Có thể thắng ở Việt Nam không?

Tôi bắt đầu quan tâm tới cuộc Chiến tranh Việt Nam vào đầu những năm 1990, khi tôi theo học một khóa cao đẳng về lịch sử của cuộc xung đột này. Một phần của những gì đã thu hút tôi đến với đề tài này là sự khinh miệt sâu thẳm mà các đồng nghiệp của tôi, giới giáo sư và giới trí thức nói chung không chỉ giành cho cuộc chiến và còn cho cả các cựu chiến binh của nó. Đối với tôi, điều đó giống như một sai lầm cơ bản, khi những con người trẻ tuổi liều mạng sống của họ ở Đông Nam Á không có giá trị bằng những người đã ở nhà.

Lịch sử của cuộc chiến, như nó được dạy trong các lớp đại học dựa trên hai giả định. Đầu tiên là cuộc chiến đó không cần thiết; “Thuyết Domino”, ý tưởng rằng việc người cộng sản nắm lấy quyền lực ở Việt Nam sẽ tiếp nối lần lượt sau đó qua khắp phần còn lại của Đông Nam Á, là sai lầm. Hồ Chí Minh là một người theo Chủ nghĩa Dân tộc nhiều hơn là một người Cộng sản – và do đó, nước Mỹ không cần phải lo lắng về việc “mất Việt Nam”. Sự việc mà hầu hết các quân cờ domino đó không ngã xuống sau khi Nam Việt Nam bại trận năm 1975 là bằng chứng.

Tổng thống Johnson họp với Dean Rusk trong Nhà Trắng năm 1967

Tổng thống Johnson họp với Dean Rusk trong Nhà Trắng năm 1967

Giả định thứ nhì là cuộc chiến đó không thể nào thắng được. Theo tường thuật lịch sử chính thống, Hoa Kỳ không bao giờ có thể thắng cuộc chiến vì quyết tâm của những người cộng sản Việt Nam được cho là cao hơn quyết tâm của người Nam Việt Nam đồng minh của Mỹ rất nhiều. Không chiến lược nào khác có thể mang lại thành công, và vì vậy mà số phận của Mỹ là phải rời bỏ Việt Nam sau khi chịu tổn thất kéo dài.

Khi tôi tiếp tục nghiên cứu về Việt Nam trong trường đại học, tôi bắt đầu hoài nghi về hai giả định này. Đi vào trong những khe sâu của cuộc xung đột, tôi phát hiện ra rất nhiều thông tin chưa được khai thác mà đã chỉ cho tôi theo một hướng khác. (Nhờ Merle Pribbenow, một nhà ngôn ngữ học đã về hưu, người đã tìm và dịch nhiều tài liệu và lịch sử từ phe đối nghịch, mà tôi đã có được nhiều phát hiện trong số đó.) Những nguồn Bắc Việt này đã làm sáng tỏ các cuộc tranh luận kéo dài. Chúng cho thấy rằng Bắc Việt kiểm soát “kháng chiến” Nam Việt Nam ngay từ đầu, ngay cả khi các nhà tuyên truyền của Hà Nội đã thuyết phục người Tây Phương tin rằng đó là một phong trào địa phương thuần túy. Chúng cũng bác bỏ quan điểm phổ biến rộng rãi, rằng chính quyền miền Nam vào lúc ám sát Ngô Đình Diện trong tháng Mười Một đang lung lay về mặt quân sự.

Các phát hiện khác là kết quả từ công cuộc điều tra những khía cạnh của chiến tranh mà cho tới nay vẫn còn bị bỏ quên. Không một sử gia nào trước đây đã xem xét tỉ mỉ việc sẽ xảy ra những gì trong các quân cờ “domino” kế cận khi Lyndon Johnson đưa ra quyết định định mệnh của ông trong năm 1965, gửi quân đội mặt đất của Mỹ vào cuộc chiến.  Trên thực tế, ở Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Úc, Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore, các nhà lãnh đạo chống cộng đã cảnh báo rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam sẽ khiến cho tất cả các quân cờ domino ở Đông Nam Á ngã xuống và đề nghị đưa quân vào để chống cộng. Đột nhiên, lý thuyết domino trông có vẻ có lý hơn nhiều.

Khi tôi nhận ra quy mô khổng lồ của phần đất chưa được khám phá, dự án lịch sử gồm một quyển sách đã trở thành một bộ ba quyển. Mất bảy năm để hoàn thành quyển đầu tiên, viết về thời gian từ 1954 đến 1965. Dưới tựa đề “Triumph Forsaken” [“Chiến thắng bị bỏ rơi”], ngay lập tức nó đã bị gọi là “xét lại”, vì nó thách thức về cơ bản sự chính thống đang ngự trị, nối tiếp theo một con số ít của những quyển sách khác trong hạng mục này như “A Better War” của Lewis Sorley và “Dereliction of Duty” của H. R. McMaster.

Cuốn sách cho thấy Hồ Chí Minh là một nhà cộng sản giáo điều, người, giống như các đồng minh Xô viết và Trung Hoa của ông ta, bám chặt vào quan điểm Marx-Lênin, rằng người cộng sản tất cả các quốc gia phải hợp tác để lan truyền đi cuộc cách mạng thế giới. Lúc Johnson quyết định gửi quân đội mặt đất sang Nam Việt Nam, Hồ và các đồng minh của ông ta đang tiến gần tới mục tiêu của họ là biến toàn bộ Đông Nam Á thành cộng sản, và rất có thể là họ đã thành công nếu như Hoa Kỳ đã nhảy ra. Sự can thiệp của Mỹ đã tạo khả năng cho một cuộc đảo chánh chống cộng sản ở Indonesia và sự tự tàn phá của cuộc Cách mạng Văn hóa Trung Hoa, và nó mang lại thời gian cho các quân cờ domino khác ở châu Á để họ tăng cường phòng thủ cho họ.

Cuộc chiến không chỉ cần thiết, tôi lập luận, mà còn có thể chiến thắng với những quyết định chiến lược tốt hơn. Sai lầm quan trọng nhất là quyết định của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Henry Cabot Lodge, xúi giục đảo chánh lật đổ Ngô Đình Diệm, điều đã phá hỏng bộ máy an ninh Nam Việt Nam, dẫn tới việc miền Bắc bắt đầu một cuộc xâm lăng lớn xuống miền Nam.  Một sai lầm khác là quyết định của Johnson không đưa quân đội mặt đất sang Lào để chận Đường mòn Hồ Chí Minh, một động thái sẽ làm thay đổi cuộc chiến và giảm nhu cầu quân đội Mỹ.

Quyển sách đã gây ra nhiều cuộc thảo luận đáng kể trong giới hàn lâm, bao gồm cả một loạt trả lời, “Triumph Revisited”. Một vài cuộc trao đổi xuất phát từ đó mang tính xây dựng, nhưng phần lớn là thô tục, nhỏ mọn, thậm chí còn mang tính tấn công cá nhân, đặc biệt là khi nó đến từ những cựu thành viên của phong trào phản chiến và những người được họ che chở. Mặc dù có một thiểu số giáo sư  hoan nghênh một thách thức được lập luận tốt đối với một kiến thức thông thường, sự thù địch tập hợp lại ở bất cứ nơi nào tôi nộp đơn ứng cử vào một vị trí giảng dạy đại học.

Tôi nhắc đến điều này không phải để được mang vào trong giai cấp nạn nhân đang ngày một lớn hơn của quốc gia – những điều không may của tôi với giới hàn lâm đã dẫn đến những may mắn bất ngờ khi giảng dạy cho các sinh viên tuyệt vời của các trường đại học quân sự Mỹ và dẫn đến công cuộc nghiên cứu các đề tài cấp bách. Nó muốn chỉ ra những mối nguy hiểm cho xã hội nhiều hơn, những mối nguy hiểm của một giới hàn lâm bị chính trị hóa. Khi một nghề nghiệp tuyên bố nó phát triển và tranh luận những ý tưởng mới nhưng lại đi tẩy chay những người thách thức những điều chính thống nào đó thì nó không cho sinh viên tiếp cận tới các tư tưởng hệ trọng và khuyến khích phần còn lại của xã hội phớt lờ chúng. Cách duy nhất để nghề nghiệp này lấy lại tầm quan trọng của nó là hãy biểu lộ rằng nó cởi mở đối với những thách thức và nó sẽ quan tâm thật sự đến những ý tưởng mới.

Henry Cabot Lodge và Tổng thống Ngô Đình Diệm tại Sài Gòn, tháng 8 năm 1963

Henry Cabot Lodge và Tổng thống Ngô Đình Diệm tại Sài Gòn, tháng 8 năm 1963

Thách thức những điều chính thống quanh Việt Nam ngày nay quan trọng hơn bao giờ hết. Trong lúc làm việc như một cố vấn ở Afghanistan, Iraq và những vùng có xung đột khác, tôi nhìn thấy chính trị gia, sĩ quan quân đội, nhà báo và các nhà chínhn trị học cố gắng áp dụng những bài học của Việt Nam. Tôi càng nhìn thì tôi càng thấy rõ rằng hiểu biết lịch sử hời hợt và phụ thuộc thái quá vào lý thuyết hàn lâm sẽ dẫn đến những lời khuyên xấu – lời khuyên mà có thể khiến cho đàn ông và phụ nữ bị giết chết, thậm chí còn khiến cho thua cả cuộc chiến.

Trên thực tế, nghiên cứu gần đây nhất của tôi tập trung vào các sự kiện quanh năm 1967, chiếu ánh sáng mới, quan trọng, cho thấy rằng những cuộc đối thoại trong nước về cuộc chiến có thể có tác động quyết định. Trong số những phát triển lôi cuốn nhất của năm 1967 là sự hối tiếc của chính phủ Johnson về quyết định của họ, không tạo hỗ trợ cho cuộc chiến bằng cách thảo luận tính cần thiết cho nó trong giới công chúng. Việc giới công chúng không nhiệt tình với cuộc chiến, quan chức chính phủ bây giờ mới nhận ra, đã khuyến khích kẻ địch tin rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ rơi đồng minh của nó, và vì vậy mà Bắc Việt không có lý do gì để ngừng lại.

“Chính phủ đã chủ ý đưa ra quyết định không tạo nên một cuộc chiến tranh tâm lý ở Hoa Kỳ”, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dean Rusk nhận xét trong tháng 10, vì nó “quá nguy hiểm khi đất nước này bị kích động.” Johnson, Rusk và các quan chức khác đã lo ngại rằng cơn sốt chiến tranh sẽ xói mòn chương trình đối nội Great Society và gia tăng căng thẳng với Xô viết. Nhưng bây giờ thì Rusk thừa nhận rằng “có lẽ đó là một sai lầm, có thể là tốt hơn khi tiến hành những bước đi để xây dựng một cảm giác quốc gia đang ở trong chiến tranh.”

Trong năm 1967, các cố vấn của Nhà Trắng và lãnh đạo nước ngoài đã liên tục kêu gọi Johnson thay đổi đường lối, để nói với công chúng Mỹ tại sao Hoa Kỳ ở Việt Nam và đang cố gắng đặt tới điều gì. Nhưng Johnson không thể vượt qua được chính mình để làm điều đó, ngay cả khi ông càng lúc càng nhận ra những hệ quả gây tổn hại từ sự im lặng của ông ấy. “Nếu lịch sử buộc tội chúng ta vì Việt Nam”, Johnson nói trong mùa thu, “thì đó sẽ là việc chúng ta tiến hành một cuộc chiến mà không cố gắng cổ xúy cho lòng yêu nước.

Thiếu vắng vai trò dẫn dắt cổ vũ của tổng thống, sự ủng hộ của giới công chúng Mỹ cho cuộc chiến đã giảm đi trong suốt năm 1967. Đúng như quan chức chính quyền lo ngại, quyết tâm yếu ớt rõ rệt của Mỹ đã khiến cho ý chí của Bắc Việt càng thêm kiên quyết. Hà Nội bác bỏ mọi đề nghị đàm phán hòa bình của Mỹ và đoán trước rằng đợt tấn công Tấn Mậu Thân sẽ hủy hoại những gì còn lại của ý chí Mỹ.

Nói cách khác, bước ngoặc của công chúng quay lại chống chiến tranh không phải là không thể tránh khỏi; nó là kết quả từ sai lầm của những người làm chính sách, không giải thích và thuyết phục người Mỹ hãy ủng hộ họ. Ngày nay, khi đất nước tham gia vào trong hai cuộc xung đột kéo dài, khác nhau, và với khả năng những xung đột khác có thể bùng nổ vào bất cứ lúc nào, thì đây là một bài học mà các nhà lãnh đạo của chúng ta nên ghi nhớ.

Mark Moyar, Giám đốc Trung tâm về Lịch sử Quân đội và Ngoại giao, là tác giả của “Oppose Any Foe: The Rise of America’s Special Operations Forces” và “Triumph Forsaken: The Vietnam War”

Phan Ba dịch

https://www.nytimes.com/2017/05/19/opinion/was-vietnam-winnable.html?rref=collection%2Fcolumn%2Fvietnam-67

Đọc những bài khác ở trang Chiến tranh Việt Nam và trang Tài Liệu

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s