Ngày đảo chánh Ngô Đình Diệm (I)

Vào buổi sáng ngày thứ sáu này, ngày 1 tháng 11 năm 1963 – đó là ngày Lễ Các Thánh – Đại sứ Lodge chế giễu lần cuối cùng tình hữu nghị bảy năm trời giữa nước Mỹ và Ngô Đình Diệm. Ông biết rằng quân đội Việt Nam đang sẵn sàng hủy diệt chính quyền ấy nhưng dù vậy vẫn đến viếng thăm xã giao Diệm theo lệ thường vào lúc mười giờ ở Dinh Gia Long, cùng với Đô đốc Felt. Trong cuộc trao đổi, Diệm đưa ra một nhận xét rằng người Mỹ không nên bất an về làn sóng mới của những “tin đồn” đảo chánh. Tất cả mỉm cười.

Ngay sau chuyến viếng thăm, Felt ra phi trường để trở về Bộ Chỉ huy của ông ở Honolulu. Liệu ông ấy có biết gì về âm mưu đảo chánh hay không, việc này chưa từng được làm sáng tỏ. Lúc ấy, báo chí tường thuật rằng những người lãnh đạo cuộc đảo chánh đã yêu cầu Lodge đừng báo tin cho giới quân đội Mỹ biết về những kế hoạch của họ, vì họ sợ Diệm sẽ được cảnh báo trước. Cuộc đi thăm của Felt trong Dinh phù hợp với các nghi thức ngoại giao bình thường, và thế nào đi nữa thì Lodge cũng phải đi theo, để không gây nghi ngờ từ phía bên Dinh. Điều ấy đặc biệt quan trọng cho trường hợp các nỗ lực đảo chánh mà người ta đang chờ đợi không thành công. Thế nhưng cũng có thể rằng Lodge đóng kịch, để tránh né những câu hỏi không dễ chịu của viên Tổng Chỉ Huy tại Thái Bình Dương. Felt quen biết Diệm từ nhiều năm nay và đã cộng tác chặt chẽ với ông ấy.

Binh sĩ phe đảo chánh đang nả đại liên vào Dinh Gia Long, nơi tạm thời là dinh tổng thống vì Dinh Độc Lập đã hư hỏng nặng sau vụ đảo chánh hụt 1962.

Binh sĩ phe đảo chánh đang nả đại liên vào Dinh Gia Long, nơi tạm thời là dinh tổng thống vì Dinh Độc Lập đã hư hỏng nặng sau vụ đảo chánh hụt 1962.

Những người âm mưu không những đã khéo léo chọn một ngày lễ Công giáo cho cuộc đảo chánh, họ cũng ấn định giờ X là vào lúc một giờ ba mươi trưa, cao điểm của thời gian nghỉ trưa, khi phần lớn người dân ở Sài Gòn thường ngủ trưa và như đường xá trống trải lại cho quân đội tự do di chuyển. Đối với chúng tôi, những người hoàn toàn không biết gì, thì sự ngạc nhiên đúng là toàn hoàn, và rõ ràng đối với chính quyền cũng như vậy, mặc cho vô số những tin đồn trong mấy tháng vừa qua, rằng sắp có một cuộc đảo chánh xảy ra.

Vào lúc một giờ bốn mươi lăm phút, tôi đang ngồi ăn trưa với một người bạn từ sứ quán và vừa mới đặt món cốc lết thịt cừu xuống trước mặt mình khi chiếc điện thoại đổ chuông. Đó là bên Đại Sứ quán, với mẩu tin rằng một đội Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam đã chiếm đóng nhà bưu điện trung tâm. Chúng tôi nên trở về với công việc của mình nếu có thể. Miếng cốc lết cừu bị bỏ lại. Chúng tôi gọi một chiếc tắc xi và nói với ông tài rằng ông ấy hãy chở chúng tôi đến trụ sở của USIS [United States Information Serive – Sở Thông tin Hoa Kỳ] và đến Đại Sứ quán. Ông tài xế biết nói một ít tiếng Pháp và ngay lập tức đã thuật lại rằng đang có “coups de feu” (bắn nhau) ở gần phi trường. Ông ấy nhìn chúng tôi có ý hỏi chúng tôi có biết việc ấy không – có lẽ vì những địa chỉ mà chúng tôi đưa ra cho ông ấy. Chúng tôi hỏi ai đang bắn nhau ở đó. “Ai mà biết được?”, ông ấy nhún vai trả lời, không biểu lộ một cảm xúc nào hết. Đường đi của chúng tôi chạy ngang qua Bưu điện. Ở đó thật sự là đang có nhiều người lính đang đứng trong trang phục chiến đấu đầy đủ, họ đứng quanh quẩn ở cửa ra vào, một hay hai chiếc thiết giáp đỗ ở quảng trường trước đó . Ngoài ra thì thành phố trông vẫn như mọi ngày, nằm ngái ngủ dưới ánh nắng thiêu đốt của mặt trời giữa trưa. Từ văn phòng của mình, tôi gọi điện tới Đại Sứ quán và được nói rằng người ta sẽ thông báo cho tôi biết ngay sau khi có những chỉ thị đặc biệt, ví dụ như đóng cửa văn phòng. Rồi tôi bật ra-đi-ô chọn đài phát thanh quân đội Mỹ. Nó đang chơi bài “White Christmas”.

Trong khoảnh khắc đó, ngay trước hai giờ, những người lính tiến hành chính xác kế hoạch của phe đảo chánh. Nó rất đơn giản: chiếm hai đài phát thanh của thành phố, chiếm các đồn cảnh sát, chận những con đường chính đi ra ngoại ô (ngăn chận các lực lượng trung thành với chính phủ tiến về tiếp ứng – thật ra thì không có lực lượng nào), chiếm Bưu điện Trung tâm, nơi thiết lập kết nối điện thoại và điện tín ra thế giới bên ngoài, chiếm đóng phi trường, chuẩn bị tấn công vào doanh trại của đội bảo vệ Dinh và cuối cùng là cuộc tấn công vào Dinh. Như sau này thấy được, toàn bộ chiến dịch chỉ kéo dài có mười tám tiếng đồng hồ. Nhưng vào lúc đó thì người ta chỉ biết được ít chi tiết.

Đặc trưng cho một trận đánh, một cuộc chiến đấu trên đường phố, sự sụp đổ của luật pháp và trật tự lúc nào cũng là việc hoàn toàn không có thông tin, điều gây bất an, gây lo ngại. Một người bị giam giữ trong một sự lộn xộn như vậy buộc phải cho rằng mình đang gặp nguy hiểm, có lẽ là nguy hiểm chết người, nhưng anh ta không biết đó là nguy hiểm nào và nó đe dọa từ phía nào. Có lẽ tệ hại nhất là ý nghĩ gây bứt rứt, rằng anh ta cần phải làm một điều gì đó, để ngăn chặn thảm họa. Nhưng anh ấy phải làm gì?

Trong vòng mười hay mười lăm phút cô độc đó, một trong những ý nghĩ đầu tiên của tôi là có thể chính quyền đã tự gây ra những sự kiện này. Chúng tôi đã nghe nhiều lần tin đồn, rằng Nhu lập kế hoạch cho cho một cuộc đảo chánh giả, để vạch trần kẻ thù của ông và rồi tiêu diệt họ. Nếu cuộc đảo chánh này là một đảo chánh như thế, thì có một khả năng không mấy dễ chịu, là Nhu lợi dụng sự lộn xộn và xua đám đông người “tự phát” tới các cơ sở của Mỹ (kể cả USIS), như đã từng tuyên bố nhiều lần. Tôi cầm lấy điện thoại. Nó vẫn còn hoạt động. Điều này làm cho tôi cảm thấy an tâm, vì nếu như Nhu vẫn còn giật dây thì có thể dự đoán rằng ông ta sẽ khóa các điện thoại của chúng tôi, như đã làm khi tấn công vào các ngôi chùa hồi tháng 8. Trong những giờ sau đó, tôi tự thấy mình luôn kiểm tra kết nối điện thoại. Âm thanh mời quay số đã trở thành một biểu tượng yếu ớt của sự an toàn ngay giữa chốn kinh hoàng mà chẳng bao lâu nữa sẽ bùng nổ ra.

Đó là một khoảnh khắc đầy sự tương phản. Đài phát thanh Mỹ vẫn tiếp tục chơi nhạc. Không có thông tin nào từ sứ quán. Từ đường xá ở bên ngoài không nghe được tiếng động nào khác thường, không có chuyển động. Tôi ngồi cạnh bàn làm việc của mình và nghĩ về việc Sở Thông tin Mỹ ở Sài Gòn trên thực tế là không hề có thông nào. Chúng tôi chỉ biết rằng chính phủ của nước chủ nhà chúng tôi đang tan rã, và có thể là chính phủ Mỹ đã muốn điều đó. Có thể chỉ là báo động nhầm.

Màn xen kẽ kéo dài không lâu. Đầu tiên là hình dáng đáng hoan nghênh của hai hay ba người lính Thủy Quân Lục Chiến của hạ sĩ Westroms, những người nhanh chóng tiến hành các biện pháp phòng thủ thường lệ và cắt đặt một người đứng gác ở dưới cầu thang, người mà có nhiệm vụ đóng cái cửa bằng thép lại trong trường hợp có một cuộc tấn công. Rồi điện thoại đổ chuông, và giọng nói của một trong số các cô thư ký của chúng tôi, Anne Horne, hỏi bình thản và tỉnh táo một cách đáng khâm phục: “Ông Mecklin, đang có bắn nhau trên đường phố. Tôi có cần đến sở làm không?” Trong lúc nói chuyện, người ta có thể nghe được tiếng súng nổ ở phía sau. Ngôi nhà của USIS bằng bê tông cốt thép, nó được quân đội bảo vệ và có dự trữ lương thực và nước uống. Nếu như việc bắn nhau trên đường phố kéo dài, thì có lẽ là người ta ở đó an toàn hơn là ở trong nhà của tư nhân hay trong một căn hộ. Vì cô Horne không có người thân ở Sài Gòn mà cô phải lo cho họ, nên tôi nói cô nên đến văn phòng, nếu như có thể làm chủ được rủi ro. Cô ấy chờ đến một khoảnh khắc thuận tiện, gọi một chiếc tắc xi và đến văn phòng mà không bị hề hấn gì.

Chẳng bao lâu sau đó, các nhân viên còn lại cũng đến. Vài người cũng có trải nghiệm tương tự. Bắt đầu từ độ hai giờ bốn mươi lăm, trong những khoảng thời gian nhất định, Đài phát thanh Mỹ AFRS loan báo một chỉ thị công khai cho tất cả người Mỹ, họ không nên ra đường và ngoại trừ những công việc khẩn cấp thì nên ở nhà. Người ta nói về “những cuộc bạo loạn” dân sự. Xen giữa những lần thông báo là nhạc giải trí. Vào khoảng thời gian này, những người nổi dậy đã chiếm đóng cơ sở phát thanh quan trọng nhất trong Sài Gòn và đã phát đi một loạt tuyên cáo. Chúng chứa đựng nhiều lời xúc phạm nặng nề đối với chính quyền Diệm cũng như nhiều chỉ thị cho người dân.

Bất thình lình, không khí âm vang tiếng súng bắn dữ dội. Một người lính Thủy Quân Lục Chiến thò đầu ra cửa sổ và nói to. “Đó là một chiếc máy bay. Nó đang tấn công Dinh. Rốc- két!” Súng phòng không đặt trong khuôn viên của Dinh bắn trả. Một trong những trái rốc-két bay trúng vào doanh trại của lực lượng Thủy Quân Lục Chiến nằm cách Dinh chỉ hai dãy phố. May mắn là toàn bộ những người lính đều đang phục vụ trong thành phố, và chỉ có giường và đồ dùng cá nhân của một người lính bị tiêu hủy. Cuộc tấn công khiến chúng tôi nhớ lại rằng văn phòng của chúng tôi nằm cách Dinh cũng chỉ chừng hai trăm mét. Đó là ngôi nhà nằm kế cận Dinh ngoại trừ ngôi nhà là chỗ ở cho các sĩ quan không có gia đình, được gọi là “Rex”. Nếu như đây thật sự là một cuộc đảo chánh – việc vẫn còn chưa chắn chắn – thì điều này có nghĩa là phải xảy ra chiến sự ác liệt ở gần chỗ chúng tôi. Và chính xác điều đó đã xảy ra.

Vào lúc này, ba giờ chiều, trong văn phòng tôi đầy người; hai mươi đến ba mươi nhà báo, lính Thủy Quân Lục Chiến, nhân viên của USIS và nhiều người tôi không quen biết đã tới đây.

Hai chiếc xe tăng chạy ra quảng trường trước tòa nhà chúng tôi. Chúng tôi hoàn toàn không biết đó là những người nổi dậy hay trung thành với chính phủ, có lẽ khả năng thứ nhì là nhiều hơn. Hai chiếc tăng tiến song song với nhau vào vị trí để kiểm soát đại lộ Lê Lợi, con đường có hàng cây hai bên và dẫn đến ngôi chợ trung tâm cách đó nửa dặm và rồi từ đó tiếp tục nhiều dặm nữa vào Chợ Lớn, khu phố của người Hoa ở Sài Gòn. Giao thông trên đường phố hầu như không có, nhưng trên lề đường thì đầy người dân đang chăm chú theo dõi diễn tiến.

Không cảnh báo trước, hai chiếc xe tăng bắn hầu như đồng thời, gần như là theo chiều ngang, theo hướng đại lộ Lê Lợi. Đây là trung tâm của Sài Gòn. Nó giống như người ta bố trí một chiếc xe tăng tại Times Sqare ở New York và bắn xuống Broadway vậy. Người dân nằm rạp xuống đường, họ chen nhau chạy vào bên trong các cổng nhà và cửa hàng, chạy qua góc đường và co rúm người lại vì sợ hãi.

Ngay trên đồng trống, tiếng súng của một khẩu pháo hạng nặng cũng đã khiến cho người ta cảm thấy sợ hãi. Trên những con đường chật hẹp của một thành phố, nơi tiếng nổ dội lại từ tường nhà, thì nó thật đáng sợ. Lực nổ dập vào tường nhà và cửa sổ như quả đấm của một người khổng lồ kiêu ngạo, lỗ mãng. Tiếng nổ to cho tới mức nó có thể làm rách màng nhĩ. Cuộc sống dân sự có trật tự bị phá rối bằng một cách hoang dại, dã man, khó có thể tưởng tượng được. Lực nổ, mùi hăng của thuốc súng thật là đáng sợ.

Chúng tôi không thể xác định được là hai chiếc xe tăng bắn đi đâu. (Sau này, chúng tôi biết rằng có thể đó là những đơn vị đảo chánh đã chiếm đồn cảnh sát trên đường Lê Lợi cách đó một dặm. Hai chiếc xe tăng muốn ngăn chận không cho họ tiếp cận Dinh.) Thế nhưng trong bất cứ khoảnh khắc nào cũng có thể có ai đó bắn trả. Trong trường hợp này thì các mục tiêu chỉ cách lối vào của chúng tôi chừng mười mét. Giờ đây thì dường như đã rõ ràng rằng đây là việc nghiêm trọng thật sự. Vì vậy mà chúng tôi ra lệnh di tản tòa nhà USIS ngay lập tức, với một hạn chế là nếu ai muốn ở lại đây hơn thì vẫn có thể ở lại. Trong khi tòa nhà chúng tôi cứ vài ba giây là lung lay một lần vì những phát súng, hầu hết các nhân viên người Việt của chúng tôi và phần lớn những nhân viên người Mỹ có gia đình đều đi về nhà.

Súng bắn còn kéo dài thêm nửa giờ. Trong lúc đó, chúng tôi đã kết nối được một máy bộ đàm vào một mạng vô tuyến khẩn cấp của người Mỹ. Trong khi cũng nghe được tiếng súng nổ từ trong loa phát ra, một giọng nói hỏi đi hỏi lại: “Đây là Buster. Horatio ở đâu? Nhắc lại: Horatio ở đâu?” Horation là một mật danh (do tôi nghĩ ra và được sử dụng để thay thế cho tên gọi chính thức) của đại sứ Lodge. Sau này mới biết rằng đã có một sự lộn xộn trong liên kết vô tuyến. Lodge an toàn ở trong nhà riêng của ông ấy, nơi mà ông ấy đã ở lại đó trong suốt cuộc đảo chánh, trong khi người phó của ông, William Trueheart, điều hành Đại Sứ quán. Nhưng cho tới khi tôi có được liên kết điện thoại với Sứ quán thì thêm vào trong sự lộn xộn đó là ý nghĩ có thể ông đại sứ đã gặp phải chuyện gì.

Ngay trong sự lộn xộn đó, một cô thông tín viên của một tờ báo Âu châu, người mới vừa tới Sài Gòn ngày hôm qua, hồi hộp nhét vào tay tôi một tờ giấy. “Đây là địa chỉ mẹ tôi”, cô ấy nói. “Ông viết cho bà ấy chứ? Nếu như có chuyện gì xảy ra.”

Tôi đi một vòng trong nhà. Trong thư viện ở tầng trệt, chỉ được bảo vệ bởi một cửa sổ bằng kính, tôi nhìn thấy ba mươi đến bốn mươi người Việt đã từ ngoài đường vào đây để tìm chỗ ẩn nấp. Phần lớn đều sợ hãi nằm rạp xuống sàn nhà trong khi cứ mười, mười lăm phút là lực nổ lại dập vào cửa sổ. Có một người lính Thủy Quân Lục Chiến ở đây. “Tôi phải gì với họ bây giờ?” anh ấy hỏi. Chúng tôi quyết định mang những người này vào một văn phòng phía bên trong của tòa nhà, nơi ít bị rủi ro thương tích từ những mảnh kính vỡ hơn. Tôi chỉ vào cánh cửa phòng và hét to “Đi, Đi”, nhưng họ không nhúc nhích; rõ ràng là họ nghĩ rằng tôi muốn đuổi họ ra đường. Cuối cùng, một em trai hiểu được tôi muốn nói gì và đã vận động được những người khác rời gian phòng.

Trong khoảng bốn giờ ba mươi tới năm giờ, hai chiếc xe tăng ngưng bắn và biến mất. Ở phía xa thỉnh thoảng vẫn còn có tiếng súng bắn. Có vẻ khá chắc chắn là người ta đang cố gắng thật sự để tiêu diệt chính quyền của Diệm – điều mà hy vọng rằng sẽ đồng nghĩa với việc sẽ không có một cuộc tấn công trực tiếp vào tòa nhà của chúng tôi –, nhưng việc thiếu tin tức về các sự kiện càng lúc càng trở nên khó chịu hơn. Ví dụ như chúng tôi hoàn toàn không biết rằng ai là người chiến thắng, chúng tôi chỉ biết rằng những người đảo chánh đã chiếm đài phát thanh. Ngoại trừ những người lính Thủy Quân Lục Chiến, những người khách đã rời chúng tôi. Tòa nhà chúng tôi và đường xá trên thực tế là không có một bóng người. Điện thoại của chúng tôi câm lặng. Chúng tôi có cảm giác như đang ở trong phòng chờ của một bảo sanh viện.

David Sheppard, phó Phòng Thông tin của chúng tôi, cho rằng nhiều lắm là tôi có thể làm được việc gì đó ở Đại Sứ quán, nơi đã trở thành sở chỉ huy cho tất cả người Mỹ. Anh đề nghị tự mình sẽ “ở lại để trông nom điện thoại” trong tòa nhà USIS (tức là để giúp những người lính Thủy Quân Lục Chiến bảo vệ ngôi nhà). Trong hoàn cảnh hiện giờ thì đó rõ ràng là một lời đề nghị có lý và may mắn thay là đến từ phía anh ấy.

(Còn tiếp)

Phan Ba dịch từ sách “Mission in Tormen”, John Mecklin, Chương 8 “Những thay đổi nhân sự”

Đọc bài tiếp theo: Ngày đảo chánh Ngô Đình Diệm (II)

One thought on “Ngày đảo chánh Ngô Đình Diệm (I)

  1. Pingback: Ngày đảo chánh Ngô Đình Diệm (II) – Phan Ba's Blog

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s