9/8/1954: Miền Nam lập phủ “Tổng-ủy phụ-trách đồng bào tị-nạn”

Cơ quan này có nhiệm vụ điều phối việc di cư, đón tiếp và định cư người dân miền Bắc vào Nam tị nạn cộng sản. Ông Nguyễn văn Thoại được cử làm tổng ủy nhưng sau đó giáo sư Ngô Ngọc Đối được cử vào chức vụ này thay thế ông Thoại vào ngày 21 tháng 8. Một cầu hàng không chở người dân di cư vào Nam cũng được thành lập vào những ngày này.[i]

Vào lúc đầu, khi nhờ người Mỹ giúp đỡ, thủ tướng Ngô Đình Diệm chỉ nghĩ tới con số chừng 100.000 người sẽ di cư vào miền Nam. Phía Pháp ước tính chỉ chừng 30.000. Thế nhưng chính phủ Eisenhower muốn làm cân bằng dân số giữa hai miền để tạo điều kiện thuận lợi cho một cuôc tổng tuyển cử có thể diễn ra hai năm sau đó, vì vậy mà phải cổ động và vận chuyển càng nhiều người vào Nam càng tốt. Đại tá Edward Lansdale được giao cho nhiệm vụ này. Ông Lansdanle muốn thúc đẩy được hai triệu người di cư vào Nam nên đã tiến hành một chiến dịch tuyên truyền ở miền Bắc.[ii] Một loạt các nhà chiêm tinh nổi tiếng được đút lót để họ tiên đoán một tương lai đen tối cho miền Bắc. Nhiều hoạt động thả truyền đơn kêu gọi đồng bào di cư vào Nam đã được tiến hành. Các hoạt động này chắc chắn không mang tầm quyết định nhưng chúng cũng không phải là không quan trọng trong việc cổ động khoảng một triệu người dân miền Bắc, đa số theo đạo Thiên Chúa, di cư vào Nam sau Hiệp định Genève.[iii]

Hàng không mẫu hạm HMS Warrior sơ tán 1.455 người tị nạn từ Hải Phòng vào đến Sài Gòn trong Chiến dịch Passage to Freedom, ngày 4 tháng 9 năm 1954.

Tiếp tục đọc

21/7/1954: Hội nghị Genève bế mạc

“Ván bài được kết thúc dứt khoát, vào phiên họp cuối cùng, ngày 20 tháng 7. Người ta phải vặn lại đồng hồ vào nửa đêm của phòng hội nghị, để không quá thời hạn của ông Mendès France đã ấn định. Ông này như vậy là đã thắng cuộc.

Thể thức đình chiến đã được ký kết bởi đại diện của hai viên Tổng tư lệnh. Ngày 21, hội nghị bế mạc bằng một Thông Cáo Chung, chỉ do hai viên Tổng thư ký của hội nghị ký.”[i]

Hội nghị Genève

Hội nghị Genève

Tiếp tục đọc

16/6/1954: Quốc trưởng Bảo Đại mời Ngô Đình Diệm lập chính phủ mới

“Đã mấy lần, tôi đã phải từ chối chính-quyền mặc dầu Đức-Quốc-Trưởng Bảo-Đại ân cần khẩn-khoản. Lần nầy, tôi nhận.”[i]

Biết được rằng một nhà nước Việt Nam chống cộng sản chỉ có khả năng tồn tại với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ và chỉ với một chính phủ mới, đoạn tuyệt với tất cả những gì có liên quan đến quá khứ thực dân, Quốc trưởng Bảo Đại đã mời các lãnh tụ chính trị Việt Nam đến Cannes để chỉ cho họ xem “sự cần thiết đặt một đường hướng mới, và gợi ý họ là cho thay thế Hoàng thân Bửu Lộc bằng Ngô Đình Diệm, để cầm đầu chính phủ. Tất cả hoan nghênh ý kiến của tôi.”[ii]

Paris 1954 - Quốc trưởng Bảo Đại và Hoàng thân Bửu Lộc, làm Thủ tướng QG Việt Nam trong 6 tháng từ 11-1-1954 đến 16-6-1954). Bên trái hình là luật sư Vương Văn Bắc, người sau này có thời gian làm Tổng trưởng Ngoại giao VNCH thay ngoại trưởng Trần Văn Lắm.

Paris 1954 – Quốc trưởng Bảo Đại và Hoàng thân Bửu Lộc, làm Thủ tướng QG Việt Nam trong 6 tháng từ 11-1-1954 đến 16-6-1954). Bên trái hình là luật sư Vương Văn Bắc, người sau này có thời gian làm Tổng trưởng Ngoại giao VNCH thay ngoại trưởng Trần Văn Lắm.

Tiếp tục đọc

10/6/1965: Tiểu đoàn 1 Trung đoàn Hoàng gia Úc đến Việt Nam

Một đại đội của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn Hoàng gia Úc (1RAR) cập cảng Vũng Tàu trên con tàu HMAS Sydney sau cuộc hành trình kéo dài 14 ngày. Phần còn lại của Tiểu đoàn đến Việt Nam bằng máy bay.

Sự hiện diện của Tiểu đoàn và các lực lượng phụ trợ đánh dấu lần tăng cường cam kết quân sự của chính phủ Úc sau khi gửi Đội Huấn luyện của Quân đội Úc sang Việt Nam hồi tháng 8 năm 1962. Xuất phát điểm là cuộc hội thảo của các bộ tham mưu Hoa Kỳ, Úc và New Zealand kéo dài từ ngày 30 tháng 3 đến 1 tháng 4 cùng năm. Tại đây, Đô đốc Ulysses S. Grant Sharp, chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương, cho biết rằng người Mỹ đang cân nhắc giữa những chiến lược hoàn toàn khác nhau. Một chiến lược dự định đưa lực lượng Hoa Kỳ sang giữa một loạt các khu vực ven biển ở Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang và Sài Gòn-Vũng Tàu và trang bị cho mỗi vùng có một sân bay lớn. Một kế hoạch khác dự định đưa hai hay ba sư đoàn sang Lào vùng xung quanh vĩ tuyến 17 nhằm ngăn chận không cho miền Bắc đưa quân đội xâm nhập vào Nam Việt Nam. Dự định thứ ba sẽ đưa từ 70.000 đến 90.000 quân sang các tỉnh miền Trung của Nam Việt Nam và sang Thái Lan, để chiếm đóng và ngăn chận đối phương tại các địa điểm mang tầm quan trọng chiến lược. Tuy Đô đốc Sharp cho biết rằng còn chưa có chiến lược nào được thông qua, nhưng theo như Đại tướng Không quân Sir Frederick Rudolph William Scherger, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng của Úc tường thuật lại sau khi tham dự cuộc họp, người Mỹ muốn có một tiểu đoàn Úc, tốt nhất là với sự tham gia của New Zealand, để cùng hoạt động với lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tại Đà Nẵng, và ông cũng đề nghị chính phủ chấp thuận yêu cầu này của người Mỹ.

Quân lính thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng gia Úc, bước xuống bãi biển Vũng Tàu tháng 6 năm 1965.

Quân lính thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng gia Úc, bước xuống bãi biển Vũng Tàu tháng 6 năm 1965.

Tiếp tục đọc

4/6/1954: Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam

Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Nguyễn Phúc Bửu Lộc và Thủ tướng Pháp Joseph Laniel ký kết các hiệp ước công nhận nước Việt Nam độc lập vào ngày này. Đây là lần thứ năm “nước Pháp công nhận nước Việt Nam là một nước hoàn toàn độc lập”, nhưng là lần đầu “… và chủ quyền với tất cả những thẩm quyền do luật quốc tế công nhận.”[i] Hiệp ước này tạo tiền đề cho một nhà nước Việt Nam độc lập phi cộng sản trong lúc các cuộc đàm phán chia cắt đất nước ở Genève còn chưa kết thúc.

Paris 1954 - Quốc trưởng Bảo Đại và Hoàng thân Bửu Lộc, làm Thủ tướng QG Việt Nam trong 6 tháng từ 11-1-1954 đến 16-6-1954). Bên trái hình là luật sư Vương Văn Bắc, người sau này có thời gian làm Tổng trưởng Ngoại giao VNCH thay ngoại trưởng Trần Văn Lắm. Paris 1954 – Quốc trưởng Bảo Đại và Hoàng thân Bửu Lộc, người làm Thủ tướng Quốc Gia Việt Nam trong 6 tháng từ 11-1-1954 đến 16-6-1954). Bên trái hình là luật sư Vương Văn Bắc, người sau này có thời gian làm Tổng trưởng Ngoại giao VNCH thay ngoại trưởng Trần Văn Lắm.

Biết được rằng một nhà nước Việt Nam chống cộng sản chỉ có khả năng tồn tại với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ và chỉ với một chính phủ mới, đoạn tuyệt với tất cả những gì có liên quan đến quá khứ thực dân, Quốc trưởng Bảo Đại đã mời các lãnh tụ chính trị Việt Nam đến Cannes để chỉ cho họ xem “sự cần thiết đặt một đường hướng mới, và gợi ý họ là cho thay thế Hoàng thân Bửu Lộc bằng Ngô Đình Diệm, để cầm đầu chính phủ. Tất cả hoan nghênh ý kiến của tôi.”[ii]

Hoàng thân Bửu Lộc xin từ chức và sau khi thảo luận với Forster Dulles, Quốc trưởng Bảo Đại mời Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới. Đây là một quyết định có ảnh hưởng lớn đến tiến trình lịch sử Việt Nam. Nước Việt Nam giờ đây đạt tới nền độc lập hoàn toàn và sắp sửa có chính phủ độc lập thực sự đầu tiên. Những bước đi này rất có thể đã ngăn chận được Việt Minh lớn mạnh ngay từ đầu nếu như chúng đến sớm hơn tám năm. Bây giờ thì tình hình đã ép buộc nước Pháp và Quốc trưởng Bảo Đại phải thực hiện chúng.[iii] Người Mỹ muốn giữ một miền Nam phi cộng sản. Vì vậy nên Hoa Kỳ muốn củng cố các lực lượng chống cộng sản ở miền Nam, tạo dựng một sự lựa chọn quốc gia mới, đối trọng với Hồ Chí Minh và những người cộng sản ở miền Bắc. Tiền đề cho điều này là phải đoạn tuyệt với mọi liên kết đến quá khứ thực dân, đẩy lùi ảnh hưởng của người Pháp. Ông Diệm là người duy nhất đáp ứng được những yêu cầu này vào thời điểm đó.[vi]

 

Phan Ba

Đọc những bài khác ở trang: Ngày Này Năm Xưa


[i] Bảo Đại. Con rồng Việt Nam. Xuân Thu Publishing, CA, 1990, trang 513.

[ii] Bảo Đại, trang 514.

[iii] Buttinger, Joseph. Der kampfbereite Drache – Vietnam nach Dien Bien Phu. Europa Verlag Wien, 1968, trang 72.

[vi] Buttinger, trang 86-89.