Học từ vụ thảm sát ở Huế

Trận đánh ở Huế, một phần của cuộc Tổng Tấn công Tết Mậu Thân, bắt đầu bằng một cuộc tấn công của các lực lượng cộng sản vào lúc sáng sớm ngày 30 tháng 1 năm 1968. Là cố đô của Việt Nam, Huế được bảo vệ bởi Quân đội (Nam) Việt Nam Cộng Hòa, các đơn vị địa phương quân, lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ và Không quân Hoa Kỳ. Phần cốt lõi của lực lượng cộng sản tại Huế là quân đội Bắc Việt với sự hỗ trợ của các lực lượng cộng sản miền Nam – Mặt trận Dân tộc Giải phóng, còn được gọi là Việt Cộng, và từ những người có thiện cảm với cộng sản mà trong đó nhiều người đã từng là thành viên của Phong trào Đấu tranh trước đây, được tổ chức ở Huế năm 1965 bởi các nhà sư Phật giáo và sinh viên, cái đã dẫn tới cuộc nổi dậy của Phật giáo bị quân đội VNCH đàn áp năm 1966. Nhiều nhà hoạt động của Phong trào Đấu tranh này đã bỏ trốn lên núi và đi theo cộng sản; trong cuộc Tổng Tấn công Tết Mậu Thân, họ quay trở lại Huế cùng với những người cộng sản.

Một góa phụ đang gào khóc cạnh chiếc túi nhựa chứa xác của chồng bà, người bị giết chết trong tháng 2 năm 1968, được tìm thấy trong một mồ chôn tập thề ở gần Huế. Hình: Credit Larry Burrows/The LIFE Picture Collection

Một góa phụ đang gào khóc cạnh chiếc túi nhựa chứa xác của chồng bà, người bị giết chết trong tháng 2 năm 1968, được tìm thấy trong một mồ chôn tập thề ở gần Huế. Hình: Credit Larry Burrows/The LIFE Picture Collection

Trận đánh, kéo dài đến ngày 24 tháng 2, là trận đánh trong thành phố lớn nhất của cuộc chiến. Phe cộng sản mất khoảng 5.000 chiến binh, thiệt hại của QLVNCH là khoảng 400, và người Mỹ có 400 người tử trận. Chừng 80 phần trăm thành phố Huế bị phá hủy. Nhưng nằm trong cái giá phải trả cho trận đánh này cũng có cả sự đau khổ và chết chóc của người dân.

Trong thời gian người cộng sản chiếm giữ, những người cộng sản miền Nam và lực lượng Bắc Việt đã tổ chức những cái được gọi là vùng giải phóng, tiến hành những buổi tuyên truyền, phân chia khẩu phần lương thực, bắt thanh niên đi lao động và chiến đấu, xác định kẻ thù, đôi khi cả thành viên gia đình của họ, trong dân chúng địa phương để tố giác và giết chết. Những thành viên trước đây của Phong trào Đấu tranh mà đã bỏ trốn khỏi Huế năm 1966 và trở về lại cùng với người cộng sản năm 1968 đều rất quen thuộc thành phố và đã trở thành công cụ để đánh dấu những người bị hành quyết.

Không chỉ nhân viên nhà nước và quân đội bị thảm sát, mà còn là thường dân vô tội, kể cả phụ nữ và trẻ em, những người bị tra tấn, hành quyết hoặc chôn sống. Sau trận đánh, hàng ngàn người mất tích. Người dân không biết người thân của họ ở đâu; họ đi lang thang trên đường phố, tìm kiếm, đào bới tìm xác. Người dân Huế thậm chí còn tìm thấy xác chết trong Thành Nội và quanh các lăng mộ hoàng đế ở bên ngoài thành phố.

Trong vòng vài tháng, người ta bắt đầu tìm thấy các mồ chôn tập thể. Con số xác chết tăng lên liên tục cùng với việc khám phá thêm nhiều mồ chôn vào mùa thu năm 1969. Đến lúc đó, tổng số xác chết được phát hiện ra quanh thành phố đã tăng lên khoảng 2800. Vụ thảm sát thường dân không vũ trang một cách quy mô như vậy đã để lại một nỗi đau khổ thật sâu trong ký ức của những người sống sót.

Trong những thập niên sau đó, vụ thảm sát ở Huế đã trở thành vật kiểm chứng và cũng là điểm nóng cho các tranh cãi về cuộc chiến, ở cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ. Đó là khoảng vài tháng sau khi trận đánh xảy ra, khi Nhã Ca, một nhà văn Nam Việt Nam nổi tiếng, viết một tường thuật về trận đánh, “Giải khăn sô cho Huế”. Tác phẩm lúc đầu được đăng thành nhiều kỳ trên báo rồi xuất bản thành sách năm 1969. Ngay trước khi xảy ra cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, Nhã Ca từ Sài Gòn đã về Huế, quê hương của cô, để chôn cất cha cô, và cô vẫn ở đó trong thời gian xảy ra trận đánh.

Trong quyển sách, cô đã mô tả những hành động tàn ác của cộng sản, nhưng cũng đưa ra ví dụ về nhân tính của họ. Cô cho thấy những mặt tối và sáng của binh lính Mỹ và VNCH, tạo nên một bức tranh sinh động về tình cảnh khủng khiếp của người dân thường. Mô tả những hành động tàn bạo của người cộng sản, cô than khóc cho tình cảnh của đất nước mình. Số phận của tất cả những người Việt Nam tự nhìn thấy mình là con tốt trong trò chơi quyền lực giữa khối cộng sản và khối chống cộng. Quyển sách này đã được chuyển ngữ và xuất bản sang tiếng Anh năm 2014 (tôi cung cấp bản dịch).

Đối với nhiều người Việt, “Giải khăn sô cho Huế” vẫn là một trong số những tưởng nhớ chính về cuộc thảm sát và người thân của họ. Nhưng không phải ai cũng nhìn như thế. Khi viết vào năm 1969, Nhã Ca đã kêu gọi các độc giả của cô hãy chia sẻ trách nhiệm cho sự tàn phá đất nước. Nhưng nhiều người miền Nam trước đây đã không đồng ý với ý kiến của cô, quy về cho đồng bào của họ một trách nhiệm chung cho cuộc chiến mà họ nhìn thấy như là hệ quả từ sự xâm lược cộng sản của những người miền Bắc trước đây.

Lúc phát hiện ra những mồ chôn tập thể ở Huế, sự chú ý của người Mỹ đã bị đánh lạc hướng bởi những sự kiện gây sốc trong nước năm 1968: vào ngày 31 tháng 3, Tổng thống Johnson tuyên bố sẽ không ra tranh cử; vào ngày 4 tháng 4 mục sư Martin Luther King Jr. bị ám sát, một sự kiện đã gây ra nhiều ngày bạo động trong các thành phố của Mỹ; ngày 6 tháng 6, Robert F. Kennesy bị ám sát; trong tháng Tám, nhiều cuộc đụng độ dữ dội giữa cảnh sát và những người biểu tình cùng với Đại hội Quốc gia của Đảng Dân chủ ở Chicago; cuối cùng, Nixon đã được bầu lên làm tổng thống sau chiến dịch tranh cử. Số phận các nạn nhân ở Huế đã không thể vượt qua được những hàng tít này.

Sau đó, mặc dù người dân địa phương ở Huế tiếp tục khai quật lên được xác chết của những người đã mất tích và con số các xác chết được phát hiện ra tăng lên đến hàng ngàn, tin tức về một tấn bi kịch khác đã làm lu mờ Huế thêm một lần nữa. Vào ngày 16 tháng 3 năm 1968, chưa đầy một tháng sau những sự kiện ở Huế, lính Mỹ tiến vào Mỹ Lai và giết chết từ 300 đến 400 người dân làng, kể cả trẻ em, người già và phụ nữ. Khi phát hiện ra, người Mỹ cảm thấy kinh hoàng trước hành động của những người đồng xứ sở với họ ở Việt Nam, và các nạn nhân của Mỹ Lai và các thủ phạm người Mỹ đã đẩy lùi các nạn nhân của Huế và các thủ phạm cộng sản ra khỏi truyền thông Mỹ và qua đó là ra khỏi sự chú ý của công chúng Mỹ và ý kiến của thế giới.

Trong chừng mực mà người Mỹ chú ý đến vụ thảm sát này, nó đã đi qua một ống kính chính trị. Douglas Pike, một nhà báo đã làm việc cho Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ ở Việt Nam và sau đó là nhân viên Bộ Ngoại giao, là một trong những người Mỹ đầu tiên kêu gọi hãy chú ý đến vụ thảm sát này và trích dẫn nó như là bằng chứng cho sự nguy hiềm khi cộng sản chiếm được miền Nam Việt Nam. Quan điểm của Pike đã được Tổng thống Nixon và các thành viên diều hâu trong Quốc Hội tiếp nhận để biện minh cho việc tránh rút quân đột ngột ra khỏi cuộc chiến.

Ngược lại, các chính khách phản chiến lại dựa vào công trình của Gareth Porter, một nhà chính trị học và nhà báo, người đã lập luận rằng những vụ giết người ở Huế đã xảy ra ở một quy mô nhỏ hơn là được tường thuật lại, đơn thuần chỉ là những hành động trả thù của một đạo quân đang rút lui. Dựa trên công trình của Porter, Thượng nghị sĩ George McGovern cáo buộc chính quyền Nixon đã sử dụng các sự kiện ở Huế như là một cái cớ để tiếp tục sự tham chiến của Hoa Kỳ ở đó. Ông đi xa cho tới mức nói rằng những vụ giết người này là “cái được gọi là vụ thảm sát ở Huế.”

Sự chú ý đến những sự kiện ở Huế vẫn tiếp tục thiếu vắng sau chiến tranh. Không giống như vụ thảm sát Mỹ Lai được đề cập đến trong hầu hết những quyển sách nói chung về chiến tranh và được phân tích trong hàng chục cuốn sách chuyên ngành xuất bản từ những năm 1970 cho đến nay, các sự kiện ở Huế đã không nhận được nghiên cứu nghiêm túc nào và phần lớn, nếu không phải là tất cả, đã biến mất ra khỏi ký ức và giới học giả Mỹ.

Việc chính trị hóa vụ thảm sát ở Huế lan rộng ra khỏi Việt Nam và Hoa Kỳ. Không có một đề cập nào đến vụ thảm sát này trên báo chí Xô viết hay trong một diễn đàn công khai nào vào năm 1968 hay trong những năm sau này. Tiếng nói duy nhất có liên quan đến việc này từ phía Xô viết xuất phát từ Aleksandr Solzhenitsyn, nhà bất đồng chính kiến ​​Liên Xô. Tình trạng này đã không thay đổi trong nước Nga, là quốc gia kế thừa Liên bang Xô viết.

Năm 2012, trong khi trình bày về cuộc thảm sát ở Huế và tường thuật của Nhã Ca tại một cuộc hội thảo khoa học ở Moscow, người ta nói với tôi rằng chúng ta phải tập trung vào những hành động tội phạm của người Mỹ và “những con rối” Nam Việt Nam của họ. Tôi đã đồng ý rằng chúng ta phải và sẽ thảo luận về những tội ác của Mỹ , nhưng chúng ta không nên bỏ qua những gì phía bên kia đã làm. Không, người ta nói với tôi, người cộng sản đã chiến đấu cho một sự việc đúng đắn và chúng ta phải tập trung vào những tội phạm người Mỹ, một trao đổi được báo cáo trong diễn tiến của hội nghị. Trong số chừng 50 người trong gian phòng, không ai lên tiếng ủng hộ quan điểm của tôi; sau đó, người ta nói lại với tôi rằng không cần thiết phải có “tính khách quan Phương Tây” của tôi.

Là một sử gia, tôi nhìn thấy một sự hợp nhất kỳ lạ của các quan điểm thuộc giới học giả Hoa Kỳ và Liên Xô/Nga về những vụ thảm sát và một liên minh Liên Xô/Nga-Mỹ, ngay cả khi không có chủ ý, trong việc chấp nhận phiên bản cuộc chiến của Hà Nội. Giới học giả Hoa Kỳ tập trung phần lớn vào phía Mỹ của cuộc chiến hay vào quan điểm của Bắc Việt; dù thế nào đi nữa thì những đồng minh trước đây của Hoa Kỳ đã bị phớt lờ. Nam Việt Nam, mà nhiều công dân của nó đã chạy trốn khỏi Việt Nam và tìm thấy một quê hương mới ở Hoa Kỳ, đã bị đẩy ra ngoài rìa những tường thuật sau chiến tranh, nếu như không phải là ra khỏi hoàn toàn, và trong khi đó thì những kẻ địch trước đây được lãng mạn hóa.

Đặt Hoa Kỳ vào trung tâm điểm như là kẻ gây chiến duy nhất có nghĩa là phủ nhận những người Nam Việt Nam không muốn sống dưới chế độ cộng sản và đã chiến đấu vì lý do này, và nó đồng thời cũng che giấu sự việc, rằng đánh đuổi người Mỹ chỉ là bước đầu tiên để mang Nam Việt Nam vào dưới sự thống trị của miền Bắc. Hà Nội luôn luôn nhấn mạnh rằng nước Việt Nam thống nhất sẽ là một nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, ngay cả trong bối cảnh Chiến Tranh Lạnh, đó cũng là một cuộc nội chiến giữa Bắc và Nam Việt Nam vì tương lai của các quốc gia họ.

Việc dành riêng cuộc chiến về cho phía Mỹ cũng được mang vào trong phân tích và trình bày các tội ác và những hành động sai trái khác. Nhưng nếu không thảo luận về những điều sai trái do tất cả các bên gây ra thì sẽ không có hòa giải thật sự hay không có nghiên cứu thật sự về lịch sử. Công bằng mà nói, tình hình ở Hoa Kỳ đã bắt đầu thay đổi, dù chậm chạp, khi một thế hệ học giả mới, có hiểu biết tiếng Việt và có mối quan tâm thật sự đến tất cả các bên của cuộc xung đột, đang phát triển những lĩnh vực bên ngoài trọng điểm tập trung vào Hoa Kỳ.

Đây cũng là một sự thay đổi hết sức cần thiết đối với phía Việt Nam. Vì Hoa Kỳ và Việt Nam theo đuổi chương trình hoà giải của họ, nên phận sự của giới học giả Mỹ là phải thăm dò sâu hơn nữa những trải nghiệm của người Nam Việt Nam trong thời gian của cuộc chiến. Và sự hòa giải cũng không thể đến từ hội chứng chiến thắng như đang được nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thực hiện – tức là, chúng ta đã chiến thắng, vì vậy mà hãy cùng nhau làm lễ kỷ niệm chiến thắng của của chúng ta và hãy quên đi những người thua cuộc. Hòa giải chỉ có thể đến qua đối thoại và thảo luận về những tội phạm do cả hai bên gây ra.

Nhiều người Việt ở Việt Nam và trong các cộng đồng người Việt vẫn còn muốn và cần phải than khóc những người thân đã mất đi trong vụ thảm sát ở Huế. Họ không thể làm điều đó ở Việt Nam. Trong chiến tranh, Bắc Việt và các lực lượng cộng sản ở miền Nam không thừa nhận vụ thảm sát này và không trừng phạt bất cứ một thủ phạm nào. Việt Nam sau chiến tranh cũng không thừa nhận vụ thảm sát, họ muốn lờ nó đi hay gọi nó là một chuyện bịa đặt. Trong các sự kiện tưởng niệm đợt Tổng tấn công không xuất hiện vụ thảm sát ở Huế.

Sự độc quyền “vùng tội phạm” của Hoa Kỳ đã góp phần để cho nước Việt Nam hiện đại xóa sạch những sai phạm của người cộng sản. Một cảm nhận về lịch sử là một yếu tố quan trọng trong việc tạo thành một đất nước và duy trì bản sắc riêng của mình, nhưng nhiều sinh viên ở Việt Nam đã bỏ qua việc nghiên cứu lịch sử của họ, hay ít nhất là một phần vì họ hiểu rằng sự tiếp cận của họ đến các văn kiện và những nguồn khác đã bị giới hạn cho tới đâu và những diễn giải của họ bị hạn chế như thế nào. Điều này thúc đẩy sự nghi ngờ chính phủ, cái sẽ tăng lên khi có nhiều tài liệu thách thức phiên bản lịch sử theo đường lối đảng xuất hiện. Tôi lớn lên trong Liên bang Xô viết, và tự bản thân tôi biết rằng duy trì theo mệnh lệnh một bề ngoài mà chúng ta không tin vào đó thì sẽ gây hại cho tới đâu. Đối diện với những tiến bộ về công nghệ, Việt Nam đứng trước một nhiệm vụ còn kinh khủng hơn cả Liên ban Xô viết trong việc ngăn chận người dân.

Hòa giải và cả những câu chuyện kể về lịch sử cũng cần thiết cho người Mỹ. Nhiều người Việt mất người thân ở Huế và rồi mất đất nước của họ bây giờ đã trở thành một phần không thể tách rời của xã hội Mỹ. Thương tiếc về những gì đã xảy ra ở Huế nhắc nhở chúng ta, người Mỹ, đến việc chúng ta chỉ quan tâm chính bản thân mình trong lúc nghĩ về vai trò của chúng ta trong cuộc chiến và không sẵn sàng để học nhiều hơn từ “những thứ khác”, những cái mà cho đến ngày nay vẫn còn ám ảnh các chính sách của Mỹ đối với những nước khác.

Olga Dror, giáo sư tại Đại học Texas A&M, đã xuất bản một nghiên cứu và bản dịch tác phẩm “Giải khăn sô cho Huế” của Nhã Ca. Bà là tác giả của chuyên khảo sắp xuất bản “Making Two Vietnams: War and Youth Identities, 1965-1975.”

Phan Ba dịch từ: https://www.nytimes.com/2018/02/20/opinion/hue-massacre-vietnam-war.html

Đọc những bài khác ở trang Chiến tranh Việt Nam và trang Tài Liệu

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s