Rồng Mekong (7): “Ướt nước mắt thì người ta sẽ nhìn không rõ được”

Nữ phóng viên Catherine Leroy đang chuẩn bị nhảy dù cùng với Lữ đoàn Dù 173 trong chiến dịch Junction City.

Đầu 1968, Việt Nam là tin tức thống trị tất cả, “the biggest story in the world”. Công chúng ở Hoa Kỳ, nhưng cũng cả trong các quốc gia Tây Âu, chia rẽ ra thành những người chống và ủng hộ nước Mỹ tham chiến. Cùng với mối quan tâm, nhu cầu cần có thông tin và ý kiến về diễn tiến của các sự việc cũng tăng lên. “Hàng đoàn đa sinh ngữ của những cái được gọi là phóng viên chiến trường”, như nhà văn thriller John Le Carré đã chế nhạo, đổ xô tới Sài Gòn để tự trình diễn mình như là những người anh hùng trước một giới khán giả đang kinh ngạc.

Phóng viên của các thế hệ già hơn, đã có mặt trong Đệ nhị Thế chiến và cả ở Triều Tiên, khinh thường và kinh hoàng nhìn xuống đám đông nhà báo đó. Đối với Joseph Alsop, Marguerite, Kenneth Crawford, để chỉ kể một vài người Mỹ kỳ cựu, quân đội Hoa Kỳ xứng đáng được  công chúng và báo chí hỗ trợ. Và cả đối với các thông tín viên từ Cộng hòa Liên bang [Đức], đối với Hans Walter Berg, Christian Roll, Eckehard Budewig, Thilo Bode và Klaus Mehnert, thì việc Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tiến hành một cuộc chiến tranh cần thiết về mặt chính trị là một điều đứng ngoài mọi sự nghi ngờ. Trong giới đó, không ai có ảo tưởng về đối thủ cộng sản. Một chiến thắng của những người cộng sản, Douglas Pike đã viết ngay từ năm 1967, sẽ đồng nghĩa với việc “đưa hàng ngàn người Việt, trong số đó là nhiều bạn bè cá nhân, tới cái chết, tù đày hay lưu vong vĩnh viễn. Đối với tôi, nỗi thống khổ của dân tộc Việt Nam không phải là một khái niệm trừu tượng; và tôi không khoan dung cho những người nhìn Việt Nam như vậy.”

Phóng viên của thế hệ trẻ hơn, mà tôi cũng thuộc vào trong đó, những người trải nghiệm qua Đệ nhị Thế chiến và lần bắt đầu cuộc xung đột Đông-Tây ít dữ dội hơn nhiều, và quan sát vai trò dẫn đầu của nước Mỹ với đôi mắt tương đối khách quan, thì ngược lại đặt ra những câu hỏi về tính chính đáng và ý nghĩa của cuộc chiến tranh bẩn thỉu trong rừng rậm. Một cái nhìn tới kinh nghiệm chiến tranh của nước Pháp và nghiên cứu về nguồn gốc của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam đã để cho chúng tôi hoài nghi, rằng Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ có thượng quyền dùng vũ lực để giữ vững sự chia cắt đất nước Việt Nam, được thỏa thuận năm 1954 tại Genève, chỉ vì sự thống nhất sẽ đưa nước Việt Nam vào dưới sự thống trị của cộng sản. Chúng tôi tự hỏi, liệu các phương tiện đó có thích hợp hay không, để giữ vững nhà nước Sài Gòn, liệu cỗ máy chiến tranh đó, gây ra nhiều nạn nhân như vậy trong thường dân, có được phép sử dụng mà không cần phải đắn đo hay không. Đừng dùng súng hỏa mai để giết bướm, một câu châm ngôn châu Á khuyên nhủ.

Nhưng trước hết là chúng tôi nghi ngờ những thông tin chính thức. Chúng tôi có cảm giác bị các phát ngôn viên của sứ quán và quân đội đánh lạc hướng. Cỗ máy tuyên truyền của Lầu Năm Góc đúng là thúc giục tự thu thập lấy thông tin, kiểm nghiệm lại phiên bản chính thức, ưu tiên cho “sự thật” mà không cần lưu tâm tới uy tín của thế lực dẫn đầu Phương Tây. Chúng tôi điều tra và phán xét, đúng theo nhiệm vụ của báo chí trong một xã hội tự do. Rằng một sự độc lập và tự do như vậy chưa từng có trong một tình huống khủng hoảng quốc gia, trong một cuộc chiến, điều đó thì các phóng viên ở Việt Nam hầu như không nhận thức được. Chúng tôi cho rằng thiếu vắng kiểm duyệt là một điều tự nhiên. Chúng tôi còn chẳng biểu lộ sự kính trọng cần có đối với các cơ quan của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ nữa.

Có không ít người trong số “đoàn đa sinh ngữ phóng viên chiến trường” đã dùng sự tự do gần như là vô giới hạn ở Nam Việt Nam để anh hùng hóa Việt Cộng, hình sự hóa giới lãnh đạo chiến tranh Mỹ và tạo tính đáng tin cho luận điểm của cộng sản về tội diệt chủng ở Việt Nam của Mỹ. Nhà nước Sài Gòn xuất hiện trong hình ảnh đó như là một con quái vật phát xít mà trong đó chỉ có tra tấn và giết người mà thôi.

Ngay cả những tường thuật tôn vinh đối thủ và nói xấu quan điểm của bên ta cũng được khoan dung. Các cơ quan Nam Việt Nam cố gắng đặt ra giới hạn cho những người chống đối công khai họ trong giới xuất bản, trục xuất họ hay ngăn cản không cho tái nhập cảnh. Đại sứ quán Mỹ thường xuyên phải ép buộc chính phủ Nam Việt Nam, ít nhất là để cho giới báo chí nước ngoài có được tự do ngôn luận và tự do thông tin, khoan dung cho cả những người phê phán và các nhà hoạt động, những người như Mary McCarthy đã chẳng buồn giấu giếm rằng mục tiêu của bà là gây hại cho lợi ích của nước Mỹ.

Sự khoan dung này đã tồn tại cho tới khi cuộc chiến chấm dứt trong tháng Tư 1975. Nó đã mang lại cho Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ sự phẫn nộ từ khắp nơi trên thế giới về việc sử dụng napalm, chất độc màu da cam để làm rụng lá và về những vụ thảm sát người dân thường như ở Mỹ Lai. Chính phủ ở Washington bị đặt lên chiếc ghế của bị cáo.

Việc tôn vinh Việt Cộng và tố cáo quân đội Mỹ như là một băng nhóm tội phạm đã không thể tìm thấy được sự đồng ý của tôi. Tuy nước Mỹ đã theo đuổi các lợi ích toàn cầu riêng của mình ở Việt Nam, nhưng Hoa Kỳ đồng thời cũng cố gắng bảo vệ lý tưởng của một trật tự xã hội tự do, những cái mà họ nhìn thấy chúng bị đe dọa bởi một cuộc xâm lược của cộng sản. Thế giới quan của họ có thể là ngây thơ, ngạo mạn, còn có thể được gọi là giống như truyền đạo, nhưng đối với tôi thì nó không phải là tội phạm và xấu xa về mặt đạo đức.

Một nhóm thứ ba của các phóng viên, hút cần sa và ma túy, tìm thấy một nét hấp dẫn về mặt thẩm mỹ của bạo lực, trải nghiệm cuộc chiến hoàn toàn không bị cắn rứt lương tâm và chống đối trong nội tâm. Nhiếp ảnh gia người Anh còn rất trẻ Tim Page thuộc vào trong số đó, người mà những lần bị thương trong thời gian nhiều năm đã làm cho anh trở thành một người tàn phế. Cùng với Sean Flynn, người con trai liều lĩnh của diễn viên Errol Flynn, Page đã liều mạng thực hiện những nhiệm vụ nguy hiểm nhất, nhằm trải nghiệm hiện thực của một cuộc chiến mà trước đó anh chỉ nhìn thấy trong rạp chiếu bóng hay trên truyền hình. Nhạc rock từ những chiếc máy bán dẫn, cái mà họ cũng mở thật to tại chiến tuyến ngoài cùng, và ma túy đã đẩy nhóm người trẻ tuổi này vào trong một trạng thái say sưa, mà những cảnh tượng bạo lực chiến tranh còn có khả năng làm tăng nó lên thêm nữa. Trong tình trạng thiếu phản xạ sợ hãi và bảo vệ, Page, Flynn và Dana Stone, cả anh cũng là một “người Di gan Hemingway”, đã “bắn” những tấm ảnh chiến tranh xuất sắc, được in trong các báo ảnh và tạp chí ảnh nổi tiếng ở Âu Mỹ.

Ai tỉnh táo đối phó với hiện thực của chiến tranh mà không cần sa hay ma túy, người đó đôi lúc có thể cảm nhận được sự hỗ thẹn. Ai không bị chiến tranh làm cho chai lỳ đi, người đó cảm nhận được một sự ngượng ngùng nhất định, khi ống kính được hướng tới những người đã tử trận hay bị thương ngay trong sự vội vã hấp tấp của trận đánh, tới những người lính trẻ tuổi cứu nguy cho đồng đội trong sự sợ hãi và căng thẳng, trong khi các nhà báo tháp tùng không phụ giúp vì họ quay phim hay chụp ảnh sự việc đầy bi kịch đó. Tôi cũng chỉ tháp tùng các đội ngũ quay phim của tôi với một cảm giác bị đè nặng trong thâm tâm, khi chúng tôi vội vã tới nơi bị hỏa tiển bắn phá, nơi những người dân thường chảy máu đầm đìa đang chờ để được chở vào bệnh viện và những người chết mắt mở trừng trừng đang nằm trong sự dơ bẩn của đường phố. Trẻ con bất lực chạy lạc khóc lóc qua cảnh tượng đó. Lửa cháy ở phía sau, vì vụ nổ thường lật đổ những bếp dầu trong các căn nhà dân và qua đó đã gây ra một đám cháy lớn.

Đã không cứu nạn, không giúp đỡ và không an ủi trong những tình huống giống như dưới địa ngục như vậy mà lại còn quay phim, việc đó đã khiến cho con người nhạy cảm trong số các nhà báo phải đau khổ thật nhiều trong thâm tâm, những nỗi đau đớn mà thỉnh thoảng đã tăng niềm tự hoài nghi lên trở thành sự tự căm ghét.

Larry Burrows, nhiếp ảnh gia của Life, người trong một câu chuyện bằng ảnh với tựa đề “Yankee Papa 13” đã ghi nhận lại lần cố gắng cứu thoát một phi công Mỹ bị bắn rơi đầy bi kịch và không thành công, tin là trong lúc đó đã cảm nhận được ác cảm, vâng, các cảm giác hung hãn của những người trong cuộc, trải nghiệm người chụp ảnh như là một kẻ hôi của người chết. “Tôi bị giằng xé giữa vai trò của tôi là một nhiếp ảnh gia và các cảm giác con người bình thường của tôi”, Burrows sau này đã thừa nhận như vậy. “Không dễ dàng chụp ảnh một người phi công đang chết trong tay của người bạn, và rồi sau đó quan sát lần suy sụp tâm thần của người bạn này… Tôi có lợi dụng sự đau khổ của người khác không? Thỉnh thoảng người ta có cảm giác như mình là một thằng khốn nạn.”

Đặc biệt tàn bạo trong việc chụp lấy hiện thực là truyền hình, cái đưa ống kính và micrô ra cho những người bị thương và những người sắp chết, và cũng giữ lại cả diện bạo của cái chết, có sự ghê rợn bao quanh. Các đội ngũ ở Sài Gòn cung cấp các action stories càng nhiều thì yêu cầu của các ban biên tập lại càng cao hơn. Lúc đầu thì người sống và người chết là đã đủ, nhưng chẳng bao lâu sau đó thì phải là những người sắp chết.

“Ướt nước mắt thì người ta sẽ nhìn không rõ được”, nhiếp ảnh gia người Anh Philipp Jones Griffith đã có lần nhận xét như vậy, người quay sang thường dân Việt Nam đang phải chịu đựng đau khổ và đã minh chứng cho cảnh khốn cùng của họ trong những tấm ảnh đầy ấn tượng. “Đó là công việc của chúng ta, ghi lại sự việc cho lịch sử. Người ta không được phép để cho cảm xúc lôi kéo mình vào diễn tiến. Người ta phải làm tròn nhiệm vụ, nếu cần thiết thì với một tâm hồn bằng thép. Người ta chỉ được phép ngã quỵ sau đó, trong phòng tối.”

Trong giới báo chí ở Việt Nam, nhạy cảm đối với nạn nhân và một cảm giác cho phẩm giá của thời điểm là một trường hợp ngoại lệ nhiều hơn là việc thông thường. “Chiến tranh lúc nào cũng hào nhoáng”, Tim Page đã nói. “Với vũ khí trong tay, người ta có cảm giác mình to lớn hơn.” Trong tim của các phóng viên chiến tranh chuyên nghiệp vẫn còn sống động một ít sự lãng mạn của Ernest Hemingway, một nữ phê bình của tờ New York Times tin là có thể nhận ra được: “Sự thật tồi tệ nhất là việc cuộc chiến hoàn toàn không phải là địa ngục cho các thông tín viên. Nó là một niềm vui lớn.”

 Không ai, người trải qua cuộc Chiến tranh Việt Nam có ý thức, muốn tranh cãi, rằng “câu chuyện tin tức lớn nhất thế giới” đã mang lại một sự quyến rũ nhất định cho các nhà báo, những người cung cấp nó hàng ngày. Vì tất cả những câu chuyện đó đều được in ra và được phát đi, vì sự quan tâm của công chúng thế giới có thời gian tập trung vào Việt Nam cho tới mức tất cả các sự kiện khác đều bị xếp lại phía sau, nên các phóng viên ở Sài Gòn đã hưởng được quá nhiều sự chú ý và chiếu cố, điều đã tạo nên tiếng tăm cho họ. Không một nhà báo nào sẽ chối cãi rằng đó là phần thưởng được ham muốn nhất mà nghề nghiệp này có thể trao tặng cho. Việt Nam là một thử thách và thử nghiệm cho báo chí mà mối nguy hiểm gắn liền với nó dường như vì vậy mà đã nhỏ đi.

Tuy vậy, ghi nhận, ghi chép và mô tả với cặp mắt lạnh lùng, khô khan thường là một áp lực gần như không thể chịu đựng nỗi đối với tôi. Sự tự hoài nghi hành hạ bản thân của Larry Burrow cũng đi theo tôi trong thời gian đó. Người ta có thể và có được phép đứng nhìn mà không tham gia vào hay không? Không phải là thích hợp nhiều hơn hay sao, khi biểu lộ tình liên đới nhân đạo, đặt chiếc máy quay phim xuống và tham gia cứu giúp thay vì quay phim và lui vào vai trò nhân chứng, vai trò của người biên niên sử?

Nhà văn người Đức chết sớm Nicolas Born trong quyển tiểu thuyết cuối cùng của ông “Die Fälschung” [“Giả mạo”] đã mô tả sự xung đột nội tâm của một phóng viên chiến tranh, người có nguy cơ chết ngạt trong sự khốn cùng của xung đột Libanon. Born đã quan sát các phóng viên chuyên nghiệp trong lúc làm việc và có cảm giác ghê tởm, khinh bỉ vô cùng.

Laschen, người anh hùng của ông, đã mắc bệnh vì “sự đứng ngoài và vô trách nhiệm của phóng viên”. Ông đau khổ vì sự lạnh lùng trong ánh mắt nhìn sự khốn cùng của những nhà chuyên nghiệp đó. Họ cung cấp “một sự kinh hoàng vì tiền, một sự kinh hoàng mà người ta có nhu cầu không biết chán”. Ông gọi họ là bọn vô lại, các “phóng viên sự thật”, những người bao giờ cũng muốn đứng gần tới mức đụng chạm vào da thịt, biến tất cả và mỗi một điều trở thành một sự tương tích tốt đẹp chung, mang khắp thế giới vào trong một chương trình tiêu khiển thế giới… Anh chỉ muốn chấm dứt một trạng thái, trạng thái của sự giả mạo cũng như trạng thái của sự phẫn nộ phê phán và phẫn nộ đạo đức, chấm dứt trạng thái đó mà không phải hoàn toàn rơi vào trong sự thờ ơ, đó mới là một kỳ công.”

Nicolas Born tức Laschen đã thất bại ở kỳ công đó. Bài phóng sự mới, kiểu khác, không chỉ ghi nhận sự kiện, không giả mạo mà lột trần, gây ấn tượng cho người đọc, can thiệp vào, vượt qua khoảng cách, loan báo sự thật tàn bạo, đáng sợ. Quyển thiểu thuyết chỉ phát triển một lý thuyết cho việc đó. Không có thực hiện, vì không có và không thể có một phóng sự như vậy.

Hiện thực nặng nề, dai dẳng không để cho điều gì làm đảo ngược lại, cả lý tưởng lẫn thương hại cũng không. Cái được cho là sự cay độc của các “phóng viên sự thật” đã tự chứng tỏ mình là tính khiêm tốn, là nhận thức được sự không toàn vẹn của năng lực và khả năng của chính mình. Tác giả Nicolas Born đã phác thảo một lý tưởng không đạt tới được. Ông đã không thừa nhận thất bại trước độc giả của ông.

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Rồng Mekong (6): Bóng ma Điện Biên Phủ

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Rồng Mekong

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s