Vinh Quang của sự Phi Lý (41)

Với những linh cảm đen tối, tôi là Gillian đáp máy bay đi Nông Pênh, bắt tay vào một cuộc hành trình trở về quá khứ, hay có vẻ như vậy. Thủ đô Campuchia lúc đó vẫn còn giống phong cách Sài Gòn vào những thời kỳ bình yên hơn: rất Pháp nhưng cũng rất đặc biệt, kỳ diệu, quyến rũ và thanh bình. Những bà vợ, các cô con gái của các cố vấn quân sự và dân sự Pháp uyển chuyển đầy trong hồ bơi của khách sạn Le Royal trong những bộ áo tắm hai mảnh. Tuy nhiên trên thực tế họ chỉ là những màn trang trí có tính chất trình diễn. Sự thật chỉ có một người quan trọng hơn cả tại Campuchia: hoàng thân Sihanouk, người đã từng là vua của xứ sở này và sẽ lại lên làm vua một lần nữa về sau đó. Tuy nhiên trong thời gian chúng tôi đến thăm, ông ta chỉ vui vẻ đóng một loạt những vai trò khác nhau: đứng đầu chính phủ, làm nhà sản xuất và ngôi sao tài tử cho vô số các bộ phim, làm bình luận viên trưởng các đài radio và truyền hình, làm biên đạo chính của Vũ đoàn Ba lê Hoàng gia, làm chủ bút một tờ tạp chí trí thức, làm nhạc sĩ thổi kèn saxophone chính làm nhạc trưởng soạn những khúc nhạc hòa tấu tương tự như các giai điệu lãng mạn của Charlie Chaplin. Ông ta cũng đồng thời là người “phối ngẫu trưởng” hết sức phục tùng công chúa Monique, một người tuyệt vời nhưng có tinh thần kỷ luật nghiêm khắc. Công chúa là con gái của một thợ nề người Ý và một phụ nữ khôn ngoan người Việt Nam. Khi Monique mới mười lăm tuổi và được Sihanouk để mắt đến trong một cuộc thi sắc đẹp, bà ta đã lén đưa con gái vào cửa hậu hoàng cung. Từ đó Monique không bao giờ lẻn ra ngoài trở lại. Sihanouk lúc đó là vua đã yêu và cưới nàng gần như ngay lập tức. Họ chung sống với nhau cho đến khi Sihanouk qua đời lúc 89 tuổi vào năm 2012.

Khieu Samphan và hoàng Tử Sihanouk
Khieu Samphan và hoàng Tử Sihanouk

Hình thức trung lập của Sihanouk cũng khá tức cười. Có những đại lộ được đặt tên Mao Trạch Đông, John F. Kennedy và Charles de Gaulle xen kẽ nhau khắp Nông Pênh. Thật là tức cười khi thấy Sihanouk đối xử với các nhà ngoại giao của cả hai phía chia cắt Đông và Tây với sự bất kính như nhau. Trong buổi lễ khánh thành một khách sạn mới tại Sihanoukville ông ta nhảy xuống hồ bơi, nước màu nâu có vẻ không được sạch bởi toàn nhân viên phụ trách đã quên không thay nước mới. “Này thưa ngài!” Sihanouk gọi viên đại sứ Trung Cộng đang đứng thơ thẩn bên bờ hồ bơi, “nếu Mao chủ tịch của ngài có thể bơi được trên dòng Giang Tử lạnh lẽo thì chắc ngài cũng có thể tham gia cùng tôi tắm một phát ở nơi thơm tho này đi.” Ngay lập tức, viên đại sứ cởi bộ áo khoác áo kiểu Mao Trạch Đông ra và nhảy xuống trong khi Sihanouk cười vui vẻ xoay qua nói với tay đại sứ Liên Xô bằng giọng the thé, “và ngài nữa ngài nên bảo chính phủ của ngài phá đổ Bức tường Bá Linh đi thôi!” Mãi đến hai thập niên sau, một vị tổng thống Hoa Kỳ, Ronald Reagan, mới nói được một câu như vậy với thủ lĩnh Xô Viết là Mikhail Gorbachev.

Cùng với đồng nghiệp Ronald Ross của tờ Minneapolis Tribune với bà vợ Marilyn, Gillian và tôi cùng thuê một chiếc xe Peugeot station wagon có tài xế lái đi thăm những đền đài tại Angkor. Trong suốt cuộc hành trình qua một vùng đồng quê kỳ diệu và thanh bình chúng tôi tự hỏi không biết đất nước Campuchia có thể tránh được số phận nghiệt ngã của xứ láng giềng Việt Nam được bao lâu nữa. Sihanouk đã từng có những linh cảm đen tối. Ông đã báo động với chúng tôi: “Bọn Khmer Đỏ muốn sát hại tất cả những vị Phật nho nhỏ của tôi,” ám chỉ dân chúng của ông. Lúc đó Khmer Đỏ chỉ có độ khoảng 300 người. Thủ lĩnh của họ là một người nguyên là thầy giáo tên là Saloth Sar, còn gọi là Pol Pot mà trong những năm là sinh viên tại Paris đã từng là thành viên của nhóm Jean Paul Sartre. Bẩy năm sau chuyến đi thăm Capuchia của chúng tôi, Pol Pot đã gia nhập vào hàng ngũ những tên diệt chủng tồi tệ nhất của thế kỷ 20 cùng với Hitler, Stalin và Mao Trạch Đông bằng cách giết chết hết một phần ba đồng hương của hắn, vào khoảng gần hai triệu người.

Sau khi chúng tôi trở lại Nông Pênh, Sihanouk mời một nhóm khác gồm các phóng viên ngoại quốc dự một chuyến đi thăm khu vực Mỏ Vẹt bên cạnh biên giới Việt Nam. Mục đích nêu ra của chuyến đi là để cho chúng tôi thấy bằng chứng có sự xâm nhập vũ trang của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ vào trong lãnh thổ trung lập của Campuchia. Tuy nhiên Sihanouk còn có một chủ đích kín đáo khác nữa. Vùng Mỏ Vẹt được biết đến như là một khu vực căn cứ và an dưỡng của Bắc Việt và Việt Cộng, đồng thời là điểm chót của đường mòn Hồ Chí Minh. Lái xe về hướng Đông, vài người trong số chúng tôi thấy bằng cớ vi phạm tính trung lập của Campuchia từ Hà Nội còn rõ ràng hơn: Trên phà xe qua các cửa thông của sông Cửu Long chiếc xe Peugeot của chúng tôi bị mắc kẹt giữa những chiếc xe Land Rover mà nhóm quân nhân chất đầy trên đó có dấu hiệu lộ ra họ là Cộng sản Việt Nam. Họ đi những chiếc dép làm bằng vỏ xe hơi gọi là dép Hồ Chí Minh.

Khi đó chúng tôi biết rằng xứ hạnh phúc Campuchia chỉ đơn thuần là một thiên đường được tạm tha. Chúng tôi rất thích tính cách hài hước, vẽ đẹp, nhục cảm, đồ ăn ngon của nó và người cai trị với phong thái riêng mà các nhà truyền thông Anglo-Saxon sáo rỗng lại thích gán cho nhãn hiệu là lanh lợi. Không ai vui thích với tất cả những điều này hơn một phóng viên tự do trẻ tuổi, rất vui vẻ tên là Sean Flynn. Anh là con trai của Errol Flynn. Hai năm sau, anh là một trong những người Tây Phương đầu tiên mà thiên đường được tạm tha này đối với họ đã biến thành địa ngục. Khmer Đỏ bắt anh, cầm giữ và có lẽ tra tấn anh trong vòng 12 tháng trời. Sau đó thì họ giết anh.

Sau chuyến đi của chúng tôi tại Mỏ Vẹt, Gillian và tôi trở lại Royal, tại đó có một bức điện tín đang nằm chờ cho chúng tôi. Egon Vacek, biên tập viên ngoại quốc của tạp chí Stern mời chúng tôi gặp ông tại khách sạn Siam International ở Bangkok và nơi đó tôi đã làm một chuyện sai lầm nhất trong sự nghiệp của tôi. Vacek hứa với tôi một khoản lương rất hậu hĩ và một vị trí đầy quyến rũ của một phóng viên đại diện cho Stern tại vùng Bắc Mỹ có trụ sở ở New York và Washington. Tôi đã nhận lời, có nghĩa là phải từ giã tổng công ty Axel Springer sau khi hợp đồng hết hạn vào mùa thu năm sau.

Ngày nay tôi nhận ra đó là một hành động lố bịch của bản thân tôi trong kịch trường của sự phi lý. Springer đã từng là một người chủ tuyệt vời và công ty đó đã cố gắng thuyết phục tôi ở lại. Herbert Kremp, người chủ bút uyên bác của Die Welt, tờ nhật báo hạng nhất của Springer hứa cho tôi một vị trí rất uy tín là phóng viên tại Tokyo, nơi mà tôi sẽ có cơ hội được trở lại Đông Dương thường xuyên hơn. Tôi không dám nhận nhiệm vụ đầy thử thách này mà không có một kiến thức toàn diện về tiếng Nhật Bản.

Stern có vẻ hấp dẫn vào thời điểm đó vì là một tạp chí và tôi sẽ có cơ hội tốt để viết các câu chuyện lớn nhiều màu sắc hơn so với các tờ nhật báo. Tôi cũng thích Egon Vacek, Ông sếp tương lai của tôi, một tay phóng viên ngoại quốc dày dạn kinh nghiệm và một người có khuynh hướng ôn hòa về chính trị trong thời điểm mà Stern càng lúc càng ngiên về cánh tả. Khi ông qua đời vài năm sau đó vì bệnh ông thư, tôi không còn người đồng minh trong cơ cấu quyền lực mà ngày càng chuyển qua phía tả của tờ tuần báo lớn nhất Tây Âu. Không cần phải nói nhiều hơn về sai lầm này mà kết quả là một giai đoạn khó chịu nhất trong cuộc đời tôi.

Tuy nhiên mối tình của tôi với Việt Nam chưa chấm dứt tại đó và vào lúc đó. Trong khi đang hoàn thành nốt năm cuối hợp đồng với Springer, cảm giác của tôi về một sự linh cảm đen tối tăng cao. Lúc trở lại Sài Gòn sau chuyến đi Campuchia và Thái Lan, anh bạn Lành của tôi, người từng là nhạc sĩ kèn trombone biết nói tiếng Đức trong đoàn Lê Dương Pháp cũ ghé thăm tôi tại Continental.

“Tôi đang học tiếng Nga đây,” Lành tuyên bố.

“Tại sao không học tiếng tàu? ” Tôi hỏi anh ta.

“Bởi vì người Nga sẽ sớm hiện diện tại đây mà không phải là người Tàu. Anh sẽ thấy! Một tay người Nga sẽ ở tại căn suite này của anh hay có thể là một tay Đông Đức không chừng!”

“Mong chúa không cho điều này xảy ra! ”

“Vâng, Lành nói, mong Chúa thay! ”

Qua bẩy năm, sau chiến thắng của Cộng sản, người Nga và Đông Âu quả nhiên đóng đô tại Continental, nhưng lúc đó Lành đã di tản qua Paris rồi.

Một cảnh tượng trưng cho những tháng cuối cùng bi thương của thời gian tôi làm phóng viên cho Springer tại Việt Nam vẫn còn ăn sâu trong đầu tôi. Tôi đi cùng với phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ trên một chuyến bay Boeing 707 của Air France từ Paris về Sài Gòn. Kỳ hướng dẫn phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa tại các cuộc đàm phán hòa bình ở Paris, nơi vợ ông, bà Tuyết Mai đã mê hoặc mọi người với sắc đẹp và chiếc áo lông chồn đi mượn của bà. Nhưng trên đường về tất cả những sự hào nhoáng đó có vẻ đã phai nhạt đi. Tôi cảm thấy Kỳ đã mất đi tính nhiệt tình cố hữu của ông. Chúng tôi nói chuyện hàng giờ đồng hồ về đủ mọi thứ, nhưng hầu như tất cả các điều ông nói chỉ là một nỗ lực vô ích để tự trấn an lấy bản thân mình. Ông biết là người Mỹ đã quyết định rời bỏ Việt Nam. Chỉ còn câu hỏi thật sự được giải quyết tại các cuộc đàm phán Hòa Bình là bằng cách nào và khi nào?

Trong lúc nói chuyện ông Kỳ luôn luôn nhìn ra cửa buồng lái.

“Tại sao ông cứ mãi chăm chú vào buồng lái vậy?” Tôi hỏi ông.

“Bởi vì tất cả những gì tôi thật sự khát khao là được làm phi công trở lại,” ông nhẹ nhàng đáp và tôi nhận thấy một vẻ chán chường trong giọng nói của ông. “Anh đến nói chuyện với Tuyết Mai một chút đi,” ông đột ngột nói, quay sang một bên và nhắm mắt lại. Rốt cuộc thì ông đã không bao giờ là một phi công trở lại. Công việc thấp kém của quản gia một tiệm bán rượu tại Huntington Beach, California là tất cả những gì mà số mệnh đã dành sẵn cho ông.

Những khoảnh khắc ngắn ngủi trong chuyến bay Air France đưa chúng tôi tới Sài Gòn đã cho tôi biết được nhiều điều về câu chuyện thực sự ở hậu trường của những cuộc hoa đàm tại Paris hơn bất cứ những gì tôi đã nghe được trong nhiều tuần làm nhiệm vụ tường thuật ở đó. Dường như nó biểu tượng cho số phận toàn miền Nam Việt Nam.

Tôi nhận nhiệm sở mới làm phóng viên cho Stern vùng Bắc Mỹ vào ngày 1 tháng 9 năm 1969. Ngay hôm sau thì Hồ Chí Minh qua đời. Bản cáo phó cho Hồ là bài báo Stern đầu tiên của tôi và trong lúc viết nó, tâm trí tôi trở về nỗi kinh hoàng tại Huế vì tôi phải diễn tả ý nghĩa quan trọng của ngôi trường Quốc Học nơi Hồ Chí Minh đã từng học lúc còn nhỏ. Điều này làm sống lại trong ký ức hình ảnh hàng ngàn người đói lạnh mà tôi đã gặp trong sân ngôi trường đó, họ bị đuổi ra khỏi nhà bởi cuộc công kích Tết Mậu Thân của Hồ Chí Minh. Trong cáo phó tôi cũng nêu ra một điểm mô tả Hồ Chí Minh là con người từ vùng đất của cái thìa gỗ vì Hồ xuất thân từ tỉnh Nghệ An của miền Trung. Dân vùng này quá nghèo và keo kiệt nên khi đi đâu, họ thường mang theo một cái thìa gỗ để chấm vào nước mắm được cho không, tức một loại nước chấm làm bằng cá đã dậy mùi của chủ quán, để tăng thêm chất đạm cho món ăn duy nhất họ có thể mua trong quán ăn: một chén cơm trắng.

Cuộc chia tay dài lâu của tôi với Việt Nam kéo dài trong suốt ba năm rưỡi tôi làm việc cho Stern ở Bắc Mỹ. Cho dù có muốn đi chăng nữa, tôi cũng không thể nào ngớt bận tâm đến Việt Nam được. Không một ngày trôi qua mà không có tin nổi bật về Việt Nam. Những vụ tuần hành vì hòa bình bất tận, rồi vụ bốn người biểu tình bị bắn chết tại đại học Kent State ở Ohio vào vụ án giết người của Trung uý William Calley mà tôi đã tường thuật tại Ford Benning, Georgia. Là một trung đội trưởng, Calley đã đóng một vai trò then chốt trong vụ thảm sát bởi lính Mỹ vào khoảng từ 347 đến 504 thường dân tại Mỹ Lai, một làng tại miền Nam Việt Nam. Khi tham dự phiên tòa quân sự xử Calley Tôi không thể không nhớ đến tay quay phim truyền hình Mỹ đã từ chối quay cảnh mồ chôn tập thể tại Huế, cho rằng, “tôi đến đây không phải để truyền bá tuyên truyền chống cộng.”

Dĩ nhiên tôi rất hài lòng khi Calley Nhận án chung thân nhưng đồng thời cũng rất khó chịu vì Calley là sĩ quan Hoa Kỳ duy nhất bị xử án bị tội ác chiến tranh. Tôi hoàn toàn sững sờ khi tổng thống Richard M. Nixon ra lệnh ân xá cho Calley. Tuy nhiên sự kiện tội ác của Calley đã khỏa lấp trước công chúng Mỹ hành vi diệt chủng của Cộng sản khiến tôi rất bối rối. Sự khác biệt giữa hai chuyện này đã bị đánh rơi trong cách lập luận mê sảng đã trở thành một sắc thái không thể nào chịu đựng nổi trong một nền văn hóa bị truyền thông áp đảo: tội ác của Calley rõ ràng là sự vi phạm chính sách đã được xác nhận của chính phủ Hoa Kỳ cùng các tiêu chuẩn về chiến tranh đã được quốc tế chấp nhận. Trong khi đó, các tội ác của Bắc Việt và Việt Cộng đã được thi hành như một phần không thể thiếu trong chính sách của nhà nước bao gồm các chiến lược quân sự dựa trên khủng bố. Đối với tôi đây là một sơ suất nghề nghiệp lớn của các phương tiện truyền thông đã không nêu lên thật rõ ràng điểm mấu chốt này cho công chúng.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (40)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (42)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

 

Advertisements

One thought on “Vinh Quang của sự Phi Lý (41)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s