Vinh Quang của sự Phi Lý (37)

Lúc bình minh, nhóm phóng viên chúng tôi được phép rời khỏi doanh trại với điều kiện phải mang theo súng M.16 để tự vệ. Peter Neuhauser, Hilmar Pabel và tôi nhận mỗi người một khẩu, nhưng theo đề nghị của tôi, chúng tôi đã cãi lệnh và giao lại súng cho lính canh ngoài cổng. Trên đường đến khu chung cư của các giáo sư người Đức đã bị bắt cóc, tôi lý luận: thử hỏi nếu chúng ta chạm trán với một toán tuần tiễu Việt Cộng thì sao? Chúng ta sẽ bị chết ngay. Nếu không mang súng, ít nhất chúng ta còn vin cớ không phải là chiến binh, mặc dù chẳng biết có nghĩa lý gì với họ hay không.

Huế 1968
Huế 1968

Vừa run rẩy trong cơn mưa phùn lạnh lẽo, chúng tôi vừa đi bộ về hướng Tây đường Lê Lợi. Cái đại lộ từng là một con đường lịch sự bây giờ vắng ngắt và trong hết sức tiều tụy. Những căn biệt thự lỗ chỗ vết đạn, cây cối đổ nát hay bị gãy cành hết sống nổi. Khi chúng tôi đến gần Câu Lạc Bộ Thể Thao, nơi mà thỉnh thoảng tôi vẫn ăn tối với các giáo sư Đức và cũng là nơi mà bà Elisabeth Krainick thường đến bơi, tôi mơ màng hy vọng là một người hầu bàn trung thành sẽ có mặt để pha cà phê cho chúng tôi, nhưng đó chỉ là một ý tưởng điên rồ. Không còn một ai nữa, không có ai ngoài trừ lính Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ vượt qua mặt chúng tôi trên xe jeep và thiết vận xa. Trong một lúc, bầu trời mây che phủ sáng ra và chúng tôi nhìn qua phía bên kia sông Hương. Chúng tôi thấy lá cờ Việt Cộng màu đỏ xanh với một ngôi sao vàng ở giữa đang bay trên pháo đài và nghe cả tiếng giao tranh ác liệt nữa.

Khu chung cư gia đình Krainick đang ở nhìn qua kinh Phú Cam. Một chiếc xe tăng Mỹ cũng đậu ở mạng Bắc của khu vực này. Đùng! Chiếc xe tăng nã một phát đạn đại bác qua bên kia con kinh. Đùng đoàng! Cả căn chung cư rung chuyển khi chúng tôi đang leo lên chỗ ở của gia đình Krainick trên lầu bốn. Có cả một trung đội Thủy Quân Lục Chiến đang đóng tại chỗ đó và căn phòng trông hoang tàn khủng khiếp. Quần áo, sách vở, tài liệu khoa học và giấy tờ riêng tư bị ném bừa bãi khắp nơi. Tôi hết sức bực mình khi thấy Peter Neuhauser lục lọi đống giấy tờ và lén bỏ vào túi một số hình ảnh của gia đình Krainick.

“Mày không mắc cỡ hả?” tôi hỏi anh ta.

“Phải làm vậy thôi nếu anh làm việc cho một tạp chí hình ảnh,” hắn lạnh lùng trả lời tôi và bỏ đi.

Tay trung đội trưởng là một thiếu úy 23 tuổi dáng dấp chắc nịch quê tại New Mexico. Nhìn thoáng qua, tôi biết ngay hắn là một kẻ ngốc và ăn nói cũng đúng như vậy. Anh ta dương oai diệu võ trong một chiếc áo thun trắng, Chẳng chịu mặc áo giáp hay đội nón sắt gì cả. Đùng! Chiếc xe tăng bắn thêm một phát nữa.

“Xe tăng bắn vào cái gì vậy?” Tôi hỏi anh ta.

Viên thiếu úy dắt tôi đến một cánh cửa kính mở trông ra ban công và chỉ vào một căn biệt thự xây theo lối Tây bên kia con kinh:

“Bọn Việt cộng bắn tỉa,” anh ta nói. “Tụi nó đang bắn về phía chúng ta.”

“Thế tại sao anh lại đứng đây với cái áo thun trắng, để làm mục tiêu tuyệt vời cho tụi nó sao?”

“Thưa ông, tôi là Thủy Quân Lục Chiến, được huấn luyện để chiến đấu và để chết.”

“Có phải là dân đóng thuế bên Mỹ tốn cả nửa triệu bạc để đào tạo một sỹ quan chuyên nghiệp không?” Tôi thách thức anh ta. “Mặc dù anh không thiết mạng sống của anh, bộ anh thật sự nghĩ là anh có quyền đặt cái vốn đầu tư đó một cách cẩu thả như vậy hay sao? Và rồi tạo cơ hội để lính tráng mất người chỉ huy?” Anh ta nhìn tôi chẳng hiểu gì cả.

Khi tôi bước ra khỏi cửa chính đi xuống cầu thang thì tôi nghe thấy một tiếng thét hãi hùng như chưa từng nghe thấy bao giờ. Tiếng hét không mang giọng người. Tôi quay lại. Viên thiếu úy loạng choạng tiến về phía tôi tay ôm ngực bên trái máu phun ra có vòi. Anh lảo đảo ngã xuống, lăn nhào xuống cầu thang và chết tức tưởi. Bọn bắn tỉa đã lấy mạng sống của anh.

Tôi đi ngang qua bệnh viện trường đại học mà giáo sư Horst Günter Krainick, bác sĩ Raimund Discher và bác sĩ Alois Alteköster từng làm việc. 75 % cơ sở đã bị phá hủy trong cuộc xung đột. Nhìn thấy quân phục tôi, hầu hết những thường dân Việt Nam tránh ánh mắt tôi. Họ quá sợ bị trông thấy đang kết thân với một “người Mỹ”, mặc dù bản tên trên nón sắt của tôi xác định tôi là một phóng viên người Đức, Tây Đức giống như các bác sĩ đã lập nên trường Đại học Y khoa. Rõ ràng là họ ngại rằng bọn cộng sản có thể trở lại và trả thù những người mà họ thấy đã hợp tác với kẻ thù – những người như tôi.

Một người đàn ông lớn tuổi lặng lẽ kéo tôi sang một bên để kể lại những câu chuyện kinh hoàng của những phiên tòa khôi hài được gọi là tòa án nhân dân. Nó được bọn Bắc Việt dựng lên để xét xử các cư dân thuộc tầng lớp quý tộc cũ, thành phần tư sản, các công chức Việt Nam Cộng Hòa, những người ngoại quốc, người công giáo Tòa Thánh La Mã, các linh mục, nói chung tất cả những ai bị nghi ngờ không đồng lòng với cách mạng.

“Họ không bị bắt một cách tình cờ đâu, thưa ông,” ông ta nhấn mạnh, “tên tuổi của những người đó nằm trong danh sách mà bọn cán bộ Cộng sản mang theo. Tại những phiên tòa như vậy, họ không có cơ hội để bào chữa. Họ bị tuyên án, mang đi và bị bắn bỏ.”

“Có bao nhiêu người?”

“Làm sao biết được? Hàng trăm, hàng ngàn?”

Cho đến ngày hôm nay vẫn không có con số chính xác bao nhiêu nạn nhân. Những con số ước đoán vào khoảng từ 2500 đến 6000 người.

Phần tệ hại nhất của cuộc tấn công này là khi giao tranh lan đến khu điều trị tâm thần, ông già tiếp tục câu chuyện. Ông không cho tôi biết tên tuổi hay chức nghiệp nhưng trông ông có vẻ là một người có học qua trường Tây. Các bệnh nhân trở nên điên cuồng, họ chạy khắp nơi, đánh lẫn nhau trong cơn hoảng loạn. Ông không thể nào tưởng tượng được nó ra sao. Nhiều người bị mất mạng vì họ không thể chạy khỏi lằn đạn hai bên bắn nhau. Thật giống như một cảnh tượng trong vở kịch Hỏa Ngục của Dante.”

“Lúc đó ông đang ở đâu?”

“Tôi trốn trong đám bệnh nhân, thưa ông, và làm bộ cũng là bệnh nhân vậy tuy thật sự không phải, và điều này đã cứu sống tôi.”

Ông khuyên tôi nên đi qua thính đường chính của trường đại học lúc đó đang chật cứng hàng trăm người vô gia cư, tất cả vẫn ăn mặc chỉnh tề, còn đang ở trong các trạng thái bàng hoàng với những nét mặt không còn cảm xúc gì nữa. Nhiều người bị thương và có rất ít, nếu có, các y tá và bác sĩ để chăm sóc họ. Không có nước máy, không có điện và không có cả phương tiện vệ sinh.

“Hãy qua bên kia trường Quốc Học nữa,” ông già nói với tôi và đây là một lời khuyên đúng. Ngôi trường trung học tuyệt đẹp nằm trên mạng nam của dòng sông Hương này là một trong những cơ sở tráng lệ nhất trong cả nước. Được thành lập bởi Ngô Đình Khả, phụ thân của tổng thống Ngô Đình Diệm vào năm 1896 như là một viện giáo dục quốc gia ưu tú để dạy dỗ cho các hoàng tử và con cái các đại thần có được một nền giáo dục tổng hợp Pháp và Viễn Đông. Danh sách học sinh giống như danh sách “Who’s Who” (danh nhân) của nền chính trị Việt Nam, miền Bắc cũng như miền Nam. Ngô Đình Diệm đã từng học tại đó, Hồ Chí Minh cũng vậy dưới cái tên cúng cơm Nguyễn Sinh Cung, đồng thời có cả tướng Võ Nguyên Giáp cũng như Phạm Văn Đồng, con của một vị quan nhất phẩm triều đình.

Khi tôi đến khuôn viên trường, nó lại giống như một khu trại tị nạn nữa. Có ai đó nói với tôi là có khoảng 8000 người tạm trú trong cái cơ sở đẹp đẽ đó, nhiều người run rẩy trong cơn gió lạnh chờ được phát thức ăn và nước uống. Mặc dù tôi không thể kiểm tra được con số đó nhưng thực tế rất là nhiều.

Thảm sát Huế Tết Mậu Thân 1968
Thảm sát Huế Tết Mậu Thân 1968

Trên đường quay về khu trại MACV tôi phát hiện ra hàng chữ vẽ nguệch ngoạc trên tường của một căn biệt thự lớn. Hàng chữ viết “Cắt đầu Mỹ”. Khi tôi nhìn kỹ hơn thì thấy chữ Mỹ chỉ mới thay chữ Pháp không lâu. Có lẽ tôi hơi nóng vội tiết lộ trước chương sau nhưng thông tin này phù hợp với chuyện vài tuần lễ sau, khi tôi đi thăm trở lại Huế thì khẩu hiệu này được đổi thành “Cắt đầu Cộng Sản”! Điều này cho tôi biết là sự ghê tởm đối với hành vi của Việt Cộng đã làm thay đổi niềm ghét bỏ người ngoại quốc của dân Huế nếu có, cũng như đã thay đổi tư tưởng bài ngoại khá mạnh mẽ tại đây. Tư tưởng bài ngoại khiến người Mỹ cho đến Tết 1968 đã phải giữ một thái độ thật âm thầm trong thành phố này. Hai mươi lăm ngày đêm chiến sự tại Huế, bắn giết, đập đầu đến chết và chôn sống hàng ngàn người dân, đưa đến 116.000 người mất nhà cửa trong một dân số vỏn vẹn 140.000 đã mang lại kết quả thất bại nặng nề nhất đối với cộng sản: nếu có lúc nào Cộng sản được lòng dân chúng Huế thì nay chúng đã mất hết rồi.

Tôi đi nhanh về trại MACV để điện thoại tường thuật câu chuyện cho bạn đồng sự với tôi là Friedhelm Kemna ở Sài Gòn, cũng như để báo tin cho nam tước von Collenberg tại tòa đại sứ tin tức cập nhật về các vị bác sĩ Đức. Chỉ có một đường dây điện thoại ra ngoài mà có cả một hàng dài người đang chờ đợi để gọi đi. Hai tiếng đồng hồ sau mới tới phiên tôi. Lúc đó tôi phải làm việc thông qua một loạt các cuộc trao đổi quân sự với hy vọng là các điện thoại viên đều thông thạo công việc. Thực tế không phải như vậy.

Tôi lớn tiếng hét lên trong điện thoại dã chiến: Huế đây, làm ơn cho tôi Phú Bài! Phú bài, cho tôi Đà Nẵng! Đà Nẵng, cho tôi Nha Trang! Nha Trang, cho tôi Quy Nhơn! Quy Nhơn, cho tôi Tân Sơn Nhứt! Tân Sơn Nhứt, cho tôi Mãnh Hổ (trung tâm điện thoại quân sự Sài Gòn)! Mãnh Hổ, cho tôi PPT – PPT, làm ơn cho tôi khách sạn Continental.”

Sau hai lần thất bại, sau cùng tôi gọi được khách sạn, trong lòng cầu nguyện là “kẻ thù” của tôi, gã Ấn Độ từ Madras lúc nào cũng say mùi thuốc phiện không trực điện thoại chiều hôm đó. Nhưng hắn đã có mặt!

“Siemon-Netto đây, làm ơn cho tôi nói chuyện với Kemna,” tôi nói bằng tiếng Pháp.

“Ông Siemon-Netto không có ở đây,” gã nghiện thuốc phiện nói và cúp điện thoại cái rụp!

Cảm ơn Chúa, người đồng nghiệp Mỹ đằng sau đuôi tôi cũng ở khách sạn Continental và có một người nhận tin đang chờ sẵn tại đó. Anh ta đọc xong bản báo cáo và nói phía bên kia giữ đường dây để chạy qua gọi Freddy cũng ở cùng tầng lầu với nhau. Do đó, sau cùng tôi cũng xoay sở gửi bài tường thuật cho Freddy xong và yêu cầu anh chuyển lời nhắn qua cho nam tước Collenberg.

Sau đó thì tôi cảm thấy thèm rượu. Cảm ơn Chúa, tôi có mang theo một bình Whisky mỏng trong ba lô. Sau những kinh nghiệm rùn rợn của ngày hôm đó, một vài ngụm từ cái bình đó cộng thêm vài lát bánh mì pumpernickel thật là một niềm hạnh phúc hoàn hảo. Bây giờ tôi phải chờ quân đội Mỹ di hành.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (36)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (38)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

 

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (37)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s