Từ theo cộng đến chống cộng (69): “Ngẫm nhân sự cớ chi ra thế” (Nguyễn Gia Thiều)

Biết tôi đang làm thủ tục nghỉ hưu, nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải góp ý: “Anh nên bàn với anh em báo Lao Động cho tiếp tục sinh hoạt đảng ở chi bộ cơ quan, với điều kiện không dự những buổi họp bàn công việc. Nếu chuyển về địa phương, anh sẽ mất rất nhiều thời gian hội họp”. Lúc này tổng bí thư Đỗ Mười đang kêu gọi hướng về cơ sở, xây dựng cơ sở vững mạnh. Tôi nghĩ, mình nên cùng sinh hoạt với cơ sở đảng ở địa phương để biết rõ “sức khỏe” của đảng, của chế độ.

Từ theo cộng đến chống cộng

Từ theo cộng đến chống cộng

Hai vợ chồng tôi gom góp tiền tiết kiệm xin hóa giá ngôi nhà nhỏ xíu diện tích 30m2 bên cạnh chùa Thiện Hạnh, đường Đinh Tiên Hoàng. Phòng nhà đất Quận 1 bảo con hẻm trước nhà tôi theo quy hoạch sẽ mở rộng 10m. Do đó, nếu muốn được hóa giá, chúng tôi phải viết bản cam kết khi nào mở rộng hẻm thì tự nguyện để cắt sâu vào sân 3 mét tức là gần mất cái sân nhỏ dưới giàn hoa ti gôn! Ngày 20 tháng 6 năm 1966 chúng tôi treo bảng rao bán nhà, lập tức được nhà bên cạnh mua ngay và cho chúng tôi được ở lại ba tháng. Khi tôi viết những dòng này, 25 năm đã qua, con hẻm ấy vẫn còn y như cũ. Đây là một nét minh họa tình trạng quy hoạch treo làm khổ nhân dân cả nước mấy chục năm qua.

Sau đó, các con chúng tôi cho mảnh ruộng 200 mét ở Khu phố 4, phường Tân Kiểng, Quận 7 để xây ngôi nhà mới. Dò hỏi một bà con quanh vùng, được biết: Nếu xin giấy phép xây dựng thì phải lót tay và chầu chực không biết đến bao giờ. Tất cả bà con ở đây đều xây chui, không có giấy phép. Anh bạn trẻ tên là Cường đã xây ngôi nhà bên cạnh miếng đất của tôi, truyền kinh nghiệm: Khi có đoàn kiểm tra tới thì đưa cho họ một phong bì “trà nước”, vậy là sẽ được “thông cảm” cho tiếp tục thi công. Tôi tìm đến nhà anh Tư, trưởng ấp (lúc này còn chưa gọi là khu phố) hỏi ý kiến. Anh Tư bảo cứ làm như bà con là được, vì từ khi anh làm trưởng ấp tới nay, chưa có ai xây nhà có giấy phép cả!

Tháng 10 năm 1997 chúng tôi ký hợp đồng với ông thầu Thạnh (ở Quận 10). Công việc suôn sẻ khoảng hai tuần thì một buổi trưa, thầu Thạnh tới. Ông cho xem “biên bản đình chỉ thi công” do ông Dương Văn Gấu, chủ tịch phường Tân Kiểng ký. Tôi hết sức lo lắng, vì lần đầu tiên trong đời mình đã làm một việc không đúng pháp luật. Thầu Thạnh bình thản nói: “Tôi báo tin là để anh chị biết có chuyện như vậy thôi, chứ không có gì đáng lo đâu. Tôi nhận thầu xây nhà khắp thành phố này và nhiều tỉnh khác nữa, Ở đâu cũng vậy thôi. Chiều nay, tôi sẽ giải quyết xong, sáng mai tiếp tục thi công bình thường. Anh chị đừng lo lắng!” Tôi ngạc nhiên hỏi: “Anh định giải quyết cách nào?” Ông Thạnh đáp: “Anh chị cứ yên tâm. Xong việc, tôi sẽ kể đầu đuôi với anh chị”. Suốt buổi chiều lòng bứt rứt tôi ngồi chờ tin ông thầu Thạnh. Khoảng 5 giờ chiều, thầu Thạnh gõ cửa, bước vào với nụ cười và báo tin sáng mai tiếp tục thi công bình thường và đảm bảo từ nay cho tới khi hoàn thành công trình, sẽ không còn bị dòm ngó gì nữa. Tôi ngạc nhiên hỏi anh làm sao xong chóng vánh như vậy. Thầu Thạnh vui vẻ kể: “Tôi đến trụ sở phường, gặp thằng Nguyễn Hoài Phong phụ trách quản lý đô thị, đưa cho nó cái phong bì nặng, vậy là xong”. Tôi vẫn thắc mắc: “Biên bản đình chỉ thi công là do Chủ tịch Dương Văn Gấu ký mà?” Thầu Thạnh nói với giọng miệt thị: “Tôi chẳng cần biết thằng Dương Văn Gấu mặt tròn hay méo! Chỉ cần đưa thằng Nguyễn Hoài Phong cái phong bì nặng, cho cha con nhà nó chia nhau”. Tôi hiểu ra: Thầu Thạnh đến báo chuyện bị lập biên bản đình chỉ thi công, không phải vì lo sợ việc xây dựng bị ách tắc mà chỉ là để tôi biết ông đã phải chi một phong bì nặng ngoài hợp đồng. Dù vậy, lòng tôi vẫn ấy náy không yên: Mình là một cán bộ, đảng viên suốt đời trao dồi đạo đức cách mạng, nay lại theo đuôi quần chúng, xây nhà không xin giấy phép! Còn đau hơn nữa khi được biết, chỉ cần bỏ ra một phong bì nặng thì cái chính quyền cách mạng ở cơ sở dễ dàng “cha con nhà nó chia nhau”, vứt bỏ luật pháp! Đây chỉ là chuyện cá biệt hay đó là hình ảnh thu nhỏ của cả nước?

Nhà xây xong, tôi chuyển sinh hoạt Đảng về nơi ở mới. Mấy tháng sau, chi bộ khu phố đến kỳ đại hội. Biết tôi là nhà báo, anh Ba Lợi (nguyên phó chủ tịch huyện, sau khi về hưu được bầu làm bí thư chi bộ khu phố) gợi ý tôi đọc tham luận tại đại hội. Tôi nhận lời, đọc bản tham luận có nội dung: Mọi sai trái, vi phạm luật pháp xảy ra ở địa phương không phải vì quản lý lỏng lẻo. Từ chuyện lấn chiếm lòng lề đường, đến đá gà ăn tiền, đánh bạc, xây nhà không giấy phép… đều có sự thỏa thuận ngầm giữa cán bộ phụ trách với người dân bằng một khoản lót tay nhỏ, hoặc lớn. Khi tôi dứt lời, thật bất ngờ cả hội trường vỗ tay hoan nghênh. Tôi ngước nhìn, ông Dương Văn Gấu đang ngồi trên đoàn chủ tịch đại hội, mặt bợt bạt. Lúc nghỉ giải lao, một đồng chí mái tóc muối tiêu, đến bắt tay tôi, tự giới thiệu: “Tôi là Xuân bí thư chi bộ khu phố 3, là khách mời của đại hội chi bộ khu phố 4, tôi rất tán thành bài phát biểu của đồng chí. Lâu nay ai cũng biết, nhưng lờ đi như không biết”. Nghe vậy, tôi chột dạ: “Vậy là mình động vào tổ ong rồi!” Ít lâu sau, tôi được biết, bí thư Xuân thích bài phát biểu của tôi là vì anh cũng đã từng bị anh Nguyễn Hoài Phong vòi tiền khi làm giấy tờ đất đai và xây nhà. Bí thư Xuân mua được miếng đất ruộng rất lớn với giá rẻ, anh nhờ Phong giúp thủ tục “chuyển mục đích sử dụng” thành đất thổ cư. Phong bảo, muốn được giải quyết chuyện này phải qua một đường dây gồm rất nhiều người, do đó bí thư Xuân phải trao tay đợt đầu 300 triệu đồng. Bí thư Xuân không chịu, vì cho rằng mức vòi vĩnh đó quá đáng. Sau đó, bí thư Xuân tìm được người có máu mặt làm môi giới, bán đất cho công ty HA. Công ty này ngay lập tức thực hiện dự án xây dựng chung cư trên khu đất ruộng ấy. Bí thư Xuân cho biết, công ty HA đã phải chi một khoản tiền lớn để mua đường dây gồm nhiều người, trong đó tức nhiên có phần của Phong.

Bên cạnh nhà tôi, anh Thông người láng giềng mới, vừa xây xong nhà (cũng không giấy phép, nhưng không bị đình chỉ thi công, vì anh luôn có mặt kịp đưa phong bì). Gặp tôi ở trụ sở phường, anh khoe đã tới kho bạc quận nộp phạt về việc xây nhà không giấy phép và đã đóng thuế trước bạ xong. Tôi hỏi “kinh nghiệm” của người đi trước. Anh cười đó, cũng không có gì phức tạp lắm đâu, anh cứ đặt lên cặp giấy tờ một phong bì chừng vài trăm, thì nó sẽ chạy nhanh, xong sớm. Phong đứng cạnh đấy nghe chuyện, đã thân mật gợi ý tôi: “Bác ạ, mai cháu có việc đến hai nơi đó. Bác đưa tiền nộp phạt, tiền thuế và các giấy tờ, cháu đi đóng thuế dùm bác, không cần phong bì đâu”. Sở dĩ Phong tử tế như vậy vì anh đã biết tôi là một đảng viên lão thành, giúp tôi để “làm hòa” chuyện đã cầm “phong bì nặng”.

Hai tháng sau, trong cuộc họp thường kỳ, bí thư chi bộ báo tin: Đảng ủy phường gửi anh Nguyễn Hoài Phong, một cán bộ xuất sắc phụ trách quản lý đô thị, xuống cho chi bộ khu phố chúng ta bồi dưỡng kết nạp vào Đảng! Bí thư nói thêm ý nghĩa của việc này: “Đó là đảng ủy giúp chúng ta có điều kiện thực hiện được chỉ tiêu phải phát triển một đảng viên mới trong nhiệm kỳ này như Nghị quyết Đại hội Chi bộ đã ghi”. Cả chi bộ đều tỏ ra vui mừng đối với việc này, chỉ riêng tôi băn khoăn: Một anh nhận “phong bì nặng” bán rẻ luật pháp lại là cán bộ xuất sắc của phường ư? Mình có thể giơ tay tán thành cho một kẻ lợi dụng chức quyền, tham nhũng vào Đảng ư? Nhưng dính với anh ta còn có cả phó bí thư đảng ủy kiêm chủ tịch phường Dương Văn Gấu nữa thì làm sao đây? Suốt cuộc họp lòng tôi rối bời vì chuyện này.

Tan cuộc họp, Tôi hẹn gặp anh Căn, trung úy quân tình nguyện Campuchia, người tôi quen đầu tiên khi về đây, để trao đổi chuyện này. Nghe tôi kể xong, anh Căn nói ngay: “Tôi xin anh hãy im lặng trong chuyện này, vì hai lý do. Một là, chuyện như anh kể không phải cá biệt, ở đâu cũng có, ngày nào cũng có. Có lẽ vì đồng lương cán bộ thấp quá? Anh nghĩ xem, lương Nguyễn Hoài Phong chỉ vài trăm ngàn, anh ta có vợ, có con, làm sao mà sống? Hai là, chuyện đưa phong bì đâu có làm biên nhận, vậy không có bằng cớ buộc tội được! Nếu đưa chuyện này ra là anh tuyên chiến với cả đảng ủy, ủy ban phường này, có thể là cả quận này, thành phố này. Chắc chắn anh thua và phải bán nhà mà đi”. Anh Căn, một trung uý về hưu, đang ngày ngày ngồi bên vệ đường bán thuốc lá kiếm thêm để sống. Ý kiến của anh hoàn toàn vô tư. Vợ tôi nói, anh Căn nói đúng đấy! Đây là sản phẩm của “cơ chế” nói cho đúng là của chế độ. Chống Nguyễn hoài Phong không giải quyết được gì, mà chỉ làm rối tung lên, rối tung ngay cả cuộc sống của chính mình! Tôi chợt nghĩ, hay là gửi thư báo cho anh Phạm Thế Duyệt, đang là thường trực Bộ Chính trị, người tôi quen thân, xem anh ấy có ý kiến gì? Tôi đem ý định này bạn với mấy người bạn, người nào cũng cười ngất: “Ông ơi, đừng phí công vô ích! Các vị ấy họ có thông tin còn nhiều hơn ông gấp trăm lần!”

Hôm chi bộ thông qua lý lịch và đơn xin vào Đảng của Nguyễn Hoài Phong, tất cả những người phát biểu ý kiến đều khen anh ta là một cán bộ tốt, chịu khó, đi sâu, đi sát, giải quyết kịp thời những vướng mắc của nhân dân về nhà đất. Anh Chín Thành, một trong hai người giới thiệu Nguyễn Hoài Phong vào Đảng đọc lý lịch của mình trước chi bộ, tôi nhận ra anh là bạn đồng ngũ từ năm 1950 ở Đại đội Thông tin Liên lạc Bộ Tư lệnh Liên Phân khu miền Tây Nam bộ thời chống Pháp. Sau cuộc họp, tôi kéo anh Chín Thành ra ngoài để nhận đồng đội: “Tôi với anh là đồng ngũ mà qua nửa năm sinh hoạt chung chi bộ, chẳng nhận ra nhau! Đố anh nhớ tên ông đại đội trưởng của tụi mình?” Anh Chín Thành cười đáp: “Làm sao quên được! Đại đội trưởng Đặng Ngọc Tấn!” Tôi đem chuyện cái “phong bì nặng” kể cho anh Chín Thành nghe để xem ý anh thế nào. Lạ thay, anh Chín Thành không hề ngạc nhiên: “Cậu ơi, với đồng lương chết đói, nó phải kiếm chác chút đỉnh để sống mà!” Anh còn thân tình tỉ tê: “Tiếc quá, lúc mình còn làm bí thư đảng ủy xã Tân Thuận Tây, sao cậu không về! Nếu cậu về lúc đó, mình sẽ cắt cho cậu vài ba trăm mét đất làm nhà đỡ tốn tiền mua”.

Tôi vô cùng ngạc nhiên, chao ơi, ông bí thư đảng ủy một xã đã có thể cấp đất cho đồng đội cũ một cách dễ dàng vậy sao! Mấy ngày sau, đồng chí Út Kỷ đảng viên trong chi bộ (nguyên phó chủ tịch huyện Nhà Bè) mời tôi đến nhà chơi. Trò chuyện với anh, tôi mới biết tất cả những đồng chí lão thành cách mạng ở chi bộ này đều được chia đất. Họ so kè với nhau, bới móc nhau, anh này bảo anh nọ được miếng đất rộng hơn mình. Anh nọ bảo anh kia lấn ranh đất của mình. Có hai cặp ở sát nhau, tranh chấp ranh đất, đến nỗi coi nhau như kẻ thù. Nhiều lần họ đưa ra chi bộ yêu cầu phân xử. Anh Út Kỷ mời tôi tới nhà là để kéo tôi về phe anh, giành một phiếu trong cuộc họp chi bộ sắp tới. Để nghe cả hai phía, tôi ghé thăm anh Lê Duyên Hải đảng viên, nhà bên cạnh Út Kỷ. Tôi không cần gợi chuyện, Lê Duyên Hải đã dắt tôi ra đầu nhà xem bức tường đầu hồi bị nứt một đường dài. Anh cho biết, do bên Út Kỷ đào móng gần sát, gây chấn động mạnh làm nứt. Anh đã yêu cầu anh Út Kỷ cho thợ sửa vết nứt, nhưng bị từ chối với lý lẽ: Móng nhà của Út Kỷ đào bên đất của Út Kỷ, vậy tại sao Út Kỷ phải chịu trách nhiệm về tường nhà Lê Duyên Hải bị nứt?! Nghe chuyện tranh chấp đôi co giữa hai đảng viên cộng sản mà sao giống như hai đứa trẻ lên ba! Trong chi bộ có chuyện lủng củng của đôi vợ chồng anh Tám Mon, chồng có huy hiệu 60 tuổi đảng, vợ huy hiệu 50 tuổi đảng. Họ lục đục nhau liên miên chỉ vì chị chê anh: “Chồng người ta khôn ngoan biết chạy chọt, cho nên được nhà cao, đất rộng, còn ông quá đụt, cho nên nhà ở trong hẻm lại hẹp, không có sân”. Đôi lần họ đòi đưa nhau ra tòa ly dị. Chi bộ hóa giải không xong, nhưng chỉ khi bí thư chi bộ dọa: “Hai đồng chí đưa đơn ra tòa là làm mất tư cách đảng viên, không xứng đáng với vinh dự 60, 50 tuổi đảng”. Nghe vậy cả hai đều sợ, ra tòa xin cho rút đơn, không ly dị nữa!

Trong các cuộc họp chi bộ khu phố bốn, tôi để ý anh Lê Ngọc Tưởng, nguyên ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy quận này từ sau tháng 5-1975. Anh là người có những ý kiến công tâm, xác đáng. Anh Lê Ngọc Tưởng xin nghỉ hưu trước tuổi, lập hợp tác xã Chiếu Cói xuất khẩu, giải quyết việc làm cho hơn 100 lao động nghèo trong khu phố. Chi bộ coi anh như một điển hình tiên tiến trong thời kỳ mới. Khoảng tháng 3 năm 2001, xảy ra chuyện căng thẳng giữa anh với Quận ủy và ủy ban Nhân dân Quận 7. Chuyện bắt đầu khi công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Nam sắp chấm dứt hợp đồng thuê nhà xưởng của hợp tác xã Chiếu Cói vào ngày 30-9-2001, nhưng không chịu thanh lý hợp đồng mà gửi thư cho Ủy ban Nhân dân Quận, xin thuê lại, hoặc mua trực tiếp với chính quyền quận. Anh Lê Ngọc Tưởng đề nghị Ủy ban Nhân dân Quận 7 xử lý vụ này. Quận không đồng ý phân xử mà yêu cầu anh Tưởng nếu không thỏa thuận được với công ty Kim Nam thì khởi kiện để tòa án phân xử. Anh Lê Ngọc Tưởng thay mặt hợp tác xã Chiếu Cói đưa đơn lên Tòa án Quận 7 ngày 8-5-2002, nhưng đơn kiện bị ngâm đến 14-10-2002, mới trả lại đơn với lý do “giá trị hợp đồng thuê nhà xưởng trên năm mươi triệu đồng, vượt thẩm quyền xét xử của tòa án quận”. Anh Lê Ngọc Tưởng phải gửi đơn lên Tòa án Thành phố. Gần hai tháng sau, Tòa án Thành phố lại chuyển đơn kiện về cho Tòa án Quận, với lý do: “Ở thời điểm ký hợp đồng thuê nhà, công ty Kim Nam chưa đăng ký kinh doanh.” Tòa án Quận lại yêu cầu anh Lê Ngọc Tưởng phải có văn bản cam kết “không tranh chấp nhà đất với nhà nước” trước khi tòa xử công ty Kim Nam. Sở dĩ có yêu cầu đó là vì sau khi anh Lê Ngọc Tưởng nộp đơn kiện công ty Kim Nam thì Ủy ban Nhân dân Quận đã ra quyết định thu hồi khu nhà đất nói trên. Thay mặt hợp tác xã Chiếu Cói, anh Lê Ngọc Tưởng gửi đơn khiếu nại với Ủy ban Nhân dân Quận, cho rằng việc Quận ra quyết định thu hồi đất của hợp tác xã đang thuê của nhà nước là trái thẩm quyền, yêu cầu Ủy ban Nhân dân quận rút quyết định. Anh Lê Ngọc Tưởng lại gửi đơn khiếu nại lên Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Nay, trước yêu cầu của Tòa án Quận, anh Tưởng thay mặt Hợp tác xã nêu rõ: “Không tranh chấp đất với nhà nước, chỉ yêu cầu thu hồi đất đúng luật”. Thế nhưng, ngày 7-5-2003, Tòa án Quận ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, với lý do cần đợi Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết khiếu nại đối với quyết định thu hồi đất của Ủy ban Nhân dân Quận. Anh Lê Ngọc Tưởng nhận định: Tòa án Quận tạm đình chỉ vụ án không phải vì tuân thủ pháp luật mà chỉ để tạo điều kiện cho công ty Kim Nam chiếm giữ trái phép nhà xưởng của hợp tác xã Chiếu Cói. Vì sao họ ưu ái công ty Kim Nam? Đó là điều phải hiểu ngầm chứ không thể có văn bản. Lê Ngọc Tưởng tiếp tục gửi nhiều đơn cho rằng việc khiếu nại về thu hồi đất hoàn toàn không dính đến nội dung vụ kiện công ty Kim Nam không thanh lý hợp đồng, tiếp tục chiếm dụng nhà đất của Hợp tác xã một cách phi pháp.

Để đối phó lại, ngày 24-7-2003, Ủy ban Nhân dân Quận gửi báo cáo lên Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, có những đoạn như sau: “Ủy ban Nhân dân Quận đã có công văn trả lời bà giám đốc Công ty May Kim Nam dự kiến sử dụng phần đất này làm công trình phúc lợi cho Quận”, do đó ý kiến của ông Lê Ngọc Tưởng cho rằng Quận can thiệp vào hợp đồng kinh tế với công ty Kim Nam là không có cơ sở. Và “thực chất ông Lê Ngọc Tưởng cố tình không thực hiện quyết định của Ủy ban Nhân dân Thành phố đồng thời không chấp hành quyết định thu hồi đất của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Quận”.

Anh Lê Ngọc Tưởng và các xã viên hợp tác xã Chiếu Cói đặt câu hỏi: Các ban ngành của Thành phố Hồ Chí Minh và Quận 7, đùn đẩy, cố trì hoãn không chịu xử lý khiếu nại, tiếp tục để công ty Kim Nam chiếm dụng nhà đất là nhằm mục đích gì? Câu trả lời phải được lý giải bằng một bài toán: Khu đất 1AB đường Trần Xuân Soạn có diện tích 2500 m2, có 3 mặt tiền, tính theo giá nhà nước sẽ là 13.250.000.000 đồng. Nếu tính theo thời giá thị trường sẽ là 75.000.000.000. Khoản chênh lệch này có sức mạnh đổi trắng thay đen ghê gớm trong cuộc tranh chấp mà tình trạng pháp lý không minh bạch. Bài toán này làm cho hơn 100 con người thấp cổ bé họng của hợp tác xã Chiếu Cói phấp phỏng lo âu!

Như sét đánh, cuộc đấu bóng chuyển sang khúc quanh mới: anh Lê Ngọc Tưởng thủ lĩnh của hợp tác xã Chiếu Cói từ chỗ là người khiếu nại, tố cáo bỗng nhiên trở thành người bị khiếu nại, “bị cáo”! Công an phường Tân Thuận Tây gửi giấy mời ông Lê Ngọc Tưởng đúng 14 giờ ngày 2 tháng 2 năm 2004 đến công an phường để “hỏi một số việc có liên quan đến ngôi nhà 29M”. Sau đó, ngày 16/2 Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quận ủy gửi “thư mời đồng chí Lê Ngọc Tưởng đến để trao đổi một số vấn đề có liên quan đến đơn khiếu nại của công dân đối với đồng chí”. Ngày 20 tháng 2 thường trực Quận ủy và Ủy ban Nhân dân Quận do bí thư quận ủy Nguyễn Hoàng Năng chủ trì gặp và làm việc với đảng viên Lê Ngọc Tưởng. Ngày 23/2 quận ủy ra thông báo 568-TB kết luận cuộc họp. Điều ba của thông báo này viết: “Việc thực hiện thương lượng giao nhà 29M và nhận tiền 200 (triệu) của đồng chí Lê Ngọc Tưởng và bà Vinh là bất hợp pháp và yêu cầu đồng chí Lê Ngọc Tưởng trả lại tiền cho bà Vinh”. Trong buổi làm việc nói trên, bí thư quận ủy Nguyễn Hoàng Năng đã to tiếng khi anh Lê Ngọc Tưởng tố cáo ông ta dùng hồ sơ giả để kết tội mình. Ông Nguyễn Hoàng Năng, nguyên là bí thư Thành đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, loại người leo nhanh lên nấc thang quan chức không phải do tài năng mà do “cơ cấu”. Bí thư Thành đoàn thì đương nhiên phải được là Ủy viên Thành ủy, như giám đốc các sở, ban ngành quan trọng. Do được hưởng quyền lợi béo bở không cần công sức, tài năng cho nên đây là con đường rất tốt của những kẻ cơ hội. (Hiện nay Nguyễn Hoàng Năng là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh).

Tôi đã được anh Lê Ngọc Tưởng cho xem hai văn bản gốc về việc anh trả lại ngôi nhà 29M. Đúng là bản mà bí thư Nguyễn Hoàng Năng dùng để làm việc với anh Lê Ngọc Tưởng là bản bị sửa chữa ngày, tháng, năm, và xóa bỏ ý kiến ghi nhận của cán bộ quản lý hôm giao nhà. Tôi gợi ý anh Lê Ngọc Tưởng đưa đơn kiện bí thư Nguyễn Hoàng Năng vì ông ta đã dùng tài liệu giả để kết tội anh. Anh Lê Ngọc Tưởng không kiện, có lẽ vì anh có kinh nghiệm về vụ kiện giám đốc công ty Kim Nam tốn công sức mà chẳng đi đến đâu. Cũng có thể là do trong vụ này anh Lê Ngọc Tưởng tự thấy mình cũng không hoàn toàn chính đáng và trong sạch? Bởi vì theo quy định của Quận ủy và Ủy ban Nhân dân Quận thì những cán bộ nào được cấp đất đủ để xây biệt thự thì phải trả lại gian nhà đang ở trong các khu tập thể. Thực ra quy định như vậy chỉ là để báo cáo lên cấp trên, tỏ ra Quận ủy, Ủy ban Nhân dân Quận này quản lý nhà đất rất chặt chẽ, cán bộ đảng viên ở đây rất liêm khiết. Và hàng trăm cán bộ, đảng viên quận này sau khi được cấp đất không có một ai trả lại nhà. Nhưng họ không có ai bị lôi ra bôi nhọ như anh Lê Ngọc Tưởng, vì tất cả đều ngoan ngoãn, không có ai dám gây khó cho lãnh đạo quận!

Anh Lê Ngọc Tưởng nêu câu hỏi thắc mắc với Quận ủy: “Tại sao vụ bà giám đốc công ty Kim Nam chiếm dụng tài sản hợp pháp chính đáng và rất lớn của hơn 100 xã viên hợp tác xã Chiếu Cói thì Ủy ban Nhân dân Quận 7 không giải quyết, bảo phải đưa ra tòa xử; còn vụ này, chỉ có 200 triệu đồng giữa hai cá nhân thì lại được Quận ủy và cả Ủy ban Nhân dân Quận do bí thư quận ủy đích thân chủ trì lên tiếng đòi tiền hộ bà Vinh? Câu hỏi không được trả lời, bởi vì mục đích của họ là nhằm đánh gục uy tín của Lê Ngọc Tưởng thủ lĩnh của hơn 100 xã viên hợp tác xã Chiếu Cói, dám đương đầu với lãnh đạo quận!

Ngày 31 tháng 8 năm 2004, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đưa ra kết luận đồng ý với quận, chỉ thị phải tổ chức kiểm điểm đảng viên Lê Ngọc Tưởng. Khi chi ủy triệu tập chi bộ họp kiểm điểm, anh Lê Ngọc Tưởng cảm thấy mình đang bị cả một hệ thống Đảng và chính quyền trù dập. Do đó anh đến cuộc họp với lá đơn xin ra khỏi Đảng. Cả chi bộ bối rối. Vốn rất quý anh, tôi gặp riêng anh, khuyên nên rút đơn: “Ra đảng trong tình hình này không làm tăng thêm sức mạnh đấu tranh mà chắc chắn sẽ làm cho anh và hơn 100 con người lao động nghèo của hợp tác xã Chiếu Cói lâm vào thế yếu hơn! Vì vậy chúng ta nên tiếp tục ở trong Đảng, đoàn kết nhau kiên trì đấu tranh làm cho chân lý được sáng tỏ!” Mặc dù khuyên anh Lê Ngọc Tưởng như vậy, nhưng trong lòng tôi vang lên những câu của nhà thơ bùi Minh Quốc:

“Đồng chí – tiếng ấm nồng máu đỏ

Sao có lúc vàng lên lạnh rợn thế này?

Đồng chí, dao đã nằm ém nhẹm dưới lòng tay!

Và mọi ngã đường đã giăng cạm bẫy.”

Năm 2015, giáo dân giáo xứ thuận Phát (cũng là những xã viên hợp tác xã Chiếu Cói trước đây) làm đơn xin Chính quyền Quận 7 trả lại cho nhà thờ Thuận Phát ba phòng học nằm trong khuôn viên nhà thờ để con em học giáo lý. Quận ủy Quận 7 không chấp nhận. Đảng viên lão thành Lê Ngọc Tưởng gửi thư kiến nghị Quận ủy nên trả lại ba phòng học cho giáo xứ, bởi vì giáo dân là công dân, được trả lại phòng học, họ sẽ thấy chính quyền này là của mình. Quận ủy (gồm những người mà bốn mươi năm trước, khi Lê Ngọc Tưởng là Ủy viên Ban Thường vụ Quân ủy thì họ còn là những đứa trẻ được ông đưa vô Đội Thiếu nhi quàng khăn đỏ để giáo dục lý tưởng xã hội chủ nghĩa) không trả lời thư mà cho công an đến nhà chất vấn ông: “Vì sao một lão thành cách mạng mà theo đuôi quần chúng giáo dân lạc hậu chống lại nghị quyết của Đảng?”

Tôi cho rằng tình trạng khu phố 4, phường Tân Kiểng, Quận 7 nơi tôi cư ngụ là sự thu nhỏ hiện trạng của cả nước: Đảng độc quyền, thoái hóa tham nhũng, đàn áp những người trung thực.

Đọc bài trước: Từ theo cộng đến chống cộng (68): Trăn trở cùng chủ tịch nước

Đọc bài tiếp theo: Từ theo cộng đến chống cộng (70): Niềm tin cạn kiệt

Đọc những bài khác ở trang Từ theo cộng đến chống cộng

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s