Ngày 27 tháng 4: Năm tình nguyện viên của Hội từ thiện Malteser bị bắt

Tổ chức Die Malteser ở Đức là một tổ chức từ thiện của Công giáo, vận hành nhiều cơ sở phúc lợi y tế và xã hội dưới sự bảo trợ của Hiệp hội Dòng tu Malta Đức. Năm 1966, do không muốn trực tiếp gửi quân sang tham chiến theo như lời yêu cầu của Hoa Kỳ, chính phủ Đức dưới quyền Thủ tướng Ludwig Ehrhard cuối cùng đã thỏa thuận được với Tổng thống Johnson rằng nước Đức, ngoài việc tài trợ, sẽ tổ chức các hoạt động nhân đạo ở Việt Nam. Song song với việc hỗ trợ Hội Hồng Thập Tự Đức gửi chiếc tàu bệnh viện Helgoland sang Việt Nam, chính phủ Đức cũng đứng ra bảo trợ để Hội từ thiện Malteser thành lập và điều hành ba bệnh viện ở Đà Nẵng, Hội An và An Hòa.

Monika Swinn và Bernhard Diehl vào ngày 7 tháng 3 năm 1973 sau khi được trả tự do

Monika Swinn và Bernhard Diehl vào ngày 7 tháng 3 năm 1973 sau khi được trả tự do

Vào ngày chủ nhật 27 tháng 4 năm 1969 đó, năm nhân viên của Hội gồm cô Marie-Luise Kerber (lúc bị bắt mới 19 tuổi), cô Hindrika Kortmann (28), cô Monika Schwinn (27), anh Georg Bartsch (25) và anh Bernhard Diehl (23) đã cùng nhau tổ chức một chuyến đi dã ngoại trong ngày. Để bảo đảm an ninh, trước khi xuất phát trên một chiếc xe Jeep của Hội, họ đều mặc đồng phục của Hội Malteser[i]. Một ông nông dân già đã lường gạt nhóm người này bằng cách nói rằng muốn dẫn họ đến chỗ người bệnh. “Ông ta không cười nữa, ông ta là một người hoàn toàn khác, gương mặt ông ấy đầy nỗi lo âu, ông ấy nói và khoa tay: ‘Ốm! Ốm! Ốm!’ Và trong lúc đó ông ấy chỉ tay về một hướng khác, đi xa khỏi ngôi làng mà chúng tôi muốn đến đó. Và cái từ đó luôn phát ra từ đôi môi của ông ấy.”[ii] Từ “ốm” là từ tiếng Việt đầu tiên mà cô Monika Schwinn học được từ những cha mẹ người Việt bế đứa con đang ốm đau đến bệnh viện.

“Đối với tôi thì không còn gì để nghi ngờ nữa, đối với tôi thì đã rõ ràng, ngay từ khoảnh khắc đầu tiên, rằng chúng tôi phải giúp đỡ ông nông dân này, vì nếu không thì chúng tôi đến đất nước này để làm gì. Chúng tôi không thể từ chối việc đó! Vì những người khác ngần ngừ, họ lưỡng lự. … Chúng tôi đi với nỗi lo ngại càng lúc càng lớn hơn, vì ông ấy dẫn chúng tôi đi rời đường lộ, càng lúc càng rời xa ngôi làng đó, và cuối cùng thì chúng tôi đứng lại. … Ông ta thật sự là đã thúc chúng tôi, nổ lực làm việc ấy; chỉ thiếu chút nữa là ông đã đẩy chúng tôi, xô chúng tôi, lao vào sườn, tựa như một con chó mà những con cừu của nó không làm đúng theo ý của nó.

Tất cả chúng tôi đều bắt đầu e ngại, đột nhiên nghi ngờ. Chúng tôi bàn bạc và quyết định không đi tiếp nữa. Nhưng chúng tôi muốn chờ ở đây, chúng tôi cố làm cho ông ấy hiểu rằng ông ấy phải mang người bệnh đến chỗ chúng tôi, đến đây.

Thế là ông nông dân bắt đầu hét lên. Với một giọng cao, khản đi vài lần. Rồi ông ta đưa hai ngón tay vào cái miệng không còn răng và huýt sáo. Và rồi bất thình lình có một người đứng ở đó với một khẩu súng.

Cho tới bây giờ tôi vẫn nhớ rõ anh ta, đã xuất hiện từ đám cỏ cao như thế nào, khẩu súng trong tư thế sẵn sàng bắn. … và khi quay lại, tôi nhìn thấy rằng người này không đi một mình. Có hai người khác đi cùng với anh ta, cả họ cũng mang những khẩu súng trường màu đen.”[iii]

Họ bị hỏi cung, bị tra tấn, hầu như không có gì để ăn, bị biệt giam. Marie-Luise Kerber, Hindrika Kortmann và Georg Bartsch đã chết trong thời gian bị bắt giữ. Monika Schwinn và Bernhard Diehl sống sót được qua 4 năm ngục tù ở nhiều trại giam khác nhau, phải đi bộ ra miền Bắc và chỉ được trả tự do cùng với các tù binh Mỹ sau Hiệp định Paris năm 1973.

Monika Schwinn sau đó trở lại làm y tá , chăm sóc trẻ sơ sinh.  Bà cũng giúp đỡ khi những người Việt tỵ nạn đến thành phố bà. Như là một điều hoàn toàn tất nhiên. Monika Schwinn qua đời ngày 11 tháng 3 năm 2019, hưởng thọ 79 tuổi[iv].

Ông Bernhard Diehl sau này trở thành tiến sĩ y khoa chuyên ngành tâm lý học. Năm 2013, gần 40 năm sau chiến tranh, ông đã gửi đơn khiếu nại lên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Nhà bác sĩ tâm lý học yêu cầu chính phủ Hà Nội trao trả lại cho ông các ghi chép và những bài thơ ông làm trong tù, những thứ đã bị tịch thu lúc ông được trả tự do[v].

Sau 1975, Bệnh viện Việt – Đức Đà Nẵng do Hội Malteser xây năm 1968 được giành riêng để chăm sóc sức khỏe cho cán bộ Khu 5, được đặt tên mới là Bệnh viện C (Đà Nẵng)[vi].

Chỉ tính riêng năm 1972, trong Bệnh viện Malteser tại Đà Nẵng có 52 bác sĩ, y tá và chuyên viên kỹ thuật hoạt động, tiến hành 5967 cuộc phẫu thuật, điều trị ngoại trú 96.279 lần và nội trú 5046 lần.[vii] Từ tháng 9 năm 1966 cho tới tháng 3 năm 1975, có tổng cộng 303 nhân viên của Hội Malteser đã làm việc ở Việt Nam. Mãi đến năm 1989 Hội Malteser mới quay trở lại Việt Nam với các hoạt động từ thiện[viii].

Phan Ba

Đọc những bài khác ở trang: Ngày Này Năm Xưa


[i] https://www.spiegel.de/spiegel/print/d-42645227.html

[ii] Monika Schwinn/Bernhard Diehl, Eine Handvoll Menschlichkeit, Droemersche Verlagsanstalt, München/Zürich 1973, trang. 13.

[iii] Schwinn/Diehl, trang 14 và tiếp theo.

[iv] https://www.saarbruecker-zeitung.de/saarland/heimat/die-saarlaendische-kinderkrankenschwester-war-vier-jahre-lang-in-vietnam-gefangen_aid-37440229

[v] https://www.focus.de/politik/ausland/vier-jahre-in-einzelhaft-im-vietnamkrieg-entfuehrter-deutscher-klagt_aid_1134330.html

[vi] https://bvcdn.org.vn/en/component/content/article/86-tin-tuc/tin-n-i-b/284-h-i-malteser-international-c-ng-hoa-d-c-v-tham-l-i-b-nh-vi-n-c-da-n-ng-sau-hon-40-nam-d-t-n-n-mong-t-i-day.html?Itemid=522

[vii] https://www.zeit.de/1973/13/vom-vietcong-verschont/seite-2

[viii] https://www.malteser-international.org/de/hilfe-weltweit/asien/vietnam/uniformen-mussten-draussen-bleiben.html

 

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s