Rồng Mekong (3): Ra chiến trường

Trong khu quân sự của cảng hàng không Tân Sơn Nhứt ở Sài Gòn có một sảnh đi đặc biệt dành cho những chuyến bay tới các chỗ đóng quân của quân đội. Từ đây, trực thăng bay tới Củ Chi, vào trong “Tam Giác Sắt” nằm ở phía Tây Bắc của Sài Gòn, nơi các đơn vị Việt Cộng đã đào hầm hố đúng theo nghĩa đen và luôn tấn công các tiền đồn Mỹ từ những nơi ẩn náu bí mật. Máy bay vận tải C-123 hai động cơ phục vụ cho các tuyến vào vùng đồng bằng sông Cửu Long, tới Mỹ Tho và Cần Thơ. Những chiếc “Hercules” C-130 bốn động cơ được sử dụng cho tuyến ra phía Bắc. Huế và Đà Nẵng nằm cách đó khoảng một ngàn kilômét.

Sân bay Tân Sơn Nhứt với tòa nhà MACV
Sân bay Tân Sơn Nhứt với tòa nhà MACV

Người sở hữu tấm thẻ báo chí được phép sử dụng dịch vụ chuyên chở của không quân trên thực tế là không có giới hạn. Tuy vậy, chỉ hành lý xách tay cho tới cỡ của một cái túi du lịch to là được chấp nhận. Các phóng viên được đối xử như người của quân đội. Việc thâm nhập vào trong bộ máy quân đội dễ thành công nhất khi nhà báo tìm mua ở chợ đen một bộ quân phục nhiệt đới màu xanh và ăn mặc như những người lính, với tên thêu trên áo khoác, xếp vào hàng của những người đang đứng chờ. Không một ai bị ép buộc phải mặc quân phục. Nhưng sự nhận dạng ở vẻ ngoài với quân đội tạo thuận tiện cho việc tiếp xúc và rút ngắn khoảng cách ở giữa những người lính phải tuân theo mệnh lệnh và các nhà báo tình nguyện ra chiến trường.

Cả trong quân phục, tôi chưa từng bao giờ có cảm giác mình là một người lính. Chiếc máy đánh chữ du lịch ở trên tay khiến cho bất cứ ai cũng biết rõ, rằng viết và mô tả là nhiệm vụ, không phải hoạt động và chiến đấu, chắc chắn là không với vũ khí. Tuy vậy, có không ít phóng viên chiến trường mang theo mình một khẩu súng ngắn, để có thể tự vệ trong trường hợp khẩn cấp. Từ những lý do về nguyên tắc mà tôi cùng với đa số các nhà báo đều không mang vũ khí, chỉ là người quan sát, người tường thuật cho tới cuối cùng và còn không chiến đấu để tự bảo vệ nữa.

Các hàng ghế ngồi, được đan lại bằng dây đay trong các máy bay vận tải quân sự, được đặt dọc chứ không phải ngang theo hướng bay, trong các chiếc “Hercules” là bốn hàng ghế dài, hai hàng có lưng tựa vào vách ngoài, hai ở giữa thân máy bay. Chỉ có một vài cái cửa sổ tròn mang ánh sáng vào bên trong. Tiếng ồn của các động cơ to nhức nhối cho tới mức các hành khách chỉ có thể ra dấu hiệu cho nhau. Họ bị bỏ đó một mình, giảm thiểu xuống chỉ còn tự bản thân mình. Họ có cảm giác thân phận bị trao cho một định mệnh ở trên cao, suy ngẫm về điều đó ở đây, trong chiếc máy bay, trở thành một việc bắt buộc.

Khi người ta viết về chiến tranh, theo một đoạn trong “Người Mỹ trầm lặng” của Green, “thì lòng tự trọng yêu cầu thỉnh thoảng phải chia sẻ rủi ro với những người lính”. Nhà báo có một vé khứ hồi. Điều đó khiến cho họ khác với những người lính, ganh tỵ với những kẻ tới thăm vì sự tự do này và biểu lộ một ác cảm xuất hiện hoàn toàn tự phát từ đó và thỉnh thoảng rất dữ dội. Tất nhiên, người khách không thể bỏ đi hay rút lui trong lúc còn giao tranh mà chỉ sau đó. Khi ông ấy rơi vào trong một chiến dịch thì thật sự là ông chia sẻ rủi ro đó. Ông ấy có lẽ phải chịu đựng sự căng thẳng, các hậu quả tâm lý còn nhiều hơn là những người lính ở bên cạnh ông. Vì người phóng viên chỉ quan sát, ông ta không hành động, không thể dẫn bớt áp lực ở bên trong ra ngoài qua những loạt đạn. Phóng viên chiến tranh phải biết mình tham gia vào việc gì. Cả những người không đi tìm trận chiến cũng phải tính trước với việc ngẫu nhiên rơi vào làn đạn. Chỉ ở ngoài này mới có thể trải qua được hiện thực của chiến tranh. Họp báo trong “Rex” nhiều lắm là chỉ mang lại một cảm giác.

Trong những năm sau đó, nhờ sự giúp đỡ của Không quân Mỹ mà tôi đã làm quen với các tỉnh quan trọng nhất về mặt chiến lược của Nam Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 cho tới đồng bằng sông Cửu Long. Trong những chiếc máy bay vận tải tối tăm, ồn ào, người hành khách không thể nhìn ra ngoài được. Những người lính Mỹ vững thần kinh còn có thể ngủ được cả ở đây nữa. Những người còn lại nghiên cứu diện mạo của người đối diện, chìm vào trong một tâm trạng mà ở trong đó mơ ước về một cuộc sống yên bình trộn lẫn với nỗi sợ bay trong tiềm thức.

Khi tới được các phi trường lớn Phú Bài, Đà Nẵng ở phía Bắc và Mỹ Tho ở phía Nam, người ta được chở đi tiếp tới các đơn vị chiến đấu bằng trực thăng. Trong chuyến bay đầu tiên bằng máy bay trực thăng vào vùng rừng rậm cạnh biên giới Campuchia, tôi đã ghi lại vào lúc đó: “Hai bên của con đường thẳng tắp, con đường mà chúng tôi bay theo nó trên độ cao khoảng 400 mét về hướng Bắc, đã bị làm rụng lá và “nhìn thấu được” bằng hóa chất. Các xạ thủ ở cạnh cửa mở phản ứng lại với mỗi một chuyển động trên mặt đất màu xám chết khô đó của rừng rậm bằng một loạt đạn. Chúng tôi bay qua một ‘free kill area’ mà trong đó tất cả những gì chuyển động đều bị bắn hạ. Cột khói màu trắng bay lên từ ở chân trời, đánh dấu những điểm bắn của pháo binh. Những cái trảng hiếm thấy đều đầy thẹo bằng hố bom. Mặt trời phản chiếu trên mặt nước dơ bẩn màu xám.”

Các phong cảnh khác, trước hết là ở đồng bằng sông Cửu Long, có vẻ như còn nguyên vẹn. Người nông dân làm việc trên những cánh đồng lúa gợn sóng trong màu xanh dịu dàng, Những con trâu kềnh càng giật mạnh chạy tán loạn khi máy bay trực thăng bay ngang qua chúng ở độ cao thấp. Nhìn từ trên cao xuống, người ta có được những trải nghiệm đầy ấn tượng với trật tự hình học của những con kênh đào thẳng tắp, chạy dài cho tới tận chân trời, tưới nước cho vùng đất được chia ra thành những mảnh ruộng hình chữ nhật chính xác và hết sức nhỏ. Gần những căn nhà gỗ hầu như đều đứng cạnh sông, người ta nhận ra được những giếng nước tròn mà bây giờ trong chiến tranh dễ nhìn lầm thành hố bom.

Sĩ quan báo chí của các đơn vị Mỹ, những người tiếp đón các phóng viên được máy bay chở tới, hầu hết đều là những người chủ nhà rộng rãi và sẵn sàng giúp đỡ. Máy bay trực thăng được điều sang hướng khác, để mang phóng viên tới tận nơi của các chiến dịch quân sự. Đại đội ngoài chiến trường bất thình lình thấy mình được tăng cường bởi một nhóm phóng viên truyền hình, quay chiến dịch từ ở phía sau. Các đơn vị chia sẻ hàng tiếp tế của họ một cách hoàn toàn tất nhiên với những người khách ngẫu nhiên tới. Trong rừng rậm cạnh biên giới Campuchia, chiếc máy bay trực thăng mang tới một thùng nước tắm và một thùng hàng khổng lồ với ice cream. Cả giới báo chí cũng hưởng lợi từ việc người ta tiến hành cuộc chiến này với chi tiêu vật chất rất lớn.

Không một ai, những người dám ra chiến trường, có thể hoàn toàn tránh được rủi ro và nguy hiểm. Một loạt nhà báo đã trả giá bằng tính mạng của mình cho sự liều lĩnh bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết. Những người khác đã cư xử với khả năng phán đoán và sự cẩn thận, và tuy vậy cũng đã chết khi đang hành nghề của mình. Thuộc trong số họ là Bernard Fall, một giáo sư từ Pháp nhưng giảng dạy ở Mỹ, người đã nổi tiếng trên thế giới vì những quyển sách xuất sắc của mình về Việt Nam.

Vài ngày sau khi tới Sài Gòn, tôi gặp Bernard Fall trong văn phòng của nhà ngoại giao người Mỹ Bill Steerman. Sử gia và là nhà chính trị học Fall, lúc đó 41 tuổi, thường xuyên sang Việt Nam để điều tra nghiên cứu. Ông không muốn viết về Đông Dương mà không tận mắt nhìn thấy hiện thực của cuộc chiến. Fall không hề che đậy sự mâu thuẫn trong xúc cảm của ông, cũng không che đậy sự căng thẳng tâm lý trong giây phút nguy hiểm. Trong những tình huống đó, ông thừa nhận, luôn có một câu hỏi thúc giục ông: “Mình làm cái quái gì ở đây thế này?”

Fall gây ấn tượng vì sẵn sàng chia sẻ một cách vô tư kiến thức đồ sộ của ômg và trải nghiệm của ông với đồng nghiệp. Ông dành nhiều giờ để giải thích tình hình ở Sài Gòn cho tôi, một kẻ mới tới từ nước Đức. Fall thành công một cách gương mẫu trong việc gắn kết cách làm việc hàn lâm với làm báo. Tính chất sẵn sàng giúp đỡ của ông, hoàn toàn xa lạ với tự phụ và kiêu căng, đã gây ấn tượng sâu đậm cho tôi. Fall đã tạo ra thước đo qua các điều tra nghiên cứu của ông ở ngoài chiến trường và qua các tác phẩm văn học của ông.

Vài ngày sau lần chúng tôi gặp nhau, Fall bay ra Đà Nẵng để nghiên cứu về chiến lược và chiến thuật của lính thủy quân lục chiến. Với một cái máy thâu âm trên tay mà ông dùng để ghi lại các quan sát của mình, ông đã tháp tùng một đội tuần tra ở phía Bắc của Đà Nẵng, tiến hành một chiến dịch search and destroy.

Bernard Fall biết rõ vùng này. Ông đã viết một quyển sách tạo nên tiếng tăm của mình về các chiến dịch quân sự của người Pháp ở “Con đường không vui” giữa Đà Nẵng và Huế, Bây giờ, ông đi cùng với lính marine để nghiên cứu về các khác biệt trong chiến thuật, để kiểm nghiệm lại luận điểm của ông, luận điểm mà đã làm cho ông gần như tuyệt vọng, rằng người Mỹ không có khả năng và không muốn học hỏi kinh nghiệm của người Pháp.

Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, Fall quan sát lính marine khai hỏa bắn vào những người Việt mà ông, từ khoảng cách 1100 mét, không thể nhận ra đó là Việt Cộng được. Ông nói vào máy thâu âm những lời sáu: “Tôi đã quan sát qua ống dòm của trung đội trưởng. Tôi nhìn thấy những người chạy trốn xuống thuyền và vẫy lá cờ của chính phủ (Nam) Việt Nam, với ba vạch đỏ và nền vàng. Tôi sẽ tìm hiểu thêm sau này.” Tiếp theo đó là một khoảng thời gian im lặng trên băng. Rồi tới câu nói cuối cùng: “Bóng bắt đầu dài ra. Chúng tôi đã tới phòng tuyến của chúng tôi sau trận chiến. Ngửi thấy không tốt, có vẻ đáng nghi … có thể bị phục …” Chấm dứt ghi âm. Vào ngày 21 tháng Hai năm 1967, ông đã bị giết chết trong một ổ phục kích, một cái bẫy mìn mà người Mỹ gọi là boody trap.

Đoạn văn từ bài phóng sự cuối cùng của Bernard Fall được vợ ông Dorothy kèm vào quyển sách xuất bản sau khi ông qua đời, “Last Reflections on a War”. Nó được tặng cho trung sĩ Thủy quân Lục chiến Byron G. Highland, “nhà nhiếp ảnh chiến trường, người bạn trong cái chết”.

Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967
Trực thăng bay tuần tiểu trên đồng bằng sông Cửu Long (Long An), 1967

Tổng cộng có hơn 40 nhà báo bị giết chết từ 1965 cho tới 1975 ở Campuchia, Lào và Việt Nam. Một con số cũng không ít hơn được phỏng đoán là chết, vì họ được cho là mất tích, rơi vào tay của một đơn vị quân đội thủ tiêu ngay tức khắc mà không quan tâm tới danh tính của nạn nhân. Số phận này đe dọa nhiều nhất là ở Campuchia, nơi Khmer Đỏ giết chết các đại diện báo chí rơi vào tay họ ngay lập tức.

Rủi ro xuất phát từ việc lãnh thổ của các quân đội đang chiến đấu chống lại nhau không được đánh dấu bởi một đường ranh giới rõ ràng. Một chiến tuyến chỉ có ở nơi các lực lượng đương đầu nhau và bắn nhau. Không có vùng an toàn trong một cuộc chiến tranh du kích. Địch thủ vô hình và có mặt ở mọi lúc, mọi nơi và không có ở bất kỳ nơi nào hết.

Ai thuê một chiếc ô tô ở Phnom Penh hay Sài Gòn và rồi đi ra vùng quê xung quanh, người đó phải chịu một rủi ro là đi qua vùng bị Khmer Đỏ hay Việt Cộng kiểm soát.  An toàn cá nhân của các nhà báo tự đi điều tra chủ yếu phụ thuộc vào tài khéo léo và tính đáng tin cậy của người lái xe bản địa tháp tùng và stringer. Mỗi lần dừng lại, họ hỏi thăm người dân và quân nhân, quân đội của mình đứng ở đâu và vị trí của những người cộng sản được phỏng đoán ở đâu. Từ một số lớn các ý kiến, cuối cùng họ đưa ra một quyết định; tiếp tục chạy thêm một đoạn nữa trên đường này hay quay lại. Khả năng trao đổi ở ven đường để tìm kiếm xem ranh giới vô hình đi ngang qua đâu, cái mà người ta không muốn vượt qua, làm cho người cộng tác viên địa phương trở nên không thể thay thế được, và trao cho người này một vai trò gắn kết ông với các nhà báo người nước ngoài, cả về cá nhân lẫn về tình cảm. Dith Pran, stringer trong phim “The Killing Fields”, là một ví dụ tốt cho tình thương và tình bạn đã lớn lên trong tình huống sống còn giữa một thông tín viên ngoại quốc và cộng tác viên địa phương.

Cả các stringer của [Đài truyền hình nhà nước Đức] ARD ở Phnom Penh, David Ma Chen và Savonn Chea, cũng đã dẫn dắt các đội quay phim của chúng tôi qua cuộc chiến với sự thận trọng và tinh thần trách nhiệm cao độ. Cả hai đã ở lại trong nước năm 1975 khi Khmer Đỏ chiến thắng, vì lúc đó họ đã không thể tưởng tượng được một cuộc sống di cư. Năm 1980, họ đã gửi một bức thư từ trại tỵ nạn cạnh biên giới Thái Lan – Campuchia, cái bắt đầu với dòng chữ: “Dear boss, we are still alive” – “Sếp thân mến, chúng tôi vẫn còn sống”. Năm 1981, tôi đã quay một phim cho [chương trình truyền hình] “Weltspiegel” về lần tái ngộ với David và Savonn, một phim mà không thể nào che dấu được nỗi xúc động tràn ngập trong chúng tôi. [Đài phát thanh và truyền hình Bắc Đức] NDR và Quốc hội [tiểu bang] Hamburg sau đó đã giúp đỡ, hoàn toàn không quan liêu và vượt qua tất cả các quy định và lề lối riêng, để đón hai gia đình Khmer với con cái của họ từ những trại tỵ nạn cạnh biên giới. Sau một khóa học ở Hamburg, cả hai gia đình được phân sang Singapore, nơi đội ngũ cũ lại tụ họp đủ mặt, đội ngũ mà đã từng cùng nhau chia sẻ các rủi ro của công việc tường thuật từ Campuchia.

Ung Kim Seng là stringer của chúng tôi ở Sài Gòn, người mà hỗn hợp ngôn ngữ từ tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng bồi đã làm cho sự thông hiểu trở nên buồn cười nhưng tuy vậy rất chính xác. “You go giáp giáp”, chúng tôi yêu cầu khi thấy cần thiết phải có một cuộc trao đổi với người Việt ở ven đường, để ước lượng tính an toàn cho cuộc hành trình tiếp theo. “Hai”, “người con trai thứ hai”, như ông được tất cả mọi người gọi, luôn tìm được giọng nói thích hợp để lấy thông tin từ những người nông dân hay binh lính. Khi không nhận thấy mối nguy hiểm nào, ông trở về với câu nói ngắn gọn: “No sweat, no tears” – “Không mồ hôi, không nước mắt”. Trong trường hợp nguy cấp, ông gọi to ngắn gọn theo kiểu quân đội: “Beaucoup VC” – “Nhiều Việt Cộng”.

Với một bản năng chắc chắn, ông đã dẫn dắt tất cả các đội ngũ của ARD qua những bãi mìn của cuộc chiến này. Cả ông cũng không muốn bỏ chạy năm 1975. Ngày nay ông sống ở Sài Gòn, già yếu và bệnh tật. Tôi thường tới thăm ông ở đó. Ông biết, rằng ông có thể tin cậy hoàn toàn vào những người bạn từ ARD của mình, như chúng tôi đã tin cậy ông trong chiến tranh. Sau nhiều vấn đề tạm thời với các cơ quan nhà nước cộng sản, ông lại báo cáo một cách khiêm tốn và lạc quan: “No sweat, no tears.”

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Rồng Mekong (2): Một âm mưu chống khán giả

Đọc bài tiếp theo: Rồng Mekong (4): Phần thưởng của sự sợ hãi

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Rồng Mekong

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s