Địa ngục xanh – Chiến lược mới: “Chiến tranh tâm lý”

“Okay, đại úy – anh biết nhiệm vụ của anh: cách Phú Bài 50 dặm về phía tây, anh sẽ đến vùng Nhái Bén. Tốt nhất là anh vào từ hướng bắc – hướng khoảng hai giờ. Như anh có thể thấy trên bản đồ” – viên thiếu tá bước tới bàn có trải một tấm bản đồ lên ở trên đó – “anh chỉ nhìn thấy rừng rậm. Trông giống như không có ai sống ở đó. Nhưng đừng vì vậy mà coi thường – đầy VC ở dưới đấy. Mấy tên dự báo thời tiết cho biết có gió từ cấp một cho tới hai – hướng bắc – tây bắc. Tức là anh có thể ném đúng mục tiêu. Sau khi xong rồi thì làm thêm mười phút tâm lý. Này – anh có gì trên băng đấy?”

“Tôi còn chưa lo đến vụ đấy”, Đại úy Haffield trả lời. “Tôi nghĩ là mười bốn và ba mươi sáu.”

“Mười bốn tốt đấy”, viên thiếu tá nói, “đó là băng với đứa bé. Những người hồi chánh lúc nào cũng nhấn mạnh rằng giọng nói của những đứa trẻ con bao giờ cũng gây xúc động nhiều nhất. Nếu như có thêm những tờ rơi hợp lý nữa…”

“Chúng tôi có 300.000 tấm ảnh chụp gia đình đang khóc”, Haiffield nói. “Ngoài ra còn có 200.000 từ xê-ri 938 và thêm vào đó là 400.000 tờ giấy thông hành. Tôi nghĩ là sẽ đủ.”

Tổng cộng gần một triệu.” Viên thiếu tá hài lòng gật đầu. “Phải đủ cho vài trăm tên VC. Ừ – chúng ta sẽ xem xem…”

Bảy phút sau đó, chiếc “máy bay ném bom tờ rơi” cất cánh từ đường bay được chiếu sáng ít ỏi của phi trường Đà Nẵng – một chiếc máy bay một động cơ loại U-10 Courier, “con chim dẽ giun chậm chạp nhất của Mỹ”, như các phi công thường hay quả quyết.

Nhưng ở Việt Nam thì nó có nhiều thành công hơn là những chiếc máy bay ném bom Phantom hiện đại nào đó…

Giấy thông hành của chương trình Chiêu Hồi

Từ khi người Mỹ tái phát hiện ra giá trị của một cuộc chiến tranh tâm lý, rất muộn màng nhưng rõ ràng là chưa quá muộn, họ vực “cuộc chiến tranh không vũ khí” dậy với sự thành tâm của các nhà truyền giáo vì hy vọng qua đó sẽ đạt nhiều thành công hơn là với bom đạn: Ở khắp nơi trong nước, các xưởng in dã chiến hiện đại nhất in mỗi ngày hàng triệu truyền đơn, áp phích, sách mỏng, báo và thẻ hồi chánh từ những cái máy in quay. Cuộc “chiến tranh tâm lý” – được khởi động và điều khiển bởi các chuyên gia quân sự và dân sự trên các lãnh vực tâm lý học, kỹ thuật và tuyên truyền – bất thình lình trở thành “vũ khí” nguy hiểm nhất trong cuộc chiến chống du kích đỏ:

Hằng tháng, trên 30 triệu tấm “giấy thông hành” được in ra ở Việt Nam và được ném xuống những vùng đất của Việt Cộng.

Trên 10 triệu tờ báo được phát hành và phân phát không mất tiền cho người dân Việt Nam.

Bốn triệu tấm áp phích với nhiều mô-típ khác nhau hướng đến người dân, tuyên truyền, khai sáng và có những lời khuyên thực tế.

“Không có lĩnh vực nào chung quanh con người mà không được cuộc chiến tranh tâm lý quan tâm tới”, thiếu tá Tom McCaig, chỉ huy “Đại đội Hoạt động Tâm lý 244” ở Đà Nẵng nói. “Từ những lời khuyên y tế qua các chỉ dẫn cho nông dân, để họ có thể tưới nước cho ruộng của họ một cách rẻ tiền nhất và tốt nhất như thế nào – chúng tôi in ra tất cả. Nhưng trước hết là truyền đơn, để cho Việt Cộng thấy rằng tình hình của họ đã trở nên vô vọng ra sao. Bên cạnh đó, người dân được giải thích về từng vụ khủng bố một của Việt Cộng qua hình ảnh và từ ngữ. Chúng tôi có những toán đặc biệt cho những việc này. Họ chạy đi ngay khi có báo cáo về một vụ khủng bố của ở đâu đó. Mười giờ đồng hồ sau là đã có 200.000 truyền đơn in xong để rải. Anh có thể nghĩ Việt Cộng giận dữ cho tới đâu kể từ khi chúng tôi công bố những vụ khủng bố của họ khắp nơi trên đất nước này một cách sinh động như vậy!”

Thiếu tá McCaig không phải là không có lý. Trong một tài liệu của Việt Cộng bị Sư đoàn 1 Bộ binh ở Bình Dương tịch thu có viết: “Chúng ta phải tăng cường kỷ luật ở bộ đội và cán bộ vì hiện nay và trong tương lai, chương trình rải truyền đơn là một trong những chương trình có hiệu quả nhất và nguy hiểm nhất. Biện pháp hết sức xảo quyệt của kẻ thù không được nắm bắt thấu đáo. Chúng ta phải thật nghiêm khắc để bảo đảm rằng tất cả các tờ giấy thông hành được giao ngay lập tức cho ban chỉ huy.”

Vì cả ở bên phía Việt Cộng người ta cũng nói cho nhau biết rằng cho tới hiện nay đã có 66.500 du kích quân của họ đã chạy sang phía chánh phủ…

“Nghe đây, Lincoln – đây là Libra ba. Libra ba gọi Lincoln – xin trả lời.” Tiếng gọi của Đại úy Haffield vừa mới phát vào bầu khí quyển thì câu trả lời đã đến. “Lincoln gọi Libra. Các anh gặp khó khăn à?” – “Không”, Đại úy Haffield nói vào cái mi-crô được gắn vào chiếc mũ phi công như một cánh tay có thể xoay được. “Chúng tôi hiện đang cách vùng Nhái Bén bốn dặm – sẽ xuống độ cao ném truyền đơn. Okay?”

Trước khi câu trả lời của viên sĩ quan dẫn đường đến, chiếc U-10 đã hạ độ cao từ 2000 mét xuống 800 mét. “Sẵn sàng chưa?” viên đại úy hỏi người hạ sĩ quan trong thân chiếc máy bay qua vô tuyến. “Sẵn sàng rồi thưa đại úy – cửa đã mở. Truyền đơn rồi tới giấy thông hành có phải không?” – “Đúng rồi – tôi đếm đây.” Tiếng nói của viên đại úy bây giờ hầu như không còn có thể hiểu được nữa vì cửa đã được mở ra. “Năm, bốn, ba, hai, một – thả xuống!”

Các truyền đơn rơi từng kiện một ra khỏi chiếc máy bay đang bay chậm chậm – từng 10000 tờ một. Viên hạ sĩ quan đá các kiện hàng ra khỏi cửa đã mở ở thân máy bay, nơi chúng – nhờ gió cuốn đi – nhanh chóng tỏa ra thành một tấm thảm rộng lớn bằng những tờ giấy đang bay lượn chập chờn. “Ngày mai chúng nó phải cật lực quét nhà ở dưới kia đấy”, viên hạ sĩ quan nói, rồi báo cáo qua mi-crô: “Xong rồi – Ném xong rồi!” – “Chúng ta chờ thêm vài phút”, đại úy Haffield nói, “rồi bật phát thanh tâm lý lên…”

Nhưng bây giờ thì khu rừng vào ban đêm ấy chợt trở nên sống động – có tia lửa lóe sáng và tiếng súng bắn từ phía dưới tối tăm. “Vô hại”, viên hạ sĩ quan nói, “tất cả đều là súng cá nhân. Bọn nó lẽ ra nên tiết kiệm đạn dược cho các mục đích khác hơn là bắn để lấy can đảm. Rồi anh sẽ thấy – vài phút nữa họ sẽ chấm dứt. Rồi thì những tờ truyền đơn đó sẽ rơi xuống như mưa và họ phải đi thu thập…”

Anh ấy nói đúng, người chiến binh tâm lý: tiếng súng đã dừng lại, chỉ có thể nghe thấy tiếng ồn của động cơ.  Một lần nữa, chiếc U-10 bay một vòng rộng trên khu rừng, rồi có một tiếng nói vang lên, dường như là từ trên thiên đàng…

“Những người anh em”, tiếng nói vang ầm lên từ hai cái loa dưới máy bay. “Gia đình của các anh em và đồng bào chìa tay cho các anh em – hãy quay trở về với đại gia đình của quốc gia. Đừng chần chừ thêm giây phút nào nữa, vì những tay chỉ huy cộng sản khát máu chỉ dẫn các anh em đến một cái chết đáng sợ và vô nghĩa. Các anh em phải phá hủy và đốt cháy quê hương của mình, tổ quốc của mình. Nhưng chúng tôi biết rằng các anh em sẽ không bao giờ tự nguyện làm những việc tàn nhẫn như vậy nếu như không bị các cán bộ Việt Cộng ép buộc. Hãy nghĩ đến người thân của các anh em. Họ yêu mến và đang chờ đợi các anh em. Đừng để bị đẩy vào chỗ chết. Hãy trở về – quê hương sẽ giang tay chào đón các anh em. Các anh em – chúng tôi đang chờ các anh em!”

Ở dưới kia, trong rừng rậm, không có gì chuyển động – không một tiếng động, không một phát súng. Chiếc máy bay bắt đầu lượn thêm một vòng nữa. “Bây giờ bấm số 14 đi”, ông đại úy nói. Viên hạ sĩ bấm nút. Một tiếng trẻ con…

“Cha ơi”, tiếng  nói vang ra từ những cái loa, “cha thương nhớ ơi – cha ở đâu?” Im lặng, không câu nói nào tiếp theo. Chỉ có tiếng ồn của động cơ. Rồi tiếng nói của đứa bé vang lên thêm một lần nữa: “Cha – chúng con rất cô đơn khi không có cha. Mẹ thì bệnh, còn con” – giọng nói khóc nấc lên – “con không có cha. Nhưng con muốn gọi cha mỗi ngày, để cha nghe được tiếng con. Cha ơi – cha ở đâu?” Và rồi thêm một lần nữa: “Cha ơi – hãy trở vể đi – không có cha chúng con cô đơn lắm!”

Giọng nói từ trên trời tựa như một sự hành hạ – nó khoan thật to như một sự hành hình vào khu rừng, vào những ngôi nhà, vào những hầm hố. Tất cả mọi người ở dưới đó sẽ nghe được giọng nói trẻ con này – tiếng gọi đáng sợ của một cô bé gái đang tìm người cha chiến đấu trong hàng ngũ du kích quân.

“Đây là một cuộc chiến thật khốn nạn”, đại úy Haffield nói khi ông chậm chạp trèo ra khỏi chiếc máy bay. “Chính tôi cũng hết sức xúc động vì tiếng nói trẻ con này. Nhưng một khi muốn lôi Việt Cộng ra khỏi rừng rậm thì chúng ta phải đi tới ranh giới của khả năng chịu đựng. Ít nhất thì cũng tốt hơn là bắn chết họ.”

Truyền đơn của chương trình Chiêu Hồi

Tổng hành dinh của cuộc chiến tranh tâm lý này là  “Trung tâm Chiêu Hồi” – trung tâm cho những người bỏ ngũ – trên đường Ngô Thời Nhiệm ở Sài Gòn. Ở đây, những tờ truyền đơn, áp phích và băng ghi âm được phác thảo, những cái có nhiệm vụ dẫn cuộc “Chiến tranh không vũ khí” đi đến thành công. Chiêu Hồi – dựa trên kinh nghiệm của cuộc chiến nhiều năm trong rừng tại Malaysia: Ở đó, việc tiến hành cuộc chiến tranh tâm lý đã góp phần quyết định khiến cho cuộc nổi dậy của du kích quân thất bại. Vì vậy mà đầu 1963, chính phủ Nam Việt Nam quyết định “hỗ trợ bằng mọi phương tiện hiện có cho chiến dịch Chiêu Hồi”.

Nhưng ở Việt Nam là như thế: Sự hào hứng vào lúc ban đầu đã giảm xuống thật nhanh – cái chương trình được khởi động đầy sức mạnh ấy dường như đã nhẹ nhàng đi vào giấc ngàn thu trong mớ bòng bong văn phòng của Sài Gòn. Nếu như năm 1963 người ta còn có thể ghi nhận được 11.248 Việt Cộng rời bỏ hàng ngũ thì năm 1964, con số này đã giảm xuống còn 5417. Chương trình này thiếu một nền tảng rộng lớn cần thiết – và ngoài ra thì dường như Việt Cộng đang tiến đến một chiến thắng quân sự không thể ngăn cản được…

Điều đó đã thay đổi khi Hoa Kỳ quyết định tham chiến ở Nam Việt Nam vào giữa 1965: Việt Cộng bị ngăn chận lại – và ở Sài Gòn người ta lại nhớ đến chương trình Chiêu Hồi. Các chuyên gia tâm lý Nam Việt Nam, từ Mỹ, Philippines và Malaysia cùng nhau cộng tác để phối hợp hàng trăm hoạt động riêng lẻ trên lĩnh vực này. Thành công thật là rực rỡ: 1965 đã có 11.124 người rời bỏ hàng ngũ được ghi nhận, trong khi con số này tăng lên đến 20.242 năm 1966. Cho năm 1967, người ta nhắm tới một mục tiêu mà trước đây một năm còn được cho là chuyện không tưởng: 45.000 Việt Cộng đổi chiến tuyến nhờ vào chiến tranh tâm lý và Chiêu Hồi. Mục tiêu này đã đến trong tầm tay: cho tới 15 tháng 6 năm 1967 đã có 18.565 Việt Cộng đào ngũ. Và theo những kinh nghiệm cho tới nay là con số Chiêu Hồi sẽ tăng cao vào nửa năm sau – mùa mưa làm tan rã tinh thần chiến đấu cho tới nay luôn là đồng minh trung thành nhất của chương trình Chiêu Hồi.

“Tất nhiên, áp lực quân sự vẫn là động cơ chính cho những người đào ngũ”, tổng hành dinh ở Sài Gòn cho biết, “nhưng tính đa dạng của chương trình tâm lý này cũng góp một phần lớn cho thành công. Chỉ riêng con số người đào ngũ của năm 1966 không thôi đã chiếm một phần ba tổng số tổn thất của Việt Cộng, và dường như là trong năm 1967 Việt Cộng đã mất nhiều quân lính qua chương trình Chiêu Hồi nhiều hơn là qua chiến trận. Chi phí tổng cộng của chương trình này – trong tỷ lệ với con số đào ngũ – là 125 dollar cho một người đào ngũ. Cho tới nay thì đây là con đường rẻ tiền nhất để làm suy yếu kẻ địch một cách quyết định. Đặc biệt là khi người ta nghĩ đến việc hai phần ba số Việt Cộng đào ngũ đã mang vũ khí của họ đi theo cùng.”

“Chúng tôi đang đi tuần”, Nguyen Thuong Mai nhớ lại, người chiến đấu bốn năm trời trong rừng rậm như là Việt Cộng trước khi anh đổi chiến tuyến. “Lúc đó có con chim sắt ấy bay đến với những tờ truyền đơn. Lúc đầu chúng tôi nghĩ rằng nó sẽ ném bom xuống chúng tôi, nhưng rồi hàng ngàn tờ giấy rơi xuống chỗ chúng tôi. Hầu như ai trong số chúng tôi cũng giấu đi một tờ, trước khi giao nộp những tờ kia lại theo lệnh. Rồi tôi đọc thật kỹ tờ giấy thông hành đó – và đặc biệt là tờ truyền đơn với những giá cả. Lúc đó, tôi quyết định: đem theo một vài vũ kkhí, bỏ ngũ – thế thì người ta không chỉ cứu được mạng sống của chính mình mà thậm chí còn kiếm tiền được nữa.

Vì sự cám dỗ thì thật là lớn. Mỗi một người bỏ ngũ được bảo đảm những khoản tiền khá lớn nếu như anh ta mang theo vũ khí.

800 đồng cho một khẩu súng lục, 1000 đồng cho một khẩu súng Anh hay Nhật (120 đồng = 4 Mark).

3500 đồng cho một khẩu súng máy loại nhẹ kiểu Bar 24/29.

6300 đồng cho một khẩu súng máy hạng nặng, cỡ 13,2.

10.000 đồng cho một cây súng cối và 12.000 đồng cho một khẩu bazooka.

Ngoài ra, mỗi một người bỏ ngũ sẽ nhận được một khoản tiền sinh hoạt là 24 đồng mỗi ngày (80 Pfennig), 24 đồng nữa cho người vợ cũng như 12 đồng  cho mỗi một đứa con. “Sức thu hút tài chính đóng một vai trò quan trọng”, người ta nói trong Trung tâm Chiêu Hồi ở Sài Gòn, “nhưng đối với chúng tôi thì tiền bạc không thành vấn đề. Vì không có chương trình nào của chúng tôi mà lại cứu sống nhiều người lính ở phía miền Nam như chương trình Chiêu Hồi: Khi người ta mang tỷ lệ tổn thất của hai bên ra so sánh, thì chúng tôi – nếu như chúng tôi tiêu diệt 55.000 người bỏ ngũ cho tới nay – ‘mất’ ít nhất là 7.000 người lính của ‘quân đội Thế giới Tự do’.”

Nhưng mặc dù vậy, ở Sài Gòn người ta vẫn biết: Chiêu Hồi chỉ là một giọt nước nhỏ lên một hòn đá nóng bỏng. Người ta không thể thắng cuộc chiến với những người đào ngũ. Đầu tiên thì phải có trật tự trong ngôi nhà của riêng mình đã, và kinh tế phải phát triển. Việt Nam vẫn còn cách xa cả hai điều ấy. Chỉ có thể nhìn thấy những cố gắng đầu tiên…

 

Hết chương VIII: Chiến lược mới: “Chiến tranh tâm lý”

Phan Ba dịch

Đọc những bài trước đây ở trang Địa ngục xanh Việt Nam

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s