Rồng Mekong (5): Body count: Trò trình diễn xác chết khủng khiếp

Sau mỗi một “chạm trán với địch thủ”, theo cách diễn đạt của quân đội, khu đất đó được lùng sục, để xác định con số địch thủ bị giết chết. Khác với trong Đệ nhị Thế chiến, khi giới công khai Mỹ có một hình ảnh rõ ràng và tương đối xấu về địch thủ người Đức và Nhật, Việt Cộng không bị tuyên truyền làm biến dạng. Họ không tạo nên một sự căm thù thật sự. Họ “vô danh”, xa lạ và khó hiểu.

Sau trận đánh Đồi 875, Dak To.
Sau trận đánh Đồi 875, Dak To.

Máy tính Mỹ tính toán với những con số. Hàng tháng, theo thống kê của các bộ tham mưu ở Sài Gòn, có một con số chính xác Việt Cộng bị giết chết. Khi người ta có thể đánh giá sức mạnh của quân đội địch thủ bằng số lượng, thì nhờ vào việc body count, đếm xác chết, mà diễn tiến của cuộc chiến cũng có thể được xác định bằng số lượng. Việt Cộng vô danh tự giới thiệu mình qua hai con số: con số của những người sống, cái giảm xuống từ tháng này qua tháng khác; con số của những người đã hy sinh, cái liên tục tăng lên. Cái ngày đó không thể nào mà còn xa xôi nữa, những nhà làm xiếc với các con số ở Lầu Năm Góc tin là như thế, cái ngày mà địch thủ sẽ bị tiêu diệt. Cỗ máy chiến tranh hùng mạnh của Mỹ rồi sẽ đạt tới mục tiêu của nó.

Để xác định con số Việt Cộng chết, các chỉ huy thường để cho tập trung xác chết lại. Qua đó, người ta đưa ra cho các đội quay phim một hình ảnh gây nhiều ấn tượng về thành công thật sự của một chiến dịch.

Nhiều cảnh kinh tởm đã được quay trong lúc đó. Lính Mỹ với điếu thuốc lá trên môi đứng cạnh các xác chết như những người đi săn thú, còn không muốn từ bỏ việc giơ một chân đặt lên ngực của địch thủ đã bị giết chết nữa. Xe tăng dùng dây kéo lê xác chết theo sau.

Những nhà nhiếp ảnh và quay phim đã thâu lại các hành động xúc phạm xác chết quá lố đó và đưa ra giới công khai. Nhưng cả việc body count đơn giản, trình diễn để chứng minh cho thành công về quân sự, cũng mang lại một hình ảnh đáng sợ, ghê tởm, kinh khiếp.

Lính Việt Cộng bôi đen mặt lúc tấn công vào ban đêm Tất cả đều mặc loại vải màu đen của những người nông dân. Nhiều người chân trần nằm đó. Người ta đã tìm thấy họ như vậy, hay là người ta đã tháo giày của họ ra. Giày thông thường là những đôi xăng đan Hồ Chí Minh được làm từ lốp xe ô tô. Chiến binh mang giày được cho là “chính quy”, không phải là những người làm lính trong thời gian rảnh rỗi.

Không phải sự què cụt do những loại vũ khí giết người gây ra kích động trí tưởng tượng của người xem, mà là nét mặt của những con người thường là rất trẻ này. Với những loại vũ khí hạng nhẹ, họ đã xung phong chống lại cỗ máy phun lửa của nước Mỹ cường quốc thế giới. Họ cũng được cả những người lính Mỹ công nhận là hết sức cam đảm và coi thường cái chết, những người mà đã dùng những cái tên gọi mang tính phân biệt chủng tộc gook hay dink để gọi họ, nhưng mặc dù vậy vẫn không phủ nhận lòng tôn trọng tinh thần chiến đấu đó.

Điều gì thúc đẩy lực lượng quân đội này can đảm tấn công tới như vậy, bò qua những hàng rào dây kẽm gai trong đêm tối, băng qua những bãi mìn và lao thân mình chống lại cỗ máy của cái chết? Để tìm ra được nó, người ta phải lục soát quần áo của các xác chết. Sổ ghi chép, thư từ, những vật kỷ niệm cá nhân để cho người ta suy đoán tâm trạng của một quân đội mà tính anh hùng của họ dường như là vô nhân đạo. Dù nhiệm vụ có khủng khiếp cho tới đâu, nó phải được hoàn thành, nếu như người ta muốn có được những lời giải thích cho điều, rằng Việt Cộng, như sau này trong trận An Lộc 1972, đã tự nguyện xích mình vào vũ khí để không thể chạy trốn được, và rằng rất nhiều người quấn đầy bông băng và với những vết thương nặng đã chiến đấu cho tới giây phút cuối cùng, khinh thường cái chết theo đúng nghĩa đen của nó.

Ngay từ thời đó, qua những tài liệu thu được, các bộ tham mưu Mỹ ở Sài Gòn đã biết rõ sức mạnh về tâm lý và tính chịu đựng cao của đối thủ cộng sản. Những người lính, xuất phát từ miền Bắc, ở hàng năm trời trong rừng, không có phép và không có thời gian nghỉ dưỡng. Tin tức từ quê nhà hiếm khi tới được với họ. Chia cắt với gia đình là việc mà tất cả họ đều phải chịu đựng nhiều nhất.

Họ cũng biết rằng họ sẽ bị giới lãnh đạo quân sự của họ hy sinh một cách vô lương tâm, nếu như những người này cho rằng việc đó là cần thiết. Người chiến thắng Điện Biên Phủ, Tướng Võ Nguyên Giáp, đã nổi tiếng là hy sinh trung đoàn giống như đại đội và cũng chấp nhận cả tổn thất 50 phần trăm. “Trên Trái Đất này mỗi phút có hàng trăm ngàn người chết”, ông đã khinh thường nói với nữ nhà báo người Ý Oriana Fallaci như vậy. “Sống và chết không có nghĩa lý gì.”

Lâm vào tình trạng đáng sợ nhất là những người bị thương nặng. Các bệnh viện dã chiến, bị quân đội Sài Gòn và Mỹ phát hiện, để cho phỏng đoán rằng người ta đã tiến hành những ca mổ với phương tiện rất đơn giản và thường không có thuốc gây mê, rằng những người bị thương nặng hầu như không có cơ hội để sống sót. Những người đã hy sinh được chôn lấp. Mồ chôn không được làm dấu hiệu.

Douglas Pike, chuyên gia CIA về khai thác các tư liệu lấy được từ Việt Cộng, đã phác họa một hình ảnh từ những quyển nhật ký và thư từ, bộc lộ một “sự pha trộn của linh mục, công an và bài xã luận”. Đấu tranh là khái niệm được Đảng sử dụng cho nhiệm vụ đặt ra. Từ “đấu tranh”, theo Pike, không mang lại một tưởng tượng đầy đủ cho tính bao quát của ý tưởng nằm ở trong đó.  Đấu tranh định nghĩa quan điểm, tư tưởng và đạo đức. Đạo đức cao của quân đội này đáng chú ý hơn là sự thấm nhuần về ý thức hệ của họ. “Vì anh ta có đạo đức”, Pike phán xét, “nên người theo Mặt trận Giải phóng vượt trội hơn đối thủ của anh ta, và vì vậy là anh ta cũng thắng thế về chính trị và quân sự.”

Mang vẻ lãng mạn, đa cảm và có đạo đức là tác giả của những quyển nhật ký nhỏ, rõ ràng là được lén lút ghi chép, những quyển nhật ký mà người ta tìm được từ những chiếc áo nông dân màu đen. Qua lý tưởng của họ và tính sẵn sàng hy sinh của họ, lính Việt Cộng có một lực hấp dẫn mạnh lên giới trẻ ở Mỹ, và đặc biệt là lên thế hệ [chống đối] của năm sáu mươi tám ở Tây Âu. Chiến đấu trong rừng rậm Việt Nam, nhiều sinh viên nghĩ như thế, là những người đàn ông trẻ tuổi, những người không chỉ vì quyền được thống nhất và nền độc lập quốc gia của họ, mà còn chống lại tất cả những điều xấu xa nhất của loài người: chống lại quyền bá chủ của một cường quốc thế giới, đàn áp Thế giới thứ Ba, chống lại bất công, tước quyền và tham nhũng bởi chủ nghĩa tư bản Phương Tây.

Tại cái được gọi là body count, giới báo chí ở Nam Việt Nam có cơ hội dữ dội nhất để tìm hiểu phía bên kia. Máy quay của các đội quay phim truyền hình đã cung cấp những hình ảnh ghê rợn, kinh tởm từ những mảnh thịt đầy máu me được xếp thành hàng để người ta tham quan, những hình ảnh cũng thường xuyên được đưa ra thử thách khán giả truyền hình. Việc những người chết và bị thương của phe địch được đưa ra cho xem không phải là một đặc quyền mới của phóng viên chiến tranh, ngay cả khi hiện thực tàn bạo mà các chiếc máy quay phim dùng nó để mang những xác chết đầy máu lên màn hình đã đi rất xa khỏi ranh giới của sự hổ thẹn trong những cuộc chiến tranh trước đây. Mới và thái quá là sự tự do được chụp ảnh và quay phim các nạn nhân của bên ta. Lần đầu tiên trong lịch sử báo chí hiện đại, toàn bộ hiện thực của một cuộc chiến bước vào trong hình ảnh: không bị kiểm duyệt và không bị làm sai lệch.

Từ Đệ nhất Thế Chiến và từ khi truyền thông đại chúng thành hình, các nhà báo chưa từng bao giờ có thể tường thuật về một cuộc chiến mà không bị cản trở. Tổn thất của bên ta là điều không được phép nói đến. Chỉ nạn nhân của phía bên kia là được phép chính xác hóa. Từ ngữ và hình ảnh phải được một người kiểm duyệt quân đội xem xét và cho phép. Giới quân đội cuối cùng quyết định hình ảnh nào từ cuộc chiến được truyền về quê hương. Cho tới thời điểm đó, các chính phủ và bộ tham mưu ở khắp nơi trên thế giới tin rằng một tường thuật không qua gạn lọc sẽ gây hại tới tinh thần chiến đấu của quân đội mình và ý chí kháng cự của quốc gia nói chung. Ngay tới trong Chiến tranh Triều Tiên, 1950 đến 1953, báo chí vẫn còn bị kiểm duyệt.

Một thử thách quan trọng và mang lại nhiều hậu quả cho các quan hệ giữa một giới báo chí tự do, không bị kiểm duyệt, và giới quân đội ở Sài Gòn bắt đầu vào cuối 1967 tại pháo đài Khe Sanh trên núi, cái mà Tướng Westmoreland đã xây mở rộng thành đầu cầu để từ đây tiến quân sang Lào, nhằm ngăn chận Đường mòn Hồ Chí Minh.

Nằm cách vĩ tuyến 17 chừng 30 kilômét về phía Nam cạnh bờ biển là thành phố cảng Đông Hà. Bắt đầu ở đó là liên kết Đông-Tây, con đường 9 nhỏ, nhưng quan trọng về chiến lược, chạy quanh co qua một vùng đồi núi trung du, chỉ có người Thượng, các bộ tộc trên núi, sống rải rác. Ngay trước biên giới Lào, con đường này chạy đến Khe Sanh, nơi mà người dân thường cho rằng không đáng để làm gì nhưng quân đội Pháp thì đã trang bị cho nó một phi trường do có vị trí lộ liễu dễ bị tấn công. Từ Khe Sanh, con đường 9 dẫn sang Lào, qua huyện lỵ Tchepone tới Savannakhet, nơi nó gặp con đường chính dẫn tới Vientiane ở phía Bắc, vẫn còn quan trọng cho tới ngày nay.

Tướng Westmoreland không được Tổng thống Lyndon B. Johnson cho phép mở rộng cuộc chiến sang Campuchia và Lào. Như là một sự đền bù cho các chiến dịch xuyên biên giới trên mặt đất không được ưa chuộng từ những lý do về chính trị, bộ tham mưu ở Sài Gòn muốn xây mở rộng Khe Sanh nằm gần biên giới trở thành một pháo đài, cái có thể khiến cho địch thủ phải lộ diện và chiến đấu trong những đội hình lớn hơn là cho tới nay. Vì Việt Cộng phần lớn đều tránh né các chiến dịch tìm kiếm lớn. Tại một vài “trận đánh” ít ỏi cho tới nay chỉ có cấp tiểu đoàn tham dự, nhưng không có các đơn vị lớn hơn. Cỗ máy chiến tranh của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ chờ một mục tiêu “hợp lý về quân sự và đáng công về chiến lược”, như Westmoreland diễn đạt trong hồi ký của ông. Khe Sanh cần phải là con mồi để dụ lực lượng chính của đối phương vào bẫy.

Giữa 1967, cuộc xây dựng mở rộng ngôi làng trên núi bắt đầu. 2500 lính cổ da và một con số lớn gần bằng như thế của lính tinh nhuệ Nam Việt Nam đào hầm hố ở Khe Sanh. Pháo hạng nặng lăn qua đường 9 vào pháo đài. Đường băng cũ của Pháp được xây mở rộng bằng thép tấm để cho máy bay vận tải có thể hạ cánh, nhằm tiếp tế bằng đường không trong trường hợp khẩn cấp cho quân lính trú đóng.

Bộ tham mưu ở Sài Gòn rõ ràng là chỉ hỏi máy tính và các sĩ quan tiếp tế, nhưng lại bỏ qua không nghiên cứu kinh nghiệm của Pháp ở pháo đài Điện Biên Phủ. Nước Pháp trong tháng Tư 1945 không có đủ phương tiện kỹ thuật để chống lại những người bao vây ở đó. Đạo quân viễn chinh hùng cường của Mỹ, với một lực lượng không quân chưa từng có trong lịch sử chiến tranh cho tới nay, ngược lại sẽ chống cự lại được với bất kỳ một cuộc tấn công nào, những người lập kế hoạch tin là như vậy. Lời nhắc tới Điện Biên Phủ được họ cảm nhận như là một việc gây phiền nhiễu, thật sự cũng là một lời xúc phạm.

Trong tháng Mười Hai 1967, lính marines ở Khe Sanh phát hiện bốn sư đoàn Bắc Việt bắt đầu bao vây pháo đài. Vào ngày 21 tháng Giêng 1968, pháo binh Việt Cộng khai hỏa và sẽ không ngưng năm tháng liền. Vào ngày 5 tháng Hai, xe tăng Bắc Việt kiểu PT-76 của Xô viết tràn ngập tiền đồn Lang Vei. Lần đầu tiên, địch quân đã tung ra xe tăng ở Nam Việt Nam.

Mặc cho rủi ro cao và khả năng vận tải có hạn, không quân Mỹ đã chở giới báo chí quốc tế từ căn cứ Phú Bài nằm ở phía Nam của Huế tới Khe Sanh. Đường 9 đã bị chận. Pháo đài được tiếp tế mọi thứ cần thiết bằng đường hàng không. Đường băng bị nã pháo liên tục. Phần lớn những chiếc máy bay vận tải để cho những kiện hàng trượt ra ngoài cửa sau ở độ cao thấp để có thể tăng tốc ngay lập tức và bay trở về Phú Bài. Những chiếc khác chỉ dừng lại trên đường băng vài phút với động cơ vẫn hoạt động, để hành khách bước ra ngoài và nhận những người bị thương nằm trên cáng, cả những xác chết được bọc trong túi nhựa của các marines đã hy sinh. Mây thấp trong tháng Giêng. Trời mưa nhiều. Nhiệt độ giảm xuống dưới 10 độ. Khe Sanh bị liên tục bắn phá nặng nề, bị đột kích và dồn ép bởi những chiến dịch tấn công chống lại vòng ngoài bằng hàng rào dây kẽm gai kiên cố và những bãi mìn, là một nơi không khác gì địa ngục mà cả dân chuyên nghiệp cũng làm quen với nỗi sợ hãi ở đó.

Sự cộng tác của các sĩ quan báo chí cũng vượt qua được thử thách cả trong trường hợp ngoại lệ về quân sự. Lực lượng quân đội chia sẻ nơi trú ẩn của họ với nhà báo và phóng viên ảnh, những người bây giờ hướng hoàn toàn tới sự gian khổ và hy sinh của phe mình và tường thuật không thương xót về những gì mà họ quan sát thấy và trải qua ở trong pháo đài Khe Sanh đang dùng mọi sức lực để bảo vệ chống lại các sư đoàn Bắc Việt đang tấn công.

Ngày cũng như đêm đều có thể nhìn thấy màn pháo hoa lớn mà không quân Mỹ trình diễn ở trên các vị trí của địch thủ. Chiến dịch “Niagara” đổ chất nổ như một thác nước xuống các sư đoàn Bắc Việt. Mặt đất rung chuyển. Dường như đã đến ngày tận thế, khi các đội hình B-52 từ trên cao thả những tấm thảm bom của chúng xuống cách vị trí của quân ta chưa đầy 200 mét. Thật khó mà dùng từ ngữ để mô tả lại sự hỗn loạn kinh hoàng do những quả bom gây ra, để làm cho người khác có thể hiểu được sự hoảng loạn nội tâm mà ai ở gần đó cũng đều bị mắc phải. Trên một vùng không quá chật hẹp có lẽ là 50 kilômét vuông, không quân Mỹ trong vòng chín tuần đã ném khoảng 75.000 tấn chất nổ. Trước đó, không một nơi nào trên thế giới đã bị bỏ bom với cường độ như bây giờ ở vùng ngoại vi của Khe Sanh.

Máy ảnh không chụp được những người tấn công trước các hàng dây kẽm gai. Qua ống dòm, đôi lúc có nhận ra được những xác chết nằm giữa hai trận tuyến và chỉ được mang đi vào lúc đêm. Action mà các phóng viên ở Khe Sanh trải qua hướng về bên trong, về những người Mỹ trấn thủ. Những người lính cổ da cũng nằm dưới làn đạn pháo như người Bắc Việt đang vây hãm. Những cảnh chiến trường mà máy ảnh chụp được thể hiện tính anh hùng, nhưng cũng cả nỗi sợ hãi và sự tuyệt vọng của một lực lượng đang chống lại số phận, chống lại nguy cơ bị các sư đoàn của Võ Nguyên Giáp tràn ngập như lực lượng quân đội ở Điện Biên Phủ.

Trong lòng chảo Khe Sanh, nhiếp ảnh gia và những người quay phim đã ghi lại được một vài hình ảnh gây xúc động nhiều nhất và đáng sợ nhất của quân đội Mỹ. Bốn người lính trẻ tuổi, lấm bùn và kiệt sức, mang dưới làn đạn bắn phá một đồng đội bị thương nặng đến nơi an toàn, chiếc đầu trần của người này lắc lư tự do trong nhịp của những người đang chạy. Họ há miệng ra, những người lính đang chạy dưới sự căng thẳng đó. Họ hét to, phản ứng chống lại sự sợ hãi của mình. Ánh mắt phản ánh sự kinh hoàng trong khoảng khắc.

Một marine bị thương nặng nằm trên mặt đất lầy lội, mặt và tóc đầy bùn, quần bị cắt đứt cho tới gối, để có thể băng bó cho đôi chân; với bàn tay của cánh tay trái dang ra xa, anh tìm chỗ dựa ở một cái cọc gỗ ngắn: có thể là khoảnh khắc cuối cùng, trước khi nhận thức biến mất và màn đêm ập tới.

Khe Sanh
Khe Sanh

Trước đây, những hình ảnh tư liệu như vậy chưa từng bao giờ được cho phép và được công bố trong lúc còn chiến tranh. Trong Đệ nhất Thế chiến, sở hữu một cái máy chụp ảnh là một việc phạm pháp sẽ bị xử bắn. Những hình ảnh chiến trường được các nhiếp ảnh gia quân đội chụp vào thời đó đều bị giám sát chặt chẽ và đều thể hiện chủ yếu chiến thắng, tính anh hùng, những gương mặt sáng ngời lạc quan hay là những “toàn cảnh” mà người xem có thể cảm nhận được trận chiến nhưng không có tiểu tiết và che dấu sự kinh hoàng. Khi có thể nhận ra được nạn nhân, thì đó là của đối phương. Không được phép nói về sự khốn khổ và tổn thất của quân đội mình. Điều gì là bản chất của chiến tranh, của bầu không khí một trận chiến đấu sống còn?

Cho tới lức đó, giới báo chí chưa từng bao giờ được phép đi tìm những câu trả lời thật sự, gần với hiện thực cho câu hỏi này. Kiểm duyệt đã loại ra tất cả các thông tin có thể để cho người ta nhìn thấy được cảnh chém giết, mồ hôi và máu. Hết thảy những bài tường thuật đều trừu tượng, vô trùng, giống như những lời diễn tả mang tính khoa học phổ thông về các ca mổ, đã chừa ra cho người đọc hoàn cảnh đầy máu mà người ta đã tiến hành mổ trong lúc đó.

Tiến rất gần tới hiện thực của chiến tranh là các tác giả tiểu thuyết, những người như Ernst Jünger, Arnold Zweig, Erich-Maria Remarque, Theodor Plivier hay Ernest Hemingway và Norman Mailer đã dùng sức mạnh của diễn đạt văn học để mô tả lại sự sợ hãi, sự tàn bạo và khốn khó của những người lính đang chiến đấu. Nhưng những quyển tiểu thuyết như vậy chỉ được xuất bản nhiều năm sau sự kiện. Chúng chứa đựng một sự thật theo một ý nghĩa cao hơn. Các mô tả được lấy ra từ hiện thực, nhưng đã được nâng lên cao qua sáng tạo nghệ thuật và giao phó cho sự tưởng tượng của người đọc. Mặc dù vậy, giới tướng lĩnh trong  tất cả các nước đã đúng khi phàn nàn về tác động của văn học chiến tranh lên ý chí kháng cự của quốc gia, Nếu như các dân tộc châu Âu đã có thể trải qua, trông thấy được hiện thực của các trận đánh trong Đệ nhất Thế chiến, nếu như họ chỉ có được một hình dung, rằng những cái tên Ypern hay Verdun thật sự có ý nghĩa gì, thì sự tàn sát hàng triệu con người trẻ tuổi đã tìm thấy được một kết thúc, hậu phương đã có thể ngăn chận được những vụ tàn sát tiếp theo sau đó.

Tương tự như vậy là những điều kiện trong Đệ nhị Thế chiến. Nếu như người dân Mỹ biết được con số máy bay của mình bị bắn rơi trong cuộc chiến tranh bỏ bom chống nước Đức thì chiến dịch đó đã bị ngưng lại, vì giới công khai sẽ không thể chịu đựng được cái giá phải trả gắn liền với việc đó. Cả các tổn thất của Hoa Kỳ trong chiến dịch Ardenes cuối 1944, cái mà ở Mỹ người ta gọi là “the battle of the bulge”, hẳn cũng sẽ làm chấn động đất nước và có thể sẽ gây nguy hiểm tới quyết tâm của họ. Sự thật về diễn tiến của cuộc chiến vì vậy đã bị đè nén xuống, ít nhất thì cũng đã bị thao túng.

Trong chiến tranh, thủ tướng Anh Winston Churchill tuyên bố, sự thật quý giá cho tới mức “nó lúc nào cũng phải được canh giữ bằng một đội vệ sĩ của dối trá”. Chỉ ở Việt Nam là giới báo chí được tự do mô tả sự thật của cuộc chiến. Cộng thêm vào số thông tín viên báo chí và nhiếp ảnh gia, lần đầu tiên với một tác động gần như là cơ bản, là các đội quay phim truyền hình, những người với những cuốn phim màu của họ đã quay những cảnh action, những sự căng thẳng và hoảng loạn, cơn mưa bom đạn của cỗ máy chiến tranh, nhưng cũng cả số phận của con người, sự đau đớn và cái chết của các boys của họ, và đã gửi những hình ảnh đó về các ban biên tập ở quê nhà mà không cần phải qua kiểm duyệt, những ban biên tập mà rồi sẽ cho chiếu các phóng sự về chiến tranh đó cho người xem vào buổi tối, lúc sáng sớm, không hiếm khi vào giờ ăn.

Khe Sanh, nơi lực lượng Mỹ và Nam Việt có nguy cơ bị tiêu diệt hay bị tràn ngập, đã mang lại cho công chúng thế giới những tư liệu hình ảnh hết sức bi kịch và đáng sợ, không chừa ra điều gì cho khán giả ở trong rạp chiếu bóng tại quê nhà. Tất nhiên, để thể hiện toàn bộ hiện thực của tình cảnh một lực lượng đang chiến đấu và chịu đựng gian khổ thì những hình ảnh chiến đấu từ Khe Sanh là không hoàn hảo và không hoàn toàn. Mặc dù vậy, chiến tranh chưa từng bao giờ được mô tả thật hơn là ở đây. Nhiều hình ảnh và đoạn phim truyền hình khiến cho người ta nhớ tới phim Hollywood. Nhưng chúng không phải phim chiếu ở rạp, được quay trước những hậu cảnh tốn kém, mà là hình ảnh của một hiện thực nguy hiểm, đáng sợ. Và khác với việc sản xuất phim, ở Khe Sanh người ta cần phải có lòng dũng cảm và thần kinh thép, để ở lại đó với chiếc máy quay, khi những viên đạn pháo và đạn súng cối rơi xuống pháo đài.

Neil Davids, một người Úc ít nói từ Tasmania, thời đó làm việc cho thông tấn xã Visnews, thuộc vào trong số các phóng viên ảnh dũng cảm mà nhờ họ giới công khai mới có được một số hình ảnh chiến tranh gây ấn tượng nhiều nhất. Ông là đội một người, chỉ chịu trách nhiệm cho bản thân, bình tĩnh, có thần kinh như thép và có nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh, như chỉ một cựu chiến binh của nhiều trận chiến mới có thể là. Ông đã vượt qua được rất nhiều hiểm nguy. Cuối cùng, trong tháng Tư 1975, Neil Davis là người duy nhất với một cái máy quay phim đã đứng trước dinh tổng thống ở Sài Gòn, khi xe tăng Bắc Việt đè bẹp cánh cổng sắt to lớn và những người lính đi kèm xung phong vào cửa chính, để treo lá cờ Việt Cộng lên ở tầng một trên bức tường ở mặt tiền.

Mười năm sau đó, tại một cuộc “đảo chính sân khấu” trong tháng Chín 1985 ở Bangkok, Neil Davids đã bị bắn chết; từ bàn tay của một người lính Thái ngờ nghệch hốt hoảng, đã hoảng loạn lên khi nhìn thấy cái máy quay phim. Điều này không có nghĩa là hạ thấp thành tích của những người khác, đặc biệt là đội ngũ quay phim của chính mình, khi người ta nhấn mạnh tới một Neil Davis lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ, tin dị đoan, mang tính tự phê phán cao và khiêm tốn như là một người đã đi qua những rủi ro cao nhất nhiều năm trời, để quay cuộc chiến gần hiện thực và nhiều sự thật như có thể.

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Rồng Mekong (4): Phần thưởng của sự sợ hãi

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Rồng Mekong

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s