Vinh Quang của sự Phi Lý (30)

Mìn nam châm cũng là một món quà từ nước Đức nhưng không phải của Tây Đức mà là Đông Đức.

Chi tiết đặc biệt này đã nhấn mạnh tính chất chiến lược địa lý toàn cầu của cuộc chiến. Đúng, đây là một cuộc chiến tranh nhân dân theo kiểu Mao Trạch Đông nhưng đồng thời cũng là địa hình nóng bỏng của cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa Đông và Tây, bao gồm cả cuộc xung đột giữa hai quốc gia Đức.

Một trong những món quà chết người nhất của chính quyền Đông Đức tặng cho các đồng chí Việt Nam là quả mìn tàn bạo được thế giới biết đến như là PPM-2. Tôi đã chứng kiến sức tàn phá của nó nhiều lần khi lái xe trên quốc lộ 19 giữa Pleiku trên Trung Nguyên và Quy Nhơn ở bờ biển Đông. Từng mảnhg thịt người vương vãi khắp nơi trên đường lộ và bắn tung lên bụi cây – đầu người, chân, tay hoặc đúng hơn chỉ là bàn tay, bàn chân, ngón tay, ngón chân xen kẽ với các dấu tích còn lại của những chiếc xe bị nổ tung.

Mìn PPM-2 ở biên giới Đức-Đức
Mìn PPM-2 ở biên giới Đức-Đức

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (29)

Chương 12

Tây Đức với Đông Đức

Trên con sông Hàn tại bến cảng Đà Nẵng có một con tàu màu trắng toát hai bên hông có đánh dấu Hồng Thập Tự nằm thả neo trong gần suốt cuộc chiến Việt Nam. Nó hiện diện như một biểu tượng trong sáng cho lòng vị tha và đối nghịch với màu xám phổ biến của tất cả các tàu chiến chung quanh. Chiếc tàu có tên là Helgoland này nguyên dùng để vận chuyển du khách đến những khu nghỉ mát trên bờ biển Đức và sau 6 năm phục vụ tại Đông Dương, chiếc Helgoland trở thành một du thuyền của nước Ecuador đóng tại quần đảo Galapagos. Tuy nhiên trong khoảng thời gian từ 1966 đến 1972, chiếc tàu này là một bệnh viện nổi được điều hành bởi Hồng Thập Tự Tây Đức và tài trợ bằng tiền đóng thuế của dân Tây Đức.

Tàu Helgoland ở Đà Nẵng
Tàu Helgoland ở Đà Nẵng

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (28)

Trên phương diện thuần túy nhân bản, khía cạnh đáng buồn nhất của mối quan hệ cá nhân giữa lính Mỹ với người dân nước chủ nhà thường chỉ giới hạn trong hai loại người không hay lắm: bọn cộng sản chỉ muốn ám hại họ hay làm họ bị què cụt và những gái làng chơi mà tình cảm không phải là thứ miễn phí. Thật thảm thương là những người lính Mỹ và gái bán bar hay mại dâm có nhiều điểm chung nhau hơn là những cuộc gặp gỡ xác thịt đơn thuần. Cả hai đều bị tẩy chay bởi những thành phần đáng kể trong xã hội tương ứng của họ. Những người lính Mỹ trẻ đi lang thang vào vùng đèn đỏ Sài Gòn lúc nghỉ phép có thể không nhận ra điều này vào thời điểm họ đi tìm niềm an ủi bên cạnh những cô gái bán bar hay mại dâm để trốn khỏi nỗi khiếp sợ và sự thiếu thốn. Nhưng rồi họ sẽ sớm phát hiện ra thái độ khinh miệt của dân Mỹ bên nước nhà đối với họ khi nghe những câu khẩu hiệu vô nghĩa như “Hãy làm tình, không làm chiến tranh.” Tôi cảm thấy buồn nôn khi khám phá ra trong thời gian làm việc tại Hoa Kỳ vào năm 1967 câu sáo rỗng tuôn ra bởi tầng lớp ưu tú của New York, “cựu chiến binh Hoa Kỳ là thành phần thiểu số kém yêu thích nhất của tôi,” đã trở thành câu thần chú của những đám tập tành muốn thành “cấp tiến” trong những bữa tiệc tùng.

Đường Tự Do
Đường Tự Do

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (27)

Hình ảnh hai người lính an ủi nhau trong u buồn đã day dứt tôi như là một trong những biểu tượng mạnh mẽ nhất của cuộc chiến Việt Nam trong suốt 40 năm sau đó. Đứng trên phương diện nhân bản, đó là một cảnh tượng đẹp đẽ, hai thanh niên khác biệt về văn hóa nhưng đã cảm thông nhau trong sự đau khổ và cùng chung một kẻ thù với những thủ đoạn tàn bạo mà Hương vừa mới diễn tả một cách linh hoạt chỉ bằng một vài câu ngắn ngủi.

Tuy nhiên cảnh này không phản ảnh được mối quan hệ chung giữa lính Mỹ và lính Việt Nam Cộng Hoà, cũng như không nói lên được sự tương quan giữa lính Mỹ và dân chúng Việt Nam. Trong năm thứ nhì khi Hoa Kỳ triển khai lực lượng tại Việt Nam, rất nhiều binh lính đã biểu lộ một thái độ thù địch mạnh mẽ đối với dân chúng của nước chủ nhà, theo một công trình nghiên cứu của sử gia Hoa Kỳ Guenter Lewy.

Lính TQLC Đại Hàn đang chuẩn bị vị trí phòng thủ ở gần Tuy Hòa
Lính TQLC Đại Hàn đang chuẩn bị vị trí phòng thủ ở gần Tuy Hòa

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (24)

Một tuần sau văn phòng thủ tướng gọi tôi. Nguyễn Cao Kỳ sửa soạn bay ra Huế sáng hôm sau để họp với các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự tại địa phương. Họ hỏi tôi có muốn tháp tùng hay không? Dĩ nhiên là tôi đồng ý ngay. Huế là một cố đồ cổ kính tuyệt đẹp nhưng có tính bài ngoại, và đang là trung tâm của phe Phật giáo đối lập chống lại chính quyền Nguyễn Cao Kỳ. Nơi đây đồng thời là thành trì của đối thủ ông Kỳ, trung tướng Nguyễn Chánh Thi và vị sự nổi loạn Thích Trí Quang. Bay đến Huế cùng với một đoàn phóng viên, Kỳ đang cố chứng tỏ ông đang hoàn toàn nắm vững tình thế.

Trung tướng Nguyễn Chánh Thi
Trung tướng Nguyễn Chánh Thi

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (23)

Chương 10

Gái ca ve và sư đầu trọc nhẵn thín

Năm 1966 tôi trải qua tổng cộng tám tháng tại Việt Nam nhưng không phải liên tục trong cùng một lúc. Tôi đi lại giữa Sài Gòn và New York để làm phóng sự cho cả hai mặt của cuộc chiến bao gồm các hoạt động quân sự chính trị tại chỗ và những biến chuyển đáng lo ngại tại mặt trận nội bộ nước Mỹ. Hầu như mỗi lần trở lại Việt Nam tôi đều được đón tiếp một cách trang trọng khá bất thường đối với một phóng viên chiến trường trẻ tuổi như tôi. Lần nào tôi cũng được một vị trung tá người Đức đón tiếp trong một chiếc Mercedes Benz gắn máy lạnh mang biển số ngoại giao. Viên sĩ quan này là bạn tôi tên Joachim Tzschaschel, tùy viên quốc phòng Tây Đức và là viên chức duy nhất trong tòa đại sứ đã tỏ ý lo ngại là người Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa khó có thể giành được thế thượng phong tại Việt Nam. Anh ta đã thẳng thừng tuyên bố với các viên chức Hoa Kỳ từ hồi đầu 1966 là: “Người Mỹ các anh không thể nào thắng nổi cuộc chiến này nữa.”

Huế, 1-6-1966, sinh viên Phật tử Huế biểu tình bạo động xé cờ Mỹ trước khi đốt Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ trên đường Đống Đa
Huế, 1-6-1966, sinh viên Phật tử Huế biểu tình bạo động xé cờ Mỹ trước khi đốt Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ trên đường Đống Đa

Tiếp tục đọc

Vinh Quang của sự Phi Lý (22)

Chúng ta hãy quay trở lại với Nguyễn Cao Kỳ bởi vì ông, chứ không phải ông Thiệu, là biểu hiện của một sự tương phản chung của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Nhân vật Nguyễn Cao Kỳ mà các nhà báo Phương Tây mô tả có vẻ như không phù hợp với với Nguyễn Cao Kỳ đích thực chỉ có thể phát hiện ra sau khi đã lột bỏ hết những bề ngoài che đậy.

Quốc trưởng Thiệu và Thủ tướng Kỳ vào ngày 19/06/1966 (Ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa)
Quốc trưởng Thiệu và Thủ tướng Kỳ vào ngày 19/06/1966 (Ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa)

Tiếp tục đọc