Rồng Mekong (1): Siêu thị Sài Gòn

Siêu thị Sài Gòn

Mary McCarthy
Mary McCarthy

Thuộc trong số nhiều người Mỹ nổi tiếng muốn tận mắt nhìn thấy cuộc chiến ở Việt Nam, để viết về nó và phê phán công khai, là nữ nhà văn Mary McCarthy.  “Khi sang Việt Nam trong tháng Hai 1967”, bà thừa nhận trong “Report from Vietnam” được xuất bản vài tháng sau đó của bà, “tôi đã đi tìm những tài liệu có thể làm tổn hại đến lợi ích của Mỹ”. Có nhìn đến đâu bà cũng chỉ nhìn thấy sự xác nhận cho những gì mà bà đã biết. Nhưng không phải tất cả các nhận thức đó đã đứng vững được trước một xét nghiệm lại về sau này.

Tôi đã gặp bà McCarthy thoáng qua trên Hội Chợ Sách Frankfurt, nơi bà giới thiệu quyển sách bán chạy “The Group” của bà. Tình cờ, tôi cũng ngồi trong cùng chiếc máy bay từ Paris đến Sài Gòn – không phải ở phía trước như nhà văn nữ nổi tiếng, mà là tít ở phía sau trong “hạng ghế gỗ”. Sau những lần đỗ lại ở Athen, Teheran, Karachi và Bombay, thời đó vẫn còn là thông thường trên những tuyến bay dài, hành khách ăn sáng tại Cảng Hàng Không Bangkok. Trong một cái lán thấp, thức ăn được dọn ra trên một cái bàn dài có lá cờ của hãng hàng không ở trên đó. Bà McCarthy ngồi cạnh tôi. Bà trông có vẻ thiếu ngủ, nhưng người ta có thể nhận ra được sự căng thẳng chờ đợi trạm kế đến của bà, Sài Gòn.

Ở ngoài, cạnh những đường băng có hàng chục chiếc máy bay ném bom chiến đấu phản lực. Một vài chiếc khởi hành với tiếng ồn điếc tai. Máy bay trực thăng bay lơ lững tới. Mùi xăng máy bay nồng nặc trong không khí. Đó là chiến tranh rồi, chúng tôi đã  nghĩ như vậy, một màn dạo đầu lúc ăn sáng. Trong khi đó thì chúng tôi còn cách Việt Nam hàng ngàn kilômét.

Người ta nghĩ là ít ra thì họ cũng cố ngụy trang công việc làm của họ trước du khách, người nữ tác giả nghiêm khắc, hoàn toàn không có trang sức, nhận xét, người theo kiểu cách của giới trí thức Paris đã lấy sự từ bỏ styling làm phong cách cho mình. Cả hai chúng tôi đều hoàn toàn không biết gì về hiện thực của cuộc chiến, cho tới mức đã không nhận ra huy hiệu trên những chiếc máy bay chiến đấu đó, những cái chứng tỏ kho vũ khí hoàn toàn lỗi thời này là sở hữu của Không Quân Thái Lan. Phi vụ sang Việt Nam không hề được bay từ Cảng Hàng Không Don Muang. Các căn cứ của Hoa Kỳ ở trong nước không bị hàng không dân sự quấy rầy.

Sau này, tôi có thể đọc lại cuộc thảo luận tình cờ của chúng tôi trong “Vietnam Report” của McCarthy. Rõ ràng là tôi đã không thể giải thích tường tận được về Không Quân Thái Lan cho bà. Nhiều lắm thì tôi chỉ có thể nhận ra được loại máy bay chở chúng tôi tới Bangkok là một “Boeing 707”. Bà McCarthy tin rằng bà đã ở trong một chiếc “Caravelle”. Chỉ trong cái nghề lâu đời nhất của thế giới, Tướng Dwight D. Eisenhower đã từng có lần chế giễu, thì dân nghiệp dư mới được phép cho mình là một cái gì đó tốt hơn giới chuyên nghiệp. Trong giới quân đội, những người mới bắt đầu và các nhà chiến lược nghiệp dư có một hình ảnh hết sức buồn cười, một trải nghiệm không chừa ra bất cứ người phóng viên chiến tranh nào vào lúc ban đầu cả.

Chuẩn bị nhiệm vụ cho tôi là một tác giả khác: Graham Greene mà quyển sách “Người Mỹ trầm lặng” của ông vẫn còn thuộc trong số những gì viết tốt nhất về cuộc chiến ở Đông Dương. “Tôi không muốn can thiệp vào”, Green để cho nhân vật chính, nhà báo người Anh Fowler, nói. “Đồng nghiệp của tôi tự gọi họ là thông tín viên. Tôi thích cái tên gọi phóng viên hơn. Tôi viết những gì tôi nhìn thấy. Tôi không can thiệp vào, ngay cả một ý kiến cũng là một sự can thiệp. Chúa Trời bảo vệ chúng ta trước những người vô tội và những người tốt.”

Ở Sài Gòn, tôi đã đặt một phòng trong khách sạn “Continental Palace”, phòng mà 1952/53 Greene cũng đã sống ở trong đó vào thời của cuộc chiến tranh chống Pháp. Ngôi nhà được sơn trắng xóa từ thời chuyển tiếp thế kỷ có một nét quyến rũ xưa cũ mà người khách từ châu Âu bị thu hút một cách tự phát và mãi mãi. Cũng vì vậy mà sống ở “Continental” trước hết là phóng viên từ châu Âu, và tất nhiên là các old China hands, các tay kỳ cựu ở châu Á, những người tiếp tục nối tiếp phong cách sống thời thuộc địa.

Đại đa số các phóng viên trẻ tuổi từ Mỹ, trước hết là những đội truyền hình của ba kênh lớn CBS, NBC và ABC, sống trong khách sạn cao tầng “Caravelle” hiện đại, được điều hòa nhiệt độ toàn bộ và vì vậy mà quá lạnh, và mãi vào cuối những năm năm mươi mới được xây lên. Hai khách sạn, “Continental” và “Caravelle” nằm cạnh con đường mua sắm nhiều bóng mát, con đường đã từng là Rue Catinat thanh lịch và bây giờ có tên là Tự Do. Người ta không cần tới một trăm bước chân, để từ khách sạn này qua nhà hát tới khách sạn kia; thế nhưng ở đây có một đường ranh giới vô hình chạy ngang qua, chia cắt hai thế giới.

Vào buổi chiều, khi mặt trời đang lặn pha một sắc màu xanh nhạt hay tím vào ánh sáng đang yếu dần đi, hàng hiên của “Continental” trở thành một trong những cái chợ tin tức quan trọng nhất của thành phố. Khách sạn này cao bốn tầng, có những lối vào rộng rãi và hành lang có trần cao, để không khí có thể tuần hoàn được. Máy điều hòa nhiệt độ kêu lạch cạch trong những gian phòng rộng mênh mông với những cái ghế mây hay bàn ghế bọc chất dẽo, để cho nước ngưng tụ của nó nhỏ giọt xuống đường phố và làm đầy bầu không khí bằng một âm thanh nền thật to. Ở tầng trệt, phía hướng ra đường phố, khách sạn có một hàng hiên rộng mà ở đó người khách có thể nhìn thấy hoạt động trên đường phố, và đồng thời cũng để cho khách bộ hành quan sát mình.

Aussi bien qu’en France [Cũng tốt như ở Pháp]”, ông chủ người Pháp nói. Philippe Franchini có gốc Corse-Việt, có tài trong kinh doanh cũng như mỹ thuật. Ông biết những lời ám chỉ văn học về cái “etablissement” của ông trong các tác phẩm của Greene, André Malraux và cả trong những vở kịch của Noël Coward, người trên hàng hiên này đã phác thảo vở “Mad dogs and Englishmen” của ông. Ai kết bạn với giới này, người đó nhìn Sài Gòn bao quanh mình với đôi mắt phê phán, không phải là không có một chút nuối tiếc. Một làn sóng dollar đã cuốn trôi đi một phần lớn bầu không khí thuộc địa Pháp. Sài Gòn thay đổi hết sức nhanh chóng trong cơn say của một nền kinh tế phát đạt nhờ chiến tranh.

Một thiểu số nhỏ trên hàng hiên là các đại tá tóc vàng hớt kiểu bàn chải từ các ban tham mưu của Mỹ, những người mà Mary McCarthy đặc biệt khinh thường, ít khi trong quân phục, thường hơn là trong những chiếc quần ngắn Bermuda kẻ ô, trong môi trường này trông giống như quần áo gánh xiếc. Chen chúc ở cạnh bậc thềm vào hàng hiên, nơi những người bồi bàn kỳ cựu phục vụ citron pressé soda hay bia “33” bản địa, là những đứa bé ăn xin, những cô gái trẻ lả lơi, thường là con lai, và những người bán sách rong đang giữ cân bằng chồng sách trên tay họ và bị những người bồi bàn to tiếng và dứt khoát đuổi xuống đường khi cố gắng bắt chuyện với người mua ở cạnh bàn. Ngược lại, những đứa bé đánh giày thì lại được khoan dung cho, đánh bóng giày trên vỉa hè trong khi khách hàng của chúng chân không giày uống xì xụp sundowner của họ.

“Mỹ, Mỹ”, ngày nay thì trẻ con Việt Nam gọi tất cả “người da trắng” là như vậy. Đối với đại đa số người Việt, chủng tộc mới là cái quyết định, không phải quốc tịch. Thang điểm giá trị trong người dân có mười bậc. “Số một” là lời khen tốt nhất. Trước bậc thềm của hàng hiên người ta luôn nghe được tiếng gọi to: “You, Merican, namba ten.”

Thời đó, người ta đã mô tả Sài Gòn như là một siêu thị khổng lồ. Đổi tiền ở khắp nơi, đô la “xanh” của Mỹ được đổi lấy tiền đồng theo giá chợ đen, cái để cho những con búp bê trong vô số các quán rượu nhảy múa. Ở Nam Việt Nam chưa từng bao giờ có nhiều tiền và ngoại tệ hơn như trong những năm người Mỹ tham chiến. Qua trộm cắp, buôn lậu, tham nhũng và biển thủ, hàng triệu và vào lúc cuối hẳn là hàng tỷ đã rò rỉ vào một xã hội có kẻ thắng lớn và người bị thiệt thòi, một xã hội phân chia lợi nhuận hết sức không đồng đều, nhưng gián tiếp thì hầu như tất cả, ít nhất là trong các thành phố lớn, đều có phần. Một con số lớn người dân, lớn tới mức đáng ngạc nhiên, đã có thể chuyển từ xe đạp sang xe gắn máy. Con số lớn của những chiếc xe gắn máy Nhật tỏa khói mù mịt đã làm thay đổi hình ảnh của thành phố nhiều hơn tất cả các hệ quả khác của chiến tranh.

Những ngôi nhà đồ sộ màu đất son thời thuộc địa mà bộ máy nhà nước đóng ở trong đó được bảo đảm bằng nhiều hàng rào dây kẽm gai, gây trở ngại cho giao thông, vì người đi bộ vì vậy mà bị trục xuất xuống lòng đường, nơi những chiếc Honda đang đòi chiếm chỗ. Dây kẽm gai, chướng ngại vật và những tấm lưới thép trước cửa sổ minh chứng cho mối đe dọa hiện diện ở khắp mọi nơi của những người ném bom và kẻ ám sát. Sự thịnh vượng nhân tạo, một dòng giao thông mà thành phố có nguy cơ chết ngạt vì nó, và dây kẽm gai ở khắp mọi nơi, đã mang lại cho Sài Gòn của thời đó một hình ảnh mới, xấu xí. Trong “Antimémoires”, André Malraux nhớ lại “sự buồn tẻ của Nam Kỳ”, về những cái nón cối, giờ uống rượu absinth xanh trên hàng hiên “Continental”, “khi buổi chiều tối ngắn ngủi hạ xuống những cây phượng vĩ, xuống những chiếc xe mui trần đang chạy ngang qua trên Rue Catinat trong tiếng ồn từ những cái chuông của chúng”. Sài Gòn của những năm ba mươi đã suy tàn, chìm vào trong làn nước của một trận ngập lụt dollar, cái không chỉ làm thay đổi hình ảnh bên ngoài, cái cũng đã làm thay đổi cả tinh thần của thành phố,

Quán rượu, tiệm mát xa và nhà chứa đã có từ thời Pháp. Nhưng vào thời đó thì chúng còn ở trong bí mật, được che đậy và giữ kín trước con mắt của một xã hội có vẻ như là đoan trang. Cuộc sống hai mặt về đạo đức như vậy bây giờ không còn cần thiết nữa. Thói xấu hiển lộ một cách trần trụi và thành thật. Quy mô và phong cách đã thay đổi. Các cô gái đứng đường cho thấy rõ rằng có tiền thật sự là có thể mua được tất cả. Đạo đức chưa từng bao giờ khác đi, nhưng phong cách thưởng thức thì có khác. Lối sống Pháp buộc người ta phải kín đáo. Người Mỹ thì ngược lại khiến cho người ta, trước hết là các nhà quan sát người Việt, có cảm giác là họ thô tục, bất lịch sự và đáng ghét.

Nhưng họ giàu có, và họ có nhiều quyền lực. Họ tự tin nhìn xuống những người Pháp còn ở lại Nam Việt Nam. Nhóm người Pháp, vẫn còn khẳng định được vị trí của họ trong khách sạn, nhà hàng và các công ty dịch vụ, được nhẫn nại khoan dung như một cách để phong phú hóa môi trường thành thị. Cả việc làm giàu về mặt ẩm thực cũng được đa số người Mỹ đánh giá cao. Người Mỹ chỉ không muốn biết tới các trải nghiệm về chính trị và quân sự mà Pháp đã có ở Việt Nam. Các vấn đề của quá khứ, những người bảo vệ mới của Nam Việt Nam tin là như vậy, hết thảy đều xuất phát từ thuộc địa hóa, đàn áp và bóc lột bởi Paris. Ngược lại, nước Mỹ chiến đấu không tư lợi, vì lợi ích của người Nam Việt Nam. Nước Pháp phải thất bại. Kinh nghiệm của họ không dạy được điều gì. Họ chỉ xác nhận nhận thức đã rõ, rằng thời thuộc địa đã qua đi và không bao giờ quay trở lại nữa.

Người Pháp đáp trả sự không ưa thích đó từ sâu thẳm trong thâm tâm. Họ cảm nhận Sài Gòn như là một siêu thị có những con “siêu khỉ” đang tụ tập ở trong đó. Họ không  muốn rời bỏ niềm tin, rằng họ hiểu người Việt tốt hơn nhiều khi so với những người Mỹ hoàn toàn không hiểu biết gì. Họ xem Nam Việt Nam là sở hữu của họ, là người tình của họ, người đã bỏ đi theo một gã nhà giàu xấu xí. Một ngày nào đó, đất nước này sẽ quay trở lại ở bên cạnh nước Pháp.

Có một lời khẳng định đã suy đồi thành định kiến, rằng Sài Gòn thời đó duy nhất là một nhà chứa khổng lồ, sống ở đó là những kẻ hưởng lợi từ chiến tranh, dân buôn lậu, ma cô và gái điếm. Phim Mỹ về Việt Nam như “Full Metal Jacket” của Stanley Kubricks đã hạ thấp hiện thực xã hội của Nam Việt Nam xuống tới những tình trạng như vậy, cái cũng đủ để cho cả những nhà phê phán người Pháp đưa ra một phê phán chung cho cả đất nước này từ đó.

Thật sự thì Nam Việt Nam đã khiến cho người ta ngạc nhiên nhiều hơn, qua sự tồn tại bên cạnh nhau của chiến tranh và hòa bình, của sự biến dạng và trạng thái bỉnh thường không hề bị ảnh hưởng tới, của dâm tục và thơ mộng, cái còn cho phép một phần lớn con người khẳng định được tính chất riêng biệt và phẩm giá của họ trong một xã hội mang dấu ấn của chiến tranh, bạo lực và xáo trộn. Đặc biệt là ở tỉnh và làng quê, con người vẫn giữ vững truyền thống của họ, những cái đã chống chọi lại được với ảnh hưởng của nền văn minh Pháp và bây giờ cũng sống sót qua được chiến dịch của người Mỹ nhằm để chiếm lấy các “trái tim và đầu óc”.

Sài Gòn, thủ đô to lớn, tăng trưởng lên hơn hai triệu dân cư trong miền Nam, là một trường hợp đặc biệt mà trong đó xã hội đã thay đổi và tan rã nhiều hơn là trong phần còn lại của đất nước. Trong khi đó, thời 1967, thì con người ở đây vẫn còn được chiến tranh thật sự, và những tàn phá do một cỗ máy chiến tranh hiện đại gây ra, dung tha cho hoàn toàn.

Tuy vậy, vào mỗi tối, ngay cả từ hàng hiên của “Continental”, người ta vẫn có thể nhìn thấy flair, những “cây Giáng Sinh” như người ta nói trong Đệ nhị Thế chiến, treo dưới những cây dù lơ lửng trên bầu trời, để chúng chiếu sáng trong vài phút một chiến trường đã kéo vào cho tới tận ngoại ô của Sài Gòn. “Cây Giáng Sinh” trên bầu trời mang lại cho những người mới đến một ấn tượng đầu tiên, rằng chiến tranh và hòa bình nằm gần nhau cho tới đâu ở đây.

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Rồng Mekong

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s