Vinh Quang của sự Phi Lý (40)

Chuyện xảy ra là cùng ngày Johnson ra bản tuyên bố, tức ngày 31 tháng 3 năm 1968, Gillian và tôi đang cùng đi Sài Gòn. Đây là lần đầu tiên nàng đến Việt Nam. Hầu hết các phóng viên chiến trường giữ gia đình của họ tại Hồng Kông, Singapore, Bangkok, không chỉ vì sự an ninh của họ mà còn vì một lý do nghe ra rất nghề nghiệp nữa: ký giả chiến trường phải có khả năng ra ngoài mặt trận với tính cách ứng chiến đột xuất mà không cần phải bàn cãi lâu lắc vào đêm hôm trước với các bà vợ trong bữa ăn tối.

Gillian chưa bao giờ tin vào lập luận này một cách thái quá và lại càng không tin nữa khi chúng tôi đáp xuống Sài Gòn. Trên chuyến bay của hãng Cathay Pacific tôi đã cảnh cáo nàng là nhân viên di trú Việt Nam Cộng Hòa có thể rất khó chịu như thế nào. Nhưng khi nàng trình thông hành Anh Quốc ra thì khuôn mặt của viên chức đó lại sáng lên.

Saigon 1968 - đường Lê Lợi
Saigon 1968 – đường Lê Lợi

“Ồ, thưa bà Siemon-Netto, xin chào mừng bà đến đất nước chúng tôi!” Anh ta nói bằng tiếng Pháp, “dĩ nhiên là tôi quen với ông nhà rồi nhưng bây giờ thật là một vinh dự được biết bà.”

“Thật là một người dễ mến,” Gillian nói, vừa nguýt tôi.

“Anh đã bay đến đây cả vạn lần rồi mà hắn có bao giờ nói một tiếng chào hỏi gì anh đâu,” tôi làu nhàu. “Hãy cứ đợi đến lúc gặp nhân viên quan thuế đi. Họ sẽ gây khó khăn cho em ngay mà.”

Rốt cuộc thì anh ta không gây khó khăn nào cho nàng cả mà ngược lại còn tiếp đón Gillian cũng nồng nhiệt y như anh nhân viên nhập cảnh vậy. Anh ta còn không buồn ngó vào hành lý của chúng tôi mà vẫy tay cho đi. Gillian lại còn ngó tôi một cách buồn cười nữa.

“Thường thì mấy người này khám xét từng cái quần lót của anh,” tôi lầm bầm. “Nhưng hãy đợi đến khi chúng mình phải vật lộn để có xe về khách sạn Continental. Xe taxi không được phép lấy thẳng vào ga hàng không nữa.”

Ngay lúc đó thì có một anh chàng trẻ tuổi, có lẽ là một trung uý Không Quân làm thêm công việc tài xế ngoài giờ, mời đưa chúng tôi về khách sạn trên chiếc Buick có gắn máy lạnh của anh. Đến lúc này thì Gillian nhìn tôi chằm chằm với biểu hiện đã mất niềm tin ở tôi một cách sâu xa.

Ông Lợi, quản gia chính của khách sạn Continental đón tiếp chúng tôi với một nụ cười rạng rỡ và đích thân đưa chúng tôi đến căn suite 214, trong đó có sẵn hai mươi lăm bông hồng đỏ chờ đón Gillian với sự ưu ái của chủ nhân. Những bông hồng tuyệt đẹp này đã làm tăng thêm sự nghi ngờ của Gillian.

“Tại sao anh lại giữ không cho em đến nơi chốn tuyệt vời này lâu quá vậy?” Nàng yêu cầu muốn biết.

Buổi tối hôm đó tại quán Royal, me-sừ Ottavi trải thảm đỏ ra: atisô, súp hành, pa tê gan ngỗng, và vịt nấu cam kèm theo một chai Château Cheval-Blanc loại rượu vang đỏ ngon nhất từ vùng Saint Émillion. Món bánh soufflé tẩm rượu Grand-Marnier lừng danh của Ottavi tiếp theo. chung với một chai sâm banh Dom Perignon. Tay chủ quán này giấu đâu những kho báu này hàng mấy năm trời nay vậy?

Trên đường trở về Continental, Gillian nhận xét một cách thẳng thừng: “Thì ra anh mang các cô tình nhân của anh ra đây!”

“Nhìn này, em yêu, em có thể nghỉ thế cách nào cũng được, nhưng có một điều hết sức quan trọng em phải nghe anh,” tôi nói khi chúng tôi bước vào phòng. Tôi chỉ tay vào các căn cửa sổ kính kiểu Pháp mà tôi đã dán băng keo trong một lần ở trước đó nhằm phòng ngừa miểng kính vỡ trong trường hợp bị Việt Cộng pháo kích.

“Khi nào tối nay em nghe thấy tiếng lụp bụp,” tôi tiếp tục, “em phải theo anh ngay lập tức vào phòng tắm và ở đó cho đến khi cuộc tấn công chấm dứt. Phòng tắm là chỗ an toàn nhất trong căn suite này vì không có cửa sổ và nhờ đó tránh được miếng kính vỡ một cách tốt nhất.”

Không màng trả lời tôi, Gillian cuộn mình trên cái giường mà tôi đã có lần kể cho nàng là Graham Greene có lẽ đã từng nằm trên đó.

Hai tiếng đồng hồ sau, Việt Cộng rót một loại hoả tiễn từ những dàn phóng thủ công bằng tre qua sông Sài Gòn vào trong thành phố, giết hàng trăm người kể cả 19 phụ nữ và trẻ em đang trú ẩn trong một ngôi nhà thờ Công giáo. Chúng tôi ngồi suốt cả đêm còn lại trong phòng tắm. Đối với Gillian đây là bài học sơ đẳng về Chiến tranh Việt Nam: mặc dù đầy vẻ quyến rũ, Sài Gòn vẫn thật sự là một nơi rất nguy hiểm.

Quan trọng hơn nữa, đây là một thông điệp không thể nhầm lẫn được từ bọn Cộng sản đối với phần còn lại của thế giới, đặc biệt cho những người mê sảng rằng hòa bình đã gần kề sau khi Hoa Kỳ ngưng ném bom và cũng trong cái ngày mà Johnson tuyên bố không ra tái tranh cử nữa. Không cần phải là thành viên của hội Mensa Quốc tế để nắm bắt ý nghĩa của cuộc tấn công này: Với sự giúp đỡ của Cronkite và những tay truyền thông tương tự, một chiến thắng quân sự đã biến thành một sự thất bại về chính trị cho Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa. Hơn 100.000 lính cộng sản đã bỏ mạng trong kỳ Tổng Công Kích Tết Mậu Thân nhưng Việt Cộng đã – theo quan điểm của họ – sử dụng một cách hiệu quả nhất phản ứng vô lý của Hoa Kỳ đối với cuộc tắm máu kinh hoàng này, cái phản ứng xác nhận cho niềm tin của Võ Nguyên Giáp là các chế độ dân chủ không được trang bị về mặt tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến tranh lâu dài. Bằng thái độ ngạo mạn, thách thức và tàn nhẫn của độc tài toàn trị, Cộng sản đã lấy lại thế chủ động bằng cách tàn sát và khủng bố thêm nhiều người dân thường nữa.

Lần này thời gian nghỉ của chúng tôi ở Sài Gòn khá ngắn vì chúng tôi được cấp giấy nhập cảnh đến Campuchia, một điều hiếm khi xảy ra. Hoàng thân Norodom Sihanouk, Người đứng đầu chính phủ Campuchia khi nào cho phép các ký giả Tây âu được vào vương quốc ông mà phần cực Đông của nó bị Việt Cộng sử dụng như là một khu vực bàn đạp và tiếp cận cho cuộc chiến chống lại miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên trước khi lên máy bay đi Phnom Penh, tôi đến thăm xã giao Wilhelm Kopf, Đại sứ Tây Đức tại Sài Gòn.

Thật bất ngờ, Hasso Rüdt von Collenberg bước vào, xin lỗi vì làm gián đoạn cuộc nói chuyện của chúng tôi. Khuôn mặt vị nam tước trẻ tuổi trong tái hơn bình thường. Nam tước thì thầm điều gì đó nghe giống như mật mã. Mặt của Kopf dài ra trông thấy. Theo linh tính, tôi mạo hiểm đoán:

“Họ đã tìm ra thi thể của các bác sĩ Đức tại Huế rồi phải không?” Tôi nói.

Với vẻ bối rối, Hasso von Collenberg nhìn tôi trả lời, “đúng vậy, nhưng chưa chính thức. Chúng tôi phải báo cho Bonn trước.”

“Tôi hiểu. Cho tôi biết không chính thức vậy: Chuyện gì đã xảy ra?”

“Người ta đã tìm thấy thi thể của giáo sư và bà Krainick, của bác sĩ Discher và bác sĩ Alteköster trong một một chôn tập thể khoảng 20 dặm về phía Tây của Huế. Họ đã bị bịt mắt và tay bị trói quặt ra sau bằng dây kém. Họ đã bị buộc phải quỳ gối trước khi bị bắn vào sau gáy rồi bị đầy xuống mương.”

On April 5, a Vietnamese farmer near Hue discovered a grave containing the bodies of four Germans killed by the Viet Cong and North Vietnamese during their TET attacks on the old imperials capital of Hue. The bodies of three German professors at the Faculty of Medicine at Hue, and the wife of one of the professors, were found with their hands tied behind their backs, and indication that they had been executed shortly after their capture. The Viet Cong victims were: Dr. Horst Krainick and Mrs. Krainick; Dr Baisund Disher, and Dr. Alois Altekoester. — Mrs. Elizabeth Krainick (foreground) and Dr. Alois Altekoester (background) — 68-0192-B

Khi ông đại sứ và tôi chăm chú nghe anh kể, chúng tôi không thể nào biết rằng lời diễn tả đó lại đúng là số phận của von Collenberg một vài tuần lễ sau, khi bọn Việt Cộng sát hại anh trên một con đường nhỏ trong Chợ lớn, khu phố tàu của Sài Gòn, không xa tòa đại sứ bao nhiêu.

Viên ngoại giao trẻ kể cho chúng tôi là Viện trưởng Viện Đại học Huế đã nhận diện được thi hài của các đồng nghiệp người Đức và tình trạng của họ cho phép một kết luận sơ khởi quan trọng: họ phải còn sống ít nhất sáu tuần lễ sau khi bị bắt cóc. Với cơ cấu chỉ huy sắt máu của Hà Nội, cuộc hành quyết bốn người Tây Đức này không thể là một sự nhầm lẫn trong lúc cuộc chiến hỗn loạn được; Họ không phải là nạn nhân vô tình của chiến tranh. Bất chấp những lời cầu xin từ khắp nơi trên thế giới, Hà Nội đã không hề hành động điều gì để cứu những người vô tội này mặc dù họ có thừa thời gian để làm chuyện đó. Do đó, chúng ta có thể giả định rằng những vụ hành quyết như thế này và hàng ngàn người vô tội khác là có chủ đích và từ đó, được xếp hạng là những hành vi tội ác chiến tranh gây ra bởi một chế độ hay có sự đồng lõa của chế độ đó.

Một năm sau, tại hội nghị Hòa Bình Paris, nơi cuối cùng đã dẫn tới sự triệt thoái của Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam, tôi chạm trán với một phóng viên Giải Phóng, cơ quan thông tấn của Việt Cộng. Anh ta nói với tôi là anh có tường thuật về cuộc Công Kích Tết Mậu Thân tại Huế. So sánh các ghi chép với nhau, chúng tôi nhận thấy là có một lúc chúng tôi chỉ cách nhau không đầy 100 thước. Tôi rất muốn hỏi anh ta: Tại sao các anh lại tàn sát hàng ngàn phụ nữ và trẻ em? Tại sao họ lại giết hại các bạn người Đức của tôi mà ‘tội ác’ của họ chỉ là chữa trị cho người dân Việt Nam, bất kể chính kiến của họ?” Buồn thay tôi đã không làm điều đó. Thật là vô ích nếu hỏi anh ta những câu hỏi như vậy vì anh ta không bao giờ đi một mình. Luôn luôn có những tay công an quanh quẩn trong tầm tai nghe. Vả lại, trong những buổi tiếp tân tại các tiệm ăn sang trọng ở Paris, bọn Việt cộng đã cho các ký giả Tây âu nghe luận điệu vô lý của họ về những gì đã xảy ra tại Huế rồi. Họ nói đó là tội ác của CIA.

Cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn không rõ nguồn gốc của sự láo khoét phi lý đó. Có phải đó là sản phẩm từ bộ óc ngu xuẩn của một số đảng viên cực đoan ở Hà Nội? Hay lại là phát minh của một bác sĩ Tây Đức khác, bác sĩ tâm thần Erich Wulff điên rồ? Hắn đã đóng một vai trò khó chịu trong thời gian dạy học tại Huế. Năm 1963 hắn đã  xách động chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm và Hoa Kỳ, cũng như lén lút chuyển thuốc men và dụng cụ y khoa cho Việt Cộng. Sau này khi bị buộc phải rời xứ, hắn đã ra làm chứng trước tòa án quốc tế Bertrand Russel về tội phạm chiến tranh tại Việt Nam. Khi tôi gặp hắn vào năm 1965, hắn đã tố cáo ông hàng xóm của hắn, Horst-Günter Krainick, là đã nuôi dưỡng một sự kỳ thị chủng tộc đối với người Việt. Hắn còn bày tỏ sự phẫn nộ đối với người vợ của Krainick hằng ngày đi bơi tại câu lạc bộ thể thao và làm thân với người Mỹ. Bản thân tôi cũng như bất cứ những người quen nào của gia đình Krainick đều không thấy điều gì khác lạ ngoài tình thương tuyệt vời dành cho dân tộc mà họ đến để giúp đỡ.

Năm 1968, Wulff viết dưới bút hiệu Georg W. Alsheimer một lập luận kinh tởm với tiêu đề Vietnamesische Wanderjahre – Những năm tháng chu du tại Việt Nam (Frankfurt: Suhrkamp 1968).  Trong cuốn sách này, hắn cho là một nhân viên tình báo hạng nhất của CIA với tên Bob Kelly đã kể cho hắn nghe về chương trình khủng bố của CIA gọi là những chiến thuật đen. Theo Wulff chương trình này cho những thanh niên mặc quần áo như Việt Cộng đi sát hại người già, phụ nữ và trẻ em để kích động lòng thù hận đối với Cộng sản.

Lời giải thích của Bắc Việt và Việt Cộng cho cuộc tàn sát tại Huế phù hợp với luận điệu của Wulff. Nói một cách công bằng cho hầu hết các phóng viên Tây Âu, họ thấy chuyện này không có sức thuyết phục. Trong khi đó, Erich Wulff đưa ra một lý luận điên khùng khác trong những buổi hội họp của cánh tả tại Tây Đức: hắn cho là bác sĩ Discher, bác sĩ Alteköster và hai vợ chồng Krainick có thể đã bị giết bởi chính các sinh viên của họ để trả thù vì bị điểm kém, hoặc bởi chính các đồng nghiệp Việt Nam vì lòng ganh ghét.

Một lần nữa, tôi lại đi quá xa câu chuyện của tôi rồi. Vào thời điểm xảy ra chuyện này tôi đang ở trong văn phòng đại sứ tại Sài Gòn. Nét mặt biểu hiện đầy nỗi buồn của Hasso von Collenberg không lời nào tả xiết. Tôi còn nhớ đã suy nghĩ trong đầu: “Thật là một tâm hồn cao quý! Thật là một người đàng hoàng và dũng cảm! Từ lúc khởi đầu cuộc tấn công Tết Mậu Thân, anh đã lái xe khắp Sài Gòn ngày đêm để bảo đảm cho các công dân Đức được an toàn. Anh không bao giờ về nhà mà ngủ trên một chiếc chiếu trong văn phòng. Anh đã cầu nguyện bọn Cộng sản sẽ tha cho những người bạn ở Huế, đó là tất cả những gì anh có thể làm được, và nay thì họ đã chết cả rồi. Chính phủ chúng ta phải tự hào về anh!” Trái lại là đằng khác. Tất cả những gì còn lại để tưởng nhớ đến anh chỉ là một câu chú thích ngắn gọn trên tờ báo cáo của Văn phòng Ngoại giao Đức. Bộ trưởng Bộ ngoại giao Tây Đức thời bấy giờ là Willy Brandt thuộc Đảng Dân chủ Xã hội mà chính sách ưu tiên cao nhất của ông là nhằm xoa dịu hoặc làm tan băng đá trong quan hệ với khối Xô viết. Người ta chỉ có thể phỏng đoán là ông nghĩ rằng sẽ khó khăn cho mục tiêu này nếu làm lớn chuyện vụ sát hại một trong những phái viên của ông.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (39)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (41)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s