Rồng Mekong (2): Một âm mưu chống khán giả

Giấy phép ra chiến trường có ở “Military Assistance Command Vietnam”, viết tắt là MACV (và đọc là “Macvi”). Cơ quan thông tin của MACV đóng trong khách sạn “Rex” trước đây, nằm cạnh đại lộ Lê Lợi rộng lớn, cách các ngôi nhà trọ cho những đoàn lữ hành của giới báo chí, “Continental” và “Caravelle”, không đầy 200 mét. Dây kẽm gai giới hạn lối vào ở bên hông. Một người canh gác kiểm tra giấy tờ cá nhân. Qua những bức tường bằng gỗ, gian sảnh lớn ở tầng trệt được chia ra thành những phòng làm việc nhỏ, được liên kết với nhau bằng những hành lang dài, chật hẹp. Người khách thật sự là phải len lỏi qua đó, vì đứng khắp nơi trên hành lang là những bình nước uống thật to mà không có chúng thì nhân viên rõ ràng là không thể chịu đựng được bầu không khí bị làm lạnh quá mức này. Ly giấy mỏng, có màu trắng nằm đó sẵn sàng để ai cũng có thể uống nước theo nhu cầu.

Thư viện Abraham Lincoln và rạp REX, Sài Gòn 1965
Thư viện Abraham Lincoln và rạp REX, Sài Gòn 1965

Ngồi trong các ô chật hẹp là những người đại diện cho JUSPAO, “Joint United Public Affairs Office”, và các sĩ quan báo chí của bốn binh chủng: lục quân, cổ da, không quân và hải quân. Công việc ghi chép do phụ nữ người Việt nói tiếng Anh tiến hành, tất cả đều trong chiếc áo dài, y phục dài bằng lụa với quần dài và rộng và một chiếc áo váy được xẻ ra, dài quá gối. Ngồi ở phía sau các cái bàn giấy có bảng tên là những sĩ quan cường tráng trong quân phục được hồ cứng, thường là trung tá, có sẵn trong túi bên cạnh cây bút bi là một cái cây que chỉ bằng kim loại có thể kéo dài ra được, để có thể giải thích tất cả các vấn đề qua những bài thuyết trình ngắn, cạnh những tấm bản đồ và biểu đồ.

Để được công nhận, người ta chỉ cần một văn thư của tòa soạn từ quê hương, một giấy giới thiệu của sứ quán và một vài tấm ảnh để làm thẻ. Trước khi tấm thẻ báo chí bọc nhựa nhỏ được trao ra, người ta còn phải ký tên trên một văn kiện, miễn cho Hoa Kỳ tất cả các phí tổn sau này, kể cả việc mang trở về nhà trong quan tài.

Tấm thẻ báo chí cho cuộc chiến mang lại cho người sở hữu nó địa vị của một đại úy, người có quyền sử dụng các phương tiện vận tải của quân đội, đi khắp nước, xa cho tới nơi nào mà máy bay và trực thăng bay tới đó. Người này nhận nơi ăn ngủ của mình ở tại đơn vị tương ứng, nơi đón tiếp khách nhà báo bằng phòng PR riêng của họ, và trong lúc đó thông thường bao giờ cũng hào phóng và sẵn sàng giúp đỡ. Sẽ thuận lợi hơn, nếu như người ta thông báo trước những lần tới thăm các đơn vị qua phòng báo chí của các quân chủng trong JUSPAO. Nhưng nếu ai thích đi mà không báo trước, cứ để ngẫu nhiên đưa đẩy, đi nhanh tới nơi chiến sự đang là tít trên báo, thì cũng được tiếp đón và cung cấp cho tất cả những thứ cần thiết.

Không một người tháp tùng, không một người giám sát nào can thiệp vào trong công việc của các nhà báo. Báo chí được tự do, và được mời hãy tạo cho mình một hình ảnh riêng. Quân đội chỉ không muốn đảm nhận những rủi ro cho thân thể và tính mạng. Mặc dù vậy, tất cả các nhà báo bị thương tất nhiên đều được trực thăng cứu cấp bay chở ra khỏi chiến trường và được chăm sóc trong các bệnh viện quân đội. Không ít người – tôi thuộc trong số đó – mang trong thâm tâm một sự biết ơn to lớn vì việc này cho tới ngày hôm nay.

Tất nhiên là trước khi nhà báo có thể đi vào chiến tranh ở ngoài kia trên đồng ruộng và trong rừng rậm thì họ phải chịu đựng một nổ lực public relation hết sức lớn từ những cơ quan thông tin kết hợp của các cơ quan dân sự và quân sự của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Cùng với tấm thẻ báo chí, con người mới đến còn nhận được một press kit, hàng chồng tài liệu giải thích ý nghĩa của việc Hoa Kỳ tham chiến tại Nam Việt Nam và không để cho bất cứ một sự nghi ngờ nào trỗi dậy về việc quyền lực dẫn đầu Phương Tây sẽ vượt qua được thách thức này. “Hỏi: Tại sao Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ chiến đấu ở Việt Nam?”, theo như một talking paper của tháng Hai 1967: “Trả lời: Trong những điểm chính: Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam vì a) nền hòa bình và an ninh Đông Nam Á có tầm quan trọng sống còn cho lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ; b) Hoa Kỳ có nghĩa vụ bảo vệ Nam Việt Nam trước một cuộc xâm lược từ bên ngoài.”

Khác với những cuộc chiến trước đây, hoạt động tham chiến ở Việt Nam không thổi dậy một cơn say quốc gia mà tuyên truyền chỉ cần hỗ trợ cho nó. Trong Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến, cả trong Chiến tranh Triều Tiên, đối thủ có thể xác định được một cách rõ ràng, việc làm của quốc gia dường như là đúng đắn, quốc gia đứng sau lưng quân đội và chính phủ, để giúp cho tự do, công lý và cái thiện có thể chiến thắng. Tình trạng khẩn cấp được Quốc Hội xác nhận cho phép kiểm duyệt và giới hạn tự do thông tin vì lợi ích của an ninh quốc gia,

Trong Chiến tranh Việt Nam thì ngược lại, một “tam hiệp” từ nhân dân, chính phủ và quân đội, được lý thuyết gia về chiến tranh người Đức Carl von Clausewitz khuyến cáo, đã không hình thành. Người dân không được tham gia vào trong các quyết định dẫn tới cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á. Một chiến dịch PR không tiền khoáng hậu của chính phủ có nhiệm vụ thuyết phục nhân dân và giới công khai Mỹ tin tưởng vào sự cần thiết và tính đúng đắn của cuộc chiến.

Hàng ngày vào lúc năm giờ chiều có một cuộc họp báo diễn ra trong gian sảnh nhà hát của khách sạn “Rex”. Một phát ngôn viên của Đại sứ quán Hoa Kỳ thông tin về các vấn đề chính trị xã hội; giới quân đội phân phát “news release” của họ, thông cáo của Bộ Tham mưu tổng kết và xác định số lượng chiến dịch của ngày hôm trước. Một phát ngôn viên quân đội giải thích thông cáo đó và trả lời các câu hỏi của giới nhà báo.

Làm đạo diễn ở hậu trường là một PR manager lực lưỡng, hút thuốc liên tục. Barry Zorthian. Trên gương mặt sắc nét của mình, ông phải cố gắng lắm mới che dấu được cảm nhận của ông về chất lượng của màn trình diễn đang được tiến hành. Ông chứng tỏ mình có nhiều sự thông hiểu tới mức đáng ngạc nhiên cho các nhà báo hay hỏi khiêu khích. Làm cho ông chán ngán trước hết là những sự cố có thể tránh được do chính nhân viên của ông gây ra, nhưng đặc biệt là từ đại diện của các quân chủng. Ông chỉ bước lên sân khấu trong trường hợp khẩn cấp: khi các phát ngôn viên vướng vào bẫy của các nhà báo đang hỏi. Zorthian thích “mát xa cá nhân” trong phòng làm việc ốp gỗ của ông hơn, hay cả một bữa ăn trưa trong căn hộ tư của ông. Ông đã thực hiện nhiệm vụ khó khăn của mình với nhiều tính thuyết phục và tài khéo léo cho tới mức Time/Life sau này đã mời ông về làm việc trong ban giám đốc.

Zorthian không có ảnh hưởng gì nhiều tới chính sách thông tin của quân đội. Tướng William C. Westmoreland, viên tổng chỉ huy Mỹ ở Nam Việt Nam, và bộ tham mưu của ông phớt lờ mọi lời khuyên và phê phán. Họ giảm các thông tin quân sự xuống tới mức nó phá hủy ý nghĩa và chỉ để lại những mảnh, những phần không còn liên quan gì tới hiện thực nữa. “Các lực lượng của Sư đoàn 25 (Nam Việt Nam)”, như một thông báo đặc trưng, “và của Trung đoàn 11 Không kỵ Mỹ vào trưa ngày hôm qua đã giết chết 142 Việt Cộng cách Sài Gòn 15 dặm về phía Tây Nam.” Một thông tin như vậy đặt ra nhiều câu hỏi hơn là nó trả lời. Ai là 142 Việt Cộng đó? Có thu được vũ khí cùng con số đó hay không, điều có thể khiến cho người ta chắc chắn là không có người dân thường nào bị giết chết và rồi bị ghi nhận là lính tử trận? Tổn thất của chính mình là bao nhiêu? Ai đã khởi động cuộc giao tranh?

Vụ thảm sát Mỹ Lai, vụ việc mà trong đó một trung đội do thiếu úy William Calley chỉ huy đã bắn chết mấy trăm người dân thường tay không, phần lớn là phụ nữ và trẻ con, xuất hiện trong thông cáo của ngày đó qua diễn đạt như sau: “… giết chết 128 địch quân gần thành phố Quảng Ngãi”. Những vụ ném lầm, ném bom nhầm vào lực lượng của chính mình hay vào dân thường, được gói ghém vào trong uyển ngữ: “Ném ngẫu nhiên chất nổ”.

Trong “Người Mỹ trầm lặng”, Graham Greene đã mô tả lại một cuộc họp báo của tổng chỉ huy Pháp mà trong đó sự thật về tổn thất của của chính họ được giấu giếm một cách hết sức vụng về và vì vậy mà hết sức buồn cười. Các đối thoại đó là trích dẫn thật sự, chúng được trích dẫn lại từ ghi chép của một briefing. Hiện thực vượt quá sự tưởng tượng.

Không muốn và không có khả năng mô tả diễn tiến của các chiến dịch quân sự một cách phù hợp và có nghĩa lý, đó dường như là đặc tính của tất cả các quân đội mà không cần phải nhìn tới một quốc gia nào. Ở người Mỹ tại Sài Gòn thì sự đánh lạc hướng thông tin này hết sức tai hại, vì tụ tập lại trong “Rex” là một giới báo chí nhanh chóng nghi ngờ tất cả những người có chức vụ, đặc biệt là các tướng lĩnh; và là một giới báo chí mà đã tìm được phương tiện và đường lối để thu thập thêm dữ liệu, nhiều hơn là giới quân đội muốn công bố.

Một người hầu như lúc nào cũng tham dự cuộc họp năm giờ và “nướng” các phát ngôn viên qua những câu hỏi có chủ ý là Joe Fried, một phóng viên nhỏ người, trông có vẻ buồn rầu, đại diện cho New York Daily News. Joe Fried lôi các mâu thuẫn ra ánh sáng, làm lộ rõ các giả mạo và khiến cho các phát ngôn viên phải nói lắp qua một sự kiên trì gây bực mình và kiệt quệ. Ngày nào ông cũng chứng minh tính không thể tin cậy được của các thông cáo. Nhưng tất nhiên là cả ông cũng không thành công trong việc bổ sung thêm hiện thực vào cho các thông tin chính thức.

Trụ sở Bộ Chỉ Huy Quân Viện, Sài Gòn 1969
Trụ sở Bộ Chỉ Huy Quân Viện, Sài Gòn 1969

Chỉ sau vài ngày, kẻ mới đến Sài Gòn đã biết màn tuyên truyền nào được trình diễn ở “Rex” cho mình. Đại sứ quán Mỹ lan tỏa sự lạc quan đi khắp nơi. “Gánh nặng lịch sử của người da trắng” được tuyên bố thành “gánh nặng của thế giới tự do”. Và thật sự là các lực lượng của họ, người Nam Việt Nam, người Mỹ, Nam Triều Tiên, người Úc, New Zealand, Philippines và Thái, những người tham chiến với lực lượng nhiều ít khác nhau, cũng thật sự được gọi là “Free World Forces”.

“Tất cả các dữ liệu số lượng có được cho thấy rằng chúng ta thắng cuộc chiến này”, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert S. McNamara đã tuyên bố như vậy ngay từ năm 1962. Qua leo thang, qua tăng lực lượng quân đội lên tới hơn 400.000 người và qua cuộc chiến tranh bỏ bom chống miền Bắc, chính quyền Johnson nhìn thấy thời điểm đó đã tới, thời điểm mà Việt Cộng lui vào rừng rậm, đơn giản là ngừng chiến đấu mà không chính thức thừa nhận chiến bại. “Cỗ máy tuyên truyền Lầu Năm Góc”, cái mà thượng nghĩ sĩ Fulbright sau này mổ xẻ, cung cấp hàng ngày cho giới truyền thông những thông tin mà toàn bộ chúng chỉ để cho người ta đi tới một kết luận: rằng cuộc chiến diễn ra thuận lợi và không hề có nghi ngờ nào về việc ánh sáng đã bắt đầu xuất hiện ở cuối đường hầm.

Ngay từ 1962, từ cuối thời của nhà độc tài Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm, nhà báo Mỹ được phép hoạt động chính thức ở Sài Gòn đã lột trần sự lạc quan chính thức này ra như là một ảo tưởng. Neil Sheehan, David Halberstam, Peter Arnett và François Sully, để chỉ kể ra bốn tên tuổi, nhờ vào các điều tra ngoài chiến trường mà đã có ấn tượng chắc chắn rằng cuộc chiến của Mỹ không hứa hẹn sẽ thành công, rằng các tướng lĩnh đánh lừa giới công khai khi họ đặt chiến thắng vào trong tầm nhìn. Thế hệ đầu tiên của các nhà báo phê phán còn không hề hoài nghi ý nghĩa, sự cần thiết và tính hợp pháp của cuộc chiến. Nhưng họ không tin tưởng vào phương pháp, chiến lược và đặc biệt là chính sách thông tin hướng tới chiến thắng.

Các tướng lĩnh và đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn bộc lộ một sự cay đắng về việc nhà báo đặt sự kiện lên cao hơn danh dự của quốc gia. Khi Peter Arnett, phóng viên của Associated Press, đặt ra một câu hỏi mang tính phê phán cho đô đốc Felt, câu trả lời mang tính đặc trưng của ông là. “Get on the team” – “Hãy bước sang phía chúng tôi!”

Sau bốn tuần ở Sài Gòn, tôi gởi về cho [Đài Truyền hình và Phát thanh Bắc Đức] NDR một bài tường thuật về chính sách thông tin của đại sứ quán Mỹ, một bài tường thuật mà về sau này trông rất ôn hòa: Công tác báo chí có những yêu cầu vượt quá sức lực của sự hiểu biết thông thường. Nó không khéo léo, không chuyên nghiệp, lừa dối, với một từ: không đáng tin. Ngày nào đại sứ quán cũng thành công trong cố gắng nhấn mạnh ấn tượng không có lợi này.

Douglas Pike, một chuyên gia CIA về phân tích các tài liệu tịch thu được, người đã làm việc sáu năm trong bộ máy thông tin Sài Gòn trước khi ông trở về với nghề nghiệp hàn lâm năm 1966 và công bố một nghiên cứu cơ bản về Việt Cộng và tổ chức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, đã viết một câu mang tính hủy diệt ở trong đó: “Việt Nam là một ác mộng giống như trong mô tả của Kafka đối với mỗi một người muốn biết sự kiện thật. Nhiều điều được giữ bí mật. Nằm ở phía sau các thống kê được công bố là lĩnh vực của ‘các thông tin được mã hóa’, cái mà thống chế Foch đã từng gọi là ‘sương mù của chiến tranh’.”

Ngay từ giai đoạn cuối của nền độc tài Diệm, khi còn có chưa tới một tá thông tín viên Mỹ trú đóng dài hạn ở Sài Gòn, các thông tấn xã AP và UPI, nhưng trước hết là New York TimesNewsweek đã thổ lộ sự hoài nghi, rằng liệu diễn tiến của cuộc chiến có bào chữa được cho sự lạc quan này không. Viên tổng thống tự tin và kiêu ngạo Diệm đã gây khó khăn và cản trở những người phê phán xa lạ đầu tiên này, còn trục xuất cả François Sully, cộng tác viên của Newsweek, ra khỏi nước nữa, nhưng vẫn không thể làm mất tác động của giới báo chí đối lập lên dư luận.

Năm 1967, năm năm sau đó, đã có hơn hai trăm thông tín viên nước ngoài hoạt động chính thức ở Sài Gòn, đa số đều tự tìm kiếm dữ liệu, tạo cho mình một hình ảnh riêng về tình hình ở ngoài kia và bổ sung hay phủ nhận đường lối thông tin chính thức. Các PR manager của đại sứ quán và của quân đội đã không thể ngăn chận các phân tích phê phán và cảnh báo của giới báo chí. Vì cuộc chiến không được tuyên bố nên không có công cụ pháp luật để giới hạn tự do báo chí và áp dụng kiểm duyệt. Thời gian này, trong số các nhà báo có không ít người hoài nghi không chỉ các phương pháp. Họ lên án cuộc chiến từ những lý do về pháp lý và đạo đức và tìm các dữ kiện để, như Mary McCarthy đã nói, “gây hại cho lợi ích của Mỹ”.

Diệm bị lật đổ. Những người nối tiếp ông, các tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ kình địch với nhau, không có uy quyền để có thể thu hẹp được không gian hoạt động của báo chí. Điều tồi tệ nhất mà một nhà báo đối lập ở Việt Nam có thể trải qua là bị từ chối thị thực tái nhập cảnh.

Chỉ một vài thông tín viên là đã nhận được sự chú ý này của chính phủ Nam Việt Nam. Năm 1970, tôi đã đứng một thời gian trên danh sách đen, vì tôi đã nhắc lại trong một bài báo, rằng tính đáng tin cậy quốc gia của tướng Thiệu bị giới hạn do ông đã nhận được bằng sĩ quan của mình từ thế lực thực dân Pháp, trong khi Hồ Chí Minh trong cuộc chiến đấu chống Pháp đã lớn lên trở thành biểu tượng của kháng chiến. Lúc tái nhập cảnh trong tháng Mười năm 1970, vì chuyện đó mà tôi đã bị một nhân viên xuất nhập cảnh giam lại trong một phòng cách ly ở sân bay Tân Sơn Nhứt, cho tới khi chiếc máy bay mà tôi bay từ Bangkok tới đó khởi hành quay trở về. Sau một giờ, tôi bị áp tải ra máy bay và bị trục xuất. Qua can thiệp trong yên lặng của đại sứ quán Đức ở Sài Gòn và của Bộ Ngoại giao, biện pháp trừng phạt này chẳng bao lâu sau đó đã bị bãi bỏ.

Cả các cơ quan Mỹ, bất cứ lúc nào có thể, cũng đứng ra bảo vệ các nhà báo bị giới quân sự Nam Việt Nam đe dọa trục xuất hay không cho nhập cảnh. Nhiều lý tưởng đã không được quan tâm tới hay bị làm tổn thương trong cuộc chiến tranh Việt Nam bẩn thỉu. Tự do thông tin và báo chí hầu như không bị động chạm tới. Một giới báo chí làm tròn chức năng của nó, tức là cung cấp thông tin về các sự kiện cho công chúng một cách tốt nhất theo khả năng và lương tâm, kiểm tra và bổ sung các thông tin chính thức, đã có ảnh hưởng lớn tới diễn tiến và kết quả của cuộc chiến tranh này. Vì từ 1960 cho tới 1975 người ta đã có thể quan sát thấy bài học truyền thông chính trị có một không hai này mà hậu quả của nó vẫn còn tác động cho tới ngày hôm nay, nên vai trò của giới báo chí ở Việt Nam xứng đáng có được một sự quan tâm về cơ bản. Trong bài học này, các nhà báo chắc chắn không chỉ đóng một vai trò anh hùng, miễn cho họ được một sự tự phê phán. Họ đã phạm những lỗi lầm của họ, những cái đã lộ rõ ra trong trận tấn công vào dịp Tết [Mậu Thân].

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Rồng Mekong (1): Siêu thị Sài Gòn

Đọc bài tiếp theo: Rồng Mekong (3): Ra chiến trường

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Rồng Mekong

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s