Rồng Mekong (6): Bóng ma Điện Biên Phủ

Tình hình đe dọa lực lượng ở Khe Sanh. Mặc cho chiến dịch “Niagara” ở trên không, những cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt không giảm xuống. Những nhà báo sống và cùng chịu đựng gian khổ với quân lính trong pháo đài ở trên núi này chẳng bao lâu sau đó cảm nhận được sự hoài nghi trong thâm tâm và những nỗi lo lắng của giới chỉ huy quân sự, những người cũng nhận thức được sức mạnh của họ, nhưng không hiểu rõ các ý đồ của đối phương.

Nếu như các vị tướng Mỹ cảm nhận sự so sánh với pháo đài Điện Biên Phủ của người Pháp như là một điều gây khó chịu thì giới báo chí, những người có thể tiếp cận được với tài liệu lịch sử ở Sài Gòn, lại nghiên cứu các quyển sách quân sự kinh điển phân tích về trận đánh quyết định ở Điện Biện Phủ trước đó đúng 14 năm. Những quyển sách của Jules Roy và Bernard Fall gây cảm hứng cho cuộc thảo luận của các nhà báo, những người phát hiện ngày càng nhiều sự tương đồng giữa Điện Biên Phủ và Khe Sanh.

Không quân Hoa Kỳ tạo một tấm màn chắn bằng mảnh bom và chất nổ chỉ cách vòng ngoài của Khe Sanh khoảng 200 feet. Khe Sanh, tháng Ba 1968
Không quân Hoa Kỳ tạo một tấm màn chắn bằng mảnh bom và chất nổ chỉ cách vòng ngoài của Khe Sanh khoảng 200 feet. Khe Sanh, tháng Ba 1968

Ở đây cũng như ở kia, địa thế có nhiều đồi núi, nằm nơi xa vắng, bất lợi cho xe tăng và thiết bị vận tải đường bộ. Thời đó cũng như ngày nay, người Bắc Việt phản ứng, không chủ động. Các nhà chiến lược người Pháp và người Mỹ, mặc dù không lâm vào tình trạng khó khăn nhưng đã quyết định xây dựng và củng cố một tiền đồn mà giá trị quân sự của nó hết sức đáng khả nghi. Ở Điện Biên Phủ, những quyển sách của Roy và Fall chứng minh cho điều đó, các tiên đoán tự tin của giới chỉ huy quân đội Pháp đã sụp đổ chỉ vài giờ sau khi đối phương bắt đầu xung phong tấn công. Viên chỉ huy pháo binh đã hứa sẽ làm câm lặng bất cứ lần bắn phá nào của người Việt trong thời hạn ngắn nhất. Đại tá Piroth đã tự kết liễu cuộc đời của mình ngay trong đêm mà các loạt đạn đại bác rơi xuống pháo đài.

Đội ngũ sĩ quan của nhiều quân đội chắc chỉ còn bao gồm một nhóm nhỏ, nếu như tất cả các chỉ huy đều cảm thấy phải đền bù lại cho sai lầm của họ bằng cái chết, nhằm giữ được danh dự. Quân đội Mỹ chưa bao giờ tiếp nhận khái niệm danh dự của châu Âu. Ở Khe Sanh, các marines trong câu chuyện đùa tàn nhẫn đã hỏi về sự khác nhau giữa lực lượng Thủy quân Lục chiến và các hướng đạo sinh. Hướng đạo sinh, theo câu trả lời do Michael Herr, phóng viên của tờ Esquire và sau này là nhà văn, “có lãnh đạo là người trưởng thành”.

Ở Điện Biên Phủ, cái nhìn lại lịch sử cho thấy rõ điều này, Việt Minh đã đưa ra những mục tiêu và chiến lược vượt quá sức tưởng tượng và ý thức trách nhiệm của giới quân đội Phương Tây. Đối với những người xung quanh Hồ Chí Minh, để xung phong chiếm một pháo đài ít có tầm quan trọng về quân sự nhưng đã trở thành một biểu tượng chính trị thì không có một cái giá phải trả bằng máu nào là quá cao. Chỉ lợi ích chính trị, cú sốc tâm lý lên công chúng của thế giới Phương Tây là quan trọng, các tổn thất, những nạn nhân trong một cuộc tàn sát kinh hoàng thì không.

Ở Khe Sanh, tổn thất của những người tấn công sẽ lớn hơn ở Điện Biên Phủ rất nhiều. Nhưng các nhà báo nghi ngờ rằng Tướng Võ Nguyên Giáp, người chiến thắng huyền thoại của thời đó, bây giờ cũng được giao cho nhiệm vụ giành lấy chiến thắng bằng mọi giá, để tạo ra ở khắp nơi trên thế giới cùng một phản ứng đã khiến cho nước Pháp phải chấm dứt cuộc chiến, mặc dù việc tổn thất 5000 người lính không làm thay đổi tình hình chiến lược tổng thể một cách cơ bản.

Điện Biên Phủ là một từ ngữ kích thích, cái mà giới nhà báo đưa vào những bài tường thuật của họ hầu như hàng ngày. Các “chương trình truyền hình bi kịch thống thiết” bất thình lình gây lo sợ. Khán giả khắp nơi trên thế giới cảm thấy thương xót cho những người Mỹ phòng thủ đang bị vây hãm kịch liệt. Tất nhiên là cả ở Khe Sanh, sự quan tâm của truyền thông hướng tới những người da trắng trước hết, những người lính Mỹ. Phần nửa thứ nhì của lực lượng đang chịu đựng và hy sinh, lính Biệt Động Quân của quân đội Nam Việt Nam, những người lâm vào tình trạng không còn có sự chọn lựa nào khác ngoài dũng cảm chống cự giống như các đồng minh, hầu như không được nhắc tới trong các tường thuật của các tập đoàn truyền thông lớn của Mỹ. Khe Sanh là tấn bi kịch của lính cổ da. Người Việt trong đó có thể bỏ qua được.

Được trang bị với áo chống đạn và nón sắt, các nhà báo và phóng viên ảnh bám sát lính marines đang chiến đấu. Nước Mỹ nhìn quân đội đang ở trong trận chiến đúng theo nghĩa đen hoàn toàn của nó; và khán giả ở quê hương nhanh chóng nhận ra rằng phản chiếu trong những hình ảnh đó là hiện thực đầy máu. “Những cái như tuổi trẻ”, Michael Herr mô tả những người lính trẻ, “không ở lâu trên gương mặt của họ. Đó là những con mắt: vì chúng lúc nào căng thẳng quá mức hay kiệt sức hay đơn giản là trống không, nên chúng không bao giờ có liên quan tới phần còn lại của gương mặt, và điều đó mang lại cho tất cả họ vẻ ngoài của sự kiệt sức cùng cực hay còn là bề ngoài của sự điên rồ nữa.”

Khi áp lực của những người tấn công không giảm bớt, và khi tình hình còn thêm căng thẳng bởi trận tấn công Tết [Mậu Thân] vào các thành phố đã bắt đầu trong ngày cuối cùng của tháng Giêng năm 1968, thì vang lên trong các tường thuật của giới phóng viên không chỉ là sự hoài nghi và nỗi lo lắng về sức mạnh của đối phương, mà cũng là lời phê phán thẳng thừng giới lãnh đạo quân đội của chính mình, những người phải chịu các tổn thất cao hơn là giới nhà báo cho rằng cần thiết. Nhưng cả những người cầm cờ chỉ huy trong bộ phận xuất bản của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến cũng hỏi về cuối, rằng tại sao những người lính không củng cố hầm hố và công sự của họ cho kiên cố hơn? Tại sao lại không kịp thời ra lệnh cho họ đào hầm sâu hơn? Lính marines, một lực lượng tấn công phản ứng di động, hoàn toàn không được chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh chiến hào. Tấn công là phương châm của họ, không phải phòng thủ. Tính tự kiêu của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến lại còn làm tăng một cách đáng kể các tổn thất của lực lượng chiến đấu ở Khe Sanh.

Bộ Tổng Tư lệnh ở Sài Gòn và cả những người đứng đầu ở Lầu Năm Góc cũng cảm nhận được áp lực từ ý kiến công chúng, giới hết sức nhạy cảm với những nghi ngờ, lo ngại và hoài nghi trong tường thuật của các thông tín viên. Bóng ma Điện Biên Phủ lảng vảng khắp nơi. Giới công khai ở Mỹ không chỉ trải nghiệm được hỏa lực của cỗ máy chiến tranh và tính anh dũng của quân đội, mà cả các nạn nhân, nỗi sợ hãi của những người lính quân dịch trẻ tuổi, bị thương hay tử trận trong lòng chảo Khe Sanh. Bây giờ, Việt Nam thống trị các tít báo và tinh thần ở quê hương.

Nghi ngờ về tính thích hợp của chiến lược Mỹ đã được bộc lộ ngay từ năm 1962 trong các cơ quan ngôn luận của bờ biển Đông tự do. Bây giờ, ở Khe Sanh, dường như chúng đã tìm thấy được sự một sự xác nhận mang đầy tính bi kịch qua truyền hình.

Con ma Điện Biên Phủ không làm cho ai hoảng sợ nhiều hơn là Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johson đang bị trách nhiệm của mình đè nặng. Ông đã yêu cầu các viên tướng lãnh của ông, những người mà công việc làm ở nghị trường đã dạy cho ông là không nên tin tưởng họ, trao cho ông một lời bảo đảm bằng văn bản, rằng pháo đài Khe Sanh có thể được giữ vững và rằng ông sẽ không phải chịu đựng cú sốc của một chiến bại gây náo động tại ngôi làng Khe Sanh trên núi. Sự cảm thông ngày càng tăng của giới công khai Mỹ với diễn tiến của các chiến dịch ở Việt Nam đã mang người tổng thống nhạy cảm vào một tình trạng phụ thuộc về tâm lý vào các tường thuật và tạo ý kiến của giới truyền thông. Một bức ảnh đặc trưng chụp Johnson trong một chiếc áo choàng trong nhà, đang cùng với các cố vấn thân cận nhất suy nghĩ về các tin tức phim ảnh mới nhất từ Việt Nam. Lời phán xét của giới báo chí đối với ông cũng quan trọng giống như các phân tích tình hình và tiên đoán của giới quân đội.

Tiếp tế cho Khe Sanh
Tiếp tế cho Khe Sanh

Qua tính lạc quan và diễn giải tốt đẹp, các thông báo chính thức của Bộ Tư lệnh ở Sài Gòn cố gắng tác động chống lại những tin tức báo động của giới truyền thông. Sự căng thẳng nội tâm, hoài nghi và lo ngại, những điều mà Tướng Westmoreland phải chịu đựng qua những đợt tấn công kéo dài của các sư đoàn Bắc Việt, những điều đó thì ông cố gắng che dấu chúng trước giới công khai. Thật sự là từ khi Khe Sanh bắt đầu bị bao vây thì Westmoreland đã không dám rời trung tâm chỉ huy nữa. Cho tới khi chiến dịch chấm dứt, như sau này ông thố lộ trong hồi ký của mình, ông đã qua đêm trên một cái giường dã chiến trong  trung tâm.

Viên tổng tư lệnh và các cộng sự thân cận nhất của ông đã đánh giá tình hình nghiêm trọng đến mức như vậy vào thời điểm đó, điều này chỉ được bộc lộ trong các hồi ký. Ông đã suy nghĩ, theo như Westmoreland tường thuật, đến việc sử dụng “vũ khí nguyên tử chiến thuật nhỏ”, để dạy cho Hà Nội biết sợ. Do lo ngại giới báo chí phát hiện ra và cũng lo ngại việc giữa bí mật không được toàn vẹn, Hội đồng An ninh Quốc gia ở Washington đã cấm viên tổng tư lệnh không được thực hiện thậm chí là một nghiên cứu.

Westmoreland chứng tỏ thêm một lần nữa, rằng ông không có khả năng hiểu thấu được vai trò và tác động của giới truyền thông không bị kiểm duyệt trong Chiến tranh Việt Nam, khi ông kết thúc các cân nhắc của ông về việc sử dụng vũ khí nguyên tử chiến thuật với một lời thú nhận ngang ngạnh trong hồi ký: “Lúc đó tôi đã tin và ngày nay còn tin nhiều hơn thế nữa, rằng không xem xét tới sự lựa chọn này là một sai lầm. Lẽ ra nó đã có thể đưa cuộc chiến tới một kết thúc nhanh chóng.”

Chỉ một phỏng đoán về các cân nhắc chiến lược nguyên tử của viên tổng tư lệnh ở Việt Nam thôi là cũng sẽ làm cho giới công khai Mỹ bị kích động cao độ và tạo ra những phản ứng không thể đoán trước được. Johnson và Hội đồng An ninh Quốc gia cảm nhận được rất tốt tâm trạng của giới công khai, đã được truyền thông làm cho rất nhạy cảm và trong trường hợp Khe Sanh thì còn bị làm cho lo sợ nữa.

Chính khách và quân đội ngày càng mất khả năng tự quyết định lấy vẻ ngoài của cuộc chiến ở Việt Nam. Một giới báo chí không bị kiểm duyệt, tự thu thập lấy và diễn giải thông tin riêng, và qua đó là lấy đi một phần lớn tác động của bộ máy tuyên truyền của Lầu Năm Góc, cổ vũ giới công khai nghi ngờ những thông báo của các tướng lãnh. Một chiến thắng nhanh chóng, các đại diện báo chí hàng đầu đã tường thuật từ năm 1962 ở Sài Gòn, là sẽ không có. Qua Khe Sanh, giới công khai Mỹ bây giờ mới nhận thức được, rằng quân đội đã rơi vào một cái bẫy trong rừng rậm châu Á, rằng họ không chỉ đánh mà mặc dù có ưu thế về kỹ thuật nhưng vẫn phải chịu đựng nhiều tổn thất nặng nề, và còn không thể loại bỏ khả năng phải chấp nhận chiến bại cục bộ nữa.

Nước Mỹ không có chuẩn bị trước cho các tổn thất trong quy mô này. Các lý do và mục tiêu của lần tham chiến là khó hiểu đối với đa số; chúng không tạo ra một sự cảm thông thật sự và cũng hoàn toàn không tạo ra một sự sôi nổi. Ở Triều Tiên là đã thiếu sự nhiệt tình rồi. Thật sự là đối với người dân của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ thì Nam Việt Nam không đáng giá tới sinh mạng của một người lính duy nhất. Rằng cần phải ngăn chận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở Nam Việt Nam, để giữ cho Đông Nam Á tránh được trận ngập lụt đỏ hay vàng, điều này thì các nhà địa chính trị và những bài xã luận có thể thuyết phục. Đối với khán giả truyền hình ở Mỹ, thuyết Domino là một cái gì đó trừu tượng, chuyển tải lại rất ít ý nghĩa và sự cần thiết của cuộc chiến. Giới truyền thông phục vụ cho cảm giác và tâm trạng của khán giả với những hình ảnh từ chiến tuyến đầu. Bầu không khí đã bắt đầu đảo ngược. Chính khách và quân đội rơi vào áp lực của dư luận.

Chưa đầy một tuần sau khi Khe Sanh bị bao vây, chiến dịch Tết [Mậu Thân] đánh vào các thành phố ở xa hơn đó về phía Nam bắt đầu. Báo chí và quân đội vướng vào trong một xung đột nghiêm trọng. Sự kiện truyền thông ở Nam Việt Nam tiến đến gần đỉnh điểm. Bởi vì lịch sử quân sự chỉ là hậu cảnh, còn vai trò và tác động của báo chí ở trước đó mới đóng vai trò chủ đạo trong các suy nghĩ của chúng ta, nên kết cuộc của trận Khe Sanh được mô tả lại ở đây trong vài dòng ít ỏi. Pháo binh Bắc Việt bắn phá 67 ngày trời, lực lượng mà người ta đã không thể loại trừ được nó tuy là đã tiến hành chiến dịch “Niagara”. Đặc biệt về đêm, các đơn vị Bắc Việt luôn tiến hành những cuộc tấn công mới, đẫm máu, vào vòng ngoài của pháo đài, những cuộc tấn công mà người ta phải hết sức cực nhọc mới đánh bật lại được và khiến cho những người Mỹ phòng thủ phải hết sức kính nể tin thần và sức chiến đấu của Việt Cộng. Cuối cùng, Khe Sanh đã đứng vững trước áp lực đó.

Trong tháng Tư 1968, các trận đánh bất thình lình lắng xuống. Các sư đoàn Bắc Việt rút lui vào trong rừng rậm. Họ còn bỏ ngõ đường 9 nữa, con đường mà qua đó Tướng Abrams, người vào thời gian đó đã thay Westmoreland nhận chức vụ tổng tư lệnh, đã cho các đơn vị hành quân theo hướng bờ biển về Đông Hà, vào vùng an toàn.

Tổn thất Bắc Việt được ước lượng khoảng mười ngàn người chết. Con số lính cổ da tử trận được đưa ra trong các sử sách Mỹ là tròn 500. Con số tổn thất của Nam Việt Nam ở Khe Sanh không được nhắc tới.

Cho tới ngày nay, ý nghĩa và tầm quan trọng của trận đánh vẫn còn bị tranh cãi. Có hợp lý về mặt quân sự hay không, khi củng cố Khe Sanh trở thành một pháo đài và chấp nhận việc bị địch thủ ghìm chặt lại ở một địa thế bất lợi và đánh mất ưu thế di động? Các marines có đánh giá quá thấp lực lượng của đối phương hay không? Giáp có muốn chiếm Khe Sanh và đạt tới một Điện Biên Phủ thứ nhì hay không? Hay là các nhà báo chỉ “tung hô” trận đánh lên cao để gây ấn tượng trong công chúng qua action và bi kịch tính nhằm tăng số lượng phát hành và tỷ lệ người xem?

Nhà chiến lược Bắc Việt Võ Nguyên Giáp ngay trong năm 1968 đó đã nói trong một cuộc phỏng vấn với Oriana Fallaci: “Ồ không, Khe Sanh không phải và không thể là một Điện Biên Phủ thứ hai. Nó không có tầm quan trọng như thế đâu. Hay nó chỉ quan trọng vì người Mỹ cho nó là quan trọng, vì thanh danh của họ bị đe dọa. Nghịch lý Mỹ bình thường! Cho tới chừng nào mà họ bảo vệ Khe Sanh để bảo toàn thanh danh của họ thì họ quả quyết rằng nó là quan trọng. Khi họ bỏ Khe Sanh, họ nói rằng nó chưa bao giờ có một tầm quan trọng… Khe Sanh là một chiến thắng của chúng tôi.”

Tướng Westmoreland trong hồi ký của ông cũng tuyên bố chiến thắng về cho mình. Khe Sanh, ông tin như vậy, đã “làm hạ uy tín của thiên tài quân sự Giáp”. Giáp đã thất bại trong việc lập lại Điện Biên Phủ.

Ngày nay, đa số các nhà phân tích Mỹ cho rằng việc củng cố Khe Sanh thành một pháo đài là một sai lầm. Người ta đã tạo cho Giáp có khả năng cầm chân nhiều lực lượng lớn của quân đội Mỹ trong vùng núi khó đi lại ở miền Trung, trong khi lực lượng chính của Việt Cộng bắt đầu một cuộc tổng tấn công vào các thành phố ở miền Nam cùng thời gian đó. Tức là Khe Sanh chỉ là một việc làm đánh lạc hướng, một mưu kế chiến tranh của Hà Nội, để tạo tiền đề tốt nhất có thể cho cuộc tổng tấn công Tết [Mậu Thân]? Cho một mưu kế thì 10.000 người tử trận là một cái giá hết sức cao.

Mười tám năm sau, người phụ trách Bảo tàng Quân đội ở Hà Nội, đại tá Nguyen Van Cam, người đã tham gia chiến dịch đó như là một đại úy, đã thố lộ các ý định thật sự của giới lãnh đạo Bắc Việt cho tôi. “‘Quân đội Giải phóng’ có những mục đích nào khi tấn công pháo đài Khe Sanh và chấm dứt trậnh đánh bất phân thắng bại trong tháng Tư 1968?”, câu hỏi được đưa ra trước đó trên văn bản của tôi là như vậy.

Đứng trước một tấm bản đồ lớn, thể hiện các nhánh phụ của con đường mòn Hồ Chí Minh (mà tuyên truyền Bắc Việt đã chối cãi sự tồn tại của nó cho tới khi chiến thắng năm 1975), đại tá Nguyen Van Cam giải thích trước ống kính của chúng tôi: “Người ta phải dụ hổ ra khỏi rừng. Hổ chỉ mạnh khi nó ở trong rừng. Các marines quen đánh trận ở đồng bằng hay cạnh bờ biển. Chúng tôi đã dụ họ đến đây, trên một địa thế xa lạ, bất lợi. Trong khi nước Mỹ lo ngại chúng tôi chiếm được Khe Sanh thì chúng tôi bắt đầu cuộc tổng tấn công vào các thành phố trong miền Nam. Người Mỹ đã bị chúng tôi đánh lừa, vì họ không thể đoán được các ý định của chúng tôi. Cuối cùng thì Khe Sanh cũng là một cuộc tổng diễn tập. Lần đầu tiên chúng tôi đã hoạt động với nhiều sư đoàn. Nhiều đơn vị đã không có kinh nghiệm cho việc này. Chúng tôi đã lần lượt thay thế các sư đoàn, để học tập cách thức chiến đấu này. Khe Sanh là một điểm thu hút cho người Mỹ và đồng thời cũng là một nơi diễn tập cho quân đội của chúng tôi.”

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Rồng Mekong (5): Body count: Trò trình diễn xác chết khủng khiếp

Đọc bài tiếp theo: Rồng Mekong (7): “Ướt nước mắt thì người ta sẽ nhìn không rõ được”

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Rồng Mekong

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s