ làm, khi có một người da đen đến gần, thì điều đó vẫn không gây khó khăn cho quan hệ của một người nước ngoài với trẻ em của một đất nước xa lạ. Người ta cũng có thể đến với trẻ em mà không phải lo sợ, ngay cả trong một môi trường thù địch, các em vẫn còn không bị ảnh hưởng bởi những suy nghĩ, trải nghiệm và thành kiến của người lớn. Vượt qua được sự rụt rè của mình một lần rồi thì về mặt mình, các em cũng có thể tiếp cận với con người xa lạ mà không phải lo lắng gì, vì người này không có cảm giác bị các em gây hại. Và: trẻ em có nét đẹp vô tội riêng của các em, có thuộc dân tộc và chủng tộc nào đi nữa cũng vậy.

Bệnh nhân trên tàu Helgoland
Bệnh nhân trên tàu Helgoland

Tiếp tục đọc