Vinh Quang của sự Phi Lý (38)

Cổ Thành Huế và pháo đài vẫn còn nằm trong tay của khoảng 10.000 quân Bắc Việt. Chúng tôi được nghe là Sư đoàn 1 Bộ binh Việt Nam Cộng Hòa mặc dù chiến đấu dũng mãnh vẫn chưa vào được mạn Tây Bắc sau khi cố gắng tái chiếm pháo đài và đang chờ các đơn vị của Sư đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tấn công từ mạn Đông Nam. Nếu chuyện này xảy ra, tôi dự định sẽ bám theo một trong những trung đội đó.

Những gì xảy ra tiếp theo sau đó quá kinh hoàng khiến tôi chỉ còn nhớ lại trong đầu những mảng rời rạc của cái ngày mà tôi tháp tùng một trung đội Thủy Quân Lục Chiến vượt qua sông Hương vào lúc 3 giờ sáng. Tôi còn nhớ là trung đội đó đông hơn bình thường, quân số khoảng năm mươi ba người. Tôi cũng nhớ là các cấp chỉ huy có bản lĩnh hơn nhiều đám chỉ huy trung đội tôi đã gặp trong căn chung cư của Krainick. Đau buồn thay, tôi chứng kiến hầu hết trong số họ bị thương hay bị thiệt mạng trước khi ngày hôm đó chấm dứt.

04 Feb 1968, Hue, South Vietnam --- 2/4/1968-Hue, South Viet Nam: U.S. Marines keeping lowbecause of intense sniper fire battle communist units which seized two thirds of the ancient imperial Capital. The Marines were pinned don behind this wall near the old citadel and radiod for support. U.S. spokesmen reported that leathernecks hauled down the North Vietnamese flag after seven days of fighting and recaptured the city. --- Image by © Bettmann/CORBIS
04 tháng 2 năm 1968, Huế — Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ nấp tránh bắn tỉa dữ dội từ các đơn vị cộng sản đang chiếm 2/3 cố đô. Phát ngôn viên của Hoa kỳ đã báo cáo rằng lính cổ da đã giật được lá cờ của Bắc Việt sau 7 ngày chiến đấu và chiếm lại thành phố.

Tôi nhớ chúng tôi đã giao tranh trong từng căn nhà gần như bắt đầu từ thời điểm đặt chân lên mạn nam bờ sông. Bọn Bắc Việt cố thủ hết sức chặt chẽ bắn về phía chúng tôi từ khắp các cánh cửa sổ. Tôi tìm lại được câu chuyện tôi viết về trận chiến này trong tờ nhật báo Amsterdam De Telegraaf, một chi nhánh của Springer Foreign News Service. Bài báo tập trung vào kinh nghiệm đau đớn nhất của tôi trong ngày hôm đó, một trong nhiều chuyện mà tôi chỉ còn nhớ một cách mơ hồ. Tôi chạy bên cạnh một tay hạ sĩ da đen. Chúng tôi bị ghìm chặt bởi lằn đạn bắn tỉa từ một cửa sổ phía trên một căn lầu nên vội vàng nhào xuống đất. Viên hạ sĩ bắn từng loạt M.16 tưới lên cửa sổ để áp đảo kẻ địch. Nhưng rồi khẩu súng anh bị kẹt đạn, Dường như tất cả loại súng đó thường hay bị kẹt hoài như vậy tại Việt Nam. Tay súng bắn tỉa lập tức nã đạn vào chúng tôi. Tay hạ sĩ ném một quả lựu đạn vào trong cửa sổ. Ngay lập tức tiếng súng ngừng lại và anh hạ sĩ reo hò lên.

Tiếp theo đó một người phụ nữ bước ra khỏi nhà bồng xác một đứa trẻ đẫm máu đi về hướng anh hạ sĩ. Anh ta phát hoảng. “Ôi trời đất ơi! Ôi trời đất ơi, tôi đã làm gì vậy? Tôi đã giết một đứa bé!Cứu con với chú ơi! Trời ơi, trời ơi!!!” Anh hét lên quay cuồng như mắc cơn động kinh trong khi đó thì Việt Cộng tiếp tục bắn tỉa về phía chúng tôi từ các cánh cửa sổ khác. Tay trung sĩ trung đội phải dùng sức kềm chặt anh ta lại và sau đó dẫn anh ra khỏi vùng chiến đấu.

Mãi đến 3 giờ chiều tôi mới có dịp coi giờ trên cái đồng hồ của tôi trong một lúc tạm lắng giao tranh. Tôi nhìn chung quanh. Những người lính cùng chung lưng với tôi 12 tiếng đồng hồ trước đi đâu cả rồi? Tôi đếm được 10, có thể là 15. Những người khác hoặc đã bị thiệt mạng hoặc bị thương. Một trung đội khác đến thay chúng tôi. Đã đến lúc tôi phải ra khỏi nơi này thôi. Tôi xoay sở về lại được sông Hương. Kỳ lạ thay là bọn cộng sản đã để lại cây cầu chính còn nguyên. Tôi đi bộ qua đó và đến một khu vực bãi đáp trực thăng đầy những người bị thương nặng, có đến hàng trăm người, nhiều người đang rên rĩ vì đau đớn.

“Thưa thiếu tá,” tôi hỏi viên sĩ quan phụ trách bãi đáp, “chuyện gì xảy ra ở đây vậy? Tại sao những người bị thương này chưa được tản thương đi?”

Hắn chỉ tay lên trời: “Điều kiện bay xấu!”

“Nhưng thưa thiếu tá, tôi đã từng thấy thời tiết tồi tệ hơn nhiều. Trần mây còn đủ cao mà,” tôi phản đối.

“Đúng vậy nhưng anh thấy đó Thủy Quân Lục Chiến chúng tôi không có đủ trực thăng.”

“Lục Quân thì sao? Tôi biết là cách đây 10 dặm ở Phú Bài có hai phi đoàn trực thăng của Lục Quân đang sẵn sàng tác chiến.”

“Thưa ông, Thủy Quân Lục Chiến chúng tôi không gọi nhờ Lục Quân bao giờ.”

Tôi nhớ đã tự nhủ trong lòng: một cái lá phong trên ve áo bộ quân phục thiếu tá rõ ràng không phải là giấy chứng nhận cho một chỉ số thông minh cao. Đã đến lúc phải rời nơi đây thôi. Hí trường của sự phi lý đang biểu hiện dấu hiệu của sự điên rồ. Tôi đã thấy những mặt đẹp đẽ nhất cũng như những điều xấu xa nhất của nhân loại trong vài ngày vừa qua: sự hy sinh đầy thương tâm và lòng dũng cảm tương phản với sự ác độc không thể tưởng tượng nổi của cộng sản và sự xuẩn ngốc của một thiểu số khờ khạo chứng nhận được mặc quân phục.

Tôi nhớ là nước mắt tôi đã giàn giụa khi nghĩ đến những người tôi thấy đã ngã xuống tại Huế, hầu hết là phụ nữ và trẻ em, và những thương binh Mỹ trẻ nằm rên rĩ trong đau đớn cùng cực mà không có ai để báo cho họ biết nguồn tin an ủi là họ đã đánh bại quân thù. Hơn một nửa trong số 80.000 cộng quân tham gia vào cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân đã bị thiệt mạng, cơ sở hạ tầng Việt Cộng hoàn toàn bị phá vỡ. Đây là một chiến thắng quân sự lớn. Một chiến thắng cam go cho phe Đồng Minh, nhưng là chiến thắng hiển nhiên.

“Ich habe genug vom Tod”, tờ báo chủ nhật toàn nước Đức Bild am Sonntag đã lên tựa cho bài tường thuật của tôi từ Huế như vậy, có nghĩa là “Tôi đã chán cảnh chết chóc đó lắm rồi”. Tôi rất nôn nóng thoát ra khỏi Huế. Nhìn thoáng qua bãi đáp trực thăng tôi đoán là tôi không có hy vọng gì mau mắn đáp được một chuyến trực thăng. Tuy nhiên tôi trông thấy một chiếc tàu đổ bộ LCU của Hải Quân Việt Nam gần đó. Tôi chạy đến chiếc tàu và gặp người chỉ huy là một trung uý với làn da sậm giống như một thủ lĩnh da đỏ Comache.

“Chúng tôi sắp ra khơi đây,” anh ta nói, “mình nên chào mừng cho sự tiến bộ: đây là lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu tổng công kích Tết có một chiếc LCU vận hành đến khúc sông này. Sẽ có rắc rối đấy!” Chúng tôi hướng về phía Đông và lập tức bị hỏa lực súng nhỏ bắn tới từ hướng bắc với loạt đạn đụng vỏ tàu dội ngược ra. Nhưng chiếc tàu vẫn tiếp tục đi về phía đầm phá Tam Giang, mặc dù tôi không ở trên tàu lâu lắm. Tiếng súng lắng dần khi chiếc tàu tăng khoảng cách với Huế. Tôi ngủ thiếp đi. Khoảng nửa đêm, viên trung uý lay tôi dậy nói, “anh lên xuống chỗ này đây.” Anh ấy đã đậu tàu lại tại bãi cảng của một căn cứ MACV nhỏ ở mạng Nam dòng sông.

Tôi không còn nhớ bằng cách nào từ đó tôi về lại Đà Nẵng, có lẽ bằng trực thăng. Tôi chỉ biết là tôi đến doanh trại báo chí hoàn toàn như một cái giẻ rách. Tôi không cạo râu trong tám ngày trời. Hai bàn tay bẩn thỉu, những ngón tay vàng khè vì khói thuốc và mình mẩy hôi rình. Tôi không còn nhớ tôi có đói hay không nữa, bộ phận tiêu hóa của tôi đã hoàn toàn khéc lại từ khi tôi rời khỏi trung tâm báo chí này hơn một tuần lễ trước đó.

Tôi mượn đồ lót và một bộ quần áo trận mới từ một sĩ quan Mỹ và xin một người phụ nữ làm việc quét dọn trong khu trại giặt quần áo cho tôi càng nhanh càng tốt. Lúc đi tắm, một làn nước màu đen xám chảy từ mái tóc và thân thể tôi xuống. Cạo sạch bộ râu lởm chởm là việc làm chính trong ngày. Sau đó tôi xuống hội quán uống hai ly Dry Martini nhưng không thể ăn được bất cứ thứ gì. Do đó tôi nằm thẳng cẳng trên giường và ngủ một mạch bốn tiếng đồng hồ rồi dậy viết bài tường thuật và gọi điện thoại báo cáo cho Freddy ở Sài Gòn.

Cuối ngày hôm đó tôi ghé thăm chiếc Helgoland, cảm ơn thay, nó đã quay về bến. Tuy nhiên trên boong lại thông báo là chiếc tàu sắp rời cầu tàu và yêu cầu tất cả khách đến thăm hãy trở về. Ở lại với chúng tôi đi, các y tá và bác sĩ khẩn khoản, trong anh tiều tụy quá. Hãy ăn một bữa cho ngon, uống vài ly rượu, quên chiến trận trong một đêm và nghỉ ngơi đi. Còi tàu hụ lên. Tôi không thể nào nhấc mình nổi cho dù tôi có muốn đi chăng nữa. Những người bạn Đức đã cho tôi một khoảng thời gian rất yên trên hải phận quốc tế. Những giây phút hạnh phúc đó không kéo dài lâu. Buổi sáng hôm sau tôi quay về trung tâm báo chí. Quần áo tôi đã có lại và tôi may mắn đón được một chiếc trực thăng bay trở lại Huế. Trong doanh trại MACV tôi chạm trán với Peter Breastrup, trưởng phòng Washington Post tại Sài Gòn.

“Họ đã tìm thấy một mồ chôn tập thể,” anh nói, “chúng tôi đang định đi tới đó, vậy sao anh lại không muốn đi theo hả?” Một chiếc xe vận tải quân sự chở chúng tôi và các phóng viên khác đến một chỗ thuộc ngoại vi phía tây bắc của Huế mới giành khỏi sự kiểm soát của cộng sản không lâu. Có hàng trăm phụ nữ, đàn ông và trẻ em trong nấm mồ đó, nhiều người rõ ràng bị chết cháy, nhiều người bị nện cho tới chết và nhiều người khác bị chôn sống, theo lời của một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa.

“Làm sao biết là họ bị chôn sống?” Tôi hỏi anh ta.

“Chúng tôi tìm thấy địa điểm này khi phát giác có những bàn tay mới làm móng chỉa ra khỏi mặt đất,” anh trả lời, “những phụ nữ này đã cố bò ra khỏi mồ chôn họ.”

Peter Breastrup thúc cùi trỏ trái vào tôi và chỉ tay đến một toán truyền hình Mỹ gồm một phóng viên, một tay quay phim và một nhân viên âm thanh đang đứng trước khu mộ chôn một cách ung dung không có hành động gì cả.

“Tại sao các anh không quay cảnh này?” Peter hỏi họ.

“Chúng tôi đến đây không phải để quay phim tuyên truyền chống cộng,” gã quay phim đáp.

“Thật là điên khùng, Peter,” tôi nói, “tôi đã chán ngấy cái thứ này lâu rồi.”

“Tôi không trách anh đâu. Chúng ta đang thua trận chiến này sau khi đã thắng về mặt quân sự. Tất cả ở trong cái đầu mà thôi.”

Thảm sát Huế Tết Mậu Thân 1968
Thảm sát Huế Tết Mậu Thân 1968

Ngày hôm đó là một ngày hên của tôi tại Huế. Tôi tìm được một chuyến bay ở phi trường. Có một chuyến Air Vietnam DC-6 sắp cất cánh đi Sài Gòn và tôi có được một chỗ ngồi trên đó. Freddy Kemna nóng ruột chờ tôi tại Continental. Anh đã tỏ ra sốt sắng giữ chỗ và làm người nhận báo cáo cho tôi nhưng bây giờ anh cũng muốn đi ra ngoài chiến trường, tức khu châu thổ sông Cửu Long với một phóng viên nước khác. “Tôi thích đồng bằng vào khoảng thời gian này trong năm. Ấm áp hơn,” anh nói đùa.

Đó là một ngày thứ năm và tôi không mong gì hơn là được đi dự buổi Stammtisch của Donald Wise tức bữa ăn tối thường xuyên của các phóng viên Âu châu tại quán Aterbéa nơi không một ai được phép nói về chiến tranh, về Việt Nam, về chính trị của Hoa Kỳ hay tất cả những vấn đề gì có liên quan dù mơ hồ nhất với toàn bộ sự việc.

Sao bữa ăn, Donald nói, “bây giờ đã xong rồi và chúng ta được phép nói về chiến tranh trở lại, cho tôi đề nghị thế này: hay là anh và tôi chia nhau một chiếc taxi để đưa chúng ta đến những mặt trận khác nhau ngay tại Sài Gòn vào buổi sáng? Cái này rất tốn kém vì tài xế taxi có thể gặp rủi ro là sẽ bị nổ tung. Tôi nghĩ cũng đáng làm lắm. Người Mỹ không quan tâm nhiều đến những trận chiến lẻ tẻ này vì chủ yếu thuộc hoạt động của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên điều này dù sao cũng rất quan trọng.”

Vì vậy chúng tôi kiếm được một bác tài có kinh nghiệm chiến trận và một chiếc Buick có máy điều hòa không khí. Ông đến Continental mỗi sáng để đón chúng tôi đi từ một vùng giao tranh trong thành phố này đến một vùng khác. Một buổi sáng nọ, chúng tôi rơi vào một khu giao tranh cận chiến vùng Đông Nam ngoại ô Sài Gòn. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát một bên đường và bên kia là Việt Cộng hay quân Bắc Việt. Có một căn nhà đang bị cháy phía tay trái chúng tôi. Chúng tôi nghe tiếng một phụ nữ thét lên, “Có một con nhỏ trong nhà! Cứu tôi với!”

Chúng tôi đang nằm dài trên mặt đất. Donald đứng dậy, lênh khênh với chiều cao một mét chín. Vừa sửa cái nón sắt và tay phải lủng lẳng cái dù che mưa, anh ta thận trọng đi từng bước dọc theo con đường còn đang đánh nhau tới căn nhà đang cháy. Cả hai bên ngừng tiếng súng. Donald bước vào trong và trở ra với một bé gái trên tay, cái dù che mưa vẫn còn treo lủng lẳng. Anh mang cô bé đến một chiếc xe tải thương phía Việt Nam Cộng Hòa, trao nó cho anh tài xế và nói “Đưa nó đến bệnh viện, anh bạn à, đưa nó đi ngay bây giờ.”

Sau đó Donald lại phóng mình xuống núp dưới đất và tiếng súng lại nổi lên.

Chúng tôi quay về trung tâm thành phố ăn trưa tại Royal và lái đến vùng tây nam Sài Gòn mà theo như bác tài nói đang có cuộc giao tranh khốc liệt trong từng căn nhà giữa Việt Cộng và Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa. Khi lái đến gần, chúng tôi thấy nhóm Biệt Động Quân đang lúng túng, sau này mới biết vì các sĩ quan và hạ sĩ quan đã tử trận rồi. Giữa cơn hỗn loạn đó thì anh bạn đồng nghiệp Hans von Stockhausen của chúng tôi, một phóng viên truyền hình Đức lại đứng thẳng người không bối rối, đầu thì ngoẹo về một phía.

Câu chuyện cái đầu bị nghiêng của anh chàng bắt nguồn từ Thế Chiến Thứ Hai khi von Stockhausen là một thiếu tá trẻ tuổi đang ở trong lò luyện Stalingrad mà anh bị bắn bể một nửa cái sọ ở đó. Anh là người thương binh cuối cùng được tản thương ra khỏi Stalingrad trên một chiếc máy bay của không lực Đức Luftwaffe trước khi thành phố này rơi vào tay Hồng quân. Bác sĩ giải phẫu quân đội đã thay thế miếng xương sọ bị mất bằng một tấm kim loại bạc khiến cho đầu anh bị nặng cứ nghiêng về một bên. Điều này vẫn không ngăn cản anh chàng vui tính xuất thân từ một gia đình quân nhân lâu đời đi làm phóng sự tất cả mọi cuộc chiến tranh mà anh ta mò ra được với tư cách một phóng viên. Vì vậy Donald Wise đặt biệt hiệu cho anh là viên “thiếu tá phi nước đại”.

“Ah, Herr Vise,” anh thiếu tá gọi to bằng tiếng Anh và ngọng tiếng Đức, “Zere is no system here. You vere a field-grade officer, I vas a field-grade officer. Now let’s together bring some system into this mess.” (Ở đây chẳng ra cái thể thống gì, ở đây chẳng ra cái thể thống gì cả. Anh đã từng là sĩ quan cấp tá, tôi cũng đã từng là sĩ quan cấp tá. Nào chúng ta cùng nhau mang lại một ít thể thống cho cái mớ hỗn độn này đi).

Sau đó Donald Wise, cựu Trung tá quân đội Hoàng gia Anh và Hans von Stockhausen, cựu thiếu tá quân đội Đức, lặng lẽ hướng dẫn các trung sĩ và hạ sĩ còn sống sót của một đại đội Biệt Động Quân Việt Nam Cộng hòa cách tổ chức phòng thủ trong tình huống chiến đấu trong thành phố và chẳng bao lâu sau thì cuộc đụng độ chấm dứt.

Nhiều năm sau, Donald Wise luôn nhắc với tôi, “tôi mê cái tay thiếu tá nhanh như cắt này lắm rồi. Thật là một nhân vật kỳ diệu! Tôi rất mong được dịp bàn về ‘thể thống’ với hắn ta lần nữa.”

Chúng tôi lái trở về Continental. Vài ngày sau tôi đáp chuyến Air Vietnam bằng phản lực Caravelle đến Hồng Kông. Gillian Đã chờ tôi tại phi trường Kai Tak. Nàng trông rất tươi mát trong chiếc váy ngắn lộ ra đôi chân quần vợt tuyệt vời rám nắng, miệng mở một nụ cười ngọt ngào nhất. Nàng dắt theo một con chó Schnudel đặc thù của vùng New Territories, nửa giống chó chow Tàu nửa giống chó xù, màu trắng đầy lông với một cái lưỡi màu xanh. Tôi rất thích con chó nhỏ này vì cái tật kỳ cục hay chào mừng khách phụ nữ – mà chỉ người đẹp thôi – bằng một cái cắn nhẹ vào mông họ.

“Chúng mình đến tiệm Peninsula để mừng ngày trở về của anh bằng một bữa ăn tối sớm đi anh,” Gillian đề nghị khi chúng tôi trèo lên chiếc Volkswagen màu đỏ, “em biết anh đang thèm một miếng thịt bò steak tartare và một chai vang đỏ từ Úc.” Tính tuyệt vời nhất của Gillian là cá tính sôi nổi của cô. Nàng làm tôi thú vị với những mẩu chuyện vui nhộn của khung cảnh xã hội thuộc địa thuộc  vương quốc Anh. Tôi không nghĩ có khi nào tôi vui thích nhiều hơn tối hôm đó với nàng sau nhiều tuần lễ bị chấn thương.

Nhưng khi chiều xuống chúng tôi đến căn chung cư trên đỉnh Victoria Peak thì nàng đột nhiên trở nên nghiêm trọng. Nhìn thẳng vào mắt tôi, nàng hỏi, “chuyện gì xảy ra với anh vậy, anh yêu? Trong anh xa vắng quá. Anh chưa ôm em hay hôn em thật sự nữa. Mọi chuyện ổn cả chứ?”

Bây giờ tôi không thể nhớ đã kể sự thật cho nàng ngay lúc đó hay vài ngày sau nhưng rốt cuộc tôi cũng nói được với nàng câu trả lời đúng nhất: anh đã không ôm em trong lòng như đáng lẽ anh phải làm, và cũng không cho em một nụ hôn thích hợp nhất vì anh không muốn làm em bị ô uế. Từ ngày Tết Mậu Thân tại Huế đến nay anh cảm thấy đã bị nhiễm bẩn vô cùng.” Tôi bị ám ảnh bởi một cảm giác lơ là bổn phận mà tôi chưa từng bao giờ có. Hàng tuần lễ sau đó tôi không cưỡng nổi cái thôi thúc cứ phải nhảy vào vòi sen nóng để kỳ cọ thân thể nhiều lần trong ngày. Gần một nửa thế kỷ sau, thỉnh thoảng tôi nhận thấy tật này bị tái phát. Tôi chỉ biết gán những hồi ức này cho một sự kiện không thể chối cãi được, là tôi đang già đi rồi.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (37)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (39)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (38)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s