Rồng Mekong (48): Lần trở về nhà của những đứa con đã ra đi

Bắt đầu từ đầu những năm tám mươi, rất nhiều người đấu tranh bí mật đã trở về với cộng đồng người Thái. Những cuộc đầu hàng với số lượng lớn như vậy đã được chuẩn bị trước qua những người thương thuyết của cả hai bên. Những người đàm phán thỏa thuận các điều kiện và cả nghi thức để sắp xếp long trọng lần trở về trong lòng của quốc gia. Người ta bảo đảm cho các du kích quân được ân xá và nhanh chóng được trả tự do sau một khóa học chính trị ngắn ngày về chủ nghĩa bảo hoàng và lòng yêu nước. Thêm vào đó, chính phủ hứa sẽ cho những người trở về nhà một số tiền giúp đỡ có giới hạn và một mảnh đất để xây dựng một cuộc sống thường dân mới.

Phần chính trị của lời cam kết hầu như luôn luôn được làm tròn hoàn toàn. Những giúp đỡ về vật chất vào lúc ban đầu thì ngược lại đã gây khó khăn cho nhà nước, vì đất – khác với trong quá khứ – không còn có vô giới hạn nữa. Số tiền hứa hẹn được trả ở khắp nơi. Nhiều người trở về đã đi vào thành phố với nó, trước hết là về Bangkok, để hưởng thụ những mặt tốt hơn của cuộc sống sau những năm gian khổ trong rừng rậm – cho tới chừng nào có thể và số tiền đó còn đủ để làm việc đó.

Cộng sản Thái Lan

Cộng sản Thái Lan

Nhưng quan trọng không chỉ là những điều kiện về vật chất. Đối với chính phủ, cũng quan trọng không kém là nghi thức to lớn của lần long trọng chuyển giao vũ khí và tái tích hợp vào trong liên hiệp của xã hội Thái. Người sếp quân đội thường hay đích thân đến, để đón nhận cho đúng mức hàng trăm du kích quân và gia đình của họ. Đầu tiên, trên quảng trường có cờ trang trí, vũ khí được long trọng đặt xuống và được thu thập. Rồi lãnh tụ của những người trở về, thường là một cựu sinh viên hay thầy giáo, đọc một bài diễn văn tuyên bố lý do đầu hàng,

Với một wei, lần chắp tay cúi người chào, viên tướng tổng tư lệnh chào mừng các đối thủ của ngày hôm qua. Cuối cùng, người ta cùng nhau hát quốc ca và bài ca hoàng gia. Rồi thì dãy băng vô hình đó, cái mà các cựu phiến quân có thời đã cắt đứt nó, được nối lại với xã hội Thái.

Tất nhiên là báo chí quốc gia và cả báo chí quốc tế cũng được chở bằng máy bay đến nhân dịp này. Người Thái ăn mừng một lễ hội thật sự, một lễ hòa giải. Tin tức, rằng quân đội hoàng gia giữ lời, tác động trở lại giới bí mật và thúc đẩy quyết định của các đơn vị khác, tiến hành cùng bước đi trở về với xã hội đó.

Ngày nay, từ số 12.000 đến 15.000 phiến quân cộng sản còn chưa tới 1000 người vẫn ở lại trong rừng. Vương quốc Thái Lan đã có được một thành tích mà trên trường chính trị người ta có thể nhích nó lại gần một sự kỳ diệu. Một thành công tương tự như vậy chỉ có thể quan sát được trong những năm năm mươi ở Philippines dưới thời Tổng thống Magsaysay. Ngoài ra thì còn nơi nào trên thế giới mà người cộng sản, sau khi đã nắm lấy vũ khí, lại tìm được con đường trở về với xã hội trong một số đông như vậy?

Ở Malaysia, quân đội cộng sản trong “tình trạng khẩn cấp” từ 1948 tới 1960 đã phải bị cô lập ra khỏi người dân và rồi bị đập tan một cách đẫm máu. Ở Việt Nam và Campuchia, các chương trình chiêu hồi trong thời của cuộc Chiến tranh Đông Dương đã không thành công. Chỉ những người “bị ép buộc” và những người “chạy theo” là bỏ cuộc. Cốt lõi của lực lượng vũ trang bí mật đã từ chối hòa giải chính trị. Ở Thái Lan, chính phủ đã chấm dứt một cuộc nổi dậy nguy hiểm bằng những lập luận và biện pháp mà không thể chuyển giao được. Viễn cảnh của một nền quân chủ thống nhất mọi người Thái đã đóng một vai trò quyết định trong lúc đó.

Nhiều nhà quan sát Phương Tây đã tiên đoán Thái Lan sẽ có một thảm họa. Cuối cùng thì sự hài lòng về tính lạc quan, cái tuy là  thường hay bị chế nhạo nhưng cuối cùng đã chiến thắng, lại càng lớn hơn. Lúc nào cũng vậy, các nhà lãnh tụ của Bangkok thường ít chú ý đến những lời tiên đoán và lời khuyên của người xa lạ. Vì lịch sự mà họ đã không cất lời phản đối những kịch bản tối tăm, những cái mà các đại sứ quán và thông tín viên nước ngoài phác thảo từ sự phát triển xuống dốc của đất nước. Ẩn ở trong đó là một sự kiêu ngạo câm lặng, hoàn toàn không phải thiếu can đảm hay khả năng diễn đạt. Ngày nay, với cùng tính bình thản đó, người Thái phán xét về những mối đe dọa mới, cấp thời: về nạn ngập lụt Bangkok, về việc các con sông và kênh đào bị nhiễm độc bởi dùng quá nhiều thuốc trừ sâu và cả về việc đốn rừng, cái làm biến đổi khí hậu về lâu dài.

Xã hội của những con người lạc quan này tin chắc là mọi việc sẽ thành công như thế nào đó và vào lúc nào đó. Nó chỉ học dưới sự ép buộc, khi hậu quả của các đối xử sai lầm bắt đầu gây đau cho từng người một. Trong đó, thành công của việc kế hoạch hóa gia đình là một ví dụ.

Chỉ những người bi quan của Phương Tây mới vẫn còn không thể nhịn được lời nhận xét, rằng những hư hại qua bất động chờ đợi có thể trở thành những hư hại không thể sửa lại được nữa. Người Thái xa lạ với một ý nghĩ không có lối thoát như vậy. Ở nơi khác thì nó có thể đúng. Thái Lan là một ngoại lệ. Farangs sẽ không bao giờ hiểu được điều đó. Vì trong quá khứ họ chưa từng bao giờ thật sự hiểu được và chấp nhận những quy luật tác động ở bên trong, tính đặc biệt của đất nước họ, đa số người Thái tin như vậy. Những việc dường như là không quan trọng, ví dụ như huyền thoại, luôn đưa bằng chứng ra cho họ.

Năm 1982, Bangkok chào mừng “Ratanakosin”, 200 năm ngày thành lập thủ đô mà lịch sử của nó gắn liền với triều Chakri đang thống trị. Rama I, sau khi Ayuthia bị người Miến Điện phá hủy năm 1767, đã quyết định chọn vị trí ở hạ lưu con sông Menam để thành lập thành phố đôi Thonburi-Bangkok. Ở miền quê, người ta chỉ biết thủ đô dưới cái tên gọi “Krung Thep”, “thành phố của những thiên thần”.

Lễ hội chào mừng 200 năm ngày thành lập đã thu hút rất nhiều khách du lịch. Các chiếc thuyền của hoàng gia với 2000 người chèo thuyền mặc trang phục đặc biệt diễu hành trên sông Menam. Chùa được trùng tu, đặc biệt đẹp và với nhiều sự trìu mến là “Grand Palace” với tu viện Phra Keo và bức tượng Đức Phật bằng ngọc lục bảo mà thời xưa người Thái đã có lần lấy từ Lào mang về.

Cựu ngoại trưởng Upadith, người đã học đại học ở Berlin và nói tiếng Đức tốt, giúp đội ngũ của đài truyền hình ARD trong lúc bình luận về cuộc duyệt binh lớn trên sông. Điều quan trọng, ông giải thích cho khán giả Đức với cảm xúc có thể nhận thấy rõ, là trước đây đúng 200 năm, vào buổi sáng của ngày 5 tháng Tư 1782, vào lúc 11 giờ, mặt trời đã có một cái tán thật lớn. Người Thái tin chắc rằng hiện tượng thiên nhiên hiếm có đó sẽ lập lại vào ngày hôm nay, vào ngày kỷ niệm 200 năm ngày thành lập.

Chỉ có các farangs là ngạc nhiên khi mặt trời thật sự được một tán sương mù bao quanh vào lúc 11 giờ, đúng trong khoảnh khắc nhà vua rời chiếc thuyền và bước lên quảng trường tổ chức lễ hội, “Sanam Luang”. Các chuyên viên quay camera người Thái đắc thắng đưa hình ảnh mặt trời có tán bao quanh đó vào trong ống kính. “Bây giờ thì thế giới”, tờ Bangkok Post viết như vậy, “có tin rằng nền quân chủ Thái Lan thật sự có một quyền lực như vậy hay chưa? Chúng tôi có một băng video để chứng minh cho điều đó!”

Luật lệ nghiêm khắc, được áp dụng không thương xót để chống lại thành viên của chính xã hội mình, bảo vệ uy tín của nền quân chủ. Tất nhiên là có những tin đồn về âm mưu và kình địch trong hoàng gia; cả về những chuyện yêu đương và đau ốm; và luôn luôn có chuyện ngồi lê đôi mách về những lời tiên tri của các nhà học giả, một ngôi sao xấu sẽ chiếm thế thượng phong ngay khi nhà vua này, Rama thứ chín, thoái ngôi.

Chỉ cần nói bóng gió đến những tin đồn như vậy là truyền thông đã có nguy cơ bị khởi tố vì tội “xỉ nhục nhà vua”; và tiếp theo truy tố sẽ là cấm tờ báo. Cả báo nước ngoài, giới mà trong “Foreign Correspondent Club” của Bangkok cố gắng một cách gương mẫu để có được một sự cộng tác công bằng với hoàng cung, cũng chấp nhận các quy định laesae maiestatis [đại bất kính] nghiêm khắc. Trước đây vài năm, khi tờ Christian Science Monitor tường thuật quá chi tiết về những xung đột trong hoàng cung, tác giả đã bị cấm nhập cảnh và tờ báo bị cấm nhập. Nhưng các hình phạt lại được bãi bỏ sau vài tháng. Đất nước của những người tự do cũng tự do và khoan dung đối với giới báo chí nước ngoài, một tấm gương cho các quốc gia láng giềng.

Nền quân chủ có tiếp tục tồn tại hay không? Kikrit Pramoj có sẵn một câu trả lời, cái bộc lộ đồng thời sự bồn chồn và niềm tin tưởng: “Tất cả các farangs đến đây đều đưa ra câu hỏi này. Tôi phải trả lời họ như thế nào kia chứ? Chúng tôi sẽ cố gắng, chúng tôi sẽ giữ nền quân chủ. Tại sao lại hỏi câu hỏi này?”

Từ Thái Lan, tầm nhìn hướng về cái chung ở phần cuối. Những nền văn minh châu Á có bảo tồn được đặc tính và tính tự chủ của họ không? Đó có phải là ngẫu nhiên, khi hai quốc gia châu Á chưa từng bao giờ là thuộc địa lại bộc lộ tính đồng nhất và ổn định nội bộ lớn nhất? Tại sao Pháp và Mỹ lại đánh giá quá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc?

Chương cuối cùng là một tiểu luận – một cố gắng, không nhiều hơn.

Đọc bài trước: Rồng Mekong (47): Không có cơ hội để hoạt động bí mật

Đọc bài tiếp theo: Rồng Mekong (49): Những thành phố như Kansas City

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Rồng Mekong

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s