Rồng Mekong (49): Những thành phố như Kansas City

Trong quyển tiểu thuyết “Heart of Darkness”, Joseph Conrad để cho một bác sĩ nhiệt đới từ Paris xuất hiện, người kiểm tra sức khỏe một viên thuyền trưởng điều khiển tàu đi trên sông trước khi được một công ty tàu thủy nhận làm việc. “Thế tức là anh đi ra đến đó, thật là tuyệt vời và cũng hết sức là thú vị. Đã từng có ai mắc bệnh tâm thần trong gia đình anh không? Sẽ giúp ích được cho khoa học đấy, khi có thể quan sát những thay đổi về tinh thần của các cá nhân ở tại nơi tại chỗ… Anh hãy phòng ngừa sự chán nản nhiều hơn là ánh nắng mặt trời.. ở vùng nhiệt đới, trước hết là người ta phải giữ bình tĩnh. Du calme, du calme. Adieu.”

Sài Gòn 1950

Sài Gòn 1950

Cuối cùng thì niềm đam mê vùng nhiệt đới có xuất phát từ một sự bất thường của tâm thần hay không? Ngay cả khi phủ nhận câu hỏi này thì cũng có thể thích thú với sự tự mỉa mang của cảnh đó. Thêm vào đó, có một từ khóa xuất hiện trong lời khuyên của người bác sĩ nhiệt đới, cái giúp giải thích cho tính đặc biệt của cuộc sống trong những nước vùng nhiệt đới. Ông bác sĩ khuyên nên “du calme” – bình thản. Chán nản, ông cảnh báo như vậy, chứa đựng nhiều nguy hiểm hơn là những tia nắng của mặt trời. Tình cờ mà Joseph Conrad đã nêu ra đặc tính của cuộc sống trong vùng hiệt đới.

Ánh sáng mặt trời và sự ấm áp đã giúp cho con người có thể chống lại được với sự chán nản đè nặng, và trải qua hầu như chỉ là sự bình thản, thậm chí còn là sự vui vẻ. Nét đặc trưng của các xã hội Đông Nam Á là có một quan điểm tốt đẹp về cuộc sống, có một tinh thần cơ bản là vui tươi và dễ lây lan, hoàn toàn không phụ thuộc vào hoàn cảnh vật chất, ở người nghèo còn gây ấn tượng nhiều hơn là ở những người giàu và nổi tiếng. “Nụ cười” của châu Á đã được mô tả nhiều. Có khả năng để cười cũng đáng được ghi nhận không kém.

Các old hands, những gã da trắng từ thời thuộc địa ở Đông Dương, Malaysia, Singapore và Hong Kong đã tiếp nhận một tinh thần cơ bản đúng mực của người Á. Họ có cảm giác như được nâng đỡ bởi một bầu không khí vui tươi, cái giúp đẩy lùi sự u sầu của Phương Tây và niềm hoài nghi tự hủy diệt. Họ đã tự bảo vệ mình trước sự “chán nản”, sự chán ngán như người ta nói ngày nay, còn nhiều hơn là trước ánh nắng mặt trời.

Trong nửa sau của những năm sáu mươi, khi tôi đến châu Á, vẫn còn có thể tham quan được nhiều phần còn lại của thời thuộc địa ở nhiều nơi. Sài Gòn, Phnom Penh và Vientiane khiến cho người ta nhớ tới những thành phố miền quê ở miền Nam nước Pháp, được đặt vào trong một hệ thực vật xa lạ. Người đến thăm có thể để cho nhịp điệu của châu Á chiếm lĩnh lấy bản thân mình, có thể quay hoàn toàn sang với xã hội bản địa và tham gia vào cuộc sống của các natives, cách xa khu “kiều dân da trắng”. Hay là họ vẫn đi theo truyền thống của quê hương cả ở đây, và thưởng thức trong môi trường của người Âu một ly rượu khai vị ở quán cà phê lề đường và một buổi ăn tối tinh tế trong một nhà hàng Corse, cái mà tất nhiên là có sẵn các loại rượu vang của nước Pháp.

Ở Bán đảo Mã Lai, Singapore và Hongkong, các câu lạc bộ đóng một vai trò thống lĩnh. Một lần nữa, cho một khoảnh khắc cuối cùng, hình ảnh đó lại xuất hiện, hình ảnh về những cuộc sống mà William Somerset Maugham đã vẽ lại trong các truyện ngắn của ông từ Đông Nam Á. Những khách sạn xưa cũ rộng rãi, “Continental” ở Sài Gòn và “Raffles” ở Singapore, quyến rũ khách với một bầu không khí kiểu cổ mà trong đó không có một dấu vết nào của xa xỉ được trộn lẫn vào và mức độ của kỹ thuật chỉ vừa thỏa mãn được những yêu cầu khiêm tốn nhất. Xích lô đạp chiếm đa số trong giao thông đường phố. Người Pháp gọi chúng là cyclopousses, trong tiếng Mã Lai, chúng được biết đến như là becaks. Vận tốc chậm rãi của chúng đặc trưng cho cách sống của thời thuộc địa đang chìm dần xuống.

Paul Theroux, một người Mỹ, là giáo sư thỉnh giảng giảng dạy một vài năm ở Singapore, trong quyển tiểu thuyết “Saint Jack” đã cố phác họa chân dung của những người đại diện cuối cùng cho cái expat community gồm toàn dân tửu lượng cao, những người khách của quán rượu “Sóng Cồn”, những người cảm nhận được rằng thời của họ đang đi đến kết thúc cuối cùng. Nhìn đến thiên đàng và địa ngục của “Chinatown”, nhìn xuống những động hút thuốc phiện, nhà chứa, quán mát xa và những chốn chơi cờ bạc lậu, một người trong số họ thừa nhận: “Vài năm nữa đây họ sẽ giật sập tất cả những cái này xuống, để xây nhà ở, nhà đỗ xe cao tầng, quán ăn pizza và không biết là còn những thứ gì khác nữa. Tôi may mắn. Ít nhất thì tôi cũng có thể nói được, rằng tôi biết cuộc sống trước đây ra sao.”

Vào đầu những năm bảy mươi, những phần còn lại của Đông Nam Á mang dấu ấn thuộc địa bị giật sập. Cuộc chiến và chiến bại của Mỹ ở Việt Nam đã phá hủy vĩnh viễn những gì còn lành lặn từ thời Pháp trước đó ở trong ba nước Đông Dương. Ở Thái Lan, Malaysia và Singapore, kinh tế bắt đầu bùng nổ và kéo dài cho tới ngày nay, cái đã làm biến đổi về cơ bản nhiều lĩnh vực. Ít nhất thì đó là lần kết thúc một thời kỳ ở vẻ ngoài.

“Nhờ ơn Chúa, chúng ta sẽ phát triển, xây dựng và tái xây dựng liên tục thành phố Thượng Hải, để cuối cùng rồi nó sẽ giống như Kansas City”, thượng nghị sĩ từ Nabraska, Kenneth Werry, mơ mộng như vậy vào năm 1940, một năm trước khi Hiệp Chúng Quốc Hoa kỳ bị lôi kéo vào cuộc chiến chống nước Nhật ở Thái Bình Dương. Một phần của viễn tưởng đó thật sự là đã được hoàn thành theo một cách kỳ lạ. Các thành phố lớn của châu Á, Bangkok, Singapore, Jakarta, Manila và Hongkong, đã thay đổi tận gốc bộ mặt của chúng. Các trung tâm hành chánh mơ màng thơ mộng, mang dấu ấn của tinh thần các thế lực thuộc địa châu Âu, đã trở những thành phố triệu dân. Chúng đã giống với hình ảnh của các thành phố lớn ở Âu Mỹ.

Lần giật sập những khu phố cũ đã diễn ra mà không có sự hoài cổ và niềm nhớ nhung tới một thời kỳ xưa cũ tốt đẹp. Khi quả cầu bê tông đó rơi xuống những cái khung mái nhà rêu phong thơ mộng, và đập tan những gì còn lại của quá khứ ra thành từng mảnh nhỏ, thì rồi ở châu Á người ta nói về development, về sự phát triển mà được cảm nhận hầu hết là tốt đẹp.

Đó dường như là điều tự nhiên, khi một người chủ bất động sản lôi ra lợi nhuận nhiều nhất có thể được từ sở hữu của ông ấy, cái mà ông bán, xây lại hay giật sập, khi lợi nhuận qua đó tăng lên gấp đôi hay gấp mười lần. Và cũng không được phép không nhìn thấy, rằng nhiều chốn cư ngụ “thơ mộng” mà khách du lịch từ Phương Tây chụp ảnh lưu niệm của họ ở trong đó thật ra là những nơi ở dơ dáy và mất vệ sinh. Ví dụ như “Bugis Street” ở Singapore, nơi tụ tập của những người đi chơi về đêm mà những người thích mặc trang phục của giới tính khác thưởng thức màn trình diễn của họ ở đó, đồng thời cũng là một cái ổ chuột với những nhà vệ sinh hoàn toàn không đáp ứng được nhu cầu, những cái mang lại nhiều vấn đề nghiêm trọng cho ngành nhà hàng ăn uống đang phát đạt.

“Bugis Street” đã trở thành nạn nhân của quả cầu bê tông. Cũng bị giật sập là phần lớn khu phố người Hoa ở Singapore; những ngôi nhà ngói trong trung tâm của Jakarta; các mặt tiền Tây Ban Nha ở cạnh Đại lộ Roxas ở Manila; “Hongkong-Club” kiểu Tân Cổ điển và ngôi nhà bưu điện trung tâm kiểu Tân Gô-tíc ở Hongkong; và bị lấp đi là hầu hết các klongs, những con kênh đào mà đã từng mang lại cho Bangkok một nét không thể nào nhầm lẫn được.

Ở Singapore, người ta đã cố gắng tái tạo lại một vài điểm thu hút, giữ lại những bức tường bên ngoài, các ban công và sàn nhà, trước hết là hiện đại hóa trang thiết bị vệ sinh. Cho tới ngày nay, người ta vẫn không thể đưa ra cho đủ sự trung thành với công trình xây dựng nguyên thủy và lòng trìu mến các tiểu tiết. Qua những lần hồi phục ở Singapore, nhiều nết quyến rũ và tính nguyên thủy của cảnh vật đã mất đi. Có thể cảm nhận quá rõ ràng, rằng không phải lòng kính trọng trước công trình xây dựng lịch sử – dù đó lâu đời chỉ một trăm năm – cái đã dẫn dắt các kiến trúc sư và nhà xây dựng, mà chiếm ưu thế ở đây chính là các chiến lược thị trường khô khan có định hướng tới khách du lịch, những người mà người ta muốn giữ lại một điểm thu hút cho họ.

Bên cạnh khách sạn “Raffles” ở Singapore, đã được đưa vào diện công trình được bảo tồn, các nhà quy hoạch đô thị đã xây một trung tâm hội nghị khổng lồ. Khách sạn xưa cũ đó chào mời cho 3000 người, những người có chỗ của họ ở trong “Raffles City”, một liều dễ chịu của sự thơ mộng và ảo tưởng, được trộn lẫn với nghệ thuật dân gian. Hồi phục trước hết là vì khách du lịch, không phải vì một nhận thức về lịch sử đã yêu cầu tiến hành.  Các công trình xây dựng từ thời thuộc địa đối với người dân ở châu Á chỉ có một giá trị tình cảm thấp.

Các nhà quy hoạch thành phố của thời hiện đại cảm thấy mình không phải mang gánh nặng di sản của kiến trúc châu Âu. “Sự nhận diện là những gì mà người ta cảm nhận khi cởi bỏ hết quần áo”, kiến trúc sư Thái Lan Sumet nói. Ông đã trang trí cho các ngôi nhà cao tầng của ông ở Bangkok bằng những thứ từ kiến trúc Cổ đại Hy Lạp và kiến trúc châu Âu mà không cảm nhận các nứt gãy phong cách đó như là một vấn đề. Đối với những nhà xây dựng ở châu Á, hiện đại không đồng nghĩa với “Tây Phương”, và high tech không được cảm nhận như là một thứ gì đó xa lạ. Họ để cho các công trình xây dựng của họ thể hiện một cảm giác sống, cái tuy là tiếp nhận ảnh hưởng từ bên ngoài nhưng vẫn giữ lấy quyền tự do pha trộn và biến đổi nhiều nguyên tố đa dạng mà không ngần ngại hay bị lương tâm cắn rứt.

Ở Bangkok, có thể tham quan ba mươi mét phía dưới của một ngôi nhà cao tầng như là kiến trúc cột Hy Lạp được tô màu trắng. Vươn cao lên bầu trời từ cái nền tảng cổ điển này là công trình xây dựng bằng kính và bê tông thẳng đứng, khô khan. Các nhà quy hoạch thành phố, làm gương cho phần còn lại của nhân dân, đã giải phóng mình ra khỏi sự ép buộc của cái được gọi là lối thẩm mỹ tốt, cái thật ra chỉ phản ánh tình cảm nhất thời của xã hội người da trắng.

Những thành phố mới với hình bóng nhà chọc trời và với sự can đảm pha trộn tất cả các phong cách có một xu hướng tiến tới sự khổng lồ, cái mà trong tương lai sẽ còn mạnh lên thêm nữa. Nếu như ngày nay đã có một phần tư người dân Đông Nam Á sống trong phạm vi xung quanh các thành phố thì đến năm 2000, theo tính toán của các chuyên gia Liên Hiệp Quốc, sẽ là khoảng 40 phần trăm của số dân cư lúc đó sẽ tăng lên đến 3,6 tỉ. Tokio, Thượng Hải và Bắc Kinh sẽ chứa 22 tới 26 triệu người. Jakarta phải dự tính với 18 triệu và Seoul vớ Manila với 12 triệu. Ngay từ ngày nay là đã không có một thành phố châu Âu duy nhất nào còn ở trên danh sách các thành phố lớn nhất thế giới.

Cũng tăng vượt tỉ lệ là các vấn đề về tổ chức trong các siêu thành phố này, những thành phố mà chỉ còn có thể ước lượng được dân số của nó. Bangkok chính thức tính toán với con số 5,4 triệu. Nhưng thị trưởng thành phố, cựu tướng lĩnh Chamlong Srimuang đầy nghị lực và trong sạch, ước đoán con số thật sự là 7 tới 8 triệu. Số người này phải chấp nhận những điều kiện môi trường xấu thêm đi từ năm này qua năm khác, vì các vấn đề tăng lên còn nhanh hơn là phương tiện và khả năng của các cơ quan nhà nước. Không khí xanh màu khí thải của ô tô. Thiếu nước. Việc lấy rác, việc mà trong khí hậu nhiệt đới thật ra phải được tiến hành hàng ngày, với nhiều cố gắng chỉ tạo được một mức vừa có thể ngăn chận được sự hỗn loạn.

Ở châu Âu và châu Mỹ, người ta biết tới những người hay chạy đi chạy về mà nghề nghiệp bắt buộc họ phải sống trong thành phố vào những ngày trong tuần. Nhưng họ yêu thích miền quê xanh tươi nhiều hơn, nơi mà họ được nhựa đường, tiếng ồn, sự chen chúc và hối hả dung tha cho. Ở châu Á thì người ta không tìm thấy những gì giống như vậy. Con người ở đây hoàn toàn xa lạ với và không hiểu được những nghi ngại về cuộc sống trong thành phố lớn. Họ đứng vững chắc trong hiện tại. Các vấn đề môi trường tạo cực nhọc cho họ, nhưng không gây ra trầm cảm, cái mà có thể khiến cho họ lui về miền nông thôn, về miền quê. Günter Grass đã gọi thủ đô Bangladesh là cái “địa ngục bận rộn”. Ngay cả ở Calcutta, trong số những người đói ăn và vô gia cư, không ai có ý nghĩ chạy trốn trở về nông thôn. Thành phố cho phép có hy vọng, cái nghèo ở trong làng thì không. Người dân những khu phố ổ chuột muốn “phát triển” môi trường của họ, cải thiện, nhưng không muốn rời bỏ hay đổi lấy thiên nhiên.

Hiểu được khu nhà ổ chuột cũng là điều gây nhiều khó khăn nhất cho khách đến thăm từ Phương Tây. Họ chỉ nhìn thấy sự khốn cùng, sự dơ bẩn, cái nghèo và sự quá tải. Những căn nhà mà thậm chí nhiều gia đình sống ở trong đó hầu như chỉ lớn như những chiếc ô tô ở Âu Mỹ. Kế hoạch cho cuộc sống của những con người này chỉ tới được với bữa ăn kế tiếp. Bệnh tật chỉ được tự chữa lành ở đây – hay là cũng không. Cái chết luôn ngồi vô hình ở bên cạnh. Thống trị tại những người nghèo là luật rừng. Đó là một mặt của hiện thực.

Mặt kia cho thấy sức sống và ý muốn sống, những đức tính con người mà người ta không còn tìm thấy nhiều ở những người giàu nữa. Khách từ Phương Tây đi lầm đường, vì họ suy ra tuyệt vọng và cay đắng từ hình ảnh bên ngoài. Thế nhưng người ta tìm thấy sự nhẫn nại ở đây, và một sức lực gần như là siêu việt để chịu đựng đau đớn. Hiếm có tuyệt vọng. Người ta phải khá giả để mà có thể có sự yếu đuối. Ai phải chiến đấu hàng ngày để tồn tại, người đó không thừa thải để mà suy nghĩ về sự cam chịu. Người ta tìm thấy lòng can đảm sống, và đó chính là cái nghịch lý, lại chính ở tại những người mà dường như là đã bị đẩy đến sự tuyệt vọng. “Các khu nhà ở chuột cần phải tiếp tục tồn tại”, nhà kế hoạch hóa gia đình nhiều thành công của Thái Lan, Mechai Viravaidya lý luận. “Chúng ta cần phải chấm dứt những cố gắng để xóa bỏ chúng. Chúng ta cần phải học cách quản lý và cải thiện chúng.”

Các nhà xã hội học và quy hoạch thành phố ở châu Á hiện giờ đã quay đến với những ngôi nhà ổ chuột. Klong Toey, khu phố nhà ổ chuột và khu phố người nghèo ở cạnh cảng của Bangkok, có lẽ là vùng đất được vẽ bản đồ, thăm dò, đo đạc và lấy số liệu thống kê chính xác hơn tất cả những vùng đất khác của Thái Lan. Không phải những ngôi nhà tôn là vấn đề thật sự, các nghiên cứu đã chỉ ra như vậy, mà là thiếu nước sạch, thiếu nhà vệ sinh và không lấy rác thường xuyên. Hiện giờ, các nhu cầu cơ bản đó đã được đáp ứng ở Klong Toey. Kể từ lúc đó, người dân từ chối tái định cư vào những khu nhà ở. Họ để cho những nhà xã hội học đi thăm dò biết rằng họ hài lòng với những điều kiện hiện tại và cho rằng môi trường này là có thể chịu đựng được, cho cả con của họ. Không một ai muốn trở về nông thôn.

“To upgrade”, nâng chất  lượng sống, đó là mục đích của các nhà quy hoạch. Họ đã nhận ra rằng nhiều hình thức sống truyền thống đã được bảo tồn trong những khu nhà ổ chuột, những hình thức mà đã biến mất từ lâu ở trong những khu nhà ở cao tầng. Cả nghệ thuật thủ công cũng được người dân sống trong khu nhà ổ chuột tiếp nối, những cái mà ở nơi khác, với sự tiến bộ về kỹ thuật và vật chất, thì đã bị lãng quên và mai một. Những khu nhà ổ chuột sẽ tiếp tục tồn tại, vì dòng người nhập cư từ vùng nông thôn tạm thời không thể ngăn chận được, và sự biến đổi ở Đông Nam Á trong tương lai cũng sẽ tác động lên các thành phố mạnh nhất.

Các trung tâm nhà cao tầng và các khu nhà ổ chuột đặt dấu ấn lên hình ảnh của những thành phố triệu dân trong châu Á. Không phải chiến tranh và những thảm bon đã gây ra sự biến đổi sâu rộng và sự phá hủy những dấu vết của thời thuộc địa đó, mà là tiến bộ về kinh tế. Ở đó, nơi chiến tranh được tiến hành, ở Việt Nam, Campuchia và Lào, thậm chí di sản thuộc địa vẫn còn được bảo tồn tốt đến mức đáng ngạc nhiên. Không quân Mỹ, với một ít trường hợp ngoại lệ, đã không  động đến các công trình xây dựng lịch sử. Không phải chiến tranh, mà là kinh tế, những chuyển dịch về kinh tế, tiến bộ vật chất và những cuộc di cư trong nước phát sinh ra từ đó đã làm biến đổi sâu rộng phần còn lại của Đông Nam Á, trước hết là những thành phố của các quốc gia ASEAN.

Một chủ đồn điền người Pháp, Henri Fouconnier, người có một đồn điền cao su ở bán đảo Mã Lai thuộc Anh trong những năm hai mươi và đã mô tả các cấu trúc nội bộ của xã hội đó trong một quyển tiểu thuyết tinh tế, tin là đã nhận ra được một cái hố sâu hàng thế kỷ đang ngăn cách nhà nước Malaysia độc lập với xã hội thuộc địa trước đây của Bán đảo Mã Lai. Trong một lời nói đầu cho lần tái phát hành quyển tiểu thuyết “Linh hồn của Mã Lai”, ông viết năm 1980: “Giữa Mã Lai thời niên thiếu của tôi và Mã Lai của ngày nay có một sự khác biệt lớn như nước Gallia trước khi bị Roma xâm chiếm và nước Pháp thời chúng ta. Trong vòng 20 năm, bán đảo Mã Lai đã đuổi kịp, bỏ lại ở phía sau 20 thế kỷ tụt hậu.

Ở Singapore, đi đầu trong sự phát triển hiện đại, người ta đã xây lại những quang cảnh từ thời thuộc địa trong viện bảo tàng. Một tiếng nói phát ra từ loa phát thanh giải thích cho người tới thăm, du khách Phương Tây và Nhật Bản, nhưng cũng cho cả những con người trẻ tuổi từ chính thành phố đó, những người mà không còn nhìn thấy những cảnh như vậy nữa, các nhân vật trong cảnh: cu li ăn mặc rách rưới ở cảng, lái buôn và thương gia người Hoa trong y phục truyền thống dài tới đất, những ông chủ thuộc địa với giày ủng màu nâu, quần cưỡi ngựa và chiếc nón nhiệt đới, topee, mà không có nó thì không người Anh nào dám bước ra dưới ánh nắng mặt trời. Ở đây, họ tụ tập lại thêm một lần nữa: các nhân vật chính của những quyển tiểu thuyết và truyện ngắn của William Somerset Maugham. Ở ngoài kia, trong cuộc sống thật sự, thì thời này đã qua rồi, con người đã đổi vai trò và y phục. Châu Á của những cái xe kéo, cu li và những ông chủ da trắng đứng hết sức hợp lý ở trong bảo tàng người sáp trên đảo Sentosa.

Đọc bài trước: Rồng Mekong (48): Lần trở về nhà của những đứa con đã ra đi

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Rồng Mekong

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s