Rồng Mekong (4): Phần thưởng của sự sợ hãi

Tôi hoàn toàn không muốn qua mô tả những tình huống khẩn cấp trong nghề nghiệp để gợi lên một tính anh hùng, cái để cho thời gian ở Sài Gòn lóng lánh trong một ánh sáng tôn vinh. Các émotions fortes, những cảm xúc mạnh mà đã thúc đẩy giới trẻ đang trên đường tìm phiêu lưu và nhận thức đi vào trong cuộc chiến, xa lạ đối với tôi. Những trải nghiệm thời niên thiếu của tôi trong giai đoạn cuối của Đệ nhị Thế chiến đã làm cho tôi miễn nhiễm sự lãng mạn hóa chiến tranh.

Thời xưa, tôi đã hoài nghi và không hiểu khi đọc được những đoạn văn đó trong quyển tiểu thuyết “Người Mỹ trầm lặng” của Graham Greene, diễn tả một sự say mê nhất định, một sự hồi hộp đầy thích thú, những cái mà cuộc chiến đã tác động lên nhân vật Fowler. “Nơi không có nguy hiểm thì sẽ không có can đảm” ở một nơi và “cả tình yêu cũng có thể là sản phẩm của một cuộc chiến tích cực”. Nỗi sợ sự buồn tẻ đã khiến cho Greene chơi trò “Roulette Nga” với khẩu súng lục trong thời niên thiếu và tìm sự phiêu lưu mạo hiểm ở những nơi đang có khủng hoảng của chính trường thế giới về sau này. Ông đã nói về “cảm giác một nguồn gây cảm hứng vui vẻ”, cái “mang lại một liều nguy hiểm cho người khách tham quan có một tấm vé khứ hồi”.

Trực thăng UH-1D ở Việt Nam, 1966
Trực thăng UH-1D ở Việt Nam, 1966

Người ta cũng tường thuật về Ernest Hemingway, người đã trải qua mặt trận Ý trong Đệ nhất Thế chiến như là một người lính Mỹ và trải qua cuộc Nội chiến Tây Ban Nha như là phóng viên, rằng tình huống cùng cực của chiến tranh đã mang ông tới một trạng thái cao độ, cool và bình thản như các anh hùng trong truyện tiểu thuyết mà ông đã tạo ra theo chính hình ảnh của mình.

Tôi chưa từng có thể cảm nhận được sự nguy hiểm như là một điều để thưởng thức. Trong khoảnh khắc của nguy hiểm cao độ, bị bắn trên đồng trống hay trong chiếc trực thăng lúc di tản khỏi Sài Gòn trong tháng Tư 1975, khi tên lửa đất đối không của Việt Cộng đã đứng sẵn sàng, có thể bắn hạ các chiếc trực thăng từ trên bầu trời, tôi chỉ cảm nhận được một xúc cảm mạnh, hầu như không thể chịu đựng được: sợ hãi, sợ hãi không kiểm soát được, tới cùng với sự kinh hoàng và giận dữ, rằng không ai bắt buộc tôi phải có mặt ở đây, rằng không một nhận thức nào, không một câu chuyện nào có thể lý giải được cho một thương tích hay cái chết. Ai không sợ hãi trong các tình huống như vậy, theo tôi, thì thiếu sự tưởng tượng, người đó không biết điều gì đang diễn ra trước mình. Trong khoảnh khắc của mối nguy hiểm chết người, các cơ chế điều khiển của lý trí mất đi sức mạnh của chúng. Sự sợ hãi trần trụi, thuần túy, chiếm lĩnh cơ thể.

Mãi trong thời gian của nhiều năm, từ những trải nghiệm như vậy tôi mới nhận ra được các đặc tính của một đơn vị chiến đấu tốt, từng trải: cả trong sự hỗn loạn của những viên đạn pháo đang rơi xuống vẫn giữ vững được tinh thần, vẫn bảo tồn được sự lạnh lùng để không hành động một cách phi lý mà có kế hoạch. Lý trí không phải là yếu tố quyết định, mà là sức mạnh nội tâm, để làm giảm bớt và vượt qua sự hoảng loạn. Chỉ riêng lý trí thì không có khả năng chiến thắng được nỗi sợ hãi gây tê liệt đó.

Như đã nói, không ai bắt buộc tôi phải tới Việt Nam và tường thuật về cuộc chiến. Nghề nghiệp mà tôi tin là mình có khả năng làm được bây giờ yêu cầu tôi rời bỏ những nơi trú ngụ an toàn ở Sài Gòn, để tận mắt làm quen với diễn tiến ở mặt trận. Chỉ ở đó, nơi các quân đội bắn nhau, nơi cỗ máy của cái chết phá hủy hàng loạt làng mạc và phong cảnh, và cũng gây nhiều chết chóc trong người dân thường, thì mới quan sát được cái hiện thực mà phóng viên được gởi tới đây để tường thuật về nó. Trên hàng hiên của khách sạn “Continental”, người ta ít nhận ra được điều gì về cuộc chiến, về sự tàn phá, về các hậu quả đáng sợ cho người dân thường. Hình thức truyền thông truyền hình, kể cả những tường thuật của nhân chứng, cũng không giúp được gì, vì đó là thông tin đã qua trung gian. Chỉ ở ngoài kia tại các đơn vị thì mới có thể quay được những cảnh chiến sự.

Rủi ro của mỗi một cuộc tham quan đều có thể được giảm thiểu và giới hạn. Nhưng diễn tiến thì không thể tính toán trước được, và những “cọ xát”, như Clausewitz gọi những điều không lường trước được và những sự việc ngẫu nhiên của chiến tranh như vậy, có thể tạo nên những tình huống mà phóng viên phải chia sẻ rủi ro cao nhất với đơn vị đang chiến đấu.

Ở Việt Nam có những đội “lính đánh thuê”, giới quay phim liều lĩnh người Đài Loan, Hàn Quốc hay Nam Việt Nam, chuyên về action và bán các hình ảnh của họ cho các “network” Mỹ. Nhưng thông thường thì một đội quay phim ra chiến trường cùng với thông tín viên. Người quay phim không buộc phải chịu nhiều rủi ro hơn là người trưởng nhóm cho rằng có thể  chấp nhận được. Tuy vậy, nhiều đội đã tự nguyện tiếp tục dấn bước, xa hơn là người ta dự định. Các đồng nghiệp quay phim thuộc [đài truyền hình nhà nước] ARD của tôi, trước nhất là Henning Huge đầy nhiệt tình và cẩn trọng, đã xem rủi ro nhẹ hơn là nhiệm vụ quay những cảnh hiện thực và dữ dội của một cuộc chiến bẩn thỉu.

Những trải nghiệm tại các đơn vị nhanh chóng bù trừ cho sự việc, rằng phóng viên không phải là chuyên gia về quân sự, và tuy không nhận được một khóa đào tạo cho thành viên của một bộ tham mưu nhưng vẫn tự tin đi tới một nhận định riêng về diễn tiến và triển vọng của cuộc chiến. Nhìn cho kỹ thì các chiến dịch search and destroy được tiến hành ngày càng rộng lớn hơn, các chiến dịch mà với chúng viên tổng tư lệnh Mỹ, tướng Westmoreland có vẻ cứng nhắc và hết sức giản dị, cố gây tổn thất cho Việt Cộng, chỉ là những thất bại được tô điểm trở thành những thành công trong thống kê của các tuyên bố hàng ngày.

Vào cuối tháng Hai năm 1967, chiến dịch cho tới lúc đó là lớn nhất, “Junction City”, để cho cho 35000 người lính Mỹ và Nam Việt Nam hành quân vào cái được gọi là Chiến khu C ở phía Bắc của Sài Gòn, nằm cạnh biên giới Campuchia, để tiêu diệt các đơn vị Việt Cộng đóng ở đó. Trước đó, các phi đoàn B-52 đã ném bom rải thảm vùng này ba ngày liền. Lần đầu tiên kể từ cuộc Chiến tranh Triều Tiên có nhiều lực lượng lớn nhảy dù xuống phía sau lưng của địch thủ được phỏng đoán, để chận đường chạy trốn sang lãnh thổ Campuchia.

Mặc dù vậy vẫn không có một trận đánh theo lối kinh điển. 35.000 người lính săn lùng một địch thủ không thể tìm thấy. Trong lều chỉ huy của Lữ đoàn 196, chứa tôi như là người khách, các sĩ quan đứng bất lực trước tấm bản đồ lớn. Viên chỉ huy, Đại tá Murroy, đã cho một ngàn người tỏa ra lùng sục trong rừng rậm. Trong diễn tiến của ngày hôm đó, địch thủ đứng ra chiến đấu chống lại có thể đếm được trên đầu ngón của một bàn tay. Lính Mỹ phát hiện rất nhiều công sự và hệ thống đường hầm. Đạn dược và gạo đã bị bỏ lại. Rõ ràng là Việt Cộng đã kịp thời, có lẽ là trước cả đợt tấn công của B-52, dời vào nơi an toàn. Trên thực tế, mỗi một mũi tên trên tấm bản đồ trong căn lều chỉ huy đều đánh dấu một cú đánh vào chốn hư không. Các con số thành công được công bố ở Sài Gòn về địch thủ bị giết chết đứng trong một sự thiếu cân đối lố bịch với hiện thực.

Lính Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 173 nhảy dù trong Chiến dịch Junction City, 1967
Lính Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 173 nhảy dù trong Chiến dịch Junction City, 1967

Ai ở lại với các đơn vị chiến đấu một thời gian, người đó sẽ nhanh chóng nhận ra rằng thống kê bị làm giả mạo và bị thao túng như thế nào. Quân đội Mỹ thật không có khả năng phân biệt được giữa quân lính và người dân thường. Khi khám xét một ngôi làng, thường chỉ gồm vài ngôi nhà gỗ lợp rơm, một cái ao nước và một đống rơm, thì đa số những người trông có vẻ như thường dân đều có thể là du kích quân ngụy trang. Phụ nữ tham gia tích cực vào cuộc chiến, và cả trẻ em cũng không hiếm khi khai hỏa những loại vũ khí giết người để chống lại những kẻ xâm nhập xa lạ.

Thật là dễ dàng và rất hiệu quả cho lập luận, khi lên án lối cư xử tàn bạo của những người lính Mỹ đối với người dân thường Việt Nam. Giới truyền hình công khai của thế giới đã phản ứng một cách kinh hoàng với một action story mà một trung đội trưởng trẻ tuổi đã cho thấy trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, người phóng hỏa đốt các ngôi nhà bằng rơm của một ngôi làng. Trong lúc đó, các đơn vị Mỹ có vẻ như phi nhân đạo và tàn phá hoàn toàn có chủ ý một cộng đồng nông dân dường như là hòa bình và vô hại.

Đối với một người lính nghĩa vụ trẻ tuổi từ Mỹ, người tìm đủ mọi cách để lành lặn vượt qua 365 ngày được đếm một cách chính xác của mình, số ngày mà anh ta phải ở Việt Nam, thì tình huống đó hiện ra trong một ánh sáng hoàn toàn khác. Mỗi một người nông dân mặc quần áo màu đen truyền thống có thể là một người cầm súng chiến đấu, lừa những người lính và tấn công trong một trận phục kích. Phụ nữ và trẻ em cũng mang lại cùng một mối nguy hiểm. Những người cộng sản chiến đấu bí mật sống trong dân thường. Vũ khí của họ đã được dấu đi. Mỗi một ngôi làng Việt Nam trong thực tế là một môi trường nguy hiểm, thù địch, kỳ lạ mà những người lính Mỹ đi tuần tra không có khả năng hiểu thấu được.

Một con hào sâu chia cắt thường dân Việt với quân đội Mỹ, những người mà chỉ huy của họ ra lệnh cho họ phải bảo vệ đất nước này và người dân của nó trước chủ nghĩa cộng sản. Không có phương tiện trao đổi thông tin nào có thể bắc qua con hào đó. Câm lặng, căng thẳng, nội tâm như bị đóng băng, những người lính Mỹ thi hành các mệnh lệnh của họ. Không có người thông dịch, họ không thể giải thích các hành động của họ, và không thể chờ đợi một sự thông hiểu lẫn cộng tác từ những người nông dân. Độc đoán, ra lệnh bằng tiếng Mỹ, họ xua những người dân thường đi trước họ như xua bò. Những người lính Mỹ tin rằng họ đã tìm thấy được sự xác nhận cho tất cả những định kiến mà tiểu thuyết và phim truyện truyền bá từ trước đến nay về người châu Á: xảo quyệt, giả dối, mánh khóe và tàn bạo của một xã hội mà họ không thể đọc và giải mã được các tình cảm và cảm xúc thật sự của nó.

Thật sự là những đội tuần tra của Mỹ thường hay bị phục kích bắn từ những ngôi làng trông có vẻ bình dị và hiền hòa. Khi đồng đội bị cướp đi mạng sống trong một cuộc phục kích thì rồi một bầu không khí hết sức hung hãn bao trùm lên cả đội lính, những người không còn tin vào bất cứ một người dân thường nào nữa và tìm cách trả thù cho cái chết của người bạn. Từ sự giận dữ và lòng lo lắng cho sự an toàn của chính bản thân mình, người ta nổ súng bắn vào bất cứ người nào đang đi lại trên đồng ruộng. Chủng tộc cuối cùng là đặc điểm duy nhất đánh dấu địch thủ. Không có khả năng định hướng trong một đất nước xa lạ mà người ta không hiểu được văn hóa và ngôn ngữ của nó, điều này đã làm cạn kiệt goodwill [ý định tốt] ngây thơ và tình sẵn sàng giúp đỡ của những người lính Mỹ trẻ tuổi. Qua đó, họ đã xác nhận một định kiến thứ hai mà người Việt vốn kiêu ngạo về văn hóa đã có về bản chất của những con người da trắng xâm chiếm này. Trong mắt họ, người Mỹ thô kệch, vụng về, xấu xí và ngu đần.

Cả hai định kiến xác nhận tính bất khả hòa hợp của hai nền văn minh không hiểu và không thể diễn giải nhau. Nông dân Nam Việt Nam, những người đã bảo vệ quyền tự trị làng mạc của họ qua nhiều thế kỷ, để cho những người xâm chiếm da trắng cảm nhận được ác cảm của họ đối với tất cả những gì xa lạ. Khinh thường những con người xa lạ, ác cảm, vâng, căm ghét người Mỹ, điều này cũng mang tính phân biệt chủng tộc không kém gì tính cao ngạo xuất phát từ lòng lo lắng cho sự an toàn cá nhân và từ nhận thức về ưu thế kỹ thuật.

Thời đó chỉ có một ít chuyên gia là có thể hiểu được tình trạng của các mối quan hệ xã hội trong những ngôi làng Việt. Ý kiến của họ không hề được các bộ tham mưu ở Sài Gòn tiếp nhận. Cả các nhà báo cũng không thể tự giải phóng mình ra khỏi các định kiến đó.

Vào năm 1967, thật sự là người nông dân Việt Nam đã giúp đỡ Việt Cộng mà hầu như không cần phải có sự ép buộc, vì các trưởng làng, có bản năng chắc chắn, tin chắc rằng những người cộng sản sẽ thắng cuộc chiến. “Giới nông dân linh động nhất thế giới”, như một nhà quan sát thông minh đã gọi họ như vậy, cố gắng đoán trước được đường hướng của sự phát triển chính trị và chuẩn bị sẵn sàng trước, để đứng cho đúng bên vào lúc kết cuộc. Người dân nhà nông hành động thực tế. Bản năng sinh tồn hết sức mạnh của họ chỉ biết đến một vài nguyên tắc. Tất nhiên, họ thích nhất là được các diễn tiến của thời gian để yên cho và không ép buộc họ phải ủng hộ một bên. Cảm giác về một mối nguy hiểm đang đe dọa là nguyên cớ thúc đẩy họ cộng tác với Việt Cộng. Vì sự sẵn sàng giúp đỡ đã có nên người cộng sản chỉ cần một tổ chức tinh hoa nhỏ là đủ để kiềm chế họ. Đại đa số người dân nhà nông của Nam Việt Nam chịu đựng và che dấu cuộc đấu tranh vũ trang, nhưng chỉ một thiểu số rất nhỏ là tham gia tích cực vào trong đó.

Một tâm trạng về cơ bản như vậy giải thích tại sao các chiến dịch tìm kiếm của đạo quân viễn chinh Mỹ, được một hỏa lực hỗ trợ lớn đi kèm theo, là phản tác dụng. Cỗ máy, máy bay ném bom B-52, đại bác, bom napalm và xe bọc thép chở bộ binh hạng nặng, hoàn toàn không thích hợp để chiến đấu chống một đạo quân hoạt động bí mật được người dân thường che dấu. Người Mỹ dựa càng nhiều vào cỗ máy chiến tranh, vào các khả năng kỹ thuật của họ, giải quyết bất cứ một vấn đề nào và đánh thắng bất cứ một địch thủ nào, dù có là trong rừng rậm của Việt Nam đi chăng nữa, thì họ lại càng ít có cơ hội để chiếm được “trái tim và đầu óc” của người dân Nam Việt Nam. Vì chiến lược do tướng Westmoreland lựa chọn buộc người dân thường phải chịu đựng những thiệt hại nặng nề nhất.

Bức ảnh em gái trẻ với lửa napalm đang cháy rực trên làn da trần trụi đang chạy trốn về hướng ống kính đã trở thành một hình tượng cho cuộc chiến tranh này. Chỉ những ai quan sát hiện thực ở ngoài chiến trường thì mới có được một sự tưởng tượng về quy mô của sự đau khổ và tàn phá mà người dân thường của đất nước này phải chịu đựng.

Xác chết của những người đàn ông được thống kê ghi nhận là Việt Cộng. Con số phụ nữ và trẻ em bị giết chết, hẳn là còn lớn hơn nữa, bị ỉm đi. Phần đáng sợ nhất của cuộc chiến hoàn toàn không xuất hiện trong các thông cáo hàng ngày của giới quân đội ở Sài Gòn. Mô tả nó, để cho giới công chúng thế giới nhận thức được, đó là một nhiệm vụ của báo chí, một nhiệm vụ mà họ đã thực hiện hoàn toàn không đầy đủ. Đặc biệt giới truyền thông Mỹ sau này đã bị lên án rất đúng, rằng họ đã tường thuật hết sức thiên vị chủng tộc, trước hết là về vai trò và số phận của quân đội của họ, hết sức ít ỏi về các nạn nhân của người miền Nam Việt Nam hay về những hậu quả cho người dân thường,

Nói chung, chỉ khi có quân đội của quốc gia họ tham gia thì cuộc chiến này mới có một giá trị tường thuật cao đối với các giới truyền thông Mỹ. Cũng không thể chờ đợi một định giá tin tức nào khác từ một giới báo chí phải tự khẳng định mình trên thị trường.

Có chưa tới một tá thông tín viên Mỹ hoạt động chính thức ở Sài Gòn trước lần đổ bộ đầu tiên của bộ binh Mỹ trong tháng Ba 1965 ở bãi cát trắng Đà Nẵng, nơi 80 năm trước đó những người lính Pháp đầu tiên cũng bước lên đất liền để thiết lập thuộc địa ở Đông Dương. Cùng với con số lính Mỹ, con số các đại diện truyền thông cũng tăng lên ở Nam Việt Nam. Trong thời gian của trận tấn công vào dịp Tết [Mậu Thân] là hàng trăm người, những người phần lớn là làm thỏa mãn sự quan tâm của một giới công chúng ở quê hương bằng các tường thuật về boys của họ. Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam năm 1973, đại diện báo chí Mỹ teo trở lại thành một nhóm nhỏ bao gồm khoảng 30 người.

Sau cái được gọi là Hòa bình Paris năm 1973, giảm sút sự quan tâm tới tin tức từ Đông Dương cũng đã có tác động trực tiếp tới công việc của chúng tôi. Kể từ đó, giá trị của cuộc chiến đã giảm bớt. Thêm vào đấy, vụ Watergate cũng đã hướng tầm nhìn tới sự đau khổ liên tục của các dân tộc Đông Dương sang nơi khác.

Thế nào đi chăng nữa thì đó không phải là lỗi của các sĩ quan báo chí Mỹ, khi nạn nhân là người dân thường được ghi nhận một cách không đầy đủ. Họ không cản trở công việc tường thuật, ngay cả khi người ta liên tục nhắc nhở các phóng viên, rằng nạn nhân do vũ khí Mỹ gây ra trong số thường dân là không cố ý. Họ là hiệu ứng phụ của một chiến lược đã tự mình đưa ra nhiều giới hạn to lớn, nhằm chỉ đánh trúng những người chiến đấu nhưng khoan dung cho người dân thường.

Thật sự là không thể hoài nghi ý định tốt của quân đội Mỹ được. “Tính tự động của cỗ máy chiến tranh đã được khởi động”, tôi đã ghi chú như vậy vào thời đó, “dường như đã đưa ra tốc độ cho các nhà chiến lược. Cuộc chiến lâm vào trong một vòng xoáy, nơi tự nó đã nuôi sống lấy nó.”

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Rồng Mekong (3): Ra chiến trường

Đọc bài tiếp theo: Rồng Mekong (5): Body count: Trò trình diễn xác chết khủng khiếp

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Rồng Mekong

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s