Vinh Quang của sự Phi Lý (36)

Chương 15

Tết Mậu Thân 1968: hỏa ngục Huế

Đà Nẵng là một thành phố khốn cùng vào đầu tháng 2 năm 1968. Lạnh lẽo và mưa phùn chẳng khác nào như tôi vừa bay đến một vùng Bắc Âu. Các đường phố vắng tanh, ngoại trừ xe quân đội. Tôi đã ôm ấp hy vọng được qua đêm trên chiếc Helgoland tại Đà Nẵng để biết tình trạng chiếc tàu này ra sao trong vụ Tổng công kích Mậu Thân và được ăn thức ăn Đức bổ dưỡng mà tôi đang thèm. Từ lúc rời khỏi Vientiane tôi chưa hề có được một bữa ăn ra hồn nào. Tuy nhiên, viên thuyền trưởng đã khôn ngoan mang chiếc tàu ra vùng an toàn của hải phận quốc tế rồi.

Huế 1968
Huế 1968

Vì vậy tôi đến trại báo chí MACV tuy thiếu hấp dẫn nhưng có một nhà ăn tạm được và có một quầy rượu rất đầy đủ. Tôi gọi một ly Dry Martini, ăn một miếng steak kèm một chai rượu vang, đi tắm nước nóng và cảm thấy sẵn sàng cho một cuộc phiêu lưu mà sau này hóa là không thể có những thứ xa xỉ này trong một thời gian nữa. Trời vẫn còn tối khi tôi gia nhập một đoàn xe Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ sáng sớm hôm sau. Tôi bận hai bộ đồ trận chồng lên nhau, chẳng bao lâu sau thì còn tròng thêm một cái thứ ba nữa và tôi hài lòng là chiếc áo giáp còn giúp tôi ấm thêm chút ít.

Một số nhà báo từ trại báo chí đã can đảm dùng đường bộ đầy nguy hiểm để đến vùng phụ cận của cố đô Huế vẫn còn nằm trong tay của cộng quân. Vì đây là cơ hội tốt nhất để chúng tôi có thể sớm đến nơi đó. Màn mây rất thấp và tình hình an ninh chung quanh phi trường Phú Bài bất ổn đến nỗi chúng tôi có thể sẽ phải chờ đợi nhiều ngày để có được một cái vé đi máy bay quân sự.

Trước khi được phép leo lên xe vận tải, mỗi người trong chúng tôi được phát một khẩu M.16. “Chúng tôi biết là điều này trái với thông lệ,” viên thượng sĩ giải thích, ý nói là hiệp định Geneva quy định rằng phóng viên chiến trường không được mang súng. “Nhưng,” ông ta nói thêm, “chúng ta sẽ phải đi qua những vùng hết sức nguy hiểm và có thể bị phục kích. Trong trường hợp đó quý vị phải tự bảo vệ lấy. Vậy quý vị có hai sự lựa chọn: mang theo súng hay ở lại phía sau.”

Chúng tôi đến Phú Bài phía Nam Huế không hề hấn gì, ngoại trừ một cảnh tượng đã làm nổi dậy tính hài hước của tôi. Ngồi cạnh tôi đằng sau chiếc xe vận tải có một cặp phóng viên tạp chí Stern gồm một nhiếp ảnh gia và một ký giả. Người chụp hình là Hilmar Pabel, một trong những người nổi tiếng nhất trong nghề chụp ảnh của giới báo chí Đức, và là một cựu chiến binh lão luyện phi thường. Bức hình chụp tôi trên bìa của cuốn sách này chính là tác phẩm của anh. Hilmar đã chụp nó trong một lúc tạm lắng giao tranh trong khu phố Huế.

Tay đồng nghiệp của anh là một chuyện khác. Hắn là một ký giả trẻ tuổi người Áo đặc trưng cho cái khuôn mẫu tả khuynh thổ tả đã từng nhiễm độc đời sống trí thức Tây Âu vào thời gian đó để đạt đến cực độ với cuộc nổi dậy của giới sinh viên trong đại nạn tháng 5 năm 1968 tại Paris, và nó đã lần lượt nhiễm độc toàn bộ lục địa và một phần lớn những gì còn lại của thế giới Tây Phương.

Tên hắn là Peter Neuhauser. Bỏ qua ý thức hệ Mác xít thì hắn lại là một gã vạm vỡ dễ mến không khác gì những người lính Thủy Quân Lục Chiến mà chúng tôi đang tháp tùng đi chung. Vì vậy họ rất thích hắn mà không hề biết gì về quan điểm thân cộng của hắn cả. “Anh trông giống như bọn tôi lắm,” đám lính nói. “Chỉ cần cắt mái tóc thôi,” họ tiếp. Do đó khi chúng tôi đến tiền trạm của Sư đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đàng sau phi trường Phú Bài, họ lôi Peter vào một cái lều, cạo đầu hắn, dí một cây M.16 vào tay hắn và reo lên khoái chí: “Chào mừng anh tân trung sĩ của chúng ta!” Từ đó họ gọi hắn là “Gunny”, và dưới mắt bao nhiêu người, gã Peter thân Cộng này lại có vẻ thích thú với “cấp bậc” mới của mình vô cùng, mà ta có thể thấy rõ qua các bức hình Hilmar Pabel đã chụp cho hắn. Điều này đã chẳng giúp được gì cho sự nghiệp của hắn. Những tấm hình chụp Neuhauser trong tư thế tác chiến cùng với những tấm khác cụ thể hơn trong bộ sưu tập phim của Pabel rốt cuộc đã đến văn phòng chính của tạp chí Stern tại Hamburg vài ngày sau đó và đã gây phẫn nộ trong các đồng nghiệp của hắn. Không một ai thấy có gì đáng buồn cười cả. Hắn không bao giờ được phái đi công tác ở ngoại quốc nữa.

Sáng hôm sau, khi Peter và tôi tháp tùng một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến vật vã tác chiến từng tấc đất vào Huế, hắn có vẻ được giác ngộ, dù chỉ là trong khoảng khắc. Trên con lộ dẫn vào cố đồ của Việt Nam chúng tôi thấy cơ man xác chết của dân thường, riêng rẻ hay từng nhóm, toàn là phụ nữ, cụ già và trẻ em. Họ đều ăn mặc tươm tất nhân dịp đầu năm mới. Qua vị thế của các tử thi chúng tôi thấy có nhiều phụ nữ đã cố gắng dùng thân mình để che chở cho con, chống lại bọn sát nhân.

“Bọn cộng sản bạn mày đã làm điều này, Peter!” Tôi mắng Peter một cách tàn nhẫn.

Mặt hắn biến sắc trắng bệch. “Chắc chắn không phải đâu,” hắn trả lời, “những người này bị máy bay Mỹ giết.”

“Không đâu,” Peter, “thương vong vì không tập chẳng như thế này,” tôi vặn lại, “trông những vết thương trên đầu và trên mình của họ kìa. Nhìn cách một số người phụ nữ đang giơ tay che mặt đi. Họ bị bắn ở cự li rất gần. Tin tôi đi, tôi đã thấy chuyện này rồi: đây là thành tích của những toán chuyện giết người. Những gì chúng ta đang thấy nơi đây là bằng chứng tội ác chiến tranh. Những người này đã bị thanh toán vì bất cứ lý do điên rồ nào đó mà bọn cộng sản phải thủ tiêu cả đàn bà, trẻ em và người già.”

Peter Neuhauser giữ im lặng, nhưng tôi biết đã không thuyết phục được hắn. Chính hắn đã xác nhận với tôi khi chúng tôi gặp lại nhau vài tháng sau tại Hamburg. Neuhauser qua đời vài năm sau đó vì nguyên nhân tự nhiên, nhưng vẫn trong tâm trạng tả khuynh không sao cứu vãn được. Suốt vài chục năm sau, thỉnh thoảng tôi cảm thấy một nỗi buồn đau đớn là mặc dù đã chứng kiến hàng loạt người vô tội bị thảm sát trên con lộ đến Huế, vậy mà điều này vẫn không lay chuyển nổi tâm trí của một gã mà đáng lẽ ra là một con người dễ mến. Những ngày bên cạnh hắn đã dạy tôi một trong những bài học đáng sợ trong sự kiện Tết Mậu Thân là: chẳng có gì, ngay cả những bằng chứng không thể chối cãi nhất, có thể mong làm thay đổi tốt được những ý tưởng cố chấp về ý thức hệ.

Vietcong attack. A group of US Marines keep an alert eye on activities outside building they are positioned in for refuge. February 05, 1968 Dana Stone
Huế, 05/02/1968: Một nhóm TQLC Mỹ cảnh giác theo dõi động tĩnh phía ngoài một ngôi nhà nơi họ đang ẩn náu.

Phú Bài và Huế chỉ cách nhau khoảng 10 dặm nhưng chúng tôi mất gần một ngày trời để vào đến khu trại MACV gần bờ Đông Nam của dòng sông Hương có lẽ đã được đặt sai tên. Các cuộc đụng độ lẻ tẻ thiếu không trợ vì thời tiết không lưu xấu và nhu cầu phải dọn dẹp các xác chết trên đường đã khiến chúng tôi bị chậm trễ. Doanh trại nằm trong khu vực mới của thành phố, xây dựng theo lối Âu châu với những đại lộ rộng rãi và những căn biệt thự kiểu Pháp đầy tiện nghi, một cơ sở Cercle Sportif, tức Câu Lạc Bộ Thể Thao xinh xắn và một cư xá đại học với những tòa nhà chung cư theo phong cách thập niên 1950 cho nhân viên giảng huấn được xây dựng theo kiểu mẫu xấu xí đặc thù trong thời kỳ đó của các dự án và cư rẻ tiền đầy rẫy ở vùng ngoại ô phía bắc Paris.

Vào thời điểm chúng tôi đến, quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã tạm ổn định phần nào khu vực này của thành phố, ít nhất là vào ban ngày. Trong khi đó thì Cổ Thành với vòng thành nội vi hoàng gia, còn gọi là “Purple City” bắt chước theo kiểu mẫu Tử Cấm Thành Bắc Kinh vẫn còn nằm chặt trong tay cộng quân.

Doanh trại MACV gồm một khách sạn khi xưa với khu vực ăn uống ở tầng trệt, phòng ngủ của sĩ quan ở hai tầng trên và một ngôi nhà phụ với 20 căn phòng. Bên cạnh tòa nhà phụ là những cái gọi là “hootches” tức những căn lều tạm bợ, khu vực mở rộng cho lính tráng. Khu vực này chật cứng với tạp nham đủ loại người khác nhau: Quân nhân, ký giả, tình báo viên, nhân viên cứu trợ, nhân viên Việt Nam làm việc cho Mỹ và các viên chức chính quyền cùng gia đình tìm nơi trú ẩn tránh vùng giao tranh và tránh những toán ám sát của Cộng sản vẫn còn đang lùng sục để giết tại chỗ những người mà họ quy là phản động trong thành phố.

“Xin lỗi quý vị, chúng tôi hết giường tạm rồi, không còn chăn nệm nữa. Quý vị phải tự tìm lấy chỗ nằm thoải mái trên nền xi măng này vậy,” viên trung sĩ quân nhu đón tiếp chúng tôi tại khu vực trước kia là nhà ăn nói. “Có khẩu phần C ở góc đằng kia và rất nhiều túi giấy đựng xác để quý vị giữ ấm. Lấy bao nhiêu cũng được. Tối nay sẽ lạnh lắm đấy.”

Khu trại đóng cửa ban đêm. Nội bất xuất ngoại bất nhập. Chúng tôi nghe tiếng giao tranh mãnh liệt phía bắc dòng sông nhưng thỉnh thoảng cũng có tiếng súng đụng độ ngay bên ngoài chu vi doanh trại. Tôi thu người vào khoảng trống chật hẹp giữa mấy gia đình người Việt, trải ba cái túi đựng xác xuống đất dùng thay nệm, phủ lên mình ba cái túi đựng xác khác đúng ra dùng để chuyển những binh sĩ tử trận, có những lỗ đánh dấu phía nào là đầu phía nào là chân. Tôi gối đầu lên cái ba lô. Những người bên cạnh tôi nói được tiếng Pháp. Họ thì thầm với tôi là trong ngày trước Tết các toán sát thủ cộng sản đã đến từng căn nhà với danh sách những người sẽ bị tội trước cái gọi là tòa án nhân dân và sau đó thì hạ sát họ tại chỗ, không cần xét xử.

“Anh có nghĩ là những ông giáo sư người Đức có tên trong các danh sách đó không?” Tôi hỏi người đàn ông bên phải tôi.

“Chắc chắn là có, giống như các linh mục người Pháp và những người ngoại quốc khác. Họ đều bị dẫn đi,” anh ấy trả lời tôi.

Giữa đêm, hàng loạt tiếng súng liên thanh ngày trong khu vực gần chúng tôi nhất nổi lên tạch tạch tạch, tạch tạch tạch, … (5 lần).

“Xử tử,” người đàn ông Việt Nam bên tay phải tôi nói. “Súng AK-47 Kalashnikov.”

“Sao anh biết?” Tôi hỏi.

“Bây giờ nghe tiếng súng này quen quá rồi. Vừa rồi không phải là đánh nhau. Đó là năm loạt súng từ một khẩu liên thanh có chủ đích rõ ràng.”

“Có gần đây không?” Tôi hỏi tiếp.

“Không xa hơn 100 thước đâu.”

40 năm sau, tôi kết bạn với anh Tôn Thất Di tại miền Nam California, anh có họ hàng xa với hoàng tộc. Chúng tôi thảo luận về biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế và khám phá ra là cha anh, hai người chú và hai người anh em họ khác có thể là nạn nhân của vụ thảm sát đêm hôm đó. Cha của anh Di tên là Tôn Thất Nguyên đã từng là thị trưởng thành phố Đà Lạt và sau đó làm công chức Bộ Xã hội tại Sài Gòn mà trụ sở tôi rất quen thuộc vì nằm sát cạnh tiệm cà phê La Pagode trên đường Tự Do.

Tháng Giêng 1968, Tôn Thất Nguyên bay đến Huế để ăn tết với các anh em và các cháu tại biệt thự của họ. Di và tôi đã nghiên cứu tấm bản đồ Huế. “Đây là vị trí căn nhà họ,” anh nói, chỉ vào một điểm cách khu nhà ăn của trại MACV không xa hơn 100 thước. “Chúng tôi chỉ tìm thấy lại xác của một ông chú. Do đó chúng tôi không thể làm đám tang cho ông cụ được.”

Tôi không bao giờ biết được rằng tôi thực sự là nhân chứng nói lên cái chết của họ hay đó là một vụ thảm sát khác, tuy nhiên khoảnh khắc đó nằm mãi trong trí nhớ của tôi, chủ yếu bởi vì nó được tiếp nối bằng một kinh nghiệm siêu thực khác đã từng xảy ra quá nhiều với tôi tại Việt Nam: một con gì đó thật to, nóng ấm, kêu quàng quạc chui vào dưới ba chiếc túi đựng xác của tôi. Hóa ra đó là một con ngỗng trắng với cái mỏ màu vàng và lông xám hai bên cánh. Tôi lúc nào cũng thích ngỗng nhất là khi chúng được quay và dọn với bắp cải đỏ vào dịp Giáng Sinh. Nhưng tôi chưa hề có được một con ngỗng nào chui rúc vào mình như vậy cả, mà con này có vẻ hoảng hốt cùng cực. Cùng với hàng đoàn người tị nạn Việt Nam con chim khiếp sợ này đã trốn vào khu trại Mỹ từ lúc đầu cuộc Tổng công kích Tết và chạy lạch bạch chung quanh khu đất từ đó, thỉnh thoảng kiểm tra những chỗ ngủ. Lính Mỹ đặt tên cho nó là Garfield. Như một con ngỗng canh gác, Garfield hằng đêm ra một điểm quan sát luôn luôn tại một chỗ cố định để dòm chừng ra ngoài đường. Nhưng khi nó nghe thấy tiếng súng nổ ngay ngoài cổng, nó đã hoảng hốt tìm chỗ rúc ngay bên cạnh tôi. Tôi đuổi nó ra khỏi khu vực ngủ, cho nó về chỗ canh gác lại.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (35)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (37)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (36)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s