Nhà báo TỪ CHUNG giữa làng báo Việt Nam

Báo Sóng Thần

Báo Sóng Thần

1963-1965

Ít người chú ý đến cái đoạn văn ngắn đăng một cột phía trái ngay trên đầu trang nhật báo Tự Do ngày 4-11-1963 dưới ký tên Hiếu Chân, Chu Tử, Từ Chung.

Không thể gọi đó là thông cáo chung hoặc bạch thư, thư ngỏ vì nó rất ngắn và không nhân danh đoàn thể hay một nhóm người. Nhưng nội dung đã phản ảnh rõ rệt sự suy nghĩ vào thời điểm đó của ba tên tuổi lớn trong làng báo Việt Nam. Ba ông đã thú nhận sự bất lực và thiếu can đảm đóng góp vào nỗ lực dân chủ hóa Việt Nam. Ít lâu sau đó khi nói chuyện với ông Từ Chung về “lời thú tội” này, tôi hỏi tại sao lại chỉ có ba ông và cả ba đều là người Bắc, ông Từ Chung cười:

– Cậu còn trẻ, cậu cũng phải cho tôi trẻ với chứ. Cái bồng bột có thể từ ông Chu Tử lây qua tôi và ông Hiếu Chân. Thật ra thì chúng tôi hơi tự cao tự đại khi đăng lời thú tội này. Ờ, tôi không hiểu sao lại không kéo ông Trần Tấn Quốc hay một ông Nam Kỳ nào vào cho nó vui hơn.

Lấy cái mốc là 1963 sinh hoạt báo chí Việt Nam quả đã có hai sắc thái khác hẳn. Thời ông Diệm, mọi sự đã có các ông Nhu, ông Tuyến cầm trịch nên tin sôi nổi nhất, được bàn tán nhiều nhất là vụ Khỉ Cà Mau, vụ Vũ Nữ Cẩm Nhung bị tạt át-xít, vụ án Cô Gần ở Cầu Rạch Dừa. Sinh hoạt làng báo êm đềm như hồ thu trái hẳn với không khí xô bồ ồn ào và đầy sức sống của những năm sau 1963. Chiến tranh bắt đầu lan rộng, quân Mỹ đổ bộ ào ạt, xã hội bị bứng đến tận gốc. Cùng với quân đội Mỹ, một đội ngũ ký giả quốc tế hùng hậu không kém đổ xuống Việt Nam. Và làng báo Việt Nam cũng chuyển mình.

Khó tưởng tượng là năm 1963, tất cả báo hàng ngày ở Việt Nam vẫn in typo. Cái kỹ thuật cổ lỗ này khiến báo phát hành vào hai giờ chiều thì tin giờ chót phải được nhận để sắp chữ lúc 10 giờ sáng. Và một tờ báo phát hành ở Sài Gòn chỉ xuống tới Cần Thơ cách thủ đô 163 cây số vào ngày hôm sau và ra Huế trễ hai ngày. Những thế hệ computer hiện nay khó thể có một ý niệm về typo hay cụ thể là khó khăn kỹ thuật của những người đi trước. Một bài viết dài cỡ một trang đánh máy khi đưa vào phòng sắp chữ sẽ được ông xếp typo xé thành 10 đến 15 mảnh giao cho thợ sắp. Mỗi người thợ typo đứng trước một khay gỗ có cả trăm ô nhỏ, mỗi ô chứa một mẫu tự khác nhau, cỡ chữ khác nhau. Họ bốc từng mẫu tự đúc chì ráp lại thành chữ. Thí dụ chữ Thủ Tướng, người thợ sẽ phải bốc chín lần để ráp thành, nên mất rất nhiều thì giờ. Khi các mảnh đã xếp chữ xong, xếp typo ráp tất cả các mảnh lại thành bài, chuyển sang cho thầy cò sửa lỗi chính tả. Sau đó, người thợ đúc mới trải giấy lên mặt chữ chì, vỗ nhẹ nhẹ bằng bàn chải mềm và đắp thêm lớp giấy thứ nhì lên vỗ tiếp. Có một loại bột, hoặc hồ loãng để những tờ giấy ướt đó dính đè lên nhau. Bản vỗ giấy được gỡ nhẹ ra bỏ vào lò nước chín sau đó đổ chì lỏng lên. Chì lỏng ăn vào mặt lồi lõm của bản vỗ nướng chín thành bản chì đem in.

Một bài báo được viết ra, xé vụn, sắp chữ ráp trở lại, vỗ, nướng, đúc chì rồi đem in typo, tức chỉ in một mặt một. Quả là một tiến trình nhiêu khê. Cái trí tưởng tượng vốn phong phú của tôi vẫn khiến tôi ngạc nhiên khi bước chân lần đầu tiên khỏi cái cầu thang tối om đen xì, chui qua cái lỗ nhỏ để gặp ông xếp typo Cai Bí của Chính Luận và đội ngũ cả trăm em bé thợ typo đứng một giò, giò kia gác lên cho đỡ mỏi trước những khay chữ dính mực lem nhem.

Cái kỹ thuật typo in báo hàng ngày bắt đầu bị đào thải vào khoảng 1971. Hai nhà in lớn, Nguyễn Bá Tòng và Tân Minh ở đường Hồng Thập Tự đã khiến báo Việt Nam bước vào giai đoạn offset mà tiên phong là báo Sóng Thần.

Sở dĩ dài dòng về kỹ thuật chỉ để nhấn mạnh đến sự cổ lỗ của làng báo Việt Nam ở cái mốc 1963. Tôi thực sự không rõ có ký giả Việt Nam nào được huấn luyện chuyên môn về báo chí có mặt trong làng báo Việt Nam trước 1963 không. Ông Chủ Nhiệm báo Tự Do Phạm Việt Tuyền có nói rằng ông đã học nghề làm báo hàm thụ của Tây và ông Nguyễn Trọng, Tổng Thư Ký báo Tự Do lúc đó, đã từng làm ở BBC. Nhưng đọc tờ Tự Do thì thấy rõ cách trình bày từ mise cho đến tin, bình luận… đều thiếu tiêu chuẩn. Tôi nhớ bác Trực Ngôn được cử đi dự một phiên tòa và bài tường thuật là một bài văn tự sự mở đầu bằng thời tiết buổi sáng, một chi tiết chẳng ăn nhập gì với phiên tòa. Đáng sợ hơn nữa là bản tin tường thuật quá dài phải đăng làm hai kỳ, có nghĩa là độc giả phải chờ thêm một ngày nữa mới biết hết câu chuyện xảy ra, cứ như kiểu truyện Tàu đón đọc hồi hai sẽ rõ.

Cùng với hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ và kéo theo đó là lề lối sinh hoạt báo chí có chỉ đạo ở miền Nam Việt Nam. Lật bất cứ tờ báo nào thời Đệ Nhất Cộng Hòa, chúng ta đều có cảm tưởng thiên hạ thái bình, tứ phương an lạc. Không hề có chuyện than vãn về kiểm duyệt, giống như thời gian sau này. Luật lệ ra báo không khó khăn lắm nhưng ra được báo hay không là tùy Phủ Tổng Thống hoặc Văn Phòng Chính Trị của ông Nhu. Sau tháng 11-1963, báo chí xuất bản ào ạt. Gần như tháng nào cũng có báo mới ra lò, đại diện đủ mọi khuynh hướng chính trị xã hội. Các tôn giáo lớn, các đảng phái, các xu hướng chính trị hoặc địa phương đều đồng thanh lên tiếng.

Làng báo Việt Nam bỗng thiếu ký giả. Người viết bình luận, viết phiếm luận, tiểu thuyết thì có nhiều và có thể viết bừa bãi, nhưng khi đụng chạm đến việc săn tin, viết tin, viết ký sự, viết tin truyện, hoặc khi phải đương đầu với chuyện sửa bài, đặt tít, trình bày trang báo, tức những công việc hàng ngày cần có học vấn và kiến thức chuyên môn thì làng báo Việt Nam lúc đó quả là thiếu người.

Trước 1963, mọi tin tức đã có Việt Tấn Xã cung cấp, hoặc cần thì có Bộ Thông Tin, Văn Phòng Chính Trị đảm trách. Nay Việt Tấn Xã không đóng nổi vai trò của một cơ quan thông tấn vô tư trong khi nhu cầu của người đọc đòi hỏi những tin tức chính xác và vô tư hơn. Lớp cựu trào bị đào thải thẳng cánh. Hãy lấy tờ Tự Do, một tờ báo tương đối nhất của Đệ Nhất Cộng Hòa làm thí dụ. Nhật báo Tự Do đã không chuyển mình kịp với đà tiến hóa. Mục Đàn Ngang Cung do thi sĩ Hà Thượng Nhân phụ trách không thể so găng với Thơ Đen của Tú Kếu, Mục Nói Hay Đừng do ông Hiếu Chân đảm trách trở thành quá nhẹ ký so với lối viết của Chu Tử, Sức Mấy. Tranh khôi hài của Phạm Tăng vắng hẳn vì bấy giờ người ta thích Twist hơn. Lão ký giả Trực Ngôn vẫn ngồi trên mô-bi-lét già nua, không thể nào chạy tin nhanh hơn những người trẻ vừa tốt nghiệp đại học. Tòa soạn Tự Do khoảng 1964-1965 có ông chủ nhiệm Phạm Việt Tuyền, ông tổng thư ký Nguyễn Trọng, ông phóng viên già Trực Ngôn là hết.

Ông Trọng vừa đặt tít vừa dịch tin Télétype. Và, sau hết thì Tự Do đình bản, giống như cái “nối điêu” cuối cùng của làng báo Đệ Nhất Cộng Hòa. Cùng với Tự Do, những tờ báo vững vàng khác dưới chế độ ông Diệm như Tiếng Chuông, Dân Đen, Saigon Mới, Tia Sáng ngày càng lu mờ trước một loạt đội ngũ những tờ báo mới. Mới thực sự về tên, về nội dung, về kỹ thuật.

Có thể ông Nhu và ông Tuyến đã quá giỏi để cầm trịch báo chí khiến không một tờ báo nào cựa quậy nổi trước 1963, không một tờ báo nào đi lệch khỏi con đường do chính quyền dọn sẵn. Và những người làm báo – chữ của các ký giả sau này là ký giả công nhân – đích thực như ba ông Từ Chung, Hiếu Chân, Chu Tử đã cảm thấy mình được giải phóng cùng với biến cố 1-11-1963. Từ đó, họ và rất nhiều ký giả công nhân lao vào một không khí làm báo mới với những dự tính, mưu toan và nỗ lực hoàn toàn khác trước.

Để như là một chú thích, xin nói rõ danh từ ký giả công nhân. Hồi đó – và kéo dài cho đến 1975 – những ai có trong tay giấy phép ra báo là có rất nhiều cơ hội làm giàu. Giản dị nhất là bán “bông giấy”. Giấy báo có hai giá, giá chính thức và giá chợ đen. Giá chính thức của chính phủ chỉ bán cho những người có phiếu của chính quyền, các phiếu đó là bông giấy. Chỉ cần có giấy phép ra báo, in độ 5.000 tờ nhưng áp phe với bộ thông tin để khai là 25 ngàn tờ, thì có 20 ngàn tờ giấy bán cho con buôn chợ đen. Chênh lệch giữa giá chính thức và giá chợ đen tùy lúc nhưng lúc nào cũng rất cao. Các ông chủ báo rất giàu và các ông viết báo thì rất nghèo. Có nhiều ông ký giả leo lên chủ báo. Ký giả chủ báo và ký giả công nhân là hai giai cấp khác nhau vậy.

Làng báo Việt Nam thuở đó có nhiều thuật ngữ buồn cười như “đi khách” chỉ một ký giả làm cho nhiều báo một lúc, “Tự ý đục bỏ” một hình thức kiểm duyệt trắng trợn, “bán gáo” chỉ sự nguy hiểm có thể bị chết trong khi cố gắng săn tin săn hình bán cho báo ngoại quốc…

Cuộc đời của ba nhân vật Từ Chung, Chu Tư, Hiếu Chân, sau khi cùng ký tên vào bản văn tự thú trên đã có những nét đặc thù riêng, có những kết thúc hoặc âm thầm, hoặc bi thảm hoặc ngạo nghễ, nhưng ảnh hưởng của họ đối với làng báo Việt Nam không thể phủ nhận được.

Khi tờ Ngôn Luận của ông chủ báo Hồ Anh bị đóng cửa, ký giả làm việc cho Ngôn Luận tách ra làm hai nhóm. Nhóm đầu do ông Tử Vi Lang hướng dẫn đầu quân cho Tân Luận (tôi không nhớ rõ lắm nhưng hình như vẫn do ông Hồ Anh làm chủ) và nhóm thứ hai có các ông Từ Chung, Thái Lân, Thái Linh, Vân Sơn đầu quân cho Chính Luận. Theo như lời thuật lại thì ông Từ Chung đã đăng lên mục rao vặt rằng ông và một nhóm ký giả công nhân muốn tìm người bỏ vốn để xuất bản một nhật báo và ông Sung là người duy nhất đáp ứng. Tôi nghĩ đây là một hợp tác hợp lý vì ngoài ông Từ Chung, hai ông Thái Lân và Thái Linh đều là những người có quá trình sinh hoạt và đấu tranh đảng phái. Ông Thái Lân Việt Quốc và ông Thái Linh được coi như có nhiều liên hệ với nhóm Phan Văn Hùm và Hồ Hữu Tường hoặc đệ tứ.

Đa số quí vị lão thành trong làng báo ít khi nói về mình và luôn luôn tạo một cái gì huyền thoại. Ông Thái Linh là một thí dụ. Không ai biết gì về quá khứ ông, tên tuổi, ngày sinh tháng đẻ… đều không thật.

Một người nữa cũng của Chính Luận là ông Nguyễn Tú luôn từ chối không bao giờ nói về gốc gác mình. Phải chăng là do ảnh hưởng và thói quen cái sinh hoạt các hội kín thời chống Pháp, chống Việt Minh? Ông Từ Chung thì rõ ràng hơn và khoa bảng hơn.

Nhưng điều đáng nói ở đây là đã có một tập hợp khá lạ lùng. Một ông chủ nhiệm đỗ bác sĩ nhưng chưa hề chữa bịnh cho ai. Một tổng thư ký đỗ bằng tiến sĩ kinh tế ở Thụy Sĩ. Và tất cả những người khác còn lại đều tự học, nhưng có một quá trình đấu tranh và nghề nghiệp làm báo không thể phủ nhận.

Sự pha trộn giữa một nhật báo đấu tranh có tính cách đảng phái và một nhật báo thông tin thể hiện rõ trong những số Chính Luận đầu tiên. Tất cả tít tám cột chạy trùm lên manchette trong những số báo đầu là nghị luận về thời cuộc của ông chủ nhiệm Đặng Văn Sung. Khía cạnh thông tin của báo chí bị nhấn xuống hàng thứ nhì. Rất may là cung cách đó không kéo dài quá lâu.

Công chúng bắt đầu chú ý đến ông Từ Chung khi có lời đồn ông từ chối lời mời làm bộ trưởng kinh tế vì yêu nghề báo. Nếu lời mời có thật thì chuyện ông Từ Chung từ chối không có gì đáng ngạc nhiên.

Dáng người mảnh khảnh, phải nói là hơi gầy, ông Từ Chung là một nghệ sĩ, một nhà báo nhiều hơn là một chính khách, một người lặn lội trong quan trường. Ông ăn mặc giản dị, đôi khi trở thành lôi thôi, ăn nói rất mực thước, đi thẳng vào vấn đề nhưng không hoa mỹ, rườm rà. Lặn lội lâu trong nghề báo ở Việt Nam, khó ai không trở nên xuề xòa. Hãy thử quan sát tòa soạn Chính Luận ở đường Võ Tánh (trước khi bị Việt Cộng đặt mìn nổ – Tòa soạn sau đó chuyển sang đường Lê Lai và đường Hai Bà Trưng).

Phía dưới căn gác hai tầng, bên ngoài là cả ban trị sự lo về quảng cáo. Lách qua cái quầy thấp ngó vào phía trong tối om là mấy cái máy typo cũ kỹ của Đài Loan với người thợ in cầm một cái que tre dài bật bật để giấy khỏi đè lên nhau. Cái cầu thang hẹp lù mù đen thui dẫn lên lầu chỉ đủ một người đi. Một lần có tin đặc công Việt Cộng sẽ tấn công tòa soạn, anh Phan Nghị ôm máy chữ chạy xuống cầu thang húc vào tôi đi lên, cả hai ngã tưởng gãy tay gãy chân.

Ngoi lên khỏi cầu thang là một căn phòng khá chật, ngột ngạt vì thiếu không khí. Đó là tòa soạn của một tờ báo có ảnh hưởng nhất miền Nam lúc đó. Căn phòng ngang cỡ năm mét, dài cỡ 10 mét, vào lúc cao độ – khoảng 10 giờ sáng – có khi nhét tới 20 người và mọi người cùng vừa hí hoáy làm việc vừa hút thuốc. Cái lạ là không ai bị chết vì đứng tim. Ông Từ Chung ngồi ở phía căn phòng tí tẹo phía trong.

Báo Sóng Thần

Báo Sóng Thần

Bài vở sau khi đã sửa chữa xong, đưa cho ông xếp typo qua một cái cửa đục thông vào phía sau nơi có gần cả trăm thợ lo sắp chữ. Tòa soạn bắt đầu sinh hoạt từ 4, 5 giờ sáng. Những nhân viên lo tin lặt vặt như tin đô thành, từ thành đến tỉnh, tin tòa án… đến sớm nhất. Họ sẽ lọc các tin của thông tín viên địa phương, của các bản tin Văn Đô, tin tòa của ông Phúc, Tin Việt, để đi trang trong. Có mặt cùng một lúc là các “ông thợ dịch” là những người chuyên lo đọc các bản tin viễn ấn của AFP, Reuter, AP và UPI (trước 1963 những bản tin này không bán cho các báo). Những người này hoặc dịch thẳng từ télétype hoặc đọc và tổng hợp lại. Thuật ngữ hồi đó chỉ các nhân viên ký giả loại này là “chân nằm” khác với “chân chạy” là những ký giả đi săn tin bên ngoài để viết tin, phóng sự, ký sự. Tòa soạn làm việc ồn ào nhất vào khoảng từ 8 giờ sáng đến cỡ 11 giờ trưa, lúc bản vỗ cuối cùng được xếp typo đưa lên. Mọi người xúm lại nhìn bản vỗ, đọc hoặc đề nghị những thay đổi cuối, đôi khi phải bóc bỏ một tin này thay vào tin khác… Sinh hoạt từ đó cho đến chiều là của các chân chạy, của ban phóng viên và những người ngồi tòa soạn nghỉ ngơi cho đến bốn giờ chiều. Họ tới để lo những bài có thể sắp chữ trước cho ngày hôm sau như các bài đặc ký, các mục trang trong như phụ nữ, trẻ em, truyện ngắn, truyện dài… hoặc thảo luận với các phóng viên về những tin cần theo dõi, tin cần khai thác thêm… Công việc chấm dứt cỡ sáu bảy giờ tối.

Điều động cái guồng máy đó là ông Từ Chung. Sự phân công trong một tòa báo Việt Nam khá lỏng lẻo, nhưng có thể tạm chia ra như sau:

– Tin trang nhất quan trọng thường liên quan đến sinh hoạt quốc gia, quốc tế hay những loạt tin, bài đặc biệt.

– Tin trong nước hay trang trong (thường gọi là trang ba của tờ báo) và tin vặt gọi chung là tin tòa án, hay tin đô thành.

Lúc đó ông Thái Lân lo tin trang nhất, ông Thái Linh lo trang quốc nội và ông Vân Sơn lo tin từ thành đến tỉnh.

Ba nhân vật trên cũng kiêm thêm những phần phụ linh tinh khác như truyện phiếm, tiểu thuyết, tranh vui cười kiểu Ký Điệu hay Mai Bê Bi… Công việc tóm lại khá nặng nhọc, phải đọc liên miên, đến nỗi đa số đều ôm một chồng bài vở về nhà mỗi tối để làm việc thêm.

Khi tôi trình diện ông Từ Chung lần đầu, ông đã dội cho tôi một gáo nước lạnh:

– Nếu cậu chịu khó làm việc cho tòa soạn một ngày tám tiếng, về nhà chịu khó học thêm sáu tiếng, may ra mười năm nữa cậu mới bằng tụi tôi được. Chúng tôi tối nào cũng phải đọc thêm đến một hai giờ sáng.

Có lẽ cái tinh thần học hỏi đã giải thích tại sao tất cả nhân viên ngồi tòa soạn Chính Luận đều giỏi cả Anh lẫn Pháp ngữ và như ông Lê Văn Anh còn làu thông cả chữ Nho, như cụ Phạm Duy Nhượng được tôi coi là pho tự điển sống. Mỗi lần bí hỏi cụ, cụ giảng chữ này nghĩa là gì, gốc La-tinh là gì, từ tiếng Pháp viết qua tiếng Anh đổi ra sao, đến nỗi ông Lân đang túi bụi cũng phải ngưng lại nhắc:

– Cụ ơi, bảo nó lật tự điển, hơi đâu mà giảng, Cái bài cụ đang làm cần gấp lắm.

Tôi không nghĩ ông Từ Chung có tài chỉ huy, nhưng ông luôn luôn đảm đang đương đầu và chịu trách nhiệm. Đó là đặc tính khiến những người làm việc chung quanh ông yêu và nể phục ông. Khi ban trị sự loạng quạng, trễ phát lương, ông là người xuống dưới lầu gọi ông quản lý ra nói nhẹ nhàng:

– Anh em cần tiền lo cho vợ con, tòa báo hẹn trả lương ngày nào thì phải giữ cho đúng, đừng để anh em người ta chờ!

Công chúng bắt đầu thích đọc Từ Chung, thích những loạt bài về kinh tế Việt Nam lúc đó. Ông đem sở học kinh tế để viết và giải thích những hiện tượng đang xảy ra bằng giọng văn bình dị. Những ý niệm kinh tế vô cùng rắc rối như cung và cầu, lạm phát, lạm phát phi mã, khiếm dụng, địa lý kinh tế, ảnh hưởng hỗ tương… đã được ông trình bày một cách mạch lạc, dễ hiểu bằng chính những sự kiện đang xảy ra.

Một lần khi tôi viết loạt bài về đại học Việt Nam với cái tít “Sinh viên, ông là ai?”, nội dung có những đoạn phê phán khắc nghiệt một số trí thức khoa bảng. Ông Từ Chung khen, bảo cho đăng liền nhưng sau đó ông nghiêm mặt nói với tôi:

– Cậu phải sống làm sao để đàn em cậu đừng chửi cậu như cậu vừa chửi chúng tôi.

Ông có những cái nhìn khá lạ về lịch sử. Một lần viết tin về giới Ba Tàu Chợ Lớn, ông cười bảo tôi:

– Cậu biết dân Việt Nam muốn sống còn phải làm gì không? Đẻ cho thật nhiều, càng đông càng tốt thì mới chống nổi với Hán tộc.

Ông không bao giờ nghĩ mình là khoa bảng, là tiến sĩ, và từ đó ông lê la với mọi người xuống các quán Tàu ở đầu Ngã Sáu Võ Tánh ăn hầm bà lằng đủ thứ từ vịt lộn, bánh đúc cho đến cơm gà, cơm thịt nướng.

Tình hình Việt Nam một lúc một đổi, chiến tranh mỗi lúc một lan rộng, xã hội càng ngày càng bị xáo trộn và sự dính dáng của người Mỹ vào Việt Nam một ngày một sâu đậm. Phe quân nhân mỗi ngày một lấn lướt và đòi hỏi của quần chúng về một chính phủ dân sự ngày càng cao. Cuối cùng ông Phan Huy Quát được ủy nhiệm thành lập chính phủ dân sự thay thế phe quân nhân. Những liên hệ của hai vị bác
sĩ Sung và Quát khiến tờ Chính Luận có ảnh hưởng lớn đối với sinh hoạt chính trị. Uy tín của ông Từ Chung cũng mỗi ngày một lan rộng trong dư luận. Lập trường chống Cộng của Chính Luận rất rõ rệt và đối với người Cộng sản thì đây là mối nguy phải được dập tắt. Họ chọn cách dễ nhất là bạo lực. Đặc công Việt Cộng đã bắn gục Từ Chung khi ông đang trên đường về nhà. Ba vị ký giả từng ký vào bản văn hứa sẽ không lùi trước nỗ lực đóng góp cho vận mệnh đất nước, ông Từ Chung là người đầu tiên đã trả giá cho nỗ lực đó bằng chính sinh mạng của mình.

Một lần ông nói với tôi:

– Làm báo chông gai lắm. Có khi ngã giữa đường, nhưng nhớ đừng quị luôn mà phải lồm cồm bò dậy mà đi. Có vậy thì hãy làm báo, không thà cậu đi làm nghề khác đỡ khổ hơn.

Nhưng hẳn không bao giờ ông lại nghĩ ông không thể bò dậy lồm cồm mà đi được vì một viên đạn của kẻ thù, vốn sợ những người trí thức như ông hơn là sợ những đội quân đầy đủ súng ống.

Trích từ “Chân ướt chân ráo” của cố ký giả Lê Thiệp.

Có thể tải về trọn quyển “Chân ướt chân ráo” ở trang Tài Liệu

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s