Vinh Quang của sự Phi Lý (42)

Mùa xuân 1972 tôi trở lại Việt Nam lần cuối cùng. Hơn bao giờ hết tôi mong muốn nhìn lại Huế một lần nữa, thành phố mà bẩy năm trước tôi đã trải qua một đêm huyền diệu trên một con đò, lắng nghe giọng ca của một cô bé xinh đẹp với mái tóc dài đen tuyền. Tôi còn nhớ giọng ca ám ảnh gợi cảm của cô và giai điệu kỳ lạ của cây đàn Đáy hình thang, một nhạc cụ có ba dây mà cô gẩy trong lúc đò chúng tôi trôi trên dòng sông Hương. Tôi tương tư một cách gần như là bất thường thành phố tử đạo mà tôi đã rời bỏ trên một chiếc tàu đổ bộ bọc sắt sau nhiều giờ tham dự chiến đấu từng căn nhà một trong đợt công kích Tết Mậu Thân. Tôi cứ nhớ mãi ba bộ đồ trận mà tôi đã mặc cái này chồng lên cái kia, mọi thứ toát ra bụi bặm và tử khí. Ngoài ra tôi cũng cảm thấy bị thôi thúc một cách bệnh hoạn và u sầu là phải đi lại những bước chân dọc theo đại lộ Lê Lợi và được nhìn lần cuối cư xá đại học mà các vị bác sĩ Đức bị sát hại đã từng cư ngụ ở đó.

Lần này tôi đi cùng nhiếp ảnh viên Perry Kretz của Stern, một tay Mỹ gốc Đức sừng sỏ, biết hai thứ tiếng theo một kiểu riêng biệt: Tiếng Anh theo giọng dân New York và với tiếng Kölsch một thỗ ngữ tức cười của vùng Cologne. Thật là hay có anh là bạn đồng hành vì anh đã từng tham gia chiến trận nhiều rồi, khởi đầu với cuộc chiến Triều Tiên mà anh đã chiến đấu như một chiến sĩ trong quân đội Hoa Kỳ. Perry có thể tin tưởng được là sẽ không bị hoảng sợ dễ dàng.

Đông Hà, ngày 6 tháng 4 năm 1972
Đông Hà, ngày 6 tháng 4 năm 1972

Chúng tôi biết là nhiệm vụ phía trước rất khó khăn. Cộng sản mới phát động tổng công kích mùa xuân, một chiến dịch lớn nhất từ trước đến nay. Mục tiêu của nó không hẳn để chiếm đất mà chủ động là dùng để mặc cả trong các cuộc đàm phán Hòa Bình Paris. Một lực lượng xâm lăng khổng lồ đổ vào miền Nam Việt Nam từ Campuchia, Lào và đặc biệt trắng trợn vượt qua vùng được gọi là khu phi quân sự chia đôi miền Bắc và miền Nam. Một phần lực lượng này, sau này tôi mới biết, gồm 25.000 quân tinh nhuệ mới trở về sau khi được huấn luyện tại Liên Xô và các quốc gia khối hiệp ước Warsaw, trong đó có Đông Đức.

Quân Bắc Việt đã chiếm Quảng Trị mà vào năm 1965, trong một chuyến thăm Ủy ban Kiểm soát Quốc tế đáng nhớ, tôi đã từng làm thông ngôn cho một thiếu tá Ba Lan khi ông ta cần điều trị vết thương ở đầu do chơi bóng chuyền. Tuy nhiên cuộc tấn công của Cộng quân vào Huế đã bị chặn đứng, không phải do người Mỹ lúc đó đã triệt thoái gần hết ra khỏi Việt Nam chỉ còn lại 69.000 người, mà nhờ các lực lượng ưu tú nhất của quân lực Việt Nam Cộng Hòa: Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, Sư đoàn 1 và Biệt Động Quân. Họ được chỉ huy một cách xuất sắc bất chấp sự bịa đặt loan truyền bởi một số ký giả Mỹ cho là quân đội Việt Nam Cộng Hoà không biết chiến đấu.

Thực tế thì họ có kỷ luật và chuyên nghiệp hơn đối phương phía Bắc. “Bọn Bắc Việt mang qua 100 chiến xa do Liên Xô sản xuất vượt qua vùng phi quân sự nhưng lại không biết sử dụng chúng,” một cố vấn Mỹ kể với chúng tôi trên chuyến bay từ Sài Gòn ra Huế, họ phải bỏ lại hằng đống các chiến cụ này. Anh mà lái lên Quốc lộ 1 thì sẽ thấy các bộ phận thiết bị đầy rẫy với chiến xa của Liên Xô bị bỏ lại.”

Perry và tôi thuê một anh tài xế với dáng vẻ và thái độ đặc biệt của giới trí thức thuộc tầng lớp thượng lưu cổ kính của Huế. Anh là một thanh niiên điềm đạm và nghiêm trang, bị cận thị với cặp mắt kiếng dầy cộm và nói tiếng Pháp rất giỏi. Tên anh là Hiền. Anh làm chủ một chiếc xe Jeep còn tốt được trang bị bao cát để chống miểng trong trường hợp chúng tôi cán phải mìn dưới đất.

Đầu tiên chúng tôi lại lên kỳ đài, nơi mà tôi không thể vào được trong dịp Tết 1968 vì còn nằm trong tay Cộng quân. Tuy nhiên trong lúc này tôi gặp các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa vẻ mệt mỏi đang nghỉ ngơi trên những chiếc võng mắc ngang các khẩu thần công có niên đại từ đầu thế kỷ 19. Những khẩu súng này là biểu tượng của niềm hy vọng và tự hào cho họ, đặc biệt trong thời điểm mà các đơn vị ưu tú Việt Nam Cộng Hòa – chứ không phải Hoa Kỳ đang sửa soạn triệt thoái – đã chận đứng một cuộc xâm lăng toàn bộ mới của quân Cộng sản. Những khẩu đại bác nhắc nhở họ là đất nước đã từng bị chia cắt trong 200 năm. Chính một vị vương miền Nam, Nguyễn Ánh, đã kết thúc sự chia cắt bằng cách đánh bại triều đại Tây Sơn vào các năm 1801/1802 với sự trợ giúp của 300 lính đánh thuê người Pháp.

Sau đó Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với danh xưng Gia Long. Vua Gia Long đã tịch thu các mảnh đồng chiến cụ của quân Tây Sơn bại trận và ra lệnh đem nấu chảy đúc hành chín khẩu thần công. Năm khẩu được đặt tên theo ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, còn lại bốn khẩu thì đặt tên theo bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Những khí cụ này chưa bao giờ được khai hỏa trong chiến trận mà chỉ được sử dụng trong các dịp lễ lạc.

“Chi tiết lịch sử này rất sâu đậm trong tâm trí chúng tôi, Chuẩn tướng Bùi Thế Lân nói. Ông là tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa và bộ chỉ huy đặt trong thành nội Huế. Tôi quen với tướng Lân từ nhiều năm qua. Dưới mắt nhiều viên chức Hoa Kỳ, các tùy viên quân sự ngoại quốc tại Sài Gòn và các phóng viên thì người lính sinh trưởng tại Hà Nội này thuộc vào hàng chỉ huy có khả năng và dữ dằn nhất trong cuộc xung đột này.

“Nếu Huế rơi thì cuộc chơi của chúng tôi sẽ chấm dứt,” Lân tiếp tục. “Đó là lý do tại sao chính phủ chúng tôi đã điều động các đơn vị tinh nhuệ nhất ra phía Bắc và phía Tây nơi đây. Nếu ngày nào Việt Nam được thống nhất thì Huế phải thành thủ đô trở lại. Bọn Bắc Việt biết điều này nên cuộc công kích hiện giờ cũng hoàn toàn nhắm vào điều đó.” Ngày hôm sau, một tù binh Bắc Việt xác nhận với tôi chuyện này.

“Mục tiêu của chiến dịch này là gì, theo cấp chỉ huy của anh?” Tôi hỏi anh ta.

“Chiếm Huế và thiết lập một chính quyền cách mạng trong thành nội ngay lập tức,” anh trả lời.

Chúng tôi phỏng vấn anh ta tại một vị trí tiền phương khoảng 20 dặm về hướng bắc của Huế. Anh ngồi xổm dưới đất, bị trói và bịt mắt trong khi một đại úy Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hoà quạt đuổi ruồi khỏi mặt anh, một trung sĩ gắn trên môi anh một điếu thuốc đã châm sẵn và một hạ sĩ khác cho anh uống nước. Perry và tôi rất cảm động trước nghĩa cử đối với kẻ địch vào một thời điểm mà Miền Nam còn đang phải chiến đấu cho sự sống còn của mình.

Anh lính mới chỉ 17 tuổi, xuất thân từ Nam Định, một thành phố cách Hà Nội năm mươi dặm về hướng Nam. Sau ba tháng huấn luyện căn bản anh được điều vào Trung đoàn 66 Bắc Việt đến Quảng Trị và lần xung trận đầu tiên cũng là lần cuối cùng của anh. “Ba phần tư người trong tiểu đoàn tôi đã tử trận và tôi bị thương trên đầu,” anh nói với tôi, “sau đó thì tôi bị bắt.”

Chúng tôi lái lên hướng Bắc theo Quốc lộ 1 được người Pháp đặt tên là “con đường không vui” do đã có quá nhiều lính tráng và dân thường bỏ mạng nơi này trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất. Chúng tôi biết là không thể đi xa được bởi vì hầu hết các đơn vị tiên phong của Bắc Việt chỉ cách Huế 20 dặm. Mục đích của chuyến đi này là thử xem tình trạng của con đường này trong bối cảnh lịch sử của nó, so sánh với những gì tôi đã đọc trong các cuốn sách của Bernard Fall. Tôi cũng tự hỏi không biết những đứa trẻ chăn trâu mà tôi đã kể khá nhiều trong một chương trước có còn đây hay không. Té ra là chúng biến mất đâu cả rồi và điều này là một dấu hiệu đáng ngại. Quốc lộ 1 đã trở thành một con đường đáng sợ. Chiếc xe của chúng tôi là chiếc duy nhất trên con lộ đột nhiên trở thành chiến tuyến giữa vị trí quân Bắc Việt hướng Tây và các lực lượng Việt Nam Cộng hòa hướng Đông. Đạn súng cối và pháo binh bay qua đầu từng đợt bất thường.

Perry ngồi ngay trên ghế hành khách bên cạnh Hiền trong khi tôi thì ngồi đằng sau ngó chăm chú qua vai Hiền vào mặt đồng hồ tốc độ, càng lúc càng lo lắng. Mũi kim đồng hồ ít khi nào vượt qua mức 30 cây số một giờ. Dán sát mắt vào trong mặt kính chắn gió, anh chàng Hiền cận thị lái chậm rãi một cách nguy hiểm vô cùng trên đoạn đường gian nguy này.

“Lái nhanh lên đi, Hiền,” tôi khẩn khoản nói với anh, “chúng ta bị bắn sẻ mất. Chỉ có tốc độ mới thoát thôi.”

“Tôi phải xem xét mặt đường kẻo có mìn thưa ông,” Hiền nói, “nhưng mắt tôi không tốt lắm để có thể nhìn thấy chúng.”

“Vậy thì để tôi lái đi, mắt tôi còn tinh,” tôi nói.

“Không được thưa ông. Chiếc xe này chỉ được bảo hiểm dưới tên tôi thôi,” anh trả lời một cách không thành thật lắm làm Perry nổi điên lên.

“Ya hoid him, ya schmuck…, lái nhanh lên!” Perry tru lên bằng một giọng có thể được kính nể tại New York nhưng hoàn toàn không phải là cách lý tưởng để thuyết phục một nhà trí thức người Huế.

Đến đây thì Hiền giận lắm rồi. Anh đạp mạnh thắng. Chiếc xe Jeep đậu lại ở một chỗ tệ hại nhất có thể bị mắc kẹt ở trong một cuộc đụng độ: một nơi trống trải trên một con lộ thoáng ra mọi hướng, trong khi đạn pháo binh hai bên bay vun vút qua đầu.

Hiền và Perry cãi nhau càng lúc càng hăng bằng bốn thứ tiếng. Tiếng Hiền the thé pha lẫn tiếng Việt và tiếng Pháp trong khi Perry hò hét một phần giống như dân New York, phần như dân sinh trưởng vùng Rhineland của anh. Kịch trường của sự phi lý đã đạt đến một mức độ mà có lẽ thần chết đã trở thành một khả năng có thể xảy ra. Tôi giựt lấy chìa khóa xe của Hiền và nói, “tôi muốn sống sót qua trận này và chạy đi núp đây. Nếu quý vị bình tĩnh lại trước khi mất mạng thì theo tôi vào cái mương kia.” Tiếp theo tôi nhảy ra khỏi đằng sau xe và chạy lúp xúp khoảng 500 thước đến khi tìm được một cái hốc bên cạnh tường đủ sâu để núp vào như một cái hố cá nhân.

Hiền và Perry còn tiếp tục cãi nhau một chập nữa nhưng không lâu lắm. Họ chạy theo tôi vào cái hố cho tới khi cuộc đụng độ lắng dịu dần. Thật là kỳ diệu, chiếc xe của Hiền không hề hấn gì.

Tôi sẽ lái đây, tôi nói và vòng xe lại. Tôi nhận ga và lái quanh co về lại hướng Huế, vừa cố gắng tránh bị bắn tỉa vừa lái vòng qua những khoảng mặt đường bị vá trông có vẻ như có dấu bị đặt mìn.

Trên đường về gần thành phố chúng tôi chỉ đi ngang qua duy nhất một chiếc xe dân sự khác. Đó là một chiếc xe buýt Lambretta ba bánh, hay xe lam. Người tài xế có vẻ không màng gì đến chuyện bị bắn sẻ hay đạn súng cối gì cả. Đột nhiên anh ta ngừng lại, chúng tôi cũng vậy, khá  ngạc nhiên về đồ chở trên xe và người hành khách. Chúng tôi thấy hai cỗ quan tài nhỏ và một người đàn bà có bộ răng nhuộm đen. Bà ta vật vã gào thét, “ôi các con tôi, ôi các con ơi, tại sao con lại bỏ mẹ ra đi?”

“Chuyện gì vậy?” Tôi hỏi người tài xế xe lam. Hiền dịch lại.

“Mấy đứa nhỏ chết đêm qua vì Bắc Việt pháo kích làm ngôi làng chúng tôi đằng kia bị phá hủy hoàn toàn,” người tài xế trả lời, chỉ tay về hướng một cụm những túp lều đổ nát vài trăm thước về phía Nam dọc theo Quốc lộ 1. Tám người lính Việt Nam Cộng Hòa xuất hiện từ những hầm cá nhân cạnh bên đường tiến đến khiên hai cỗ quan tài. Họ chôn chúng bên bờ một khúc ruộng, dặn dò người mẹ đừng đến quá gần. “Cẩn thận có mìn đấy!” Họ cảnh cáo.

Từ một khoảng cách ngắn, người phụ nữ ném một nắm kẹo vào ngôi mộ trước khi các binh sĩ lấp nó lại.

Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Đến vùng ngoại ô Huế chúng tôi đi ngang khoảng một chục thiếu niên có vũ trang ngồi xổm trên một bức tường. Trong họ còn quá trẻ để vào lính.

“Họ là ai vậy?” Tôi hỏi Hiền.

“Nhân dân tự vệ” anh nói. Tất cả họ đều tình nguyện chiến đấu chống cộng sản.

“Cái này mới à,” tôi thăm dò, “đặc biệt ở Huế mọi người có vẻ không muốn dính dáng đến chiến tranh.”

“Không đâu,” Hiền giải thích. “ chúng tôi khi trước thường ghét người ngoại quốc, đầu tiên là người Pháp rồi sau đó là người Mỹ. Nhưng từ sau Tết Mậu Thân chúng tôi thù Cộng sản, tất cả mọi người từ học sinh cho đến Hoàng Thái Hậu.”

“Cái gì? Vẫn còn Thái Hậu à?”

“Dĩ nhiên rồi, bà là mẹ của hoàng đế Bảo Đại. Tên bà là Hoàng Thị Cúc,” anh trả lời, “chúng tôi gọi bà là Đức Từ Cung có nghĩa là một vị cung phi từ bi đức độ nhất.”

“Đức,” tôi thốt lên. “Biệt danh của tôi cũng là Đức và có nghĩa là người Đức nữa. Như vậy chúng tôi có điểm giống nhau đây.”

Ít nhất một lần anh chàng Hiền đạo mạo cũng tự cho phép mình mở một nụ cười và đùa một chút:

“Ngoại trừ một điều, bà là Đức … Hoàng Tộc.”

“Như vậy thì bà không phải đi theo con trai lưu vong qua miền nam nước Pháp à?”

“Không, bà sống ngay đây trong một căn biệt thự trên đại lộ Lê Lợi.”

“Anh có quen với bà không, có thể sắp xếp cho tôi phỏng vấn được không?” Tôi hỏi.

“Đúng, tôi có quen với bà. Nhưng không, bà xã không cho anh phỏng vấn. Thái hậu không cho ký giả phỏng vấn, chỉ cho tiếp kiến thôi. Tuy nhiên tôi nghĩ có thể thu xếp được cho anh.”

Hai ngày sau, Hiền đưa chúng tôi đến chỗ cư ngụ của Thái Hậu. Điều đầu tiên tôi nhận ra là hàng chữ nguệch ngoạc bên bờ tường vườn bà. “Cắt đầu”, có nghĩa là cắt cổ họng. Nhưng chữ tiếp theo “Mỹ”, có nghĩa là người Mỹ, đã bị sơn trắng đi, rõ ràng là một nhận định chính trị.

Một người cận thần thật gầy mặc bộ áo dài đã sờn nát hướng dẫn chúng tôi cung cách hành xử trước mặt hoàng gia. Chúng tôi phải cung kính chắp tay trước mặt. Chúng tôi không được chạm vào người Bà và không được lên tiếng trước. Bà có đặc quyền được mở đầu câu chuyện.

Chúng tôi được dẫn vào phòng khách và Đức Từ Cung, một người phụ nữ bé nhỏ tám mươi ba tuổi mặc chiếc áo dài màu vàng, màu dành riêng cho vua chúa, ngồi trên một chiếc ngai vàng cầu kỳ đằng trước một bàn cũng cầu kỳ không kém, trên đó có hình phu quân của bà, Hoàng Đế Khải Định và hình của người con xa xôi Bảo Đại. Bà luôn miệng hút thuốc lá Bastos là một loại thuốc lá đen rất nặng.

Nước trà ướp hoa nhài được dâng lên trong những chiếc tách bằng sứ tráng men có viền vàng. Đức Từ Cung nói nhỏ nhẹ bằng tiếng Việt và người cận thần dịch lại. Bà nói rõ bà chỉ là người giữ chỗ cho con trai là người cai trị chính danh của Việt Nam. Bà sẽ không bao giờ tự nguyện rời bỏ Huế trừ phi bọn cộng sản tiến chiếm và bắt bà. Tuy nhiên bà đã không chịu rời nhà trong suốt ba tuần lễ khủng bố của bọn chúng trong đợt Tết Mậu Thân 1968.

“Tôi không thể lìa bỏ thần dân,” Bà nhấn mạnh. “Dân chúng Huế vẫn còn ủng hộ triều đình. Họ đến diện kiến tôi cả ngày, người giàu cũng như người nghèo, quý tộc và thường dân, cao hay thấp. Tổng thống Thiệu và phó tổng thống Kỳ mới đây còn phái các vị phu nhân đến viếng thăm tôi để bày tỏ sự kính trọng và đại tá Tôn Thất Khiêm, tỉnh trưởng Thừa Thiên vẫn thường xuyên thỉnh ý kiến tôi.”

Nghe  Bà kể chuyện là một kinh nghiệm u sầu, giống như lần gặp Hoàng thân Norodom Sihanouk vào năm 1968. Có phải đây là một màn kịch trường của sự phi lý nữa chăng? Tôi không nghĩ như vậy. So sánh với những gì tôi đã trải qua tại Huế, điều này đánh động tôi một thoáng nhìn về một cuộc sống bình thường có văn hóa mà đáng lẽ xứ sở này phải có và lòng tôi trĩu buồn khi nghe kể là để kinh tài cho phong trào phục hoàng, bà đã phải bán đi những chiếc bình sứ trong các ngôi đền thờ tiên đế.

Còn một chuyện nữa tôi phải làm trước khi vĩnh viễn rời Huế: là một người say mê về xe lửa, tôi muốn đi thăm một lần chót cái ga tàu hỏa cũ kỹ của Huế. Tất nhiên du lịch bằng xe lửa tại Việt Nam đã bị gián đoạn từ lâu rồi, nhưng tôi vẫn luôn bị xúc động bởi phong cách mà người Việt Nam gin giữ, ít nhất là bề ngoài của một sự liên tục, với các thời khóa biểu và lịch trình giá cả được cập nhật hóa hết sức tỉ mỉ.

“Chúng ta có mặt ở đó tám giờ vào buổi sáng đi,” Hiền đề nghị.

Chúng tôi đến sớm hơn một chút, tản bộ trên nền sân ga. Chúng tôi nhận thấy một tấm bản mờ cho biết là Sài Gòn cách 1041 cây số và Hà Nội 688 cây số. Một đầu xe lửa diesel đang nổ máy đậu tại đó. Đầu máy này cùng với một tòa hành lý tạo thành Chuyến Tàu Tốc Hành Xuyên Đông Dương đã từng lừng danh một thời.

Ông trưởng ga xuất hiện, mở ra một lá cờ đỏ, vẫy lên và huýt một hồi còi. Chiếc đầu máy hụ còi và đúng 8.giờ sáng chuyến tàu rồi khỏi trạm ga. Năm phút sau, nó trở lại, chỉ di chuyển một vòng vỏn vẹn không hơn một cây số. Kỹ sư tàu, một người trạc năm mươi tuổi có tên là Dương tắt máy. Trưởng ga cuốn lá cờ đỏ lại và một ngày làm việc của họ chấm dứt. Một lần nữa họ đã chứng tỏ là Chuyến Tàu Tốc Hành Xuyên Đông Dương vẫn còn hoạt động.

Lạ lùng thay, hoạt cảnh này không có gì là phi lý đối với tôi mà nói lên niềm đức hạnh hay “Đức” trong tiếng Việt tức một lời chứng thực cho niềm hy vọng khi đối mặt với tai họa. Khi chúng tôi rời ga xe lửa, 20 người phu xe đang chờ bên ngoài với những chiếc xích lô xếp hàng thật ngay ngắn.

“Tại sao lại ở đây?” Perry Kretz hỏi anh xích lô trưởng toán.

“Không ở đây thì chúng tôi ở đâu bây giờ?” Anh hỏi ngược lại.

Vào lúc đó và tại nơi đó, tôi chợt hiểu là có sự hợp lý trong các của sự phi lý.

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (41)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (hết)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s